1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của UBND cấp xã trong việc thu hồi đất, tái định cư

40 2K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật đất đai 2013 ra đời đã đánh dấu bước tiến lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc không ngừng tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là quà tặng vô cùng quý giá của thiên nhiên dành cho con người nhưng đất đai không phải là vô tận và nếu việc quản lý, sử dụng không hợp lý thì con người sẽ phải trả giá cho những hành động của mình Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư cũng chính là một trong những nội dung nằm trong công tác quản lý đất đai, đặc biệt là ở địa phương Tuy nhiên, ở nước ta trong những năm qua còn tồn tại rất nhiều vấn đề bất hợp lý gây nhiều phản ứng gay gắt trong nhân dân và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo nói chung và Ủy ban nhân dân cấp xã nói riêng Hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức là tương đối nghiêm trọng Các vi phạm pháp luật không giới hạn ở một lĩnh vực, một ngành, một địa phương mà xảy ra trên phạm vi rộng, xảy ra ngay trong bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật

Tiêu cực đất đai là “địa chỉ nóng” cần đánh mạnh Vừa qua các vụ án lớn liên quan đến thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng Giai đoạn 1 và Giai đoạn 2 của Dự án Quốc lộ Nam Sông Hậu (đoạn qua địa bàn huyện Kế Sách và thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) đã được đưa ra xét xử và người phạm tội đã phải chịu hình phạt thích đáng Tuy nhiên, hầu hết cán bộ phải chịu hình phạt tù

đa số đều là các cán bộ địa chỉnh thuộc diện quản lý của UBND cấp xã, vì vậy vấn đề quan trọng không phải chỉ một mặt chống tiêu cực, xử lý tiêu cực là đủ

mà còn phải kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn các nguy cơ có thể xảy ra Có thể thấy, hiện tượng tham nhũng, tiêu cực không còn là cá biệt Tuy mức độ cụ thể có thể khác nhau nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng hiện tượng tham nhũng về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư những năm gần đây ở Sóc Trăng có chiều hướng phức tạp

Luật đất đai 2013 ra đời đã đánh dấu bước tiến lớn của Đảng và Nhà nước

ta trong việc không ngừng tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của UBND nhân dân cấp xã đối với công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Trang 2

Tuy nhiên, hiện nay thẩm quyền cũng như vai trò của UBND cấp xã trong các hoạt này đang gặp phải những trở ngại, khiến cho vai trò của UBND cấp xã nói chung, vai trò của cán bộ địa chính nói riêng chưa được quan tâm và phát huy đúng mức, công tác quản lý đất thu hồi ở nông thôn còn nhiều bất cập, trình độ năng lực của các cán bộ địa chính còn hạn chế, sự phối hợp giữa các cơ quan chưa nhất quán, còn đùn đẩy trách nhiệm vv…

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của UBND cấp xã trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư” trong bối cảnh hiện nay là hợp lý và cần thiết Nghiên cứu đề tài này cũng là cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng quản lý đất thu hồi ở nông thôn, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở địa phương được UBND cấp xã triển khai như thế nào, bằng cách nào, cơ chế phối hợp ra sao vv từ đó tích lũy kinh nghiệm để phục vụ cho công tác về sau này

2 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu cơ bản của đề tài là nghiên cứu về lý luận, cũng như quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đặt trong bối cảnh là mối quan hệ của UBND cấp xã và vai trò của UBND cấp xã trong các hoạt động này Cuối cùng là đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò của UBND cấp xã trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật điều chỉnh đối tượng là UBND cấp xã nói chung và hoạt động cụ thể của UBND cấp

xã trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư Phạm vi nghiên cứu của

đề tài này chỉ nghiên cứu về vai trò của UBND nhân dân cấp xã trong các hoạt

động này, một số vấn đề được đối chiếu và so sánh tại tỉnh Sóc Trăng Đề tài

này không nhằm nghiên cứu hay đánh giá trực tiếp các chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện hành

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích vấn đề và đặt ra giải pháp Trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 3

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến các qui định về vai trò của UBND cấp xã trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, về công tác xây dựng cán bộ cấp xã gắn với vai trò mới trong việc thu hồi đất Mặt khác, tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống là đi từ lý nghiên cứu lý luận đến thực trạng pháp luật cuối cùng là đưa ra các giải pháp kiến nghị.

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của UBND cấp xã trong các hoạt động này

Hiện nay, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đang gặp phải rất nhiều trở lực vì liên quan đến khá nhiều lợi ích của người dân, nhà nước cũng như doanh nghiệp, những lợi ích này đối khi mâu thuẫn với lợi ích khác dẫn đến bất cập trong công tác quy hoạch và triển khai thực hiện các dự án Chính vì vậy mà vai trò của UBND cấp xã trong công tác này rất quan trọng, là tiền đề để người dân giao đất cũng như ổn định tái định cư, hạn chế phát sinh tranh chấp, tiến tới thực hiện hiện thành công các công trình đã được nhà nước phê duyệt

Trang 4

Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ

VAI TRÒ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG CÁC LĨNH VỰC NÀY

1.1 Một số khái niệm cơ bản về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất

Thu hồi đất được hiểu theo cách diễn đạt chung nhất thực chất là quan hệ chuyển dịch quyền sử dụng đất từ Nhà nước đến người sử dụng đất, điểm khác nhau ở chỗ là chủ thể nhận chuyển dịch là tổ chức đặc biệt, đó là nhà nước Tuy nhiên, đây là quan hệ chuyển dịch quyền sử dụng đất đặc biệt Sự đặc biệt này thể hiện ở chỗ là người bị thu hồi đất hoàn toàn không có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện mục đích riêng của họ như cần tiền làm việc riêng, chuyển đổi chổ ở, canh tác vv… mà việc chuyển dịch quyền sử dụng đất trong trường hợp này là quan hệ bắt buộc, sự bắt buộc này xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước nhưng dù rằng xuất phát từ quan hệ chuyển dịch nào đi nữa thì quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi cần được bảo vệ1 Thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay chủ yếu để triển khai việc xây dựng các công trình phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, để phát triển kinh tế, Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự

án2. Dù Nhà nước thu hồi đất cho mục đích nào thì đơn giá bồi thường về đất và tài sản trên đất cũng phải trên cơ sở đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên Tuy nhiên, không phải đất sử dụng cho mục đích kinh tế nào thì Nhà nước cũng thu hồi đất của người sử dụng đất mà chỉ những trường hợp nhất định Nhà nước mới thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế3 nhưng ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao quản lý Đây là

1 PGS.TS Phan Trung Hiền - Giáo trình Luật Hành chính, đô thị, nông thôn – Bộ môn Luật Hành chính, Khoa Luật, Trường ĐHCT, tháng 12/2009, tr 67.

2 Điều 60 và Điều 61 Luật đất đai năm 2013.

3 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc thi hành Luật Đất đai (đã hết hiệu lực).

Trang 5

các quy định được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 2003 nhưng đến khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành thì đã có sự thay đổi nhất định về nội hàm khái niệm thu hồi đất.

Theo quy định tại Khoản 11 Điều 3, Luật Đất đai năm 2013: “Nhà nước thu

hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.”

Dựa vào khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy một số đặc trưng pháp lý qua việc giải thích khái niệm này như sau:

Thứ nhất, việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất, vậy việc

quyết định này được thực hiện như thế nào, thể hiện bằng văn bản với tên gọi là

gì, một quyết định thu hồi đất, một công văn thu hồi đất, một thông báo thu hồi đất của người có thẩm quyền vv… Tuy nhiên, pháp luật đã không làm rõ cụ thể

là quyết định thu hồi đất được thể hiện dưới hình thức nào

Thứ hai, việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất là thu hồi

quyền sử dụng đất (quyền tài sản của người sử dụng đất) chứ không phải nhằm mục đích thu hồi lại đất (nhà nước không thu hồi hiện vật vì đất đai là bất động sản không thể cằm, nắm, di chuyển)

Thứ ba, đối tượng bị thu hồi là đất của người được Nhà nước trao quyền sử

dụng đất hoặc người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.” Nhưng đối với người được giao quản lý thì không thuộc phạm vi điều chỉnh và theo pháp luật quy định thường là Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã và Tổ chức Phát triển quỹ đất được giao đất để quản lý, thực hiện theo những yêu cầu của Nhà nước) Như vậy, theo cách phân tích này thì khái niệm thu hồi đất được quy định của Luật Đất đai năm 2013 tỏ ra chưa phù hợp, mà khái niệm thu hồi đất phải được mở rộng hơn trong đó bao gồm cả việc thu hồi phần đất đối với người được nhà nước quản quản lý thì mới phù hợp

1.1.2 Khái niệm về bồi thường về đất (bồi thường khi nhà nước thu hồi đất)

Trong đời sống, khi nhắc đến cụm từ “bồi thường”, thông thường được

hiểu theo nghĩa có một chủ thể bị thiệt hại bởi hành vi trái pháp luật của một chủ

Trang 6

thể khác Những thiệt hại này được tính toán và dự đoán để tiến hành chi trả theo đúng giá trị mà chủ bị thiệt hại đã mất hoặc theo thỏa thuận của các bên liên quan Trong mối quan hệ bồi thường tất yếu có sự ngang bằng và đồng thuận.

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “đền bù những tổn

hại gây ra” Còn trong lĩnh vực pháp luật nói chung thì trách nhiệm bồi thường

được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội trong đó phải thỏa mãn một số yếu tố như: mối quan hệ nhân quả giữa hành vi có lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra vv Riêng trong lĩnh vực pháp luật đất đai thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm Từ Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định về thể lệ tam thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II

của Nghị định này đã đề cập việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng

dụng” Tiếp đến là Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính

phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối

lâu năm, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Đặc biệt khi Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục

đích khác Như vậy thuật ngữ “bồi thường” đã được thay thế bằng thuật ngữ

“đền bù” Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai năm 1993,

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và các nghị định hướng dẫn thi hành như Nghị định số 90/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia lợi ích công cộng; Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 22/04/1998 của Chính Phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…

Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật đất đai năm 2001 được Quốc

hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện

trong Luật đất đai năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004

Trang 7

của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 84/2007NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, tŕnh tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003: Bồi thường khi Nhà nước

thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Như vậy, Ta thấy khái niệm nêu trên chỉ

xác định bồi thường về đất, trong khi việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe

do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử dụng đất4

Đến khi Luật đất đai năm 2013 được ban hành, nhà nước không còn sử

dụng thuật ngữ "Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất" nữa, mà sử dụng thuật ngữ "Bồi thường về đất" để thay thế và Nhà nước cũng đã bỏ từ “bị thu hồi” thay bằng từ “thu hồi”, bỏ cụm từ “người bị thu hồi đất” bằng cụm từ “người

sử dụng đất", theo Khoản 12 Điều 3 quy định việc bồi thường khi nhà nước thu

hồi đất như sau: "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử

dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất".

Chúng ta có thể thấy một số đặc trưng, cũng như một số hạn chế của khái niệm này như sau:

Thứ nhất, khái niệm này trong Luật Đất đai 2013 tuy có khác đôi chút so

với quy định tại Khoản 6 Điều 4 của Luật Đất đai 2003 Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được mở rộng, bởi vì bồi thường về đất không chỉ là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử

dụng đất, mà chính là việc Nhà nước trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất

gây ra

Thứ hai, khi nói đến thiệt hại, người ta thường xét đến các khía cạnh như:

thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần cũng được quy về dưới dạng vật chất

4 TS Phan Trung Hiền, Giáo trình Luật Hành chính, đô thị, nông thôn – Bộ môn Luật Hành chính, Khoa Luật, Trường ĐHCT, tháng 12/2009.

Trang 8

để xác định bồi thường trong một số trường hợp cụ thế Khi Nhà nước thu hồi đất, thiệt hại được xác định đó là giá trị quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất và những thiệt hại khác gắn liền với cộng đồng dân cư mà họ đang sinh sống như: những giá trị văn hóa vật thể cũng như văn hóa phi vật thể được gìn giữ, bảo tồn qua nhiều thế hệ mà họ đang được hưởng thụ, các cơ sở hạ tầng

về xã hội, y tế, giáo dục,… gắn kết với truyền thống, không gian, các quan hệ láng giềng, dòng tộc mà họ đang sống việc không quy định nội dung này là một thiếu sót của Luật Đất đai năm 2013

Thứ ba, theo truyền thống và văn hoá gia đình của nước ta, đại bộ phận

nông dân hiện nay vẫn xem đất đai, trong đó có đất nông nghiệp là tài sản cơ bản của gia đình; đồng thời việc kế thừa tài sản về đất đai từ cha mẹ cho con cái là việc không thể thiếu được của các gia đình nông dân6 Bên cạnh đó, kỳ vọng của NSDĐ nông nghiệp chủ yếu là khai thác hoa lợi từ cây trồng trên đất, chứ không phải đưa đất ra thị trường bất động sản để giao dịch; do vậy, nếu xét theo cách giải thích khái niệm bồi thường về đất như Luật Đất đai 2013 thì việc bồi thường thiệt hại phải được tiếp cận từ khía cạnh nguồn thu nhập của họ bị mất trong nhiều năm, hay nói cách khác, cần lượng hóa thu nhập trong khoảng thời gian nhất định để làm cơ sở tính toán trong việc bồi thường

Nhìn chung, khái niệm bồi thường về đất trong LĐĐ 2013 như trên chưa thể hiện quan điểm tiến bộ trong việc xác định tổng thể những thiệt hại của người có đất bị thu hồi đất, không đáp ứng đầy đủ những định hướng chung, hay nói cách khác, khái niệm tuy có thay đổi, tuy nhiên phần nội hàm của nó vẫn chưa có gì đổi mới

Mặc dù những thiệt hại nêu trên của người dân có thể được chuyển hóa

qua hình thức và tên gọi khác là ”hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất” nhưng việc

hỗ trợ và bồi thường thiệt hại là hai phạm trù có điểm khác biệt cơ bản, không thể chuyển hóa nội dung này qua nội dung khác được Tóm lai, một khi pháp luật

đã thừa nhận quyền sử dụng đất (SDĐ) là một loại quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà nước thu hồi đất (có nghĩa là người SDĐ bị mất quyền

5 Điều 45, Điều 46, Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

6 Đỗ Kim Chung (2000), Thị trường đất đai trong nước ở Việt Nam: Thực trạng và các định hướng chính sách, Nghiên cứu kinh tế số 01(260), tr 30.

Trang 9

SDĐ do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra), Nhà nước phải bồi thường về đất và thiệt hại cho người SDĐ;

1.1.3 Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Bên cạnh thuật ngữ "Bồi thường về đất", trong các văn bản pháp luật hiện

hành còn đề cập đến khái niệm hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Hỗ trợ, tái định cư thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất

“của dân, do dân và vì dân Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người

bị thu hồi đất và giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống Vậy hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là gì?

Theo khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Hỗ trợ khi Nhà

nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”;

Khái niệm nêu trên của Luật Đất đai năm 2003 nhấn mạnh vào trách nhiệm

cụ thể của nhà nước khi thu hồi đất thông qua việc liệt kê các biện pháp mà nhà nước áp dụng nhằm hỗ trợ, giúp đỡ cho người có đất bị thu hồi như đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới Việc liệt kê một cách cụ thể như vậy là một thiếu sót bởi việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hầu như ít sử dụng biện pháp liệt kê Nhu cầu được hỗ trợ là nhu cầu chính đáng của người có đất bị thu hồi, nhu cầu này không chỉ giới hạn các nhu cầu đã được liệt kê trên mà còn có các nhu cầu khác như: về đời sống, ổn định và phát triển kinh tế gia đình, tìm kiếm việc làm vv Bên cạnh đó, Trong thời gian qua, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy rằng, việc Nhà nước giúp đỡ bằng cách đào tạo nghề mới, cấp kinh phí di dời đến địa điểm mới là điều có thể thực hiện được; tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì ý chí của Nhà nước trong việc

bố trí việc làm mới chưa trở thành hiện thực hoàn toàn được, mà phụ thuộc vào ý chí của nhà đầu tư, theo yêu cầu về số lượng, chất lượng lao động phù hợp với quy mô và công nghệ sản xuất của họ

Tuy nhiên, đến khi Luật Đất đai năm 2013 đươc ban hành, tại Khoản 14 Điều 3 đã sửa đổi khái niệm này theo hướng bỏ cách thức liệt kê mà thay vào đó

là việc quy định chung về trách nhiệm của nhà nước nhằm ổn định đời sống, sản

Trang 10

xuất và phát triển cho người có đất bị thu hồi, theo đó "Hỗ trợ khi Nhà nước thu

hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển"

Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm7: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân

mà phải di chuyển chỗ ở; Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của

hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; Hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật

Để hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 về nội dung này, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định hỗ trợ ổn định đời sống cho đối tượng khi nhà nước thu hồi đất Cụ thể, thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là

24 tháng

Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng Diện tích đất thu hồi nêu trên được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định nêu trên được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 1 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và

7 Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013.

Trang 11

tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; hỗ trợ tái định

cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

1.1.4 Khái niệm về tái định cư

Đối với khái niệm tái định cư, Luật đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm

2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đề cập cụ thể về khái niệm này Hay nói cách khác, pháp luật đất đai hiện hành chỉ đề cập đến thuật ngữ tái định

cư mà không giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm “tái định cư” là gì? Thậm chí trong các cuốn từ điển tiếng Việt và từ điển Luật học, thuật ngữ này cũng chưa được định nghĩa Theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì

tái định cư được giải thích là: “Người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất theo

quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.” (Điều 4).

Đến khi Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014 đã thay thế Nghị định số 197/2004/NĐ-CP nhưng trong Nghị định này vẫn không đưa ra khái niệm thế nào là "tái định cư" nhưng đã cụ thể hóa các hình thức tái định cư như sau:

Thứ nhất, trong trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần đất còn lại sau thu

hồi không đủ để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình,

cá nhân không còn đấy ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường thị trấn nơi

có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư8 Nếu sau thu hồi mà còn đất ở thì được bồi thường bằng tiền hoặc xem xét bồi thường bằng đất ở (đối với địa phương còn quỹ đất ở)

Thứ hai, trường hợp trong hộ gia đình quy định tại khoản 1 của Nghị định

này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng

8 Điểm a,b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP

Trang 12

một thửa đất thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái

định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định

cư cho từng hộ gia đình

Bên cạnh các quy định về tái định cư nêu trên, tại Khoản 3,4,5,6 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP này còn có một số quy định có liên quan đến việc nhà nước tạo điều kiện cho hộ gia đình cá nhân ổn định nơi ở hay thay thế việc

nhận đất ở bằng tiền nhưng những trường hợp này không thuộc trường hợp tái

định cư.

Theo thuật ngữ được đưa ra tại Dự án tăng cường năng lực quản lý thủy lợi và cải tạo hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải9 Tái định cư còn được hiểu là

“Các biện pháp xem xét để giảm thiểu những tác động bất lợi của dự án đối với

các tài sản, kế sinh nhai của người bị ảnh hưởng qua việc bồi thường, di dời và phục hồi, nếu cần”

Như vậy, thông qua việc phân tích toàn diện các khía cạnh của tái định cư

nêu trên, có thể nhận thấy rằng, tái định cư không chỉ là một một khái niệm dừng

lại ở việc đưa một bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác, mà tái định cư còn liên quan đến rất nhiều vấn đề như: công ăn việc làm, học hành, y tế, sự tiếp cận các dịch vụ đô thị, nhà ở, các quan hệ xã hội…

Do đó, tái định cư cần được nhìn nhận là một quá trình thay đổi về kinh tế, văn hoá, xã hội của một bộ phận dân cư hơn là chỉ dừng lại ở việc xem xét đây là

quá trình thay đổi chỗ ở Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu “ Tái định cư

là một quá trình thay đổi về vật chất, chỗ ở, thay đổi về vấn đề kinh tế, văn hóa,

xã hội của người bị thu hồi đất khi đến nơi ở mới”

1.2 Mục đích của việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Đầu tiên là thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh10 Mặc dù đang trong điều kiện hoà bình nhưng nhu cầu đất đai cho mục đích quốc

9 Đây là dự án thuộc Hợp phần 2 của Dự án "Tăng cường quản lý thủy lợi và Cải tạo các hệ thống thủy nông" (ADB5) do Ngân hàng Phát triểu Chấu Á (ADB) và sự phối hợp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2017.

10 Điều 61 Luật Đất đai năm 2013.

Trang 13

phòng, an ninh là rất lớn Việc phát triển quốc phòng, an ninh góp phần vào việc đảm bảo hoà bình, ổn định cho đất nước Có thể thu hồi đất để xây dựng các doanh trại quân đội; các địa điểm phòng thủ; trại giam; cơ quan công an; các trường đào tạo cán bộ Vì trong thời đại mới nên địa điểm phòng thủ, các doanh trại quân đội cũng cần bố trí cho thích hợp Chính do địa điểm quốc phòng, an ninh thay đổi nên cần tiền hành thu hồi đất để xây dựng .

Bên cạnh đó, là thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua đã tạo sức ép lên cơ sở hạ tầng Chính vì vậy việc thực hiện các dự án quan trọng quốc gia là cấp thiết, theo quy định tại Điều 40 Luật đất đai năm 2003

về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế quy định “ Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” Đến khi Luật Đất đai năm

2013 đã sửa đổi quy định này theo hướng mở rộng đối tượng là các dự án do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư bao gồm: các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư, dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia vv là nhu cầu cấp bách Do đó việc thu hồi đất được đặt ra để các công trình, dự án được thực hiện theo đúng quy hoạch và kế hoạch Ngoài các dự án do Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ quyết định ra, còn có việc thu hồi đất phục vụ cho các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất

Đối với mục đích của việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư là nhằm đảm bảo rằng tất cả những người bị ảnh hưởng bởi các dự án, công trình bao gồm những người phải di dời đến nơi ở mới và những người phải di dời vì việc xây dựng khu tai định cư mới, phải được bồi thường cho những tài sản bị mất theo giá

Trang 14

thay thế và được hưởng các chính sách hỗ trợ nhằm giúp họ khôi phục, cải thiện mức sống hoặc ít nhất là duy trì được các điều kiện sống và khả năng tạo thu nhập như trước khi có dự án

1.3 Khái quát về Ủy ban nhân dân cấp xã và vai trò của UBND cấp xã trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã

Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (cấp cơ sở), đây được xem là cấp chính quyền “gần” dân nhất ở Việt Nam hiện nay Cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã bao gồm hệ thống các cơ quan sau đây:

Thứ nhất, về hệ thống chính trị cấp xã, gồm có: Đảng ủy xã, Ủy ban nhân

dân xã, Hội đồng nhân dân xã, Khối cơ quan đoàn thể (tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc, và các tổ chức thành viên: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh,…) Ngoài ra còn có các tổ chức xã hội như: Hội Người cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ, Hội Người

mù vv

UBND cấp xã là cơ quan do HĐND cùng cấp xã bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Theo quy định tại Nghị định số 107/2004/ NĐ-CP thì UBND xã miền núi, hải đảo (có dân số từ 5.000 người trở lên), đồng bằng, trung

du (có dân số từ 8.000 người trở lên) và biên giới: 05 thành viên 01 Chủ tịch UBND xã: phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã; 02 Phó Chủ tịch UBND xã:Một Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường;Một Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa – xã hội Đối với Các Ủy viên UBND gồm

có 01 Ủy viên phụ trách Công an (Trưởng Công an xã) và 01 Ủy viên phụ trách Quân sự (Xã Đội trưởng)

Đối với các UBND xã không thuộc trường hợp trên được quy định gồm

có 03 thành viên là 01 Chủ tịch UBND xã;01 Phó Chủ tịch UBND xã; 01 Ủy viên UBND xã Trong nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm số

Trang 15

lượng thành viên UBND cấp mình nhưng tổng không vượt quá 05 thành viên và phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt.

Đối với các UBND phường, thị trấn gồm có 05 thành viên, 01 Chủ tịch UBND phường: phụ trách chung, khối nội chính, quản lý công tác quy hoạch đô thị; 02 Phó Chủ tịch UBND phường: - Một Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học – công nghệ, nhà đất và tài nguyên - môi trường;- Một Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa – xã hội và các lĩnh vực

xã hội khác

Thứ hai, về cán bộ, công chức cấp xã Theo quy định tại các Điều 61, 62,

63,64 Chương V Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định như sau:

* Về chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã 11 :

Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này bao gồm hai loại là cán bộ cấp xã và công chức cấp xã

Cán bộ cấp xã có các chức vụ bao gồm Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ

tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam), Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Công chức cấp xã (do cấp huyện quản lý) bao gồm các chức danh: Trưởng

Công an, Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng -

đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội

1.3.2 Cơ chế hoạt động của Ủy ban nhân dân xã

Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cũng như Quyết định số 77/2006/QĐ-TTg ngày 13/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

11 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

Trang 16

thì hoạt động của Ủy ban nhân dân xã dựa trên nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, kết hợp với chế độ thủ trưởng Chủ tịch Ủy ban nhân dân là người chịu trách nhiệm chính trong việc lãnh đạo và điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân.

Về vai trò của tập thể

Các vấn đề Ủy ban nhân dân xã phải thảo luận tập thể và quyết định theo

đa số bao gồm các vấn đề như: chương trình làm việc của Ủy ban nhân dân; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách xã, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của xã trình Hội đồng nhân dân xã quyết định; kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở xã trình Hội đồng nhân dân xã quyết định; các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về kinh tế - xã hội, thông qua báo cáo của Ủy ban nhân dân xã trước khi trình trình Hội đồng nhân dân xã; đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ở xã

Ủy ban nhân dân xã họp ít nhất mỗi tháng một lần Các quyết định của Ủy ban nhân dân xã phải được ít nhất quá nửa thành viên Ủy ban nhân dân xã tán thành Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân xã

là quyết định và chỉ thị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thay mặt ký xác nhận

Về vai trò của cá nhân Chủ tịch UBND xã.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người lãnh đạo, điều hành công việc của

Ủy ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn luật định, cùng với tập thể Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân xã và cơ quan nhà nước cấp trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công công tác cho các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân Những cán bộ, công chức này chịu trách nhiệm trước Chủ tịch về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

- Cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có những nhiệm vụ quyền hạn như: Lãnh đạo công tác của Ủy ban nhân dân xã, các thành viên của Ủy ban nhân dân,

bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã; đôn đốc công tác của các bộ phận chuyên môn thuộc Uỷ ban trong thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; quyết định các

Trang 17

vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể Ủy ban nhân dân giải quyết; áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc, quản lý, điều hành bộ máy hành chính xã hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh chống các hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vô trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác trong bộ máy chính quyền xã; tổ chức việc tiếp dân, xét, giải quyết kiến nghị, khiếu nại tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật; triệu tập và chủ toạ các phiên họp của

Ủy ban nhân dân xã; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng,

kỷ luật cán bộ, công chức ở xã, chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Ủy ban nhân dân xã trong kỳ họp gần nhất Trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chủ tịch UBND ra quyết định, chỉ thị

1.3.3 Vai trò của UBND cấp xã trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

1.3.3.1 Vai trò của UBND cấp xã trong việc thu hồi đất

Thứ nhất, quản lý phần đất bị thu hồi (ở nông thôn) do người sử dụng đất

vi phạm pháp luật về đất đai.

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 68 Luật Đất đai năm 2013 quy định về trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý Quỹ đất này được giao, cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật”

Thứ hai, quản lý đất đối với các trường hợp thu hồi đất (ở nông thôn) do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Đối với tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất

Trang 18

hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu

sử dụng đất, cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế, người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn thì sau khi cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi đất thì phần đất này sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý cho đến khi có quyết định khác của của cơ quan có thẩm quyền

Thứ ba, giữ vai trò là thành viên của Ban cưỡng chế thu hồi đất và bảo quản tài sản của người bị cưỡng chế.

Theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chỉnh phủ, có liệt kê

thành phần Ban thực hiện cưỡng chế thu hồi đất gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ

tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là trưởng ban; Các thành viên gồm đại diện các

cơ quan tài chính, tài nguyên và môi trường, thanh tra, tư pháp, xây dựng cấp huyện; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất và một số thành viên khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định Khi thực hiện cưỡng chế thu hồi đất mà người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản theo quy định tại Điểm c Khoản

4 Điều 71 của Luật Đất đai thì Ban thực hiện cưỡng chế giao tài sản cho Ủy ban nhân dân cấp xã bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật

Thứ tư, đối với cá nhân chết mà không có người thừa kế thì UBND cấp xã gửi giấy chứng tử và các văn bản liên quan đến Phòng Tài nguyên và Môi trường, đồng thời quản lý, chỉnh lý, cập nhận dữ liệu đối với phần đất bị thu hồi

mà không có người thừa kế.

Theo quy định tại Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của cá nhân người sử dụng đất chết mà không có người thừa kế có trách nhiệm gửi Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là

đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã đến Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có đất thu hồi đối với trường hợp thu hồi đất của cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế

Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực

Trang 19

địa trong trường hợp xét thấy cần thiết; trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất; tổ chức thu hồi đất trên thực địa và bàn giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ

sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính, thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo hủy Giấy chứng nhận đối với trường hợp không thu hồi được Giấy chứng nhận

Thứ năm, vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi bàn giao đất đối với trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, có nguy

cơ đe dọa tính mạng con người

Theo quy định tại khoản 3 Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì việc cưỡng chế phải tuân thủ các nguyên tắc thực hiện cưỡng chế quy định tại Khoản

1 Điều 70 của Luật Đất đai và sau khi có quyết định thu hồi đất, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi bàn giao đất;

Thứ sáu, giữ vai trò là người làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

Theo quy định tại Điều 66 Nghị định 43/2014/NĐ-CP về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật thì trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.Trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì biên bản xác định hành vi vi phạm phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất

Ngoài các vai trò nêu trên, hiện nay theo Luật Đất dai năm 2013 thì UBND cấp xã là nơi niêm yết Thông báo thu hồi đất và phối hợp với tổ chức làm nhiệm

vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, vận động người dân phối hợp trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm12

12 Điều 69 Nghị định 43/2014/NĐ-CP

Trang 20

1.3.3.2 Vai trò của UBND cấp xã trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ nhất, UBND cấp xã phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ, bồi thường,

giải phóng mặt bằng tổ chức lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, sau khi phương án chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân,

nhất là các đối tượng bị thu hồi đất Hình thức lấy ý kiến là: tổ chức họp trực tiếp

với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban MTTQVN cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền

Thứ hai, niêm yết, phối hợp công bố công khai phương án dự kiến bố trí

tái định cư Theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013

Việc niêm yết, phối hợp công bố công khai phương án dự kiến bố trí tái định cư Theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013 là nhằm mục đích để các hộ dân có tên trong phương án dự kiến bố trí đất tái định cư xem nội dung phương án và đóng góp ý kiến (nếu có) ghi vào mẫu góp ý gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như Trung tâm phát triễn quỹ đất hay ủy ban nhân dân cấp huyện) Sau thời hạn niêm yết trên, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh phương án bố trí đất tái định cư và trình cấp thẩm quyền phê duyệt theo quy định

Ngày đăng: 19/11/2015, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w