Giới thiệu đề xuất: Thực hiện công văn số 041/VPBCĐWTO ngày 05 tháng 04 năm 2011 của Văn phòng BanChỉ đạo Chương trình HTKT Hậu gia nhập WTO về việc Xây dựng Tài liệu thiết kế chi t
Trang 1HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
VIỆN KHOA HỌC QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
_
Tµi liÖu thiÕt kÕ chi tiÕt
Dù ¸n
T¨ng cêng n¨ng lùc cho HiÖp héi Doanh nghiÖp nhá
vµ võa ViÖt Nam trong viÖc hç trî c¸c doanh nghiÖp
thµnh viªn (chó träng tíi DNNVV khu vùc n«ng th«n)
trong qu¸ tr×nh héi nhËp
Hà Nội, 06/2011
Trang 2MỤC LỤC Trang
2 Chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về các doanh nghiệp
nhỏ và vừa thời kỳ đổi mới và hội nhập
4
4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam (VINASME)
6
5 Đánh giá các dự án có liên quan đã và đang được triển khai 6
6 Phân tích vấn đề, nhận diện nguyên nhân và phân tích giải pháp 10
7 Sự phù hợp của dự án với các cấu phần của B-WTO 12
Trang 3TRANG GIỚI THIỆU
1 Tên Dự án: Tăng cường năng lực cho Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên (chú trọng tới DNNVV khu vực nông thôn) trong quá trình hội nhập.
2 Cơ quan chủ quản: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME)
3 Cơ quan đề xuất: Viện Khoa học quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa (SISME)
a) Địa chỉ: Số 22 Hàng Chuối, phường Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội.b) Giám đốc Dự án: TS Phạm Thế Hưng
Tel: 04 3557 8707/ 22602188 Fax: 04 3557 8707
Mobile: 0903 419 826 Email: hungpt@sisme.vn;
c) Cán bộ liên lạc: Nguyễn Thị Hằng
Dự kiến kết quả đầu ra của Dự án: (i) Mô hình chuẩn “Văn phòng tư vấn và cung cấp thông tin
hỗ trợ SME” của VINASME và các tổ chức thành viên được xây dựng, triển khai thí điểm vànhân rộng; (ii) Hệ thống thông tin và phân tích chính sách hỗ trợ SMEs được xây dựng và hướngdẫn áp dụng; (iii) Kiến nghị về chính sách hỗ trợ SMEs khu vực nông thôn được đệ trình lên cơquan có thẩm quyền
5 Ngày đề xuất: tháng 04 năm 2011
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BỐI CẢNH HÌNH THÀNH DỰ ÁN
1 Giới thiệu đề xuất:
Thực hiện công văn số 041/VPBCĐWTO ngày 05 tháng 04 năm 2011 của Văn phòng BanChỉ đạo Chương trình HTKT Hậu gia nhập WTO về việc Xây dựng Tài liệu thiết kế chi tiết dựán:
Đề xuất 1: Tăng cường năng lực cho Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) trong việc nâng cao khả năng tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hội nhập kinh tế khu vực và thế giới theo thể chế kinh tế thị trường do Viện Khoa học quản trị
doanh nghiệp nhỏ và vừa đề xuất;
Đề xuất 2: Khảo sát, đánh giá năng lực và những thách thức của chủ DNNVV khu vực nông thôn Việt Nam dưới tác động của hội nhập WTO do Trung tâm Hỗ trợ pháp luật và phát
triển nguồn nhân lực đề xuất
Hai đề xuất trên được kết hợp thành dự án có tên: Tăng cường năng lực cho VINASME
trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên (chú trọng tới DNNVV khu vực nông thôn) trong quá trình hội nhập.
Việc kết hợp giữa hai đề xuất trên đây là cần thiết nhằm hướng tới một mục đích chung làtăng cường năng lực của VINASME trong việc hỗ trợ các DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp
ở khu vực nông thôn Phương thức kết hợp này vừa giúp các DNNVV tiếp cận thuận tiện và hiệuquả hơn với các thông tin và dịch vụ tư vấn về hội nhập kinh tế quốc tế thông qua mạng lưới cácVăn phòng tư vấn trực thuộc VINASME, vừa giúp chính VINASME nắm bắt rõ ràng hơn, đầy
đủ hơn về nhu cầu của các DNNVV để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hỗ trợ, cũng nhưbước đầu đưa ra đề xuất về chính sách hỗ trợ cho các DNNVV ở khu vực nông thôn
Thực tiễn hoạt động của VINASME và các hội thành viên thời gian qua cho thấy mặc dùnăng lực và hiệu quả hỗ trợ đối với các DNNVV trong quá trình hội nhập đã có những chuyểnbiến tích cực, đặc biệt là với sự hỗ trợ kịp thời của các đối tác phát triển Tuy nhiên, xét về tổngthể, hoạt động hỗ trợ của VINASME đối với các DNNVV vẫn chưa thực sự đồng bộ, còn trùnglặp, thiếu chủ động và chưa bền vững Việc tiếp cận tới các thông tin, dịch vụ hỗ trợ củaVINASME đối với các DNNVV ở khu vực nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế Ngược lại, côngtác theo dõi và nắm bắt để từ đó hỗ trợ, dẫn dắt hoạt động của các DNNVV nói chung, DNNVV
ở khu vực nông thôn nói riêng chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra Vì vậy, sự kết hợpgiữa hai ý tưởng trên trong khuôn khổ của một Dự án sẽ giúp bước đầu khắc phục thực trạng nêutrên
2 Chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về các doanh nghiệp nhỏ và vừa thời kỳ đổi mới và hội nhập:
DNNVV Việt Nam có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, chiếm khoảng 97%tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, là khu vực doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong tạoviệc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển vàđóng góp vào ngân sách nhà nước DNNVV có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hìnhthành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực và làkhu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể thamgia đầu tư nhằm tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn
Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đếnviệc hình thành, phát triển DNNVV và coi đó là lực lượng chủ lực của phát triển kinh tế - xã hội
và hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, đã đặt ra yêu cầu xâydựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam cùng với nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân, nông dân
và đội ngũ trí thức Đại hội X của Đảng đã đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lược quốc gia về pháttriển DNNVV, trong đó đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 cả nước có 500.000 DNNVV
Trang 5Chương trình Hành động của Chính phủ theo Nghị quyết 16 cũng nêu rõ mục tiêu: Góp phầnthúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTOthông qua công tác tuyên truyền và phổ biến thông tin về WTO, hỗ trợ các doanh nghiệp nắmvững chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và các quy tắc, luật lệ của WTO, xây dựngđồng bộ chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Một trong những nhiệm
vụ cụ thể được nêu tại Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội (2011-2015): Nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế; tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo
Trong thời gian qua, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009về trợ giúp phát triển DNNVV và Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/5/2010 về việc triển khai thựchiện Nghị định số 56/2009/NĐ-CP nhằm tiếp tục khuyến khích, trợ giúp phát triển DNNVV đáp ứngcác yêu cầu mới về hội nhập và phát triển bộ chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp Quốc hội cũng đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng trong lĩnh vực khoa họccông nghệ như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Sở hữu TríTuệ, Luật Công nghệ cao,…Chính phủ cũng đã dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp thuộckhu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ như: ưu đãi về tiềnthuê đất, tiền sử dụng đất, ưu đãi về tiếp cận vốn tín dụng,…
3 Sự phát triển của các DNNVV ở Việt Nam:
DNNVV Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nềnkinh tế thị trường, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự biến đổi của quan hệ sởhữu khiến quan hệ quản lý và phân phối cũng thay đổi, nên quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt vàphù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vốn còn thấp và phát triển không đều giữacác vùng, ngành trong cả nước Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đấtđai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
Các DNNVV phát triển đa dạng về hình thức sở hữu, về quản lý phân phối tạo ra sự phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các ngành, các lĩnh vực sản xuất, từ đó tạo rakhả năng huy động rộng rãi nguồn lực, động lực xã hội để thúc đẩy, nâng cao đời sống văn hóa,dân trí và tinh thần trong toàn xã hội và góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại
Ưu thế nổi trội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là năng động, nhạy bén, linh hoạt, nắmbắt và đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị trường để tìm kiếm hiệu quả, lợi nhuận Họ luôn tìmkiếm, phát hiện ngành, lĩnh vực, mặt hàng mà xã hội đang thiếu, đang cần, đầu tư sản xuất, đồngthời không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có
ưu thế trong cạnh tranh và thu được nhiều lợi nhuận, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hợp lý, hiện đại Đồng thời, trong quá trình chống chọi với suy thoái kinh tế, hệthống các DNNVV đã phát huy được lợi thế của qui mô doanh nghiệp nhỏ, khai thác đa dạng cácnguồn vốn và công nghệ, sử dụng hợp lý nguồn lao động xã hội và thay đổi linh hoạt chủng loạisản phẩm và thị trường tiêu thụ Do vậy, DNNVV đã có những đóng góp đáng kể trong chốngsuy thoái, duy trì và ổn định hoạt động của kinh tế đất nước Chính phủ đặt nhiều kỳ vọng vào sựđóng góp của lực lượng các DNNVV trong khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất, hội nhậpthành công vào nền kinh tế thế giới
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, Việt Nam trở thành thành viênchính thức thứ 150 của WTO (vào ngày 07/01/2007) Quá trình hội nhập ngày càng toàn diệnvào kinh tế thế giới, việc này đã tạo cho các DNNVV nhiều thuận lợi, nhưng không ít khó khăn.Hệ thống các DNNVV cùng với các thành phần kinh tế khác trong cả nước đã phải đối mặt vớimuôn vàn khó khăn, thách thức mà chủ yếu là các vấn đề thiếu vốn đầu tư kinh doanh, trình độ
Trang 6công nghệ thấp, trang thiết bị lạc hậu, chất lượng hàng thấp, thiếu kinh nghiệm quản lý, khó tiêuthụ sản phẩm… Với lịch sử phát triển kinh tế thị trường và hội nhập còn quá ngắn, lại phải trảiqua khó khăn của giai đoạn khủng hoảng nên DNNVV còn rất nhiều hạn chế cả về năng lựcquản lý, công nghệ sản xuất cũng như kinh nghiệm kinh doanh Vì vậy, hỗ trợ quá trình hội nhậpcủa các DNNVV đặt ra như một nhu cầu bức thiết hiện nay nhằm giúp họ nâng cao năng lựccạnh tranh và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế.
Đối với các DNNVV ở nông thôn, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt đặt ra nhiềukhó khăn, thách thức cho mục tiêu phát triển bền vững Không chỉ những khó khăn về nguồn lực(con người, tài chính, công nghệ), các DNNVV khu vực nông thôn còn gặp rất nhiều khó khănkhác, thách thức khác, như trình độ quản lý và phát triển kinh doanh; khả năng tiếp thị và tiếpcận thị trường phân phối; vấn đề phát triển thương hiệu và nâng cao giá trị gia tăng của hànghóa, dịch vụ… Quy mô sản xuất nhỏ lẻ tạo những bất lợi cho các DNNVV trong quá trình cạnhtranh về giá cả với các sản phẩm, hàng hóa sản xuất hàng loạt quy mô lớn của các doanh nghiệplớn hoặc nhập ngoại Với đặc thù của Việt Nam là gần 70% lao động làm ăn, sinh sống ở khuvực nông thôn và xuất phát từ chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng tăng tỷ trọng cho khu vựccông nghiệp, dịch vụ, đòi hỏi VINASME cần phát huy vai trò tốt hơn nữa trong việc đảm bảo sựphát triển bền vững của các DNNVV khu vực nông thôn
4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME):
VINASME là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của Hội viên trong các hoạt động thuộc lĩnh vực DNNVV với các cơ quan, tổ chứctrong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; tư vấn, phản biện về kinh tế, pháp luật và đốingoại thuộc lĩnh vực DNNVV; làm cầu nối giữa các Hội thành viên, Hội viên và DNVVN vớicác cơ quan hữu quan nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến sự phát triển bền vững củaDNNVV nói riêng, doanh nghiệp nói chung trong khuôn khổ quy định của pháp luật; hỗ trợ hộiviên mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh, xúc tiến đầu tư về thương mại, du lịch và hợptác quốc tế, cung cấp thông tin, tư vấn, tổ chức diễn đàn trao đổi, hợp tác và tổ chức hội thảotheo quy định của pháp luật
Để thực hiện các chức năng nêu trên, VINASME có một số quyền hạn chính, như: đại diệncho các hội viên trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức; tham gia ý kiến vào các văn bản quyphạm pháp luật và kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các biện pháp, chínhsách đảm bảo sự phát triển bền vững của các DNNVV; phối hợp với các cơ quan, tổ chức nhằmtìm kiếm, xây dựng và phát triển thị trường cho các DNNVV
Hiện tại VINASME hoạt động thông qua 42 hội thành viên ở 42 tỉnh thành phố trải dài dọctheo đất nước, từ Lào Cai đến Cần Thơ, 10 văn phòng đại diện, chi nhánh ở trong và ngoài nước.Ngoài các Hội thành viên trên, VINASME đã thành lập 9 đơn vị sự nghiệp kinh tế trực thuộcTrung ương Hội để tham gia hoạt động kinh tế trong nhiều lĩnh vực và tham gia hợp tác, liêndoanh liên kết với các đối tác kinh tế trong và ngoài nước
5 Đánh giá các dự án có liên quan đã và đang được triển khai:
5.1 Dự án “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, phát huy vai trò và lợi thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Dự án triển khai trong năm thứ Nhất, giai đoạn II chương trình HTKT hậu gia nhập WTO)
Dự án đã hoàn thành mục tiêu đề ra là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, nhận
thức và khả năng thích ứng của DNVVN đối với WTO và hội nhập, với các kết quả như sau:
Trang 7Kết quả 1: Một báo cáo kết quả khảo sát, điều tra về thực trạng, tình hình thuận lợi, khó khăn
của các DNNVV thuộc 3 ngành kinh doanh: Cơ khí chế tạo, Dệt may, Thủy hải sản - nhữngngành hàng có sự tham gia nhiều của các DNNVV và chịu nhiều ảnh hưởng bởi quá trình thựcthi các cam kết WTO
Do nguồn lực và kinh phí có hạn, quá trình khảo sát điều tra về DNNVV năm 2010 mớichỉ diễn ra tại 03 thành phố lớn, và trong 3 ngành Thủy sản, Dệt may, Cơ khí Qua số liệu báocáo khảo sát điều tra, VINASME mới chỉ có những nhận định, đánh giá sơ bộ về thực trạngDNNVV VN theo vùng (thành phố) và theo ba ngành Vì vậy, để có thể nắm bắt sâu hơn về thựctrạng DNNVV (đặc biệt là các DNNVV nông thôn) từ đó đưa ra những biện pháp tư vấn hỗ trợDNNVV thành viên trên cả nước hội nhập có hiệu quả, đồng thời phát huy kết quả Dự án nămthứ nhất việc đề xuất dự án trong năm tiếp theo là cần thiết
Kết quả 2: Nhận thức của các DNNVV về thực thi các cam kết VN-WTO được nâng cao:
BQLDA đã phối hợp với các Giáo sư, Tiến sĩ, các chuyên gia hàng đầu trong công táchội nhập kinh tế quốc tế biên soạn bộ giáo trình phù hợp với khả năng nhận thức của cácDNNVV về hội nhập, tổ chức 3 khóa đào tạo nâng cao năng lực cho các cán bộ DNNVV trongquá trình Hội nhập tại 03 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM Các khóa học đã nhận được sựtham dự nhiệt tình của hơn 195 cán bộ lãnh đạo (Hoặc triển vọng là lãnh đạo) các Hiệp hội, cácDoanh nghiệp nhỏ và vừa (Hà Nội 70 cán bộ, Đà Nẵng 55 cán bộ, TP.HCM 70 cán bộ), vượt chỉtiêu số lượng đã đặt ra
Bên cạnh 195 cán bộ lãnh đạo DNNVV được tham gia đào tạo trực tiếp, BQLDA còn in ấn,phát hành 1000 cuốn giáo trình đào tạo tới DNNVV 3 miền Bắc, Trung, Nam chưa có cơ hộitham dự các khóa đào tạo của BQLDA Tuy nhiên, so với kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo củaBQLDA, thì số lượng cán bộ được đào tạo trong Dự án mới chỉ là rất nhỏ Do thời gian và nguồnlực có hạn, nhu cầu đào tạo của DNNVV về các kiến thức hội nhập mới chỉ đáp ứng được mộtphần Để dự án có được tác động lâu dài, việc nâng cao năng lực của VINASME trong việc hỗtrợ DNNVV trong năm tiếp theo là hết sức cần thiết Vì vậy, việc hình thành một mạng lưới
“Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” giúp Hiệp hội nâng cao chất lượng cung cấp thông tin vàdịch vụ tư vấn cho DNNVV, đặc biệt là ở khu vực nông thôn để họ có thể tiếp thu những vănbản pháp luật, các thông tin cần thiết, nâng cao nhận thức, tham gia các hoạt động mở rộng thịtrường tiêu thụ hàng hoá, hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, góp phần đưa Việt Namsớm trở thành nước có nền kinh tế thị trường phát triển là vấn đề cấp bách
Kết quả 3: Một dự thảo “Định hướng chiến lược phát triển DNNVV phù hợp với bối
cảnh thực thi các cam kết VN - WTO và Nghị định 56/2009/NĐ-CP” và kiến nghị về các giảipháp giúp DNNVV nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, phát huy vai trò và lợi thế trong quátrình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam Được xây dựng và trình lên các cơ quancó thẩm quyền
Bản dự thảo hoàn thiện đã được trình lên lãnh đạo Hiệp hội DNNVV Việt Nam, Bộ Kếhoạch & Đầu tư (Cục phát triển Doanh nghiệp), Dự thảo được đánh giá cao, là căn cứ khoa học
để Hiệp hội DNNVV Việt Nam, Cục phát triển Doanh nghiệp đóng góp ý kiến vào các văn bảnquy phạm Pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ của cácDNNVV,
Trang 8Phần báo cáo đã kiến nghị với Nhà nước những vấn đề về Pháp luật, chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các DNNVV :
(1) Đã tập hợp được các chuyên gia, các nhà khoa học, các doanh nhân có danh tiếng, đãhoàn thành Đề cương chi tiết của Đề tài “NGHIÊN CỨU LUẬN CỨ KHOA HỌC XÂY DỰNGLUẬT CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM” Đề cương chi tiết đãđược trao đổi, thảo luận và đã được Ủy Ban Kinh tế của Quốc hội Khóa XII tiếp nhận và đánhgiá cao về ý tưởng và nội dung đề xuất, sẽ được triển khai trong Khóa mới (Khóa XIII) của Quốchội Khi Đề tài được triển khai, đồng nghĩa việc trong thời gian tới Cộng đồng DNNVV ViệtNam sẽ có Đạo Luật riêng cho mình, có thể “sánh vai” với “Luật cơ bản Doanh nghiệp Nhỏ vàVừa” của Nhật Bản, được ban hành từ năm 1963 (Small and Medium Enterprise Basic Law),
“Luật cơ bản của DNNVV” của Hàn Quốc được ban hành năm 1966, “Luật phát triển các Doanhnghiệp Nhỏ và Vừa” của Thái Lan được ban hành năm 2000, Trong Nội dung nghiên cứu xâydựng “Luật cơ bản về DNNVV Việt Nam” sẽ dành cho DNNVV rất nhiều lợi ích, ưu đãi, đượcbảo vệ bằng Luật pháp trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh, thương mại hóa sản phẩm,phát triển thị trường, liên doanh liên kết Đây là một đóng góp quan trọng của kết quả Dự án, nócó sức lan tỏa mạnh trong giới Doanh nhân Việt Nam cả về lợi ích chính trị, pháp lý, kinh tế vàhội nhập kinh tế quốc tế
(2) Phối hợp với Cơ quan đầu mối của Bộ KH&CN, đó là Cục Ứng dụng và Phát triển
công nghệ soạn thảo Chương trình hợp tác hỗ trợ DNNVV dưới tên gọi “Chương trình phối
hợp hoạt động hỗ trợ DNNVV ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm”, Chương trình đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học
và Công nghệ và Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam ký kết ngày 30 tháng 10 năm 2010.Trong Chương trình hợp tác này, có tới 10 Đề tài/Dự án sẽ được triển khai hỗ trợ DNNVV từnay đến năm 2015 Hiện nay, hai bên đang xây dựng các Đề cương chi tiết của các Đề tài/ Dự ántheo kế hoạch Kết quả hợp tác này được chuẩn bị triển khai các Đề tài/Dự án nhằm bổ sung cho
các Giải pháp trong “Định hướng chiến lược phát triển DNNVV phù hợp với bối cảnh thực
thi các cam kết VN - WTO và Nghị định 56/2009/NĐ-CP”
Các nhiệm vụ này cũng được gửi tới các Hội của các tỉnh/thành phố để nghiên cứu và tùytheo năng lực của các Hội, các Doanh nghiệp hội viên có thế xây dựng các Dự án phát triểndoanh nghiệp của mình trong thời gian tới Hiệp hội DNNVV Việt Nam và Viện Khoa học Quảntrị DNNVV tiếp tục hướng dẫn doanh nghiệp lập các Dự án phát triển bằng các nguồn vốn từQuỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia, nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ theo Nghịđịnh 119-CP đang sửa đổi, hoặc gắn các Dự án của Doanh nghiệp vào các “Chương trình Quốcgia phát triển công nghệ cao đến năm 2020”, hoặc “Chương trình đổi mới công nghệ Quốc giađến năm 2020”mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai thực hiện
5.2 Dự án tài chính nông thôn III (Nhà tài trợ là Hiệp hội Phát triển quốc tế IDA và Ngân hàng Thế giới - WB).
a) Mục tiêu của Dự án: Tăng cường lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp tư nhân và các hộ
gia đình nông thôn ở các khu vực thực hiện Dự án tại Việt Nam thông qua tăng cường năng lực
và khả năng tiếp cận tài chính của các đối tượng này (thời gian từ 2008 - 2013)
Trang 9b) Kết quả mong đợi: Cải thiện sự tiếp cận tới các dịch vụ tài chính của các doanh nghiệp
nông thôn; Tăng cường đầu tư vốn của các doanh nghiệp nông thôn cũng như tạo thêm công ănviệc làm; Các định chế tài chính tăng cường cho vay, đặc biệt là cho vay có kỳ hạn cho các hoạtđộng đầu tư cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân nông thôn theo các điều kiện thị trường
c) Các nhóm hoạt động chính: Tư vấn kỹ thuật xây dựng Chiến lược định hướng hỗ trợ
DNNVV giai đoạn 2011-2020; xác định nhu cầu, kế hoạch đào tạo; tập huấn cho cán bộ mạnglưới hiệp hội DNNVV và đại diện DNNVV trên cả nước trở thành các giảng viên nguồn về quảntrị doanh nghiệp; tập huấn cho cán bộ mạng lưới hiệp hội DNNVV trên cả nước trở thành các tưvấn kinh doanh; xây dựng bộ giáo trình chuẩn và phương pháp đào tạo về quản trị doanh nghiệpphù hợp với trình độ của các cán bộ quản lý DNNVV nông thôn; xây dựng và hỗ trợ vận hành
mô hình Trung tâm tư vấn kinh doanh thuộc Hiệp hội DNNVV tỉnh/ vùng; cung cấp hỗ trợ kỹthuật cho Diễn đàn đối thoại hàng năm giữa DNNVV và đại diện ngân hàng cho các tổ chức tàichính khác
d) Kết quả triển khai và mối liên hệ với Dự án đề xuất: Dự án đã triển khai chủ yếu tập
trung vào hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình khu vực nông thôn ở các
địa bàn triển khai Dự án Trong Dự án này, VINASME bước đầu cũng được tăng cường, song
chủ yếu tập trung vào năng lực tư vấn về mô hình kinh doanh, các khía cạnh pháp lý và trình tự, thủ tục liên quan đến vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả Kết quả đạt được bước đầu từ Dự án
này sẽ là yếu tố đầu vào quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình văn phòng
tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV một cách toàn diện ở VINASME và các Hội thành viên
- Bên cạnh đó, Dự án được đề xuất và Dự án này mang tính bổ trợ nhau, những kết quả đạtđược của Dự án cũng sẽ được kết hợp, tích hợp vào mô hình mới như con người và điều kiệnhoạt động đã được xây dựng từ Dự án Việc kết hợp giữa hai dự án sẽ được thể hiện chi tiết trong
kế hoạch hoạt động hàng năm của cả hai dự án Ngoài ra, việc theo dõi, đánh giá hai dự án nàycũng có thể sẽ được kết hợp để tránh trùng lặp (như tổ chức hội nghị kiểm điểm giữa năm, hàngnăm, giữa kỳ và cuối kỳ)
5.3 Dự án “Hỗ trợ thương mại đa biên III” (EU-Vietnam MUTRAP III)
ASIE/2007/18844
a) Mục tiêu: Tăng cường năng lực về chính sách thương mại cho VINASME (thời gian từ
2009 đến 2012)
b) Kết quả dự kiến: Ở cấp Trung ương và địa phương có được cán bộ có năng lực trong
lĩnh vực thương mại, xuất khẩu và tư vấn cho các bộ phận chuyên ngành; một Ban tư vấn thươngmại giúp tăng cường vai trò tư vấn của VINASME thông qua việc đưa ra các khuyến nghị phùhợp về chính sách thương mại; bộ phận chuyên trách về thương mại được hình thành trong hệthống VINASME nhằm hỗ trợ theo nhu cầu của các DNNVV
c) Các nhóm hoạt động chính: Xây dựng năng lực cho VINASME cấp Trung ương cũng
như cho nhân viên của hiệp hội tỉnh (tập trung về các vấn đề thương mại tổng hợp; đào tạo nhómchuyên gia tư vấn; tăng cường năng lực kinh doanh với EU và giải thích về các phương tiện vậnđộng thương mại); xây dựng Ban tư vấn cho VINASME (hình thành các nhóm; công cụ hỗ trợvận động thương mại; hỗ trợ ban đầu trong việc tìm kiếm đối tác ); Thành lập nhóm hạt nhân(nhóm của các doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu trên cùng địa bàn) trong hiệp hội tỉnh trêncác địa bàn triển khai Dự án
d) Kết quả thực hiện và mối liên hệ với Dự án đề xuất: Hiện VINASME đã đào tạo được
10 chuyên gia tư vấn thương mại và 12 “Nhóm hạt nhân” với tổng số thành viên đăng ký là 210,cụ thể như sau: Vĩnh Phúc thành lập 01 nhóm hạt nhân về dịch vụ - thương mại; Phú Thọ thành
Trang 10lập 02 nhóm hạt nhân về dịch vụ - thương mại và may mặc; Thái Bình thành lập 01 nhóm hạtnhân về chế biến nông sản, thực phẩm; Hưng Yên thành lập 02 nhóm hạt nhân về may mặc vàđiện máy - điện tử; Quảng Bình thành lập 02 nhóm hạt nhân về nhà hàng - khách sạn và xăngdầu; Quảng Trị thành lập 01 nhóm hạt nhân về sản xuất và chế biến gỗ; Quảng Ninh thành lập 02nhóm hạt nhân về kinh doanh dịch vụ tàu du lịch thăm vịnh Hạ Long và du lịch - nhà hàng -khách sạn; Ninh Bình thành lập 01 nhóm hạt nhân về du lịch - nhà hàng - khách sạn Như vậythông qua Dự án này, bước đầu VINASME và các hội thành viên đã đào tạo được một số chuyêngia tư vấn thương mại và xây dựng được một số nhóm hạt nhân với sự tham gia của các DNNVVtrên các lĩnh vực kinh doanh khác nhau Cách tiếp cận này vừa giúp các DNNVV có được cơ hội
để tương tác, trao đổi với nhau khi cùng tham gia vào một nhóm hạt nhân vừa giúp xây dựngnăng lực tư vấn cho VINASME và các hội thành viên để hỗ trợ hoạt động sản xuất - kinh doanhcủa các DNNVV
Tuy nhiên, giải pháp hỗ trợ cho các DNNVV từ phía VINASME và các hội thành viên vẫn chưa mang tính chủ động, thiếu sự gắn kết thường xuyên và tổng thể Trên thực tế, mặc dù hình thành các nhóm hạt nhân, song sự gắn kết giữa các nhóm này với nhau và với các DNNVV chưa tham gia vẫn còn nhiều hạn chế Vai trò của VINASME và các hội thành viên có cải thiện, song vẫn còn thiếu chủ động và chưa mang tính tổng thể nhằm giúp đưa ra những phản hồi về chủ trương, chính sách kịp thời dựa trên tiếng nói chung của tất cả các DNNVV, đặc biệt là xét ở phạm vi cả nước Cơ chế, phương thức và công cụ hỗ trợ mang tính tổng thể từ phía VINASME
và các hội thành viên cho các nhu cầu khác nhau của DNNVV chưa được xác định rõ Cơ chế chủ động cập nhật đầy đủ thông tin về hội nhập để chia sẻ với các DNNVV, cũng như kịp thời đề xuất giải pháp hạn chế khó khăn, tận dụng lợi thế và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các DNNVV vẫn còn là một thách thức lớn đối với VINASME và các hội thành viên Vì vậy, kết quả triển khai của Dự án này sẽ giúp tăng cường năng lực tư vấn chính sách thương mại cho VINASME và các hội thành viên, cũng như trực tiếp cải thiện khả năng tiếp cận chính sách và các nguồn lực cho các DNNVV Những kết quả này cũng là những yếu tố đầu vào quan trọng nhằm tiếp tục xây dựng một cơ chế hỗ trợ mang tính tương tác hai chiều một cách chủ động giữa VINASME, các hội thành viên với các DNNVV trong quá trình hội nhập.
6 Phân tích vấn đề, nhận diện nguyên nhân và phân tích giải pháp:
Như vậy, VINASME đã có bước phát triển quan trọng trong việc thiết lập hệ thống mạng
lưới hội viên và củng cố tổ chức bộ máy trực thuộc Tuy nhiên, hoạt động của VINASME vẫn
còn nhiều hạn chế và mới bước đầu thực hiện một số chức năng về tư vấn và phản biện chính sách, pháp luật ở cấp Trung ương và ở một số tỉnh, thành phố lớn Vai trò dẫn dắt, định hướng, hỗ trợ và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn còn hạn chế Kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy, thực trạng này xuất phát từ một số nguyên nhân
chính và cần có các giải pháp tương ứng Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, VINASME chưa thiết lập được một đầu mối nhằm chủ động nắm bắt, chia sẻ
và cung cấp thông tin, tư vấn hỗ trợ hội nhập cho các DNNVV.
Đầu mối này giữ vai trò cầu nối giữa các DNNVV với các cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền và giữa các DNNVV với các đối tác nước ngoài khác trong quá trình hội nhập Bêncạnh việc phản ánh kịp thời thông tin về những thay đổi chính sách, pháp luật cho các DNNVV,đầu mối này còn góp phần cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước những phản hồi từ phíacác DNNVV đối với hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành Đồng thời, đầu mối này còn cóvai trò tiếp nhận yêu cầu tư vấn, nắm bắt thực tiễn hoạt động của các DNNVV và chủ động cungcấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động của các DNNVV khi thấy cần thiết Xuất phát từ chức năngtheo quy định của pháp luật, VINASME không chỉ giúp xây dựng năng lực cho các DNNVVhoặc hỗ trợ cho họ khi có yêu cầu mà cần phải phát huy được vai trò dẫn dắt, định hướng và bảovệ quyền, lợi ích hợp pháp của các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn Mặt
Trang 11khác, VINASME cũng phải giữ vai trò tham mưu cho các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra chiếnlược hoặc quy hoạch tổng thể, kèm theo một hệ thống các chương trình, kế hoạch trung và ngắnhạn, cũng như các giải pháp, biện pháp cụ thể để giúp các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ởkhu vực nông thôn từng bước hội nhập một cách đầy đủ và bền vững vào thị trường trong vàngoài nước.
- Thứ hai, năng lực tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ các DNNVV của VINASME và các hội thành viên còn nhiều hạn chế.
Để thực hiện tốt vị trí và chức năng theo quy định của pháp luật, VINASME và các hộithành viên cần nắm bắt một cách thường xuyên hơn, toàn diện hơn và cung cấp đầy đủ hơn cácthông tin có liên quan đến tất cả các khâu từ thành lập đến sản xuất, kinh doanh của cácDNNVV, đặc biệt là thông tin về các đối tác và thị trường ở nước ngoài Điều đó đòi hỏi nănglực của VINASME, các hội thành viên và trực thuộc phải rất toàn diện trên tất cả các lĩnh vực,ngành nghề sản xuất và kinh doanh của các DNNVV
Trên thực tế, đội ngũ cán bộ của VINASME và các hội thành viên còn nhiều hạn chế cả về
số lượng và chất lượng Bên cạnh các chuyên gia có chất lượng trên một số lĩnh vực hoạt độngchính của DNNVV (có sẵn và được hỗ trợ nâng cao năng lực thông qua các chương trình, dự ánhỗ trợ), Hiệp hội và các hội thành viên còn thiếu những cán bộ vừa có năng lực chuyên môn tốt,vừa có kinh nghiệm và kỹ năng chuyên nghiệp làm công tác tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp Đồngthời, hiện tại VINASME cũng chưa thiết lập được một hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin toàndiện nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi và giao tiếp trực tuyến với các DNNVV Việt Nam
- Thứ ba, nhận thức của chính các DNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn
về vai trò của VINASME và các hội thành viên còn chưa tương xứng.
Trong thời gian qua, một bộ phận không nhỏ các DNNVV ở Việt Nam còn chưa thực sựquan tâm đến vai trò của VINASME và các hội thành viên Thưc tế này xuất phát từ chính cácyếu tố đặc thù của loại hình doanh nghiệp này, như những hạn chế về nguồn lực và khả năng tiếpcận thị trường Vì vậy, họ có thể không tham gia hoặc tham gia, song chưa đầu tư cả về thời gian
và nguồn lực thỏa đáng cho các hoạt động chung của các hội, hiệp hội và các tổ chức nghềnghiệp hoặc xã hội - nghề nghiệp khác Ngoài ra, các DNNVV ở khu vực nông thôn cũng chưacó đủ các điều kiện cần thiết để tiếp cận với mạng lưới của VINASME ở các tỉnh, thành phố,như thiếu hệ thống hạ tầng và năng lực về tin học, truyền thông; hệ thống mạng lưới củaVINASME chưa đủ khả năng để tiếp cận đến tất cả các DNNVV ở khu vực nông thôn, đặc biệt
là nông thôn thuộc địa bàn miền núi hoặc vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Kết quả khảo sát DNNVV trong dự án năm 2010 cho thấy các kiến thức về hội nhập củacác DNNVV, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ lẻ ở các vùng nông thôn đều rất hạn chế, có nhiềuDNNVV khi tham gia lớp tập huấn của BQLDA mới có khái niệm về các cam kết VN-WTO, họđều mong muốn có nhiều hoạt động hỗ trợ để hội nhập vào kinh tế khu vực và quốc tế mà thờigian dự án chưa nhiều, kết quả của dự án mới ở giai đoạn ban đầu Để dự án có được tác độnglâu dài, việc nâng cao năng lực của VINASME trong việc hỗ trợ DNNVV trong năm tiếp theo làhết sức cần thiết Vì vậy, việc hình thành một mạng lưới “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV”giúp Hiệp hội nâng cao chất lượng cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn cho DNNVV, đặc biệt là
ở khu vực nông thôn để họ có thể tiếp thu những văn bản pháp luật, các thông tin cần thiết, nângcao nhận thức, tham gia các hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, hội nhập sâu vàokinh tế khu vực và thế giới, góp phần đưa Việt Nam sớm trở thành nước có nền kinh tế thịtrường phát triển là vấn đề cấp bách
Do nhu cầu rất lớn về số lượng “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” tại 63 tỉnh và thànhphố, để đủ điều kiện thực hiện tư vấn hội nhập cho trên 500.000 DNNVV cộng thêm 5 triệu hộkinh doanh cá thể (DN siêu nhỏ) ở khắp đất nước Việc này đòi hỏi phải đầu tư về thời gian dài
Trang 12hơi và kinh phí lớn hơn nhiều Trong phạm vi thời gian, kinh phí hỗ trợ của Chương trìnhBWTO, VINASME nhận thấy cần phải tập trung vào việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn,đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước thành công trong việc tổ chức mạng lưới, tư vấn hộinhập cho DNNVV, qua đó triển khai thí điểm “Văn phòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” tạiVINASME và 10-15 hội địa phương Sau thời gian thí điểm, VINASME sẽ tổng kết, rút kinhnghiệm mở rộng phạm vi áp dụng và từng bước hình thành một mạng lưới ổn định các “Vănphòng tư vấn, hỗ trợ DNNVV” theo nhu cầu của các DNNVV trên phạm vi cả nước
7 Sự phù hợp của dự án với các cấu phần của B-WTO:
Bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế, Chính phủ đã có Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gianhập WTO với sự tài trợ của quốc tế cả về tài chính và kinh nghiệm Các vấn đề liên quan đếnphát triển DNNVV đang là một trong các nội dung công việc phối hợp giữa các nhà tài trợ, cácNGO quốc tế với Chính phủ Việt Nam Cải thiện môi trường kinh doanh và pháp lý cho doanhnghiệp tư nhân trong nước và DNNVV là một chủ đề thường xuyên trong các cuộc đối thoạigiữa Chính phủ và các nhà tài trợ trong một loạt các vấn đề phát triển rộng thông qua nhóm tưvấn các Nhà tài trợ và thông qua các cơ chế đối tác khác
Mục tiêu của Dự án hoàn toàn phù hợp với Mục tiêu Cấu phần I của Chương trình Hỗ trợ
Kỹ thuật Hậu gia nhập WTO là Tăng cường thể chế nền kinh tế thị trường, giải quyết những
vấn đề được Chính phủ xác định là ưu tiên, góp phần đưa Việt Nam thoát khỏi địa vị nền kinh tế phi thị trường theo quan niệm của một số thành viên WTO.
- Cấu phần 1 (cấu phần chính) - mục 1(ii), 5(i): Tăng cường thể chế kinh tế thị trường;
- Cấu phần 3 (cấu phần phụ) - mục 1(iii): Hỗ trợ năng lực quản lý và điều phối hội nhập.
II MÔ TẢ DỰ ÁN/ TÓM TẮT KHUNG LOGIC
1 Mô tả Dự án
1.1 Hệ thống các mục tiêu của Dự án:
a) Mục tiêu dài hạn của Dự án là thúc đẩy sự phát triển bền vững của các DNNVV Việt Nam, góp phần nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho người lao động thông qua việc hỗ trợ các DNNVV Việt Nam tận dụng tối đa các lợi ích từ hội nhập.
b) Các mục tiêu ngắn hạn:
- Mục tiêu 1: Nâng cao năng lực cho VINASME và các hội thành viên để hỗ trợ các
DNNVV Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn, tiếp cận tốt hơn với các thôngtin và dịch vụ tư vấn của VINASME trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Mục tiêu 2: Gia tăng hỗ trợ cho các DNNVV ở khu vực nông thôn thông qua việc xây
dựng đề xuất kiến nghị chính sách
1.2 Các kết quả và nhóm hoạt động chính của Dự án:
a) Các kết quả
- Kết quả 1: Mô hình chuẩn của Văn phòng tư vấn và cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV
của VINASME và các tổ chức thành viên được xây dựng, triển khai thí điểm và nhân rộng
- Kết quả 2: Hệ thống thu thập thông tin hiện trạng và phân tích chính sách hỗ trợ cácDNNVV, đặc biệt là các DNNVV ở khu vực nông thôn được xây dựng và đưa vào áp dụng
- Kết quả 3: Đề xuất kiến nghị về chính sách hỗ trợ các DNNVV ở khu vực nông thônđược đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền
b) Các hoạt động dự kiến triển khai