1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay

82 585 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối cùng, những địa điểm được chọn là Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bà Nà, Bạch Mã… Những khu nghỉ dưỡng đã được xây dựng ở các khu vực này, cùng với đó là các dịch vụ bổ trợ như giao

Trang 1

LỜI CẢM ƠN



Để hoàn thành tiểu luận này ngoài những nổ lực hết mình của cá nhân,

tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đoàn Ngọc Nam đã tận tâm hướng

dẫn chúng tôi học phần: Những vấn đề địa lí tự nhiên đại cương Nhờ sự

truyền đạt của Thầy, tôi đã học được rất nhiều kiến thức và đã có những tầm

nhìn cao hơn về những vấn đề tự nhiên muôn màu muôn vẽ Bên cạnh đó,

Thầy cũng đã hướng dẫn rất chi tiết chúng tôi cách thực hiện một bài tiểu luận

kết thúc học phần, đây là một bước tiến giúp chúng tôi định hình cách thực

hiện luận văn thạc sĩ sắp tới

Cuối cùng, tôi cũng chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu

trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, mà cụ thể là phòng Sau Đại học

đã tạo điều kiện và môi trường học tập rất tốt cho quá trình học tập của tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Kính lời, học viên thực hiện

Quan Văn Út

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Khí hậu Thành phố Đà Lạt

Bảng 2.2: Sự biến động dân số Đà Lạt qua các năm

Bảng 2.3: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại Sa Pa

Bảng 2.4: Tên một số địa điểm tham quan nổi tiếng ở Sa Pa

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ Thành Phố Đà Lạt

Hình 2.2: Mô hình kiến trúc một biệt thự thời Pháp ở Đà Lạt

Hình 2.3: Biệt thự 2 Hùng Vương và biệt thự Merionnet

Hình 2.4: Kiến trúc biệt thự theo thể loại thứ 2 được xây dựng ở Đà Lạt

Hình 2.5: Cảnh quan từ núi Bà Nà

Hình 2.6: Vết tích một biệt thự cổ thời Pháp trên núi Bà Nà

Hình 2.7: Vết tích biệt thự cổ trên núi Bạch Mã

Hình 2.8: Bản đồ hành chính huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc

Hình 2.9: Bản đồ các tuyến điểm du lịch ở Sa Pa

Trang 3

MỤC LỤC



Trang

Lời cảm ơn - 01

Danh mục bảng - 02

Danh mục hình - 02

Mục lục - 03

LỜI GIỚI THIỆU - 05

1 KHÁI QUÁT VỀ KHU NGHỈ DƯỠNG - 06

1.1 Khái niệm - 06

1.2 Đặc điểm của khu nghỉ dưỡng - 06

1.3 Kiến trúc của khu nghỉ dưỡng - 09

2 CÁC KHU NGHỈ DƯỠNG Ở ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC NĂM 1945 - 11 2.1 Đà Lạt - 11

2.1.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng - 11

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên - 11

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - 14

2.1.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dưỡng - 20

2.1.3 Một số địa điểm tham quan ở Đà Lạt - 25

2.1.4 Hướng phát triển du lịch ở Đà Lạt - 35

2.2 Bà Nà - 36

2.2.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng - 36

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên - 36

2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - 37

2.2.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dưỡng - 38

2.2.3 Một số địa điểm tham quan ở Bà Nà - 41

2.2.4 Hướng phát triển du lịch ở Bà Nà - 44

2.3 Bạch Mã - 45

2.3.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng - 45

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên - 45

2.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - 48

Trang 4

2.3.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dưỡng - 49

2.3.3 Hướng phát triển du lịch ở Bà Nà - 53

2.4 Tam Đảo - 53

2.4.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng - 53

2.4.1.1 Điều kiện tự nhiên - 53

2.4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - 56

2.4.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dưỡng - 56

2.4.3 Hướng phát triển du lịch ở Tam Đảo - 61

2.5 Sa Pa - 63

2.5.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng - 63

2.51.1 Điều kiện tự nhiên - 63

2.5.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - 69

2.5.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dưỡng - 70

2.5.3 Một số địa điểm tham quan ở Sa Pa - 73

2.5.4 Hướng phát triển du lịch ở Sa Pa - 77

3 MỘT VÀI SUY NGHỈ CHỦ QUAN VỀ DU LỊCH NGHỈ DƢỠNG Ở VIỆT NAM - 79

KẾT LUẬN - 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 82

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Du lịch nghỉ dưỡng là một loại hình du lịch phát triển từ rất lâu Loại

hình du lịch này hình thành và phát triển đầu tiên ở các nước phát triển ở châu

Âu Sau đó, lan rộng sang các quốc gia đang phát triển và các thuộc địa thông

qua các cuộc chiến tranh đế quốc Ở Việt Nam loại hình du lịch này cũng đã

có từ thời thuộc Pháp Mục đích chính của việc hình thành các khu ngỉ dưỡng

ở Việt Nam tính từ trước năm 1945 là để phục vụ cho các viên chức thuộc

chính quyền Pháp thuộc, các binh lính người Pháp Bên cạnh đó các khu nghỉ

dưỡng này cũng được dành cho các vị vua thời Nguyễn… Nhưng chủ yếu là

dành cho người Pháp, thành phần này do điều kiện chiến tranh và vị trí địa lí

quá xa, nên họ không có điều kiện về nước nghỉ ngơi và du lịch Vì vậy họ ở

lại Việt Nam

Với nhu cầu đó, Toàn quyền Đông Dương thời bây giờ đã cho khảo

sát khắp Đông Dương để tìm ra những vị trí có những điều kiện tự nhiên

thuận lợi, nhất là những nơi có khí hậu giống với khí hậu nước Pháp Cuối

cùng, những địa điểm được chọn là Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bà Nà,

Bạch Mã… Những khu nghỉ dưỡng đã được xây dựng ở các khu vực này,

cùng với đó là các dịch vụ bổ trợ như giao thông, nhà hàng, khu vui chơi, thể

thao, hồ bơi… Các khu nghỉ dưỡng này đã có sự phát triển mạnh mẽ thời

Pháp thuộc và bị tàn phá và lãng quên theo thời gian Mãi cho đến sau ngày

giải phóng cho đến nay, các khu nghỉ dưỡng trên đã có những thay đổi đáng

kể Đà Lạt và Sa Pa ngày nay là một trong hai thành phố du lịch phát triển và

được mệnh danh là “thiên đường du lịch nghỉ dưỡng” Bà Nà với cáp treo đạt

hai kỷ lục thế giới cũng là điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch Tam Đảo,

Bạch Mã, Ba Vì là những vườn quốc gia và nơi dự trữ sinh quyển cũng là

những địa điểm giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng và du

lịch sinh thái

Trong những năm gần đây, số lượng các khách sạn đã tăng lên nhanh

chóng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt động du lịch Bên cạnh các

khách sạn thương mại, hình thức các khách sạn nghỉ dưỡng (Resort) cũng đã

Trang 6

bắt đầu phát triển mạnh mẽ, góp phần đa dạng hóa các loại hình cơ sở lưu trú

du lịch ở Việt Nam Để có những cái nhìn đúng đắn về du lịch nghỉ dưỡng và

quá trình phát triển ở Việt Nam xưa và nay Chúng ta sẽ được khám phá qua

bài tiểu luận với chủ đề: “Tìm hiểu về các khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương

trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay”

1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU NGHỈ DƢỠNG (RESORT)

1.1 KHÁI NIỆM

Khởi thuỷ của khái niệm về “khu nghỉ dưỡng” (Resort) là nơi chữa

bệnh, là nơi dành cho những người cần được dưỡng bệnh ở những nước phát

triển Lâu dần việc này đã trở nên không còn độc quyền cho người chữa bệnh

nữa mà dành cho những khách hàng của khách sạn, du khách

Hiện nay, khái niệm về “khu nghỉ dưỡng” (Resort) chưa được định

nghĩa thống nhất và chưa xây dựng được tiêu chuẩn xếp hạng riêng dành cho

“khu nghỉ dưỡng” nên công tác quản lý cũng như thống kê số lượng của các

“khu nghỉ dưỡng” gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, theo nghĩa chung nhất thì:

“Khách sạn nghỉ dưỡng (Resort) là loại hình khách sạn được xây dựng độc

lập thành khối hoặc thành quần thể gồm các biệt thự, căn hộ du lịch;

băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu

nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch”

Các khu nghỉ dưỡng thường được xây dựng rất sang trọng theo tiêu

chuẩn từ 4 – 5 sao Tại đây nhà cung cấp sản phẩm sẽ cung cấp các dịch vụ

cao cấp đến khách hàng Thông thường thì khu ngỉ dưỡng thường đưa ra các

sản phẩm trọn gói đến khách hàng (Giá trọn gói có thể gồm việc đưa đón, ăn

nghỉ, vui chơi, giải trí, thẩm mỹ…) Về khách hàng đến với khu nghỉ dưỡng

thường ở lưu trú dài hạn, họ không di chuyển nhiều điểm, chủ yếu là nghỉ

ngơi tại đó Nói tóm lại, khu nghỉ dưỡng đưa ra sản phẩm hoàn hảo và đầy đủ

và khách hàng chỉ cần bỏ tiền ra đến để hưởng thụ dịch vụ đó

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU NGHỈ DƢỠNG (RESORT)

Khu nghỉ dưỡng - khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng phục vụ nhu cầu

nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch của du khách thường được xây dựng ở

Trang 7

những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp Khu nghỉ dưỡng có đặc điểm chung

là yên tĩnh, xa khu dân cư, xây dựng theo hướng hòa mình với thiên nhiên, có

không gian và cảnh quan rộng, thoáng, xanh Khu nghỉ dưỡng khác với các cơ

sở lưu trú thông thường bởi hệ thống dịch vụ liên hoàn, tổng hợp, có thể đáp

ứng mọi nhu cầu của khách như dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp,

luyện tập thể thao Do khu nghỉ dưỡng mang lại những giá trị và dịch vụ hoàn

hảo hơn nên giá cũng khá đắt so với giá phòng khách sạn cùng tiêu chuẩn

* Hoạt động của các khu nghỉ dưỡng ở Việt Nam có những đặc điểm

sau:

- Một là, về hình thức tổ chức kinh doanh: Các Resort chủ yếu là hình

thức liên doanh nước ngoài hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nhờ

vậy, tạo điều kiện cho những tập đoàn chuyên kinh doanh Resort đem tới kinh

nghiệm quản lý tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của các khu

Resort

- Hai là, về cơ sở vật chất kỹ thuật: Do các khu Resort được xây dựng

ở các vùng biển hoặc các nơi có tài nguyên du lịch nên kiến trúc của các khu

Resort thường là các khu nhà thấp tầng, mang tính gần gũi với môi trường,

gần gũi với thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo tới sự sang trọng, tiện nghi Diện

tích các Resort thường từ 1 ha tới 40 ha và diện tích ngày càng được mở rộng

vì đặc trưng của khu Resort thường là các khu vực có không gian rộng rãi,

trong đó diện tích xây dựng thường chiếm tỷ lệ nhỏ

- Ba là, về cách thức tổ chức quản lý: Thường áp dụng theo tiêu chuẩn

của các tập đoàn nước ngoài, trong đó một số Resort đã áp dụng bộ phận

chuyên trách quản lý công tác môi trường

- Bốn là, về chất lượng lao động: Hầu hết các Resort là cơ sở hạng

cao sao nên chất lượng tuyển chọn người lao động được chú trọng nhằm đảm

bảo chất lượng dịch vụ của cơ sở

* Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, hoạt động của resort còn

bộc lộ những hạn chế sau:

Trang 8

- Các resort có vị trí gần các nguồn tài nguyên du lịch nên thường ở xa

khu trung tâm, xa thành phố lớn Do đó, hạn chế khả năng tiếp cận tới nguồn

nước sạch cũng như khả năng cung cấp thực phẩm đảm bảo chất lượng, chi

phí vận chuyển thực phẩm và nước uống cao

- Công suất hoạt động của các resort chưa cao, chịu ảnh hưởng rõ rệt

của tính thời vụ trong kinh doanh do khách du lịch thường đi nghỉ vào thời

điểm hè

- Ở một số resort, tỷ lệ người lao động địa phương còn cao nên gặp

khó khăn trong vấn đề đào tạo nghề cũng như nâng cao trình độ ngoại ngữ

- Các resort chưa triệt để đầu tư và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi

trường như hệ thống xử lý nước thải, hệ thống xử lý rác thải

- Đầu tư ở các vùng xa trung tâm nên gặp khó khăn trong việc vận

chuyển nguyên liệu xây dựng, chọn được thợ xây dựng nên ảnh hưởng tới

chất lượng và tính chuyên nghiệp trong cơ sở vật chất của các resort đặc biệt

là resort thuộc hình thức sở hữu tư nhân

- Về kinh doanh của khu Resort là kinh doanh khách đến nghỉ dưỡng

là chính Vì vậy địa điểm để xây dựng các Resort là ở các khu du lịch, các bãi

biển, hoặc khu đồi núi hoặc rừng có khí hậu trong lành Để tổ chức hoạt động

kinh doanh Resort cần phải có một khuôn viên có diện tích rộng lớn Xung

quanh khu Resort có nhiều dịch vụ vui chơi giải trí như bể bơi, massage,

phòng tập thể hình, khu biểu diễn nghệ thuật, ẩm thực…

* Tóm lại, có thể đúc kết thêm vài đặc điểm nữa về các khu Resort ở

Việt Nam như sau:

- Mỗi Resort phù hợp với một loại khách: Sự phân biệt rõ ràng các đối

tượng phục vụ sẽ giúp cho nhà đầu tư đưa ra những ý tưởng đầu tư và khai

thác Không thể nói rằng phải xây dựng một khu khách sạn nghỉ dưỡng chung

chung mà phải tập trung cho một số đối tượng nhất định Chính vì thế mà

phân chia ra các loại Resort như 4 sao, hay 5 sao… Như, Resort Mũi Né,

Furama-Đà nẵng là loại Resort 5 sao, Vạn chài - Sầm sơn là Resort 4 sao…

Trang 9

- Gắn liền với đặc thù địa phương: Khai thác cái riêng, cái đặc thù của

địa phương đã đem lại cho nhà đầu tư cũng như nhà thiết kế những cứu cánh

cho việc tìm ra sự hấp dẫn riêng của khu Resort Điều này đòi hỏi sự sâu sắc

trong suy nghĩ của chủ đầu tư Sâu sắc là bởi vì, có khi chỉ vì hăng say khai

thác cái đặc thù vô hình trung nhà đầu tư và người thiết kế đã làm mất đi cái

duyên đã có sẵn mà thiên nhiên đã ban tặng

- Chất liệu sử dụng trong kiến trúc là “Diễn viên chính”: Người nông

thôn lên thành thị thì mong tìm sự thích thú trong tiện nghi, chất liệu sang

trọng Người thành thị tránh gần máy lạnh, nền bóng loáng… mà tìm đến

hương đồng gió nội, gạch tàu, ghế tre Hãy suy nghĩ đúng về chất liệu sử

dụng cho từng đối tượng Làn sóng xây dựng các khu nghỉ dưỡng (Resort) ở

Việt nam nói riêng và các nước trong khu vực nói chung đã tạo ra sự cạnh

tranh không những đáp ứng nhu cầu mà còn tạo ra nhu cầu Nghĩa là người ta

đã vô hình trung nâng dần nhu cầu tận hưởng những phương tiện của ngành

công nghiệp không khói – du lịch nghỉ dưỡng Bởi vậy nên trong thời gian

ngắn mà Vũng Tàu, Mũi Né, Sầm Sơn, Nha Trang, Hội An, Phú Quốc đã mọc

lên vô số những khu nghỉ dưỡng Những nhà đầu tư đã không tiếc tiền của để

tung vào việc xây dựng những khu Resort

1.3 KIẾN TRÚC CỦA KHU NGHỈ DƢỠNG (RESORT)

Phần lớn các Resort này đều gắn với dịch vụ nghỉ dưỡng biển, phục

vụ khách cao cấp và nằm sát biển Nhiều Resort thường hướng đến những

kiến trúc cổ xưa để đưa khách về gần với thiên nhiên, tránh xa cái ồn ào của

cuộc sống đô thị như bố trí những ngôi nhà cổ với mái ngói; tường gạch; cột,

kèo bằng gỗ và có gam màu tối, mang vẻ cổ kính Tuy nhiên, hệ thống các

phòng ốc của Resort được thiết kế thành từng căn hộ biệt lập, tạo không gian

riêng cho khách Bên trong phòng là những thiết bị hiện đại, tiện nghi Resort

khác với các cơ sở lưu trú thông thường ở chỗ, nó có dịch vụ liên hoàn, tổng

hợp, có thể đáp ứng được mọi nhu cầu về dịch vụ của khách như các dịch vụ

giải trí, spa, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, thể thao, nghỉ dưỡng… Vì vậy, khi

thiết kế xây dựng Resort, yêu cầu giữ lại tối đa cây xanh Thậm chí, việc xây

Trang 10

dựng còn phải lựa theo địa hình, không được tàn phá thiên nhiên mà phải hoà

vào thiên nhiên.Thiết kế Resort phải tạo ra một không gian để người sống

trong đó được thư giãn tối đa Vì vậy, cái mà người thiết kế vẽ là… khoảng

trống, để tạo nên không chỉ công trình kiến trúc mà cả không gian còn lại bên

ngoài công trình đó

Thực tế kiến trúc Resort không chỉ đơn giản là phòng ngủ, là nơi lưu

trú với dịch vụ tiện nghi Để có một giá trị đồng bộ, tương tác tốt đến cảm

giác thư giãn thích thú, ngoài thiết kế kiến trúc, nội thất… còn phải cần lao

động chuyên nghiệp của nhà thiết kế cảnh quan (landscape); chuyên gia

phong cách (stylist), nghệ thuật sắp đặt (installation) Đó là chưa kể trong vài

trường hợp đầu tư nghiêm túc, chắc chắn không thiếu vai trò của các cố vấn

về văn hoá và truyền thống địa phương Dĩ nhiên, sẽ rất là phung phí khi viện

đến nhiều chuyên gia đến vậy mà không đặt Resort trong sự vận hành của

những nhà quản lý kinh doanh du lịch có tay nghề chuyên nghiệp

Chính vì thế, ở các không gian trong Resort, người ta mới kết nối với

văn hóa bản địa, tạo ra không gian bản địa cho du khách có thêm niềm vui

khám phá Không gian nghỉ là một không gian hiện đại nhưng lại mang bản

sắc văn hóa, kỹ thuật của vùng bản địa mà nó toạ lạc Điều đó giải thích vì

sao các Resort cao cấp luôn quan tâm dùng vật liệu và kỹ thuật bản địa, dùng

người địa phương để làm việc Nhu cầu cao nhất của du khách khi tìm đến

Resort là để thư giãn Du khách đã bỏ thời gian và tiền bạc thì nhà đầu tư và

nhà thiết kế đem đến cho họ một không gian phù hợp để họ có thể thư giãn

Một số Resort lược bỏ bớt những yếu tố của đời sống công nghiệp, những

máy móc hào nhoáng chỉ vì chúng nhắc người ta nhớ đến đời sống thường

nhật hàng ngày Vì vậy, bỏ bớt yếu tố công nghiệp không phải là lập dị, là tiết

kiệm Tạo ra cái “hoang sơ 5 sao” là điều mà người ta nhắm tới để mang đến

cho du khách một môi trường thư giãn nhất

Người ta đi nghỉ ở Resort là để hưởng cái không gian còn lại giữa các

“xác nhà” (mà đầu tư nội thất không ít tiền) Vì vậy mới có một khái niệm vui

vẻ “vẽ Resort là vẽ… khoảng trống” Để có nhiều những giá trị thật sự đó cho

Trang 11

Resort thì xu hướng hiệu quả trực tiếp nhất là dùng vật liệu thô, tự nhiên,

nặng chất công phu của văn hoá vật liệu truyền thống Mà theo hướng này thì

lập tức phải tốn nhiều chi phí khắc phục nhược điểm thô thiển, thiếu an toàn,

chóng hỏng, phí bảo dưỡng cao Vậy là thấy ngay cái giá cao hợp lý của…

Resort 5 sao Như vậy, khi một Resort ra đời thì người đầu tư, nhà thiết kế đã

phải nhắm đến một chân dung du khách cụ thể với một không gian, phong

cách, tiện nghi phục vụ tương thích, chi phí đầu tư và giá bán sản phẩm tương

thích

Trong những khu Resort cao cấp này, các loại hình dịch vụ được nâng

lên một tầm cao cấp hơn, chuyên biệt hơn Bởi đây thường là những nơi nghỉ

dưỡng và lưu trú dài ngày nên các loại hình dịch vụ cũng như tiện nghi sẽ làm

bạn có cảm giác thư giãn và thoải mái tuyệt đối Trong đó không thể không kể

đến loại hình chăm sóc đặc biệt là Spa…

2 CÁC KHU NGHỈ DƯỠNG Ở ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC NĂM

1945

2.1 ĐÀ LẠT

2.1.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dưỡng

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lí

Hình 2.1: Bản đồ Thành Phố Đà Lạt

Nguồn: www.dalat.gov.vn

Trang 12

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm viên, về phía Đông Bắc

tỉnh Lâm Đồng Phía Bắc giáp huyện Lạc Dương, phía Nam giáp huyện Đức

Trọng, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Đơn Dương, phía Tây và Tây

Nam giáp huyện Lâm Hà… Trải qua nhiều thời kỳ thay đổi, hiện nay tọa độ

thành phố Đà Lạt được xác định như sau:

- Điểm cực Bắc: 12o04' độ vĩ Bắc

- Điểm cực Nam: 11o52' độ vĩ Bắc

- Điểm cực Tây: 108o20’ độ kinh Đông

- Điểm cực Đông : 108o35’ độ kinh Đông

b Địa hình – cảnh quan

Địa hình thành phố Đà Lạt được phân thành hai bậc rõ rệt:

- Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao

gồm các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải có độ cao tương đối từ 25-100m, lượn

sóng nhấp nhô, độ phân cắt yếu, độ cao trung bình khoảng 1.500m

- Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao khoảng

1.700m tạo thành vành đai che chắn gió cho vùng trung tâm

- Bên ngoài cao nguyên là các dốc núi từ hơn 1.700m đột ngột đổ

xuống các cao nguyên bên dưới có độ cao từ 700m đến 900m

Từ đặc điểm địa hình, các cảnh quan của Đà Lạt được tạo lập hết sức

kỳ thú Trên mọi ngả đường ra vào Đà Lạt, cảnh quan đèo dốc khiến lữ khách

tưởng như đang đứng trước một bức tranh với hình ảnh, màu sắc, đường nét

thay đổi không dừng Bao bọc đèo dốc là cảnh quan rừng thông thuần loại

quanh năm xanh mượt Rừng tiếp rừng trên những gân núi sườn đồi, cạnh

những dinh thự và cả các khu nhà dân dã

Khi mùa mưa tới, hoa huệ báo vũ màu hồng, hoa mua màu tím nhạt

điểm tô cho cảnh quan đồi cỏ, rừng thưa Sang đông, từng đám hoa quỳ vàng

rực báo mùa nắng tới, khiến cho cảnh quan núi cao dường như thêm phần

xanh thẳm Giữa các đồi núi là cảnh quan thung lũng, nơi bốn mùa đều có

sương giăng buổi sớm Đôi khi giữa biển sương mù nổi lên các ngọn đồi núi

cao như các hòn đảo giữa khơi xa

Trang 13

c Thổ nhưỡng

Trải qua các hoạt động địa chất lâu dài, chủ yếu là quá trình phong

hóa và chịu ảnh hưởng sâu đậm của khí hậu, địa hình, hệ thực vật khu vực,

trên bề mặt địa hình Đà Lạt đã hình thành một lớp phủ thổ nhưỡng với các

loại đất khác nhau, mang tính đai cao rõ nét

Quá trình phong hóa tạo đất ở Đà Lạt xảy ra tương đối mạnh mẽ và

trong một thời gian dài để lại lớp phong hoá dày Quá trình này xảy ra trong

điều kiện cận nhiệt đới ẩm với sự rửa trôi alumosilicat và silicat, mang đioxyt

silic và bazơ xuống các tầng sâu

Theo bảng phân loại mới dùng cho bản đồ đất của Việt Nam, các loại

đất Đà Lạt thuộc hai nhóm chính: nhóm đất feralit vàng đỏ phân bố ở độ cao

1.000 - 1.500 m và nhóm mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao 1.000 -

2.000 m Các nhóm khác như đất phù sa, đất than bùn, đất bồi tụ chiếm diện

tích không đáng kể

d Khí hậu

Đà Lạt nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi

phối bởi cao độ và địa hình tự nhiên nên khí hậu mang tính chất đặc thù so

với những vùng lân cận Nhiệt độ trung bình năm là 18.30C, biên độ nhiệt

Khí hậu Đà Lạt chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4

đến tháng 10 hàng năm, mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau

Trang 14

Lượng mưa bình quân hàng năm ở Đà Lạt đạt 1800 mm Cường độ mưa tập

trung vào các tháng 8, 9 hàng năm Mùa khô kiệt nước là tháng 12, tháng 1 và

tháng 2 Nhìn chung, Đà Lạt có khí hậu ôn hoà dịu mát quanh năm, mùa mưa

nhiều, mùa khô ngắn, không có bão Chính nhờ nền nhiệt độ tương đối ôn hòa

mà Đà Lạt đã phát triển thành một thành phố nghỉ dưỡng và du lịch nổi tiếng

Các điều kiện khí hậu này đã cho phép việc sản xuất các loại rau hoa, cây đặc

sản và nhiều loại cây trồng á nhiệt đới

e Thủy văn

Nhìn chung hệ thống thủy văn ở đây chủ yếu là hồ và thác Như hồ

Xuân Hương với vẻ đẹp thơ mộng Ngoài ra còn có các hồ Đa Thiên, hồ

Tuyền Lâm Các hồ này được các sông chảy từ trên núi cao chảy xuống có giá

trị rất lớn cho nông nghiệp và phát triển du lịch Từ trên đỉnh Langbiang nhìn

xuống chúng ta nhìn thấy hồ Suối Vàng hiện ra như một con Trăn khổng lồ

với những khúc uốn mềm mại Người ta tận dụng nước của hồ bằng cách xây

đập Suối Vàng Ở Đà Lạt còn có rất nhiều thác nước như thác Green, thác

Datanla… Nhờ nước ở các hồ và sông cung cấp nên các thác vẫn được cung

cấp đủ nước Các thác nước này có phong cảnh rất đẹp nên thu hút rất nhiều

khách du lịch

f Sinh vật

Đà lạt có hệ sinh vật rất đa dạng, với rất nhiều chủng loại Nổi bật

nhất ở đây là những rừng Thông xanh ngát Tạo cho vùng không khí mát mẽ,

thuận lợi cho phát triển cho trồng rau ôn đới và phát triển du lịch nghĩ dưỡng

Đà Lạt là vùng trồng rau lớn nhất Việt Nam Ngoài ra ở đây còn có rất nhiều

động vật các loại Đà Lạt còn nổi tiếng là vùng trồng hoa lớn với rất nhiều

loài hoa muôn sắc màu Chính vì vậy mà Đà Lạt còn được gọi là thành phố

Hoa

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Lịch sử hình thành Đà Lạt

Trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các tộc người Thượng Người

Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn

Trang 15

Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện

được ý định của mình Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis

và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng

người Thượng ở Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà

thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang Ngày 3 tháng 8 năm

1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý

định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này bất

thành Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc

thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung

Treng, nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia)

Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với châu

Âu để xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul Doumer viết

một bức thư hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là cao nguyên Lang

Biang Tháng 3 năm 1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer thực hiện một

chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang và chuyến đi này có ý nghĩa quyết định

về việc thành lập một trạm điều dưỡng ở đây

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung

Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết

lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang Đó có thể được xem là văn

kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền

thân của thành phố Đà Lạt sau này

Ngày 20 tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị

tứ, tức thị xã (centre urbain) Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên Đạo dụ này được

Khâm sứ J.E Charles chuẩn y ngày 30 tháng 5 năm 1916

Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến

đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt Hệ thống giao thông thuận lợi

giúp Đà Lạt phát triển nhanh chóng Vào năm 1893, vùng Đà Lạt ngày nay

hầu như hoang vắng Đến đầu năm 1916, Đà Lạt vẫn còn là một khu thị tứ

nhỏ với độ 8 căn nhà gỗ tập trung hai bên bờ dòng Cam Ly, chỉ có 9 phòng

Trang 16

khách sạn phục vụ du khách, đến cuối năm này mới nâng lên được 26 phòng

Cuối năm 1923, đồ án thiết kế đầu tiên hoàn thành, Đà Lạt đã có 1.500 dân

Ngày 31 tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định

chuẩn y đạo dụ ngày 11 tháng 10 cùng năm của vua Khải Định về việc thành

lập thành phố (commune- thành phố loại 2) Đà Lạt cùng với việc tỉnh Đồng

Nai Thượng được tái lập Nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở

Đông Dương, Nha giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam Trung

Kỳ được thành lập Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý, đại diện của

Toàn quyền Đông Dương Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng

về Đà Lạt Năm 1936 một Hội đồng thành phố được bầu ra Năm 1941, Đà

Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) mới tái lập Thị trưởng Đà

Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên Ngày 10 tháng 11 năm 1950, Bảo

Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định địa giới thị xã Đà Lạt

Sau Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức Thị xã Đà

Lạt có 10 khu phố Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập:

Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện

Đà Lạt (1960), trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ huy

và Tham mưu (1967) Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng

và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do các quan chức Sài Gòn, nhiều chùa chiền,

nhà thờ, tu viện được xây dựng Đà Lạt cũng là một điểm hấp dẫn với giới

văn nghệ sĩ

Sau 1975, với sự rút đi của quân đội và bộ máy chính quyền miền

Nam, nhưng được bổ sung bởi lượng cán bộ và quận đội miền Bắc, dân số Đà

Lạt ổn định ở con số khoảng 86 ngàn người Du lịch Đà Lạt hầu như bị lãng

quên Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, hàng loạt khách

sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa vào phục vụ du lịch

Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của Việt Nam với nhiều lễ

hội được tổ chức Hiện nay Đà Lạt là một thành phố du lịch nổi tiếng với

nhiều loại hình du lịch đa dạng và phong phú, thu hút lượng khách du lịch lớn

cả trong và ngoài nước

Trang 17

b Dân cư

Trải qua hơn một trăm năm lịch sử, từ một trung tâm nghỉ dưỡng trở

thành một đô thị lớn, cộng đồng dân cư Đà Lạt thay đổi theo quá trình hình

thành và phát triển của thành phố Vào năm 1893 nơi đây chỉ là một vùng dân

cư thưa thớt, một vài ngôi làng của người Lạch tập trung ở chân núi.Đến tận

năm 1902, khi dự án xây dựng một thành phố của Toàn quyền Paul Doumer

dừng lại, cư dân Đà Lạt vẫn chỉ là những nhóm dân tộc thiểu số người Lạch,

người Chil cùng một nhóm nhỏ người Việt di cư lên đây từ trước đó Năm

1906, một lần nữa, nơi đây được chọn làm nơi nghỉ dưỡng dành cho công

chức và binh sỹ Pháp Ngoài các cư dân bản địa, ở Đà Lạt bắt đầu có các công

chức người Pháp, những du khách châu Âu, và người Việt cũng bắt đầu tới

đây nhiều hơn trước

Giai đoạn sau Thế chiến thứ nhất là thời kỳ thành phố phát triển mạnh

mẽ Dân số Đà Lạt đã tăng lên đáng kể từ 1.500 người vào năm 1923 lên

11.500 người năm 1939 Những năm Thế chiến thứ hai, nhiều người Pháp

không thể trở về nghỉ ở quê hương và Đà Lạt trở thành điểm đến của họ

Thành phố tiếp tục được mở rộng và dân số tăng lên nhanh chóng, từ 13.000

người năm 1940 lên 25.500 người vào năm 1944 Vào năm 1946, dân số Đà

Lạt chỉ còn khoảng 5.200 người, khiến người Pháp gọi nơi đây là “thành phố

quạnh hiu” Nhưng khoảng thời gian tiếp theo, khi Đà Lạt một lần nữa thuộc

về người Pháp, các hoạt động kinh tế, xã hội dần ổn định trở lại Vào cuối

năm 1952, dân số thành phố đạt 25.041 người, trong đó có 1.217 người châu

Âu, 752 người Hoa, 22.232 người Kinh và 840 nguời dân tộc bản địa

Năm 1954, sau hiệp định Genève, thành phố đón nhận một lượng lớn

những di dân từ miền Bắc cùng làn sóng người miền Trung đến lập nghiệp,

khiến dân số Đà Lạt tăng vọt từ 25.000 người năm 1954 lên 58.958 người vào

năm 1956 Dân số thành phố gia tăng điều hòa trong thập niên 1960, nhưng

giảm sút trong thập niên 1970, khi chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn

căng thẳng Khoảng thời gian đầu sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, nhiều

người phục vụ trong quân đội, chính quyền Việt Nam Cộng hòa trở về quê

Trang 18

quán khiến dân số Đà Lạt giảm xuống, nhưng sau đó được bổ sung bởi các di

dân mới từ miền Bắc và miền Trung Cuối thế kỷ 20, địa giới hành chính Đà

Lạt được mở rộng, dân số thành phố tăng lên mạnh mẽ và có sự gia tăng dân

số cơ học đáng kể Năm 2010, Đà Lạt có dân số 209.301 người, chiếm 17,4%

dân số của tỉnh Lâm Đồng, mật độ 532 người/km²

Bảng 2.2: Sự biến động dân số Đà Lạt qua các năm

Năm Số dân Năm Số dân

Cộng đồng dân cư Đà Lạt, hình thành và phát triển trong vòng 100

năm, thành phố Đà Lạt còn rất trẻ nhưng với nhiều ưu thế tự nhiên, nó đã xác

định cho mình một bản sắc cá biệt Đà Lạt là nơi hội tụ của nhiều nguồn cư

dân Từ trước, nơi đây đã là quê hương lâu đời của người Lạch Người Pháp

trong ý đồ tìm kiếm cho mình nơi nghỉ dưỡng, đã đến Đà Lạt và trong một

thời gian dài xây dựng thành phố với dáng dấp và bộ mặt đến nay vẫn còn thể

hiện rõ nét Người Kinh đến Đà Lạt định cư đồng thời với người Pháp Họ

đóng góp sức lực, ý chí lớn lao trong việc xây dựng thành phố và gắn bó lâu

dài với vùng đất họ chọn làm quê hương cho mình và con cháu mai sau

Ngày nay, Đà Lạt là thành phố cao nguyên có số lượng người Kinh

chiếm đa số tuyệt đối, nên nói đến phong cách người Đà Lạt là đề cập đến lối

sống và cách ứng xử của nhóm cư dân này Đà Lạt là thành phố không những

trẻ trong tuổi đời mà còn trẻ trong cá tính Các luồng dân nhập cư và con cháu

của họ mới có một thời gian chưa dài trong quá trình hội nhập, giao thoa giữa

các cá tính và bản sắc địa phương Đà Lạt vừa là môi trường tổng hòa các mối

Trang 19

giao lưu vừa là kết quả tổng hợp các tinh hoa từ nhiều miền để hình thành cho

mình một bản sắc với nhiều dáng vẻ độc đáo Trong quá trình tổng hợp,

không loại trừ khả năng chọn lọc, đào thải, vì thế bản sắc cư dân Đà Lạt

không phải tổng cộng các sắc thái địa phương Điều này xác định cư dân Đà

Lạt có các giống cư dân các miền khác nhưng không phải là cư dân bất cứ

một miền nào trên đất nước

Chắt lọc, tinh chế, tổng hòa đã đúc thành một mẫu người Đà Lạt có

dáng dấp Huế nhưng không phải Huế, Hà Nội mà không phải Hà Nội, Quảng

mà không hẳn Quảng Nam hay Quảng Ngãi Bản sắc con người Đà Lạt rất dễ

cảm nhận và phân biệt nhưng gọi tên nó là gì vẫn còn là chuyện rất tế nhị

c Hành chính

Về hành chính, thành phố Đà Lạt được chia thành 12 phường và 4 xã

Ủy ban nhân dân thành phố nằm tại số 3 đường Trần Hưng Đạo, đối diện Ủy

ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng Nhiệm kỳ 2011–2016, người giữ chức vụ Chủ

tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt là ông Võ Ngọc Hiệp Thành ủy Đà

Lạt có trụ sở tại 31 đường Đinh Tiên Hoàng, Phường 2 Bí thư Thành ủy

nhiệm kỳ 2010–2015 là ông Đoàn Văn Việt, cũng là người giữ cương vị Chủ

tịch Hội đồng nhân dân Đà Lạt nhiệm kỳ 2011–2016

d Giao thông

Về giao thông, trung tâm Đà Lạt cách Biển Đông không xa, khoảng

80 km đường chim bay Du khách từ các tỉnh miền trung có thể đi theo quốc

lộ 20 nối dài (quốc lộ 11 cũ) lên Đà Lạt Từ đồng bằng lên cao nguyên, du

khách có thể chiêm ngưỡng sự thay đổi đột ngột của cảnh quan Đèo Ngoạn

Mục dài trên 20 km là một trong những đèo hiểm trở và hùng vĩ của Việt

Nam, kế tiếp là đèo Dran Trước đây, người ta có thể sử dụng đường xe lửa

răng cưa như một phương tiện du lịch và chuyên chở độc đáo, nhưng hệ thống

vận chuyển này ngày nay đã bị hư hỏng, chỉ mới được tu sửa một đoạn ngắn

từ Đà Lạt đi Trại Mát

Từ Đà Lạt có thể đi về hướng quốc lộ 27 bằng đường qua Tà Nung

ngang qua sân bay Cam Ly (cách Đà Lạt 5 km) Việc nâng cấp quốc lộ 27 nối

Trang 20

dài qua ngả Đức Xuyên (Đức Trọng - Lâm Hà) đã mở ra một viễn cảnh giao

lưu với các tỉnh Tây Nguyên, Đông Bắc Campuchia và Nam Lào

Nối với Thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm thương mại và công

nghiệp lớn nhất của cả nước - là quốc lộ 20 qua hai đèo lớn là Prenn và Bảo

Lộc Theo quốc lộ này, du khách có thể đến sân bay Liên Khương và các

thành phố biển khác như Vũng Tàu – Bà Rịa, các tỉnh miền Đông Nam Bộ

như Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé

Ngoài ra, từ phía Bắc Đà Lạt, có đường cấp phối độc đạo nối Đà Lạt

với Đa Mrong, khó đi lại vào mùa mưa Ở phía Đông còn có một con đường

dở dang hướng về Khánh Sơn (Khánh Hoà)

2.1.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dƣỡng

Ai cũng biết, cuối thế kỷ 19 bác sĩ Yersin đã khám phá ra cao nguyên

Langbian (Lâm Viên) rộng lớn và là người đề xuất xây dựng Đà Lạt Song

không nhiều người biết rằng, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp có kế

hoạch biến Đà Lạt thành “thủ đô hành chính của Đông Dương” thuộc Pháp

- Ý tưởng đặt “thủ đô Đông Dương” ở Đà Lạt thời Pháp thuộc: Sau khi

bác sỹ Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên, một số công trình đã được

xây dựng Song vì lý do khủng hoảng tài chính và nhiều khó khăn khác nên

khu vực này đã bị “quên lãng” trong nhiều năm Đến năm 1921, Chính quyền

Pháp mới khởi động lại kế hoạch xây dựng đường sắt lên cao nguyên Lâm

Viên Tuyến đường sắt răng cưa này hoàn thành vào năm 1931, đánh dấu

bước khởi đầu cho phát triển du lịch tại đây Năm 1923, bản đồ quy hoạch Đà

Lạt của kiến trức sư Hébra được phê duyệt Sau đó, rất nhiều công trình xây

dựng được thực hiện tại thành phố xinh đẹp, thơ mộng này… Đà Lạt trở

thành nơi nghỉ mát lớn nhất Đông Dương thu hút nhiều du khách Thành phố

Đà Lạt toàn là những biệt thự nhà nghỉ và khách sạn sang trọng như: Palau,

Hotel du lạc…

Vào những năm 30 của thế kỷ 19, báo chí đã đề cập rất nhiều về vấn

đề đặt thủ đô của Liên bang Đông Dương ở Đà Lạt Vào thời điểm đó, trụ sở

của Phủ Toàn quyền Đông Dương đặt tại Hà Nội Tuy nhiên trên thực tế Toàn

Trang 21

quyền Đông Dương luôn làm việc ở cả 3 thành phố là Hà Nội, Sài Gòn và Đà

Lạt

Trong bài viết “Đà Lạt, thủ đô hành chính của Đông Dương?”, tác giả

Pineau đã phân tích rất chi tiết về những điều kiện để lựa chọn thủ đô của các

quốc gia như: Các nhân tố về lịch sử, địa lý, chính trị; xu hướng phát triển

theo chế độ tập trung, xu hướng phát triển ra biển… Theo đó, Đà Lạt hội đủ

các điều kiện để trở thành “thủ đô của Đông Dương” Trong bản đồ quy

hoạch và mở rộng Đà Lạt năm 1932 đã có kế hoạch biến Đà Lạt thành thủ đô

hành chính của Đông Dương Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1932, để từ bỏ ý

định trên, một chương trình quy hoạch mở rộng giới hạn ở việc chỉnh trang

khu nghỉ mát trên núi đã được thực hiện Ý tưởng trên người Pháp vẫn không

lãng quên và luôn được họ nghiên cứu, cân nhắc Toàn quyền Jean Decoux

ngay sau khi mới nhậm chức (1940) đã bắt tay thực hiện ý tưởng của các vị

tiền nhiệm đó là biến Đà Lạt thành thủ đô hành chính Đông Dương Ông đã

giao cho kiến trúc sư Lagisquet – Trưởng phòng kiến trúc và Quy hoạch Đô

thị - thiết lập đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt Sau 20 năm kể từ đồ án

quy hoạch lần đầu được thông qua, thành phố Đà Lạt được quy hoạch và

chỉnh trang theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 26/4/1943

Theo bản đồ quy hoạch, khu trung tâm Đà Lạt được chia thành 15 khu: Dinh

Toàn quyền Đông Dương, Văn phòng, sòng bạc, khách sạn, trung tâm văn

hóa và thư viện, ngân hàng, trung tâm thương mại châu Âu, nhà thờ, Sở cảnh

sát, trung tâm hành chính địa phương, chợ, trung tâm thương mại bản ngữ,

khách sạn thành phố, đạo (trụ sở của cơ quan quản lý bản xứ), rạp chiếu bóng

Người Pháp đã từng có ý định biến Đà Lạt thành thủ đô hành chính

của Đông Dương Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, họ không thực hiện

được Đến năm 1945, Đà Lạt đã trở thành một thành phố tuyệt đẹp của vùng

Viễn Đông lúc bấy giờ Cách mạng tháng Tám thành công, chấm dứt thời kỳ

đô hộ của người Pháp ở đây Mặc dù sau đó, người Pháp có chiếm đóng lại

Đà Lạt nhưng họ không đủ can đảm để thực hiện giấc mơ của mình Nhưng

Trang 22

dù sau, người Pháp cũng đã có công tìm kiếm và xây dựng thành phố Đà lạt

với những kiến trúc hết sức độc đáo, mang dáng vóc châu Âu

* Một số dạng kiến trúc công trình nổi tiếng ở thành phố Đà Lạt:

- Dinh thự: Đà Lạt có các dinh thự lớn là Biệt điện số 1, 2 và 3 Đây

chính là nơi để nghỉ mát và làm việc được xây dựng theo dạng cung điện dành

cho các nguyên thủ quốc gia

+ Dinh 1: Là một quần thể công trình lớn xây dựng trên một diện tích

đất hơn 60 ha, ngôi nhà chính là một tòa nhà một hầm, một trệt, một lầu, mái

lợp ngói đỏ, hình thức mang dáng dấp kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ XIX Hai

hàng cây cao có thân trắng xốp ven lối vào công trình nổi bật trong nền rừng

thông sẫm Giữa con đường là một đảo hoa xoay đến công trình chính, mặt

bằng công trình đối xứng với lối vào ở giữa và hệ thống cầu thang, hành lang

trổ ra hai bên Quanh đó là một số biệt thự lớn khác (nhà cận vệ quân, ngự

lâm quân, các nhà phục vụ ) và một hệ thống sân vườn, bể cảnh, đường đi

dạo đã tạo thành một quần thể hoàn chỉnh

+ Dinh 2 và Dinh 3: Khác với trường phái học viện của công trình

trên, đây là những công trình chịu ảnh hưởng của trào lưu cách tân kiến trúc ở

châu Âu lúc bấy giờ (1920-1930) do Le Corbusier và Gropius đề xướng Lúc

này, kiến trúc đã bắt đầu phi đối xứng và đi vào yếu tố hình khối, bố cục tự

do Đây là những công trình đồ sộ với mái bằng, hình khối, bố cục tuy cân đối

nhưng không đối xứng, có cùng một thời điểm xây dựng 1933-1938 Mặt

bằng được bố cục tương đối hiện đại, toàn bộ tầng trệt dành cho các phòng

làm việc và tiếp khách gắn với các tiểu cảnh kiến trúc công viên, vườn Ở

đây, không gian kiến trúc bên trong và bên ngoài hoà lẫn vào nhau quanh các

lối đi và cửa sổ kính bằng khung thép rất lớn, hoặc qua các sân vườn có cột

trụ bao quanh để tạo thành những không gian chuyển tiếp

- Biệt thự: Được phân chia thành nhiều hạng theo diện tích phân lô của

đất xây dựng - Biệt thự tiêu chuẩn cao (DTPL>1.500m2) là nơi ở hay nghỉ

mát dành cho tầng lớp thượng lưu trước đây, gồm các khu Trần Hưng Đạo,

Trang 23

Hùng Vương, Lê Hồng Phong, Lê Lai, Nguyễn Du đều nằm xa trục đường

chính Các ông trình được bố trí cách xa nhau từ vài chục đến vài trăm mét

Tầng hầm được xây dựng theo địa hình với nền nhà rất cao (> 40cm)

và thường có cầu thang được bố trí ngoài trời để vào tầng trệt Tầng trệt có

sảnh, tiền sảnh và phòng khách rộng rãi, độ cao tầng rất lớn (có khi đến 6m)

Tầng trên là các phòng ngủ, phòng sinh hoạt gia đình hay terrasse

Hình 2.2: Mô hình kiến trúc một biệt thự thời Pháp ở Đà Lạt

Nguồn: Đà Lạt xưa và nay

Hình 2.3: Biệt thự 2 Hùng Vương và biệt thự Merionnet

Nguồn: Đà Lạt xưa và nay

Cũng như dinh thự, các biệt thự này được xây dựng theo hai thể loại:

+ Thể loại thứ nhất: Theo trào lưu cổ điển được xây dựng nhiều vào

thời kỳ đầu với bố cục mặt bằng đơn giản, thường đi sâu vào các chi tiết mặt

đứng Nhà mái ngói có độ dốc lớn, mặt bằng đơn giản có nguồn gốc từ kiểu

Trang 24

kiến trúc xứ lạnh miền Bắc nước Pháp, loại biệt thự này thể hiện ở cách trình

bày cầu kỳ của các chi tiết mái, cầu thang, chi tiết trang trí trên cửa sổ, cửa đi,

và đặc biệt là những hoa văn ở những vòm cuốn giả trên cửa có tính nghệ

thuật cao

+ Thể loại thứ hai: Với bố cục mặt bằng tự do và linh động, được bố

trí tùy theo địa hình hay chức năng sử dụng, đã tạo thành hình khối công trình

đa dạng hơn: mái nhà được lợp ngói hoặc làm mái bằng bêtông cốt thép, kiểu

dáng tương tự kiến trúc miền Nam nước Pháp hay miền Địa Trung Hải, đã bắt

đầu chịu ảnh hưởng của kiến trúc hiện đại Loại này được xây dựng về sau và

phát triển cho đến nay, kiến trúc hướng vào nghệ thuật tạo hình khối và tổ

chức sân vườn chung quanh Ở đây, không gian ở và môi trường tự nhiên đã

được xử lý bằng những trung gian như mái hiên, vườn cảnh tạo thành một

hệ thống không gian liên tục Mỗi một biệt thự là một đóa hoa kiến trúc xinh

đẹp và cả thành phố là một vườn hoa lớn với những trục đường biệt thự muôn

hình muôn vẻ

Hình 2.4: Kiến trúc biệt thự theo thể loại thứ 2 đƣợc xây dựng ở Đà Lạt

Nguồn: Đà lạt xưa và nay

Trang 25

+ Kiến trúc vùng Normandie (phía Tây Bắc nước Pháp): Kiểu nhà

mái ngói lớn với phần đuôi được bẻ góc, có tường xây đá chẻ đến hệ cửa sổ

và phần bên trên xây gạch để lộ các khung sườn gỗ

+ Kiến trúc vùng Bretagne (phía Tây nước Pháp): Kiểu nhà mái lợp

bản thạch (ardoise) có tường xây đá chẻ với tường hồi có viền xây cao hơn

mái

+ Kiến trúc vùng Pays Basque (phía Tây Nam nước Pháp): Có tường

hồi quay ra mặt tiền với khung sườn nổi và có mái vươn rộng ra khơi tường

+ Kiến trúc vùng Savoie (phía Đông Nam nước Pháp): Đặc điểm như

kiến trúc vùng Pays Basque nhưng tầng dưới được xây, còn tầng trên được

đóng bằng gỗ và có balcon rộng

Ngoài ra, thành phố cũng có các khu biệt thứ hạng vừa (DTPL <

1.000m2) và các nhà biệt lập có sân vườn (DTPL<500m2) là loại công trình

được phổ biến tại trung tâm thành phố, dành cho tầng lớp trung lưu, công

chức trước đây như các trục: Hai Bà Trưng, Hoàng Diệu, Trần Bình Trọng,

Yết Kiêu, Bùi Thị Xuân Nhà có mặt bằng đơn giản, mái lợp ngói, tường xây

gạch quét vôi, có nơi làm bằng gỗ theo thiết kế điển hình (trước 1954) Để giữ

gìn vẻ đẹp tự nhiên của đồi núi, tất cả các công trình kiến trúc đều được xây

dựng theo khoảng lùi quy định, nhờ khoảng cách này đường vào nhà dễ dàng

với độ dốc nhỏ, cũng như tạo được một khoảng sân làm vườn hoa trước mỗi

công trình

2.1.3 Một số địa điểm tham quan nổi tiếng ở Đà Lạt

- Chợ Đà Lạt: Năm 1958, chợ Đà Lạt hiện nay được khởi công xây

dựng trên một vùng đất sình lầy trồng xà-lách-son (cresson), do kiến trúc sư

Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công, hoàn thành

vào năm 1960 Về sau, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang chợ

Đà Lạt Ngày 3.4.1993, khởi công xây dựng khối B chợ Đà Lạt do kiến trúc

sư Lê Văn Rọt và Trần Hùng thiết kế Công trình do Uỷ ban nhân dân thành

phố Đà Lạt và Ngân hàng Việt Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác đầu

tư Chợ Đà Lạt có 3 tầng, là một trong những chợ lầu đầu tiên ở Việt Nam

Trang 26

- Chùa Linh Sơn: Cách Hòa Bình hơn 700m về hướng Tây Bắc, chùa

Linh Sơn được xây dựng trên một ngọn đồi rộng khoảng 4ha trồng chè, cà

phê, bạch đàn, thông, tùng, trắc bách diệp, mai anh đào Cảnh chùa trang

nghiêm, cổ kính Phía trước sân chùa là bãi cỏ xanh với những luống hoa,

tảng đá lớn, cụm sơn giả giữa các hồ nước nhỏ Hai bên bậc cấp dẫn vào

chánh điện là hai con rồng uốn khúc Ở giữa điện Phật thờ tượng Phật Thích

Ca bằng đồng nặng 1.250 kg đúc năm 1952 Bên phải tiền đường là tháp hình

bát giác có vẻ đẹp kiến trúc phương Đông Chùa được xây dựng từ năm 1936,

hoàn thành năm 1940

- Hồ Xuân Hương: Là hồ đẹp nhất nằm ở trung tâm thành phố Ðà

Lạt Ðây là hồ lớn ở Ðà Lạt, chu vi 5.000m rộng khoảng 8 ha Hồ Xuân

Hương có hình mảnh trăng lưỡi liềm, là nơi thơ mộng, cuốn hút khách nhàn

du, cũng là nơi hò hẹn của những đôi bạn tâm tình Mặt hồ phẳng lặng như

tấm kính pha lê, soi bóng những hàng thông reo hát suốt ngày đêm Những

con đường quanh hồ rợp bóng cây tùng, tạo thêm vẻ thơ mộng cho hồ

Chiều tàn hay đêm đến, du khách có thể tản bộ hay lọc cọc xe ngựa

quanh hồ để lâng lâng cùng chút se se lạnh cao nguyên hoặc ngồi nhâm nhi ly

rượu, tách cà phê ở các nhà hàng Thủy Tạ, Thanh Thủy ven hồ và thả hồn lăn

tăn cùng mặt nước Xuân Hương Ngoài ra du khách còn có thể đạp pedalo, đi

xuồng máy hay chèo thuyền cao su trên hồ

- Hồ Tuyền Lâm: Từ một thung lũng hoang vu ở độ cao hơn 1.000m

so với mặt biển bị bao bọc bởi bốn bề rừng núi và dòng suối tía huyền thoại

bắt nguồn từ những ngọn núi cao ngất và đại ngàn hùng vĩ ở nam Tây

Nguyên; cuối những năm 80, những người thợ xây dựng Bộ Thủy lợi đã tạo

nên hồ Tuyền Lâm, với diện tích 365 ha, chỗ sâu nhất 36m, cung cấp nước

tưới cho hơn 1.400 ha hoa màu, lúa và cây công nghiệp ở các xã tây bắc

huyện Ðức Trọng Điều kỳ thú là hồ đầy nước quanh năm, mặt hồ xanh biếc

và rất thơ mộng Đây là một địa điểm du lịch rất lý tưởng cho du khách trong

và ngoài nước

Trang 27

- Thiền Viện Trúc Lâm: Nằm trong khu vực khu du lịch Hồ Tuyền

Lâm, du khách đến Thiền Viện Trúc Lâm sẽ được chiêm ngưỡng một kiến

trúc Tôn giáo được tọa lạc trên một đỉnh đồi Từ Thiền Viện Trúc Lâm, có thể

nhìn thấy toàn cảnh hồ Tuyền Lâm Tại đây, quý khách có thể cúng bái, vãng

cảnh chùa hoặc nghiên cứu về các truyền thuyết tôn giáo từ thời Vua Trần

Nhân Tông Có các điểm buôn bán quà lưu niệm, các đặc sản của Đà Lạt

- Chùa Linh Phước: Chùa Linh Phước được xây dựng từ năm 1949

đến năm 1952 thì hoàn thành Chùa tọa lạc trong một con hẻm ở số 120 Tự

Phước – Đà Lạt Bên trong chùa là ngôi tiền đường bảo tháp cao 27m được

chạm khắc khá sắc sảo, điện thờ Phật Bà Quan Âm Chánh điện khá lớn, rộng

hơn 22m và dài 33m, thờ Phật Thích Ca Trang trí quanh tường là những bức

phù điêu được chạm khắc bằng miểng chén sứ với nghệ thuật rất tinh vi kể lại

lịch sử Đức Phật Khuôn viên chùa khá đẹp với những hòn giả sơn, nhiều

chậu cây cảnh và hoa phong lan khoe sắc Đặc biệt, uốn quanh hồ nước là một

con rồng có những chiếc vẩy sặc sỡ được trang trí bằng phương pháp đắp nổi

nhiều mảnh sành sứ, thủy tinh Bên cạnh những kiến trúc độc đáo ấy, trong

tòa tháp cao 7 tầng của chùa Linh Phước còn có một Đại hồng chung khổng

lồ cao hơn 4m, trọng lượng 8,5 tấn được đúc năm 1999

- Hồ Than Thở: Xưa chỉ là một hồ nhỏ, về sau người Pháp cho ngăn

đập nước tạo thành hồ và đặt tên là Las des Suopirs Sau đó, năm 1956 lại trở

về với tên cũ Than Thở Hồ cách trung tâm thành phố 6km về phía đông, trên

đường đi Thái Phiên hoặc Chi Lăng Hồ nằm trên đồi ao giữa một vùng rừng

thông tĩnh mịch Trước đây hồ cung cấp nước cho thành phố Cảnh vật quanh

hồ thật im vắng, mặt hồ trầm ngâm phẳng lặng Con đường đất nhỏ hẹp quanh

hồ mất hút xa xa Gió lên, thông reo, lời ru khi êm ái, khi như nức nở khóc

than Quanh hồ có bao nhiêu truyền thuyết, tình sử…Hồ Than Thở là một

trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Đà Lạt do tên gọi khá hấp dẫn và cảnh

quan quanh hồ

- Núi Lang Biang: Nói đến núi non Đà Lạt, nhiều nhà nghiên cứu địa

lý, lịch sử, dân tộc học và cả khách du lịch đều nghĩ đến hai ngọn Lang Bian

Trang 28

mà người Việt gọi là Núi Bà và Núi Khổng Lồ (Nhút) cùng rặng Biđúp, mặc

dù ngày nay Lang Bian (Núi Bà) thuộc huyện Lạc Dương Ông Khổng Lồ

(Nhút) cũng thế, còn rặng Biđúp thực tế ở Lạc Dương giáp giới với Thuận

Hải Riêng với hai ngọn Lang Bian, các nhà nghiên cứu Pháp đã tìm hiểu khá

nhiều, người Việt đặt tên Núi Bà là về sau này Trong các truyền thuyết thần

thoại, truyền thuyết của các dân tộc ít người Đà Lạt, ba rặng núi Lang Bian

(Lâm Viên - Núi Bà), Khổng Lồ (Nhút) và Biđúp quan hệ rất mật thiết với

nhau và thường là nguồn cảm hứng sáng tạo của các thi ca Đỉnh Lang Bian

cao 2.167m và Biđúp cao 2.287m Du khách ở Đà Lạt có thể thấy hai ngọn

Lang Bian (Núi Bà) như bộ ngực tràn căng sức sống của một phụ nữ xinh đẹp

khỏa thân nằm ngửa nhìn trời xanh mênh mang trong những ngày đông nắng

lạnh Nhìn từ Đà Lạt, du khách ngỡ rằng hai đỉnh Lang Bian liền nhau có thể

đi từ đỉnh này sang đỉnh kia Nhưng sự thật lại khác Hai đỉnh núi được đi hai

con đường khác nhau: Một theo hướng Lạc Dương, một theo ngả Thái Phiên

Hồi trước, nối liền hai đỉnh núi này có một con đường mòn quanh co qua một

thung lũng, nhưng bây giờ cây rừng đã che mất

- Suối Vàng: Nằm về phía Bắc Đà Lạt, cách trung tâm thành phố

12km Khu vực trầm mặc và thơ mộng này với những đồi cỏ thênh thang là

nơi bác sĩ Yersin đã đề nghị thành lập trung tâm thành phố nghỉ mát Nhưng

sau khi khảo sát địa thế vùng này không thấy thuận lợi; Hơn nữa gần chân

núi, độ ẩm cao, không thoáng khí như ở Đà Lạt nên vùng này vẫn còn khá

hoang sơ như ngày nay Tuy vậy gần đây đã có bao dự kiến xây dựng Suối

Vàng thành khu du lịch thứ 2 sau Đà Lạt Vùng đất tuyệt đẹp này với những

mặt hồ lãng đãng khói sương đã thu hút không biết bao nhiêu du khách Dưới

chân đồi ven hồ là một rừng thông non xanh thẳm nổi lên trên những cụm đồi

tròn nhấp nhô chạy tít đến chân núi Lang Biang Đó là những sân cù lý tưởng

trong tương lai Suối Vàng có 1 thác nước và 2 hồ lớn Hồ Ankroet ở dưới và

hồ Dankia ở trên

- Thác Cam Ly: Là thác gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất, chỉ

cách khu Hòa Bình 2,3 km về phía Đông – Nam Lộ trình đến thác Cam Ly:

Trang 29

Khu Hòa Bình - Đường 3 tháng 2 - Hoàng Văn Thụ Thác không đẹp và

thường ít nước vào mùa khô nhưng nhờ vị trí gần trung tâm thành phố nên du

khách thường ghé thăm Một chiếc cầu bắc ngang qua suối Cam Ly phía trên

thác giúp du khách đi từ bên này sang bên kia dòng suối Dưới chân thác là

một vườn hoa nhỏ Phong cảnh chung quanh thác không còn hoang vu như

ngày xưa Thác Cam Ly do Công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai

thác, với tổng diện tích sử dụng là 16,5 ha

- Thác Datanla (Datanla): Ở ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách Đà

Lạt gần 5 km Nằm trong khu rừng dự trữ nên Datanla còn có vẻ đẹp hoang

dã Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền

dốc tạo thành nhiều thác liên tiếp, có chỗ nước chảy giữa khe nứt tạo thành hố

sâu gọi là “Vực tử thần” Du khách muốn xuống tham quan thác phải đi bộ

theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp Phía dưới

thác Datanla là một chuỗi thác khác, hùng vĩ nhất là thác Đoong Nham,

đường khó đi Datanla là biến âm của tên dòng suối Đa Pơrla, người Lạch gọi

thác Datanla là Liêng Đu Rpu Kwăng (con trâu đực té) vì theo truyền thuyết,

ngày xưa có một con trâu đực té xuống thác này

- Thác Pongour: Nằm trên địa bàn xã Tân Hội, huyện Đức Trọng,

cách Đà Lạt 45km, cách đường quốc lộ 20 khoảng 7 km Thác thuộc loại đẹp,

hùng vĩ nhất Tây Nguyên với chiều cao hơn 20m, bề mặt thác dài hàng trăm

mét và một thềm thác rộng hàng chục ha có thể tổ chức vui chơi cho hàng

ngàn người một lúc Các nhà du lịch đã không ngần đặt cho Pongour biệt hiệu

“Nam Phương đệ nhất thác” Theo truyền thuyết của đồng bào dân tộc thì

thác gắn liền với câu chuyện về nàng Ka Nai - một Tù trưởng xinh đẹp đã có

công xây dựng nên cuộc sống thịnh vượng của đồng bào K’ho Tương truyền

Ka Nai có 4 con tê giác và Ponguor là dấu vết các con tê giác cắm sừng

xuống đất Từ nhiều năm nay, Ponguor có ngày hội thác vào rằm tháng giêng

hàng năm và ngay này đã trở thành một ngày vui chơi xuân của thanh niên Đà

Lạt - Lâm Đồng với nhiều trò chơi dân gian, các nghi lễ văn hóa truyền thống

Trang 30

của các dân tộc bản địa Thác hiện do công ty TNHH Đất Nam (thành phố Hồ

Chí Minh) quản lý và khai thác

- Thác Prenn: Trên đường từ TP Hồ Chí Minh lên Đà Lạt, vừa qua

khỏi ranh giới của thành phố Đà Lạt với huyện Đức Trọng, du khách gặp thác

Prenn Thác Prenn nằm sát ngay bên cạnh quốc lộ 20, dưới chân đèo Prenn

Từ trên cao, nước đổ qua một vòm đá huyền vũ rơi xuống, trải đều như một

bức rèm trắng xóa tựa như mái tóc của nàng tiên, do đó thác còn có tên là tiên

sa Khách đến tham quan thác Prenn thích thú đi qua chiếc cầu nhỏ bắt trong

lòng thác, để mặc cho bụi nước tung tóe bám vào người, mang lại một cảm

giác sảng khoái đặc biệt Trong những năm 1960, thác Prenn có một vườn thú

nhỏ với voi, cọp, gấu, hươu, nai, khỉ, trăn, công… Khu du lịch thác Prenn do

công ty dịch vụ du lịch Đà Lạt quản lý và khai thác Trước đây, phía trên thác

Prenn có buôn Prền, nên thác mang tên gọi phổ biến là Prenn Người Lạch gọi

thác Prenn là Liêng Tarding Trong ngôn ngữ Lạch, Prền là tên gọi của cây cà

đắng, nhưng buôn Prền là một địa danh không thể giải thích được như một số

địa danh khác của người Lạch

- Thác Hang Cọp: Vài năm trở lại đây, du khách đến Đà Lạt có nghe

nói đến thác Hang Cọp, một thắng cảnh mới khai thác ở vùng Trại Mát thuộc

phường 11, thành phố Đà Lạt Nhưng đi đến thác để tận mắt ngắm nhìn cảnh

đẹp này thì còn ít người đi tới được bởi đường đến thác tuy không xa nhưng

lại khó đi Từ trung tâm thành phố Đà Lạt đi về phía Trại Mát theo quốc lộ 20

(quốc lộ 11 cũ) đến nhà thờ Trại Mát, khoảng non 10 cây số, có một ngã rẽ đi

vào một con đường đất ở phía tay trái, đó là đường vào thác Hang Cọp Qua

hơn 5 km đường đất quanh co dưới tán rừng thông, qua những con dốc xuôi

thoai thoải chằng chịt rễ cây, khách đã nghe tiếng thác chảy réo rắt từ xa xa

Không gian ở đây rất im vắng, không bị khuấy động bởi tiếng ồn ào của phố

thị Nắng vàng xuyên qua lá thông chiếu xuống một thứ ánh sáng làm mát dịu

con đường đi Sau khi lội qua một con suối nhỏ nước chảy trong veo là đã đến

đầu ngọn thác Từ đó, theo một bậc cấp bằng xi măng đi xuống vực sâu, hai

bên cây lá chen chúc dày đặc Đến chân thác, hơi nước tỏa mù như sương, khí

Trang 31

đá bốc ra lạnh ngắt và ẩm ướt Từ chân thác ngước mắt nhìn lên: một cột

nước trắng xóa từ núi đá cao đổ xuống, dội ầm ì vào một hố nước sâu rồi

thoát đi theo một dòng suối ngoằn ngoèo qua các tảng đá lớn và lặng lờ chìm

lẫn vào rừng cây rậm rạp Thác cao ước khoảng 25m, rộng hơn 10m Đến

mùa mưa, nước nhiều, dòng thác trải rộng khoảng hơn 5m, mùa nắng thì dòng

thác hẹp hơn nhưng vẫn đổ xuống với tốc độ rất nhanh và mạnh tạo thành

những mảng bọt trắng xóa tràn lên các tảng đá hoa cương lớn nằm dưới chân

thác Cảnh vật quanh thác còn hoang sơ: rừng thông ở trên đồi cao thẳng đứng

dưới bầu trời xanh trong, ở dưới lũng sâu là nhiều loại cây tạp, cây lá rộng

khác chen chúc rậm rạp, cành lá đan xen mà ánh nắng mặt trời không chiếu

xuyên qua được Nếu như không có những bậc cấp bằng xi măng dẫn xuống

thác thì đứng ở đây khách sẽ ngỡ như đứng giữa khoảng rừng núi âm u chưa

có dấu chân người

- Thung lũng tình yêu: Năm 1972, hồ Đa Thiện rộng 6 ha được hình

thành sau khi một đập nước được xây dựng ngăn giữa hai ngọn đồi để giữ

nước phục vụ sản xuất và tạo nên một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ phẳng

lặng giữa những đồi thông trùng điệp Đập nước này thường gọi là Đập III Đa

Thiện Trước đó, Đa Thiện đã xây dựng 2 đập nước khác, nhỏ hơn dùng cho

trồng rau Thung lũng hồ Đa Thiện được mang tên Thung lũng Tình yêu

(Vallée d’Amour) và giải thích theo hai cách:

+ Trong nửa đầu thế kỷ 20, thung lũng gần Dinh Bảo Đại (Dinh III)

được gọi là Vallée d’Amour (Thung lũng Tình yêu), sinh viên Viện Đại học

Đà Lạt nhận thấy thung lũng gần ấp Đa Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của

thanh niên nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu

+ Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Đa Thiện và đặt tên

Thung lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước

Cách Khu Hoà Bình 4,6 km về hướng Bắc theo đường chim bay

Thung lũng Tình yêu là một trung tâm du lịch thanh thiếu niên do Công ty

dịch vụ du lịch thanh niên Đà Lạt quản lý, với diện tích 342 ha Du khách đến

tham quan thường dừng lại trên đồi cao, chụp ảnh, ngắm nhìn toàn cảnh đồi

Trang 32

núi chập chùng, đỉnh núi Lang Biang án ngữ phía Bắc, cưỡi ngựa, đi xe đạp

nước, dùng du thuyền lướt trên mặt hồ, mua đặc sản hay tổ chức những bữa

Trang 35

2.1.4 Hướng phát triển của du lịch ở Đà Lạt

Đà Lạt, một thành phố nằm ở Nam Tây Nguyên được bác sĩ

A.E.Yersin phát hiện và đã được người Pháp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng

Trải qua hơn 110 năm hình thành và phát triển Đà Lạt vẫn giữ vững chức

năng nghỉ dưỡng được đặt ra từ đầu Trong những năm qua, du lịch Đà Lạt có

những bước phát triển rõ rệt Du khách đến Đà Lạt với mục đích tham quan

nghỉ ngơi, Đà Lạt thật sự là một điểm du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn đối với mọi

người Bên cạnh những kết quả đạt được du lịch nghỉ dưỡng Đà Lạt còn bộc

lộ nhiều yếu kém, tồn tại đó là: tình hình phát triển du lịch nghỉ dưỡng tại Đà

Lạt chưa cao và chưa thực sự là loại hình du lịch dành cho nghỉ dưỡng, loại

hình du lịch còn đơn điệu, chất lượng sản phẩm du lịch chưa tốt, khả năng

cạnh tranh thấp,…

Để loại hình du lịch nghỉ dưỡng tại Đà Lạt ngày càng phát triển, trước

hết phải định hướng phát triển du lịch bền vững, bảo vệ nguồn tài nguyên

thiên nhiên và nhân văn, có các biện pháp bảo vệ môi trường Đào tạo nguồn

nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở

hạ tầng, đặc biệt là nhanh chóng nâng cấp sân bay Liên Khương thành sân

bay quốc tế và hoàn thiện hệ thống giao thông

Về cơ sở vật chất kỹ thuật cần xây dựng thêm các khách sạn, khu biệt

thự, nhà hàng phù hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng Đa dạng hoá sản

phẩm du lịch nghỉ dưỡng cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng, tạo ra các

sản phẩm dành cho loại hình nghỉ dưỡng như: chăm sóc sức khỏe bằng

phương pháp Yoga hoặc phương pháp thiền, du lịch kết hợp phương pháp vật

lý trị liệu, châm cứu,… và chúng ta phải có chiến lược tuyên truyền, quảng bá

và mở rộng thị trường cho du lịch nghỉ dưỡng Đà Lạt ngày càng phát triển

Với ưu thế về khí hậu cảnh quan, không gian kiến trúc độc đáo và hài

hòa với cảnh quan đã tạo điều kiện cho hai chức năng nghỉ dưỡng và du lịch

của Đà Lạt gắn bó mật thiết và hỗ trợ cho nhau Sự phát triển về du lịch của

Đà Lạt góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch của cả nước nói chung, của

Trang 36

vùng du lịch Nam Trung bộ nói riêng, xứng đáng với vai trò là một trong

những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam hiện nay

2.2 BÀ NÀ

2.2.1 Điều kiện hình thành khu nghỉ dƣỡng

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lí

Núi Bà Nà là một trong những núi đẹp nhất Đà Nẵng cùng với núi

Ngũ Hành Sơn và núi Sơn Trà.Núi Bà Nà toạ lạc một khu vực thuộc về dãy

núi Trường Sơn nằm ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng 46 km

về phía Tây Nam Trung tâm du lịch của Bà Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa có

độ cao 1489 m so với mực nước biển

Hình 2.5: Cảnh quan từ núi Bà Nà

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

b Điều kiện tự nhiên

Núi Bà Nà cao 1487m so với mực nước biển Nhiệt độ trung bình

hàng năm từ 15 đến 200C Ở đây khí hậu một ngày mang đặc trưng 4 mùa

riêng biệt: sáng xuân, trưa hạ, chiều thu, tối đông, khác biệt với Đà Lạt là

không bị ẩm ướt vì các cơn mưa nhỏ Khi mưa xuất hiện, chúng ta được xem

mưa rơi quanh sườn núi mà phần đỉnh vẫn luôn khô ráo, vẫn trời quang mây

tạnh, không khí thoáng đãng mát mẻ Điều khác biệt giữa Bà Nà với Tam

Đảo, Đà Lạt là từ trên những mỏm núi Bà Nà, chúng ta có thể bao quát một

không gian mênh mông với những cánh đồng lúa xanh ngát tận chân trời

Trang 37

Dãy núi Bà Nà và dãy núi Liên Chiểu là một sống đá hoa cương quan

trọng chạy từ Lào men theo biên giới Nam Thừa Thiên ra thẳng đến vịnh Đà

Nẵng, vì vậy cả khối núi Bà Nà là nham thạch biến tính có độ tuổi khá cao

(200 triệu năm) đã từng phần phong hoá Từ chân núi lên lưng chừng núi vào

độ cao 700 - 800m, cây cối mọc rậm rạp đủ loại, bắt đầu từ những đồi tranh

xanh mượt rồi đến truông gai mọc xen lẫn cây lá đót, cây đủng đỉnh, dương

xỉ, bòng bong, cau rừng, mây gai Qua khỏi tầng này, đến dải rừng thực thụ,

cây cao, thân thẳng, gỗ lớn, lá rậm che kín cả trời, tầng cây nhấp nhô, nhiều

nhất là loại thiết mộc như kiền kiền, chò chỉ, sơn đỏ, dẻ, bời lời Từ độ cao

1000m trở lên, rừng thưa lần những loài cây thường xanh như loài thông 2 lá,

dương tùng, dẻ trắng, dẻ vàng xen lẫn loài cây rụng lá hàng năm Ngoài ra, Bà

Nà còn có giá trị là khu bảo tồn thiên nhiên với 544 loài thực vật bậc cao, 256

loài động vật, trong đó có 6 loài cây và 44 loài động vật quí hiếm được ghi

trong sách đỏ Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế

Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên

nhiên, đối tượng bảo vệ và là rừng nhiệt đới gồm nhiều loại động thực vật quý

hiếm cần được bảo vệ như trầm hương, gụ lậu, sến mặt, thông chàng, trĩ sao,

gấu đen Châu Á, vượn má hung Bà Nà có nhiều khu rừng nguyên sinh được

phân bổ theo các sườn dốc khá hiểm trở

2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Lịch sử hình thành

- Trước năm 1945: Tiếp nối sự khám phá và xây dựng Đà Lạt, vào

tháng 2 năm 1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cử đại úy Debay

thuộc quân đội Pháp thám sát vùng núi lân cận khu vực Đà Nẵng - Huế để tìm

kiếm thêm điểm nghỉ mát, dưỡng sức và chữa bệnh Sau nhiều đợt thăm dò,

đến tháng 4 năm 1901, đoàn thám hiểm của Debay đã tìm ra núi Chúa, tức Bà

Nà Trên đỉnh địa hình khá bằng phẳng, khí hậu tương tự như Đà Lạt và chỉ

cách thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 46km Nhưng mãi đến năm 1912,

khi Toàn quyền Đông Dương ra nghị định biến Bà Nà thành một khu bảo tồn

lâm nghiệp thì việc nghiên cứu rặng núi này mới được đẩy mạnh Và rồi

Trang 38

tháng 5 năm 1919, luật sư Beisson trở thành người đầu tiên xây dựng nhà

nghỉ ở Bà Nà

Nguồn gốc tên gọi Bà Nà, có người cho rằng khi người Pháp đặt chân

đến vùng này thấy rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người

Việt đọc chệch thành Bà Nà Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà

là tiếng Người Katu nghĩa là "núi của tui" Một truyền thuyết khác cho rằng

tên núi là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu

Đến năm 1912, người Pháp tiến hành quy hoạch khu Bà Nà, có chính

sách bảo vệ động thực vật, điều tra và nắm bắt dân cư chung quanh khu vực

Bà Nà Sau Thế chiến thứ nhất (1914-1918), người Pháp đẩy mạnh xây dựng

khu nghỉ mát Bà Nà, hoàn tất con đường nối Bà Nà với đường thuộc địa số 1

(sau này là quốc lộ 1) trong năm 1919, tạo điều kiện dễ dàng cho những công

sở, quan chức và kiều dân Pháp đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng, kinh doanh

ở Bà Nà Tính đến 23-7-1921, tại Bà Nà đã có 39 lô đất được cấp phép xây

dựng của 36 chủ đầu tư, phân bố trải đều theo cụm

- Sau năm 1945: Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bà Nà dần

vắng bóng người Khi Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2, nhân

dân địa phương thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến nên đã triệt hạ các

công trình xây dựng ở Bà Nà Từ đấy, khu nghỉ mát hoang phế dần và bị cây

rừng che phủ trong quên lãng gần nửa thế kỷ Đầu năm 1998, UBND thành

phố Đà Nẵng quyết định xây dựng lại Bà Nà thành một khu du lịch sinh thái

có quy mô lớn với hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khu bảo tồn Con đường từ

chân núi lên đỉnh Bà Nà dài 15km đã được rải nhựa, thuận tiện cho giao

thông Sau năm 2000, Bà Nà đã được đánh thức và tái tạo vị thế một thị trấn

du lịch và nhanh chóng trở lại ngôi vị của một trong những khu du lịch nổi

tiếng nhất của tỉnh thành phố Đà Nẵng

2.2.2 Quá trình xây dựng các khu nghỉ dƣỡng

Núi Bà Nà thuộc huyện Hòa Rang, nằm về phía tây thành phố Đà

Nẵng, dựa lưng vào dãy Trường Sơn, cách trung tâm thành phố 28km tính

theo đường chim bay, nhưng đi theo đường ôtô lên tới đỉnh đến 45km Trong

Trang 39

đó có 26km đường đèo dốc quanh co Núi cao 1.487m so với mặt nước biển,

được hình thành trên các loại đá cứng như granit, permatit và đá bazan biến

chất Trên các triền núi phủ đất đỏ và xám là những rừng cây với nhiều loại

gỗ quý như kiền kiền, chò chỉ, gõ đỏ, sến, mây, song, phong lan, dương xỉ Ở

độ cao trên 1.000m có nhiều thông mọc Điều làm nên giá trị tự nhiên của núi

Bà Nà là ở chỗ trên đỉnh cao nhất lại bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ,

khí hậu mát quanh năm, nhiệt độ trung bình 18,30C, cao nhất cũng chỉ đến

250C Điều kỳ thú ở đây là vào mùa hè khi ở đồng bằng nhiệt độ lên tới 320

-350C thì ở đỉnh Bà Nà chỉ có 170

-200C Đặc biệt, đứng từ trên đỉnh có thể quan sát cảnh mưa rơi xung quanh sườn núi bên dưới, như có cảm giác đứng

giữa mưa mà vẫn khô ráo như thường

Hình 2.6: Vết tích một biệt thự cổ thời Pháp trên núi Bà Nà

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Theo tài liệu lưu trữ, khu nghỉ dưỡng Bà Nà do người Pháp phát hiện

vào năm 1901, sau những chuyến khảo sát dài ngày của viên sỉ quan quân đội

viễn chinh De Bey Mười năm sau (1911), toàn quyền Đông Dương Doumer

đã quan tâm đạc biệt và cho thành lập khu bảo tồn lâm nghiệp Bà Nà Nhận

thấy tiềm năng to lớn của Bà Nà, 12 năm sau, năm 1923, một thương gia

người Pháp tên Emile Morin đã bỏ tiền xây dựng ngôi biệt thự đầu tiên trên

đỉnh núi này Thiên đường du lịch này đã được người Pháp khai thác, sử

dụng Cho đến những năm 30 của thế kỷ trước, chính quyền thực dân đã cho

xây dựng ở đây hơn 250 ngôi biệt thự và những khách sạn, bệnh xá, nhà băng,

nhà bưu điện, trạm thuế, nhà trẻ… Với nhiều dạng kiến trúc khác nhau để làm

Trang 40

nơi nghỉ dưỡng cho quan chức, sĩ quan, nhân viên cao cấp của Pháp, mãi đến

năm 1945 thì bị bỏ hoang…

Lúc đầu, xe hơi chạy từ Đà Nẵng đến Bà Nà phải dừng ngang tại cây

số 28 ở Phú Thượng; Đoạn còn lại đi bằng kiệu ghế hoặc ngựa, mất khoảng

3-4 giờ mới đến khu nghỉ mát Năm 1928, đoạn đường cuối cùng lên đỉnh Bà

Nà hoàn tất, với hơn 15km đường đất quanh co, uốn lượn Lượng du khách

đến Bà Nà trong thời gian đầu vẫn còn khá ít ỏi Thống kê của Pháp năm

1925 cho biết, chỉ có chừng 120 du khách chọn Bà Nà để nghỉ ngơi Sau khi

đường lên đỉnh núi được hoàn tất, số du khách mới tăng dần, đến năm 1937

đã đạt được con số hơn 1.000 người, phần lớn là người Pháp và quan chức

người Việt Các dịch vụ như điện, nước, bệnh viện, bưu điện, ngân hàng,

khách sạn đã được đưa vào phục vụ du khách Bà Nà dần trở thành một khu

nghỉ dưỡng nổi tiếng không chỉ ở Trung Kỳ mà ở toàn khu vực Đông Dương

Năm 1938, Bà Nà đã được phòng Du lịch Đông Dương đưa vào tour du lịch 8

ngày bằng xe hơi tuyến Sài Gòn - Đà Lạt - Nha Trang - Quy Nhơn - Đà Nẵng

- Huế - Vinh - Hà Nội - Hải Phòng và ngược lại Kiệu ghế được xem là một

phương tiện di chuyển đầy lý thú và rất điển hình cho du lịch Bà Nà xưa với

lượng du khách ngang với những khu nghỉ mát thời đó như Le Bockor

(Campuchia), Mũi Saint Jacques (Vũng Tàu), Tam Đảo, Sapa…

Đến năm 1998, Bà Nà được đánh thức trở lại và chính quyền thành

phố Đà Nẵng đã quyết định xây dựng Bà Nà thành một khu du lịch sinh thái

qui mô lớn Ngày xưa, ôtô chưa thể chạy đến đỉnh đèo ở độ dốc từ 25-300, mà

chỉ dừng ở chân đèo, rồi đi bằng kiệu, cáng do phu người Việt khiêng Ngày

nay cùng với đường ôtô chạy tới đỉnh, lại có cả hệ thống cáp treo đạt hai kỷ

lục thế giới (cáp treo một dây dài nhất 15.042 mét và có độ cao chênh lệch

1.291 mét) Chỉ cần đến ga cáp treo Suối Mơ, rồi lên ngồi trong cabin cáp

treo, sau 17 phút là có thể bước vào một vùng khí hậu ôn đới, trong lành, giữa

một khung cảnh thiên nhiên vô cùng thơ mộng Cái độc đáo của Bà Nà là một

khu du lịch, nghỉ dưỡng nằm ngay trong địa phận thành phố lớn Đà Nẵng, lại

cách biển chỉ 15km

Ngày đăng: 20/11/2015, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Khí hậu Thành phố Đà Lạt - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Bảng 2.1. Khí hậu Thành phố Đà Lạt (Trang 13)
Hình 2.2: Mô hình kiến trúc một biệt thự thời Pháp ở Đà Lạt - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.2 Mô hình kiến trúc một biệt thự thời Pháp ở Đà Lạt (Trang 23)
Hình 2.3: Biệt thự 2 Hùng Vương và biệt thự Merionnet - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.3 Biệt thự 2 Hùng Vương và biệt thự Merionnet (Trang 23)
Hình muôn vẻ. - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình mu ôn vẻ (Trang 24)
Hình 2.5: Cảnh quan từ núi Bà Nà - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.5 Cảnh quan từ núi Bà Nà (Trang 36)
Hình 2.6: Vết tích một biệt thự cổ thời Pháp trên núi Bà Nà - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.6 Vết tích một biệt thự cổ thời Pháp trên núi Bà Nà (Trang 39)
Hình 2: Các khu nghỉ mát trên đỉnh Bà Nà - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2 Các khu nghỉ mát trên đỉnh Bà Nà (Trang 42)
Hình 1: Chùa Linh Ứng - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 1 Chùa Linh Ứng (Trang 42)
Hình 3: Suối Mơ - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 3 Suối Mơ (Trang 43)
Hình 2.7: Vết tích biệt thự cổ trên núi Bạch Mã - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.7 Vết tích biệt thự cổ trên núi Bạch Mã (Trang 50)
Hình 1: Thác Đổ Quyên cao 300 m trong vườn Bạch Mã - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 1 Thác Đổ Quyên cao 300 m trong vườn Bạch Mã (Trang 51)
Hình 2.8: Bản đồ hành chính huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.8 Bản đồ hành chính huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc (Trang 54)
Hình 2.9: Bản đồ các tuyến điểm du lịch ở Sa Pa - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 2.9 Bản đồ các tuyến điểm du lịch ở Sa Pa (Trang 65)
Hình 1: Một thoáng Sa pa - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 1 Một thoáng Sa pa (Trang 75)
Hình 3: Nhà thờ đá tại Sa Pa - Những khu nghỉ dưỡng ở Đông Dương trước năm 1945 và sự phát triển cho đến nay
Hình 3 Nhà thờ đá tại Sa Pa (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w