1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị tỉnh sóc trăng

154 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THÖY VI TÌM HIỂU VAI TRÕ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH KẾT HỢP TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH CỦA NGƯỜI KINH Ở HUYỆN THẠNH TRỊ - TỈNH SÓC TRĂNG KHOA KHOA

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÖY VI

TÌM HIỂU VAI TRÕ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH KẾT HỢP TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH CỦA NGƯỜI KINH Ở HUYỆN THẠNH TRỊ - TỈNH SÓC TRĂNG

KHOA KHOA HỌC XÃ HÔI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ – DU LỊCH

Cần Thơ, tháng 05 năm 2012

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH DU LỊCH

Trang 2

NGUYỄN THỊ THÖY VI MSSV: 6086534

TÌM HIỂU VAI TRÕ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH KẾT HỢP TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH CỦA NGƯỜI KINH Ở HUYỆN THẠNH TRỊ - TỈNH SÓC TRĂNG

Người hướng dẫn

TS Lê Ngo ̣c Tha ̣ch

KHOA KHOA HỌC XÃ HÔI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ – DU LỊCH

Cần Thơ, tháng 05 năm 2012

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH DU LỊCH

Trang 3

Thực hiện một luận văn tốt nghiệp đại học là quá trình tổng hợp những kiến thức đã được học và tích lũy trong suốt bốn năm học Vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn nghiên cứu một vấn đề thực tế đưa ra những kết quả, giải pháp thiết thực nhằm góp phần vào việc đẩy mạnh khai thác tiềm năng sẵn có phát triển cho ngành du lịch nước nhà

Do đề tài thực hiện ở địa phương tương đối xa nên trong quá trình nghiên cứu tôi gặp cũng không ít những vấn đề khó khăn, tuy nhiên được củng cố niềm tin bằng

sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô ở trường Đại học Cần Thơ, cùng các quý cơ quan,…đã giúp tôi đạt được những kết quả đáng kể

Trước tiên, xin chân thành cảm ơn thầy Lê Ngọc Thạch, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Cùng lời cảm ơn đến cô Nguyễn Ngọc Lẹ Bộ môn Xã hội học đã tận tình giúp đỡ chỉ dẫn tôi trong quá trình xử

lý số liệu đề tài Chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Bộ môn Địa lý – Lịch Sử - Du Lịch, đã có những bước đầu cung cấp nền tảng kiến thức cho tôi có được kết quả như hôm nay

Xin cảm ơn quý cơ quan của huyện Thạnh Trị: quý cơ quan lãnh đạo huyện Thạnh Trị Đặc biệt xin chân thành cảm ơn các Ban quản trị của hệ thống cơ sở tâm linh trong huyện cùng người dân địa phương đã nhiệt tình cung cấp các nguồn thông tin quí báu và thực hiện những bảng phỏng vấn của đề tài

Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc rằng trong quá trình thực hiện đề tài sẽ có một vài thiếu sót, kính mong quý thầy cô cảm thông và chân thành đóng góp ý kiến cho đề tài của tôi

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 03 tháng 05 năm 2012

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thúy Vi

Trang 4

Tên bảng Trang

Bảng 3.3: Đánh giá qui mô các lễ hội đƣợc tổ chức trong năm 44 Bảng 3.4: Đánh giá mức độ tham gia vào các hoạt động lễ hội 47 Bảng 3.5: Đánh giá mức độ nguồn đóng góp kinh phí cho lễ hội 48

Bảng 3.7: Thông tin tỷ lệ các hình thức làm từ thiện ở cơ sở tâm linh 51 Bảng 3.8: Nhận xét nguyên nhân dẫn đến sự hình thành hoạt động từ thiện 52 Bảng 3.9 Thống kê các hình thức muốn đóng góp cho từ thiện 54 Bảng 3.10: Đánh giá mức độ vai trò lễ hội trong đời sống cộng đồng 55 Bảng 3.11: Đánh giá mức độ đánh giá nhu cầu của khách tham gia lễ hội 55 Bảng 3.12: Đánh giá mức độ đánh giá lợi ích từ thiện cho cộng đồng 56 Bảng 3.13: Đánh giá mức độ những ƣu điểm cho lễ hội phát triển 57 Bảng 3.13: Những điều kiện cần để tiếp tục phát triển triển lễ hội 59 Bảng 3.14: Đánh giá mức độ các vấn đề khó khăn của hoạt động từ thiện 60 Bảng 3.15: Đánh giá mức độ hài lòng về việc tổ chức lễ hội 61 Bảng 3.16: Đánh giá mức độ hài lòng hoạt động từ thiện 62 Bảng 3.17: Đánh giá mức độ hài lòng về hoạt động từ thiện 63

Bảng 4.3: Đánh giá về tour du lịch kết hợp lễ hội và từ thiện 67 Bảng 4.4: Những lợi ích từ du lịch đối với cộng đồng 68 Bảng 4.5: Những lý do làm cho hoạt động du lịch kém phát triển 70 Bảng 5.1: Các hình thức vui hội có thể đƣợc bổ sung/cải thiện vào lễ hội 74

Trang 5

Hình 3.1: Tỷ trọng thời gian diễn trung bình các lễ hội 44

Hình 3.2: Đánh giá mức độ thực hiện các nội dungcủa lễ hội 45 Hình 3.3:Đánh giá mức độ hoạt động các nội dung hội hiện nay 46 Hình 3.4: Đánh giá mức độ thành phần khách đến tham gia lễhội 47 Hình 3.5: Đánh giá mức các hình thức đóng góp cho hoạt động lễ hội 48 Hình 3.6: Đánh giá mức độ các đối tượng hướng đến giúp đỡ 50 Hình 3.7: Thống kê tỷ trọng số lần tham gia từ thiện của khách trong năm 53 Hình 3.8: Thống kê tỷ trọng các hình thức từ thiện khách đã tham gia 53 Hình 3.9: Đánh giá mức độ thuận lợi của hoạt động từ thiện 58 Hình 3.10: Đánh giá mức hài lòng của khách khi tham gia lễ hội 62 Hình 4.1: Mức đánh giá nhận định liên quan đến du lịch kết hợp 64 Hình 4.2: Mức độ hấp dẫn của du lịch kết hợp trong năm 66 Hình 4.3: Thống kê số lượng đáp viên tham gia tour du lịch kết hợp 69

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Thực trạng nghiên cứu 3

5 Quan điểm nghiên cứu 6

5.1 Quan điển tổng hợp 6

5.2 Quan điểm lãnh thổ 6

5.3 Quan điểm lịch sử 7

5.4 Quan điểm viễn cảnh 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

6.1 Thu thập số liệu thứ cấp 7

6.2 Thu thập số liệu sơ cấp 8

6.3 Phương pháp chọn mẫu 9

6.4 Phương pháp xử lý số liệu 9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Một số vấn đề về du lịch 11

1.1.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 11

1.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch 11

1.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 11

1.2 Du lịch kết hợp 15

1.2.1 Khái niệm du lịch kết hợp 18

1.2.1 Một số loại hình du lịch kết hợp ở Việt Nam 18

1.3 Tính cộng đồng 19

1.3.1 Khái niệm 19

1.3.2 Ý nghĩa trong du lịch 19

1.4 Khái quát chung về các hình thức tín ngưỡng người Kinh 20

1.4.1 Thờ thần ở Đình 20

1.4.2 Phật Giáo ở Chùa 20

1.4.3 Tịnh Độ Cư Sĩ – Hội quán 21

1.4.4 Cao Đài – Thánh thất 21

1.5 Lễ hội tại các cơ sở tâm linh 22

1.5.1 Các lễ hội tiêu biểu 22

1.5.2 Hình thức hoạt động lễ hội tại các cơ sở tâm linh 27

1.5.3 Ý nghĩa của các lễ hội trong du lịch 28

Trang 7

1.6.2 Ý nghĩa trong du lịch 31

Chương 2: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN THẠNH TRỊ 33

2.1 Sơ lược về huyện Thạnh Trị 33

2.1.1 Lịch sử hình thành 33

2.1.2 Vị trí địa lý 34

2.1.3 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.4 Điều kiện xã hội 34

2.1.5 Điều kiện kinh tế 35

2.2 Khái quát về tài nguyên du lịch Thạnh Trị 36

2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn 36

2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 36

2.2.3 Ẩm thực địa phương 37

2.2.4 Cơ sở lưu trú 37

2.2.5 Doanh thu du lịch 38

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thông tin chung đối tượng khảo sát 40

3.1.1 Đơn vị tâm linh 40

3.1.2 Thành phần 40

3.1.3 Tuổi 41

3.1.4 Giới tính 41

3.1.5 Trình độ 41

3.1.6 Nghề nghiệp 41

3.2 Hiện trạng lễ hội 43

3.2.1 Các lễ hội và qui mô 43

3.2.2 Thời gian lễ hội 44

3.2.3 Nội dung lễ hội 45

3.24 Khách tham gia lễ hội 46

3.2.5 Nguồn kinh phí lễ hội 47

3.3 Thực trạng về hoạt động từ thiện 49

3.3.1 Các hoạt động từ thiện nói chung 50

3.3.2 Phòng thuốc từ thiện 51

3.3.3 Khách tham gia từ thiện 52

3.4 Vai trò của các hoạt động văn hóa đối với cộng đồng 54

3.4.1 Vai trò của lễ hội 54

3.4.2 Vai trò của hoạt động từ thiện 55

3.5 Những thuận lợi trong quá trình hoạt động 56

Trang 8

3.6 Những khó khăn trong quá trình hoạt động 59

3.6.1 Khó khăn của hoạt động nlễ hội 59

3.6.2 Khó khăn của hoạt động từ thiện 59

3.7 Hiện trạng kết quả thực hiện các hoạt động văn hóa cộng đồng 60

3.7.1 Hiện trạng kết quả thực hiện của lễ hội 60

3.7.2 Hiện trạng trết quả thực hiện của từ thiện 61

Chương 4: ĐÁNH KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH KẾT HỢP VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI KINH TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH TRONG DU LỊCH Ở HUYỆN THẠNH TRỊ 4.1 Tiềm năng khai thác du lịch kết hợp 64

4.2 Vai trò tương tác các hoạt động văn hóa cộng đồng và du lịch 67

4.3 Hiện trạng du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh 69

Chương 5: GIẢI PHÁP CHO CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI KINH TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH Ở HUYỆN THẠNH TRỊ TRONG KHAI THÁC TRONG DU LỊCH 5.1 Giải pháp cho các hoạt động văn hóa cộng đồng 71

5.1.1 Giải pháp chung 71

5.1.2 Giải pháp riêng 73

5.2 Giải pháp cho khai thác phát triển du lịch 74

5.2.1 Xây dựng các tour du lịch mang tính đặc thù riêng 75

5.2.2 Kêu gọi sự đầu tư cho địa phương 75

5.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 75

PHẦN KẾT LUẬN 74

1 Kết quả đạt được 77

2 Kiến nghị 78

3 Hướng phát triển tiếp theo 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHẦN PHỤ LỤC 84

Trang 9

hệ sống Những nguồn tài nguyên này được phát huy hết giá trị của nó khi đưa vào tham gia hoạt động du lịch (Trần Ngọc Thêm, 1955)

Bao giờ bản thân ngành du lịch cũng hướng đến hai nhiệm vụ: giới thiệu về đất nước con người cho du khách và kinh doanh có lãi nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế cho đất nước cũng như chính mình cũng như cho điểm du lịch Đặt biệt, hiện tại nhu cầu du lịch hướng về giá trị tâm linh, tín ngưỡng lễ hội kết hợp với những hoạt động làm từ thiện, ở các cơ sở tâm linh các miền đồng bằng xa xôi đang rất hấp dẫn khách du lịch (Nguyễn Chí Bền, 1999)

Theo luật di sản, trên cơ sở đề ra các điều luật nhằm bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhấn mạnh: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động, nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” (Luật di sản, 2001)

Trong số đó có vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi mới được khai khẩn trên dưới 300 năm nay, non trẻ nhất so với các vùng trên cả nước ĐBSCL hội tụ

sự đa dạng nét văn hóa cộng đồng đặc trưng của vùng đất mới về: tâm linh, tín ngưỡng

lễ hội, các công tác từ thiện ở các ngôi đình, chùa, thánh thất Đây không chỉ là những hoạt động thường nhật của người dân địa phương trong cuộc sống mà còn là nguồn tài nguyên du lịch quý giá từ chính những hoạt động văn hóa Những hoạt động lễ hội này vẫn còn mang đậm dấu ấn, bản sắc của văn hóa truyền thống địa phương, là nơi có

Trang 10

điều kiện tốt để kết hợp với những hoạt động làm từ thiện trong du lịch (Vũ Thống Nhất, 2010)

Trong văn kiện quyết định “Đề án phát triển du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2020” có nội dung: Phát triển du lịch dựa trên thế mạnh của từng khu vực, từng địa bàn trong vùng, tạo sản phẩm đặc thù, độc đáo, tạo điểm đến đặc trưng khu vực, mở ra khả năng kết nối sản phẩm nội vùng, liên vùng, liên quốc gia, tạo hiệu quả kinh tế cao từ du lịch, góp phần cải thiện bộ mặt đô thị Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển du lịch trong Vùng, khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng gắn du lịch với xóa đói giảm nghèo, kêu gọi đầu tư xây dựng các dự án về du lịch có quy mô và chất lượng quốc tế (Bộ văn hóa thể thao du lịch, 2012)

Điển hình cho các vấn đề nêu trên là những hoạt động văn hóa cộng đồng đình, chùa, hội quán, thánh thất - cụm di tích cơ sở tâm linh của huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng Một trong những huyện lỵ có thế mạnh về tiềm năng du lịch văn hóa cộng đồng dân tộc Kinh Tuy nhiên hiện tại thì những tiềm năng này chưa được khai thác phát huy được hết những giá trị vốn có Thế nên đầu tư khai thác, phát triển hình ảnh các hoạt động văn hóa cộng đồng tại các cơ sở tâm linh vào trong du lịch là phương án tối

ưu giúp cho việc bảo tồn phát huy giá trị dân tộc được bền vững hơn đồng thời góp phần xây dựng nên sản phẩm du lịch của vùng thêm đa dạng, đưa du khách đến gần hơn với cộng đồng địa phương và hấp dẫn du khách hơn Quan trọng hơn là góp phần cải thiện, phát triển an sinh – xã hội của địa phương Được biết đến những tiềm năng chưa được khai thác cũng như những hiện trạng về hoạt động lễ hội trong du lịch của địa phương, cùng những vấn đề quan trọng trong phát triển ngành du lịch kết hợp xây dựng giá trị văn hóa cộng đồng đậm đà bản sắc dân tộc, là những lý do để tôi quyết

định chọn đề tài nghiên cứu về “Tìm hiểu vai trò các hoạt động văn hóa cộng đồng

và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người Kinh ở huyện Thạnh Trị - tỉnh Sóc Trăng”

Với mong muốn, từ đề tài sẽ góp phần xây dựng nét độc đáo đa dạng sản phẩm

du lịch – “Tour du lịch kết hợp; vui chơi lễ hội, tham gia các hoạt động từ thiện tại các

cơ sở tâm linh”, nhằm mục tiêu gìn giữ phát huy những giá trị về văn hóa trong cộng đồng từ đây sẽ là cơ sở nhằm mục tiêu phát phát triển nền kinh tế cho địa phương theo đúng phương chăm mà Đảng Nhà Nước đã đề ra trong vấn đề phát triển du lịch ĐBSCL

Trang 11

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Tìm hiểu vai trò, ý nghĩa của các hoạt động văn hóa cộng đồng của người

Kinh tại các cơ sở tâm linh trong đời sống cư dân địa phương và trong phát triển du lịch Cụ thể là trên hai lĩnh vực; hoạt động lễ hội và hoạt động làm từ thiện tại các cơ sở tâm linh ở huyện Thạnh Trị

Mục tiêu 2: Phân tích, đánh giá vai trò của các hoạt động này đối với cộng đồng xã

họi Bên cạnh đó phân tích những tiềm năng, hiện trạng khai thác du lịch đối với các hoạt động này Từ đó tìm ra những thế mạnh và thế yếu mà các hoạt động lễ hội và hoạt động từ thiện tại các cơ sở tâm linh tác động đến du lịch

Mục tiêu 3: Đưa ra những phương pháp ý kiến đề xuất cụ thể với mục tiêu Đựa trên

hai hoạt động văn hóa lễ hội và từ thiện vào liên kết, xây dựng các chương trình du lịch đặc trưng phục vụ khách du lịch Góp phần làm đa dạng, độc đáo sản phẩm du lịch cũng như góp phần phát huy những giá trị văn hóa cộng đồng tại địa phương

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là các lễ hội, các hoạt động từ thiện ở các cơ sở tâm linh tín ngưỡng có thể khai thác phát triển tour du lịch kết hợp Cụ thể trên các hệ thống cơ

sở tâm linh tiêu biểu: Thờ thần ở Đình, Phật Giáo ở Chùa, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam (TĐCSPHVN) – Hội quán, Cao Đài – Thánh thất

Phạm vị nghiên cứu là các hoạt động lễ hội và hoạt động từ thiện ở các đình, chùa, hội quán, thánh thất của người Kinh tại huyện Thạnh Trị

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

Ông Phạm Phước Như, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch ĐBSCL đã nêu cụ thể về thực trạng du lịch ĐBSCL hiện nay như sau: Tiềm năng du lịch ĐBSCL thì rất lớn Tuy nhiên, do các tỉnh, thành trong khu vực còn nhiều khó khăn, hạn chế nên chưa khai thác, phát huy hết thế mạnh Khó khăn hiện tại là cả nước vẫn chưa có trường nào đào tạo chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch Đây là một hạn chế rất lớn không chỉ đối với du lịch ĐBSCL mà còn của cả nước Hầu hết các hoạt động quảng bá, xúc tiến

du lịch của các tỉnh đều tự tổ chức một cách tự phát, không được tổ chức một cách khoa học, thiếu tính chuyên nghiệp Chính vì vậy chưa truyền tải được thông điệp, hình ảnh, thế mạnh của các địa phương đến với du khách trong và ngoài nước Trong khi đó, kinh phí dành cho quảng bá, xúc tiến du lịch rất khiêm tốn nên mỗi khi tham gia các sự kiện phải vận động xã hội hóa từ các doanh nghiệp Do đó, chỉ có những sự kiện du lịch được tổ chức ở các thành phố lớn, có doanh nghiệp tham gia, còn ngược lại được tổ chức ở các tỉnh lẻ, có rất ít doanh nghiệp có tiềm lực tài chính góp mặt

Trang 12

Đặc biệt, việc quảng bá, xúc tiến du lịch ở nước ngoài càng khó khăn hơn (Văn Lâm, 2011)

Phát biểu của Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ Khai trương Làng

Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam: Trong nhiều thập kỷ qua, nhất là từ khi thực

hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng thực hiện nhất quán chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời, quan tâm chăm lo phát triển văn hóa, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước và luôn quan tâm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Văn hóa đến năm 2020, nhằm phát triển đồng bộ các lĩnh vực, trong đó tập trung vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lối sống văn hóa và tích cực xây dựng môi trường văn hóa; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, văn hóa các dân tộc thiểu số; phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật; đẩy mạnh giao lưu văn hóa với thế giới; xây dựng thể chế và thiết chế văn hóa Xác định việc xây dựng và phát triển văn hóa là

sự nghiệp chung của toàn dân Cùng với việc tăng cường đầu tư của Nhà nước, thúc đẩy mạnh mẽ xã hội hóa các hoạt động văn hóa để huy động các nguồn lực cho phát triển (Báo chính phủ, 2010)

Lễ hội là một nhu cầu sinh hoạt văn hoá của con người Những năm gần đây số lượng lễ hội trên địa bàn cả nước được tổ chức ngày một gia tăng Nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc được phục dựng Một số lễ hội trước đây chỉ trong phạm vi làng

xã, nay được mở rộng có quy mô vùng miền Một số lễ hội vùng miền được mở rộng

có quy mô quốc gia Số lượng lễ hội do Nhà nước tổ chức cũng gia tăng, trong đó nhiều lễ hội (festival) có tính quốc tế Các phương tiện thông tin đại chúng tham gia tích cực vào việc truyền thông quảng bá các giá trị của lễ hội Số lượt người tham gia sáng tạo, dịch vụ và hưởng thụ lễ hội cũng tăng lên Hiện tượng này dẫn đến trong giới quản lý và nghiên cứu văn hoá có những ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau Có người cho rằng việc tổ chức lễ hội thời gian qua là tràn lan, gây lãng phí tiền của, công sức, thời gian của Nhà nước và nhân dân và quy trách nhiệm thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước chậm hướng dẫn và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo, xử lý Thực

tế trên cho thấy cần có sự phân tích thấu đáo công tác tổ chức lễ hội cũng như các loại hình lễ hội, để từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp, nâng cao chất lượng công tác quản

lý, tổ chức lễ hội (Nguyễn Hữu Thức, 2011)

Trong đó khi nói về việc làm từ thiện tại các cơ sở tâm linh thì có thể thấy là Đạo Phật luôn đề cao lòng từ bi, nhân ái Từ khi truyền vào Việt Nam, tinh thần cứu khổ cứu nạn của đức Phật được phát huy rộng rãi ở một quốc gia bị nhiều cuộc chiến tranh

Trang 13

tàn phá, thiên tai thường xuyên ập đến Đây là nguyên nhân quan trọng giúp cho Phật giáo gắn chặt và đồng hành cùng với dân tộc Việt Nam qua những dặm dài lịch sử

Ngày nay, Việt Nam là quốc gia đang phát triển và có nhiều thành tựu nổi bật trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tuy vậy, ngày càng

có nhiều vấn đề xã hội bức xúc nổi lên như tình trạng nhập cư ồ ạt vào các đô thị lớn, môi trường bị tàn phá, nghèo đói và thất nghiệp ở nông thôn, bệnh dịch tái diễn liên tục, tệ nạn xã hội phát triển mạnh, học sinh bỏ học, gia tăng khoảng cách giàu nghèo

và bất bình đẳng xã hội …Các vấn đề xã hội này đang trở thành thách thức cho nước ta hướng đến sự phát triển bền vững Như vậy, trước tình hình đó, Phật giáo có vai trò quan trọng, góp phần hỗ trợ với nhà nước thực hiện tốt an sinh và đảm bảo công bằng

xã hội Thiết nghĩ, đây còn là cơ duyên quan trọng để Phật giáo gắn chặt với sự phát triển của dân tộc trước mắt và tương lai (Dương Hoàng Lộc, 2012)

Chia sẻ khó khăn, giúp đỡ người nghèo là đạo lý và là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Trong những năm qua, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, các doanh nghiệp đã đóng góp tích cực vào việc ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, trong đó có phong trào xây dựng nhà "Đại đoàn kết” Thay mặt Chính phủ, tôi kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giúp đỡ người nghèo, cố gắng hàng năm mỗi doanh nghiệp tham gia đóng góp xây dựng ít nhất một căn nhà "Đại đoàn kết" cho hộ nghèo.Chính phủ hoan nghênh và ghi nhận những đóng góp tích cực của các doanh nghiệp vào công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc (Việt Báo, 2012)

Phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái “Lá lành đùm lá rách” với tinh thần “Nhường cơm sẻ áo”, Ủy ban MTTQ tỉnh Sóc Trăng kêu gọi các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh, kiều bào ở nước ngoài tích cực tham gia đóng góp ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” với các hình thức như: ủng hộ bằng tiền hoặc trực tiếp xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người nghèo… góp phần thiết thực chăm lo cho người nghèo, đóng góp vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đóng góp vào thành tựu chung của tỉnh Sóc Trăng (Thạch Kim Sêng, 2010)

Hai yếu tố lễ hội và làm từ thiện đã được kết hợp làm nên một sản phẩm du lịch kết hợp trong du lịch tâm linh Mặc dù trên thực tế, du lịch tại các cơ sở tâm linh đã có mặt từ lâu nhưng ý niệm về hình thức du lịch này thật ra còn mới mẻ đối với các Công

ty lữ hành cũng như đối với các cấp lãnh đạo ngành du lịch của Nhà nước Tình trạng này dẫn đến một số suy nghĩ và việc làm chưa tương hợp với nhu cầu phát triển du lịch tại các cơ sở tâm linh trên cả nước nói chung, tại ĐBSCL nói riêng: Một là: Chưa đánh giá đúng giá trị của nguồn tài nguyên này, không quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng đối với những địa điểm tâm linh Hai là: Chưa có một công trình nào nghiên cứu và

Trang 14

linh trên cả nước và tại ĐBSCL: Không phải là không có hoàn toàn các công trình này, tuy nhiên nó chỉ xuất hiện rải rác và không đầy đủ trên một số ít sách địa chí của từng địa phương và được viết theo nhãn quan chính trị chứ không phải với nhãn quan của một nhà nghiên cứu tôn giáo và văn hóa dân gian để có thể phục vụ cho nhu cầu tâm linh của khách du lịch, nhất là đối với khách du lịch nước ngoài Ba là: Vì chánh quyền ít quan tâm nên du lịch tại các cơ sở tâm linh này bị một số người lợi dụng dưới hình thức “buôn thần bán thánh”: rất cần thiết xây dựng những công trình mang tính quy mô và giá trị kiến trúc để tạo nên những công trình tín ngưỡng tâm linh có định hướng phát triển du lịch tâm linh lâu dài nhưng phải nhận thức rõ tín những tâm linh không chỉ đơn thuần là trị giá kinh phí đầu tư lớn hay giá trị kiến trúc mà phải thật sự

có nếp sinh hoạt về tín ngưỡng và tâm linh thì đây chính là cái hồn nếu ngược lại sẽ dễ

bị lợi dụng mua thần bán thánh Bốn là: Ngành du lịch chưa có chuyên khoa đào tạo nghiên cứu du li ̣ch tâm linh (Thích Minh Nhẫn, 2011)

Cụ thể việc kết hợp khai thác nguồn tài nguyên du lịch đưa khách du lịch xích lại gần các hoạt động văn hóa cộng đồng ở Thạnh Trị nói riêng chưa được manh nha phát triển Số người biết đến các hoạt động văn hóa nơi đây chưa nhiều, các điểm tham quan tiềm năng chưa được khai thác Đặc biệt vấn đề đáng chú trọng phải nói đến đó

là yếu tố du lịch độc đáo hấp dẫn: các lễ hội, hoạt động từ thiện ở các cơ sở tâm linh

tín ngưỡng trên địa bàn huyện Thạnh Trị

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm tổng hợp

Mỗi hoạt động văn hóa trong cộng đồng đều gắn bó chặt chẽ đặc trưng đến đạo đức, tâm linh của cộng đồng cư dân ở các địa phương khác nhau Do đó, mỗi hoạt động đều mang giá trị ý nghĩa văn hóa riêng để có được những nét hấp dẫn thu hút du lịch khác nhau Vì vậy, về tổng thể thì mỗi một địa phương phải bảo tồn, tôn tạo, khai thác hợp lí các giá trị đặc trưng sao để đảm bảo các giá trị văn hóa vẫn mang đậm nét đặc trưng vốn có của địa phương

5.2 Quan điểm lãnh thổ

Vận dụng quan điểm này vào việc nghiên đề tài chúng ta sẽ thấy được những yếu tố khách quan trên lãnh thổ tác động đến hoạt động lễ hội Cụ thể là khi nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn huyện Thạnh Trị, tôi sẽ tìm thấy được những nét đặc trưng nổi bật so với những địa phương khác Từ đây tôi sẽ có được cái nhìn cụ thể về những tiềm năng sẵn có cũng như thực trạng phát triển lễ hội

và từ thiện tại các cơ sở tâm linh ở địa phương để đưa ra những phương hướng, giải pháp phù hợp cho việc quy hoạch, phát triển đưa hoạt động văn hóa cộng đồng đình chùa vào trong du lịch một cách hiệu quả

Trang 15

5.3 Quan điểm lịch sử

Văn hoá dân tộc là bao gồm những giá trị do dân tộc đã sáng tạo ra trong lịch sử

vì vậy trước khi muốn nghiên cứu lịch sử của cái tổng thể thì nên nghiên cứu lịch sử của từng giá trị trong cái tổng thể ấy Đây là một trong những điểm quan trọng trong quá trình nghiên cứu vì văn hóa bao gồm rất nhiều yếu tố trong đó có các lễ hội và hoạt động từ thiện ở các cơ sở tâm linh tín ngưỡng của đề tài nghiên cứu Trong quá trình vận động của lịch sử thì những hoạt động này luôn có sự thay đổi, phát triển để phù hợp với hoàn cảnh của từng giai đoạn Chính vì vậy nên tôi vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu để thấy được mối quan hệ giữa quá khứ nguồn gốc xuất phát và hoạt động hiện tại Từ đó giúp tôi hiểu rõ hơn về chu kỳ sống của những nét văn hóa này Từ đó đi đến so sánh tìm ra những điểm khác biệt và tương đồng nhau Điều này giúp tôi đưa ra hướng phát triển sắp tới cho những hoạt động các lễ hội, hoạt động từ thiện, phòng thuốc từ thiện ở các cơ sở tâm linh tín ngưỡng trên địa bàn huyện được đúng đắn và phù hợp với thời gian (Đào Duy Anh, 1989)

5.4 Quan điểm viễn cảnh

Theo quy luật tồn tại thì các sự vật hiện tượng luôn biến đổi không ngừng theo những chiều hướng khác nhau Do vậy, tôi vận dụng quan điểm viễn cảnh vào nghiên cứu để tìm ra hướng đi mới mẻ và phù hợp cho đề tài Muốn cho những hoạt động văn hóa này không bị mai một theo thời gian và càng phát triển vươn xa bền vững hơn theo thời gian thì phải có định hướng cụ thể cho tương lai nhằm có được những giải pháp

sử dụng, khai thác hợp lý với tiềm năng vốn có đưa các hoạt động văn hóa ở địa phương vào phát triển du lịch một cách có hiệu quả cao nhất

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản:

6.1 Thu tập thông tin số liệu thứ cấp

Số liêụ thứ cấp là những thông tin được thu thập qua các nguồn khác nhau mục đích sử dụng có thể khác với mục đích nghiên cứu của đề tài như:

- Các báo cáo của chính phủ, bộ ngành, số liệu của các cơ quan thống kê

- Các báo cáo nghiên cứu của cơ quan, viện, trường đại học

- Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí mang tính liên quan hay nguồn từ Internet,…

- Tài liệu giáo trình hoặc các ấn phẩm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là các bài báo cáo hay luận văn của các sinh viên khác (khóa trước) trong trường ở bộ môn LSĐLDL

Trang 16

6.2 Thu thập thông tin số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn Nhóm và phỏng vấn cá nhân bằng bảng câu hỏi - questionnaires Đây cũng là nguồn số liệu chủ yếu của đề tài Điều tra phỏng vấn Nhóm: dùng bảng câu hỏi gợi ý (check list)

- Đối tượng: Đề tài thực hiện thu thập thông tin hai nhóm đối tượng chính; nhóm ban quản trị (BQT) của các cơ sở tâm linh trên địa bàn huyện Thạnh Trị và đối tượng khách là các đối tượng đang tham gia các hoạt động văn hóa cộng đồng tại cơ sở tâm linh

- Phỏng vấn cá thể: trên cơ sở dựa vào nguồn thông tin tư liệu sơ cấp kết hợp với phỏng vấn Nhóm hình thành bộ câu hỏi (questionnaires) dùng để điều tra phỏng vấn cá nhân

Số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn Nhóm và phỏng vấn cá nhân bằng bảng câu hỏi (questionnaires) Đây cũng là nguồn số liệu chủ yếu của đề tài

Phỏng vấn Nhóm (Group discusssion) còn gọi là phỏng vấn chuyên gia hay

phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu là một dạng của phỏng vấn bán cấu trúc (Semi - Structured interviews - SSI) nhằm mục đích thu thập những hiểu biết đặc biệt

về một lĩnh vực cụ thể nào đó Các nhóm có thể trả lời các câu hỏi về kiến thức và hành vi của người khác và đặc biệt về hành vi của các hệ thống (chủ đề, vấn đề) rộng hơn Trong nghiên cứu này, phỏng vấn được thực hiện với nhóm BQT những người trực tiếp giảm sát, tổ chức các hoạt động văn hóa này nên có nhiều sự am hiểu về vấn

đề để cung cấp thông tin khảo sát Bên cạnh đó nhóm còn cung cấp thêm các thông tin

về những thuận lợi và khó khăn trong công tác hoạt động của các hình thức này trong thời gian qua Bảng câu hỏi phỏng vấn đối tượng BQT bao gồm 34 câu hỏi

Bảng câu hỏi phỏng vấn cá nhân (questionnaires); Bảng khách được thiết kế

với số lượng là 24 câu hỏi, được xây dựng để thu thập tất cả các thông tin liên quan phục vụ cho đề tài nghiên cứu Bảng câu hỏi được thiết kế theo hình thức likert scales, dạng câu hỏi này được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1932 bởi Rensis Likert Mỗi câu hỏi được chia theo thang điểm 5 (1 thấp nhất/không đồng tình; 2 ít đồng tình; 3 khá đồng tình; 4 đồng tình; 5 cao nhất/rất đồng tình ) để đánh giá mức độ đồng tình hay nhận định về một nội dung nào đó hay 1 rất ít hấp dẫn đến mức 5 rất hấp dẫn/cao nhất để đánh giá khả năng hấp dẫn du lịch Được phỏng vấn theo hình thức phỏng vấn trực tiếp

Trang 17

6.4 Phương pháp phân tích số liệu

Từ các số liệu thu được, các phần mềm thống kê như Excel, SPSS được sử dụng để phân tích Sử dụng công cụ phân tích là thống kê mô tả Thống kê mô tả được

sử dụng để thống kê mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn cá nhân bằng bảng câu hỏi như hiện trạng về lễ hội, hiện trạng về hoạt động từ thiện, đánh giá về các mức độ thuận lợi, khó khăn trong các hoạt động văn hóa cộng

đồng này tại các cơ sở tâm linh của huyện Thạnh Trị

Trang 18

Bảng 3.1: Thống kê số phiếu thu thập thông tin theo từng hệ thống tâm linh

Trang 19

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH

1.1.1 Khái niệm tài nguyên du lịch

Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau của các chuyên gia trong và ngoài nước về tài nguyên du lịch Ở đây tôi xin đưa ra hai khái niệm cơ bản để tham khảo

Theo Khoản 4 ( Điều 4, chương 1) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:“ TNDL là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị văn hóa khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch,

tuýến du lịch, đô thị du lịch.”

Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “TNDL là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người

và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu

tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”

1.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch

Theo khoản 1 (Điều 13) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 qui định: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác”

1.3.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.3.3.1 Khái niệm chung

Theo khoản 1 (Điều 13) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 qui định: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục

vụ mục đích du lịch”

Trang 20

1.3.3.2 Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn

- Du lịch chữa bệnh

Du khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các loại bệnh tật về thể xác và tinh thần nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, ví dụ:

+ Chữa bệnh bằng khí hậu (thay đổi vùng khí hậu)

+ Chữa bệnh bằng phương pháp thủy lý như: tắm nước nóng, bùn khoáng, tắm biển

+ Chữa bệnh bằng các phương pháp y học cổ truyền như: bằng thuốc nam, châm cứu, bấm nguyệt

- Di tích lịch sử văn hóa

Các di tích lịch sử văn hoá là những công trình được tạo ra bởi tập thể hoặc cá nhân con người trong quá trình sáng tạo lịch sử, hoạt động văn hoá Văn hoá bao gồm: văn hoá vật chất, văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần

Ở Việt Nam theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, công bố ngàý 4 tháng 4 năm 1984 được quy định:

“Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, qua trình phát triển văn hoá – xã hội”

- Các di tích khảo cổ

Di tích khảo cổ hay còn gọi là “Di chỉ khảo cổ” là những địa điểm ẩn dấu một

bộ phận giá trị văn hoá nghệ thuật về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự, vào thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại

Trang 21

+ Di tích ghi dấu kỉ niệm

+ Di tích ghi dấu vinh quang trong lao động

+ Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc phong kiến

- Các đối tƣợng du lịch gắn với dân tộc học

Là những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá phong tục tập quán, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng của các dân tộc

Những tập tục riêng về cư trú, về tổ chức xã hội, về sinh hoạt, trang phục và ẩm thực, về ca múa nhạc…

- Các đối tƣợng văn hoá thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện

Các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, các bảo tàng… Những hoạt động mang tính sự kiện như các giải trí thể thao lớn, các cuộc triển lãm những thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, các liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế, dân tộc, các lễ hội điển hình

1.1.4 Các loại hình du lịch

Theo Trần Văn Thông căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách, ông phân loại các loại hình du lịch như sau:

Trang 22

1.1.4.1 Du lịch nghỉ ngơi giải trí

Nhu cầu của du khách là nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi thể lực và tinh thần, đưa lại

sự thư giản, sản khoái

1.1.4.4 Du lịch tôn giáo

Loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt là những người theo đạo tôn giáo (Thiên chúa Giáo, Đạo Phật, Đạo Hồi, Nho Giáo, Hồi Giáo, Cơ Đốc Giáo,…) Cơ bản chia ra làm hai loại:

- Du khách đi thăm nhà thờ, đền, đình, chùa vào các ngày lễ hội

- Các cuộc hành hương của các Tín đồ theo đạo

Trên là những loại hình cơ bản trong hoạt động du lịch Tuy nhiên trên nền tảng

đó ngày nay đã xuất hiện một loại hình du lịch khá tổng hợp, độc đáo và có ý nghĩa

Đó là loại hình du lịch kết hợp, điển là hình thức kết hợp vừa đi du lịch lễ hội vừa tham gia các phong trào hoạt động từ thiện hướng đến cộng đồng như: làm từ thiện, tham gia phòng thuốc từ thiện tại các điểm du lịch đình chùa Do vậy trên cơ sở này có thể khái quát về du lịch kết hợp như sau:

Trang 23

1.1.4.7 Du lịch kết hợp

Là loại hình du lịch kết hợp tham quan, thăm viếng, tìm hiểu khám phá, trong

đó lại liên kết với mục đích khác có thể là một chương trình teambuding hay những hoạt động làm từ thiện, Bởi vậy các đoàn khách của tour du lịch kết hợp thường rất đông và có tâm lý dễ chịu hơn Du lịch kết hợp mang ý nghĩa rất lớn là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho bản thân địa phương được khách chọn đến và để lại ấn tượng đẹp, ý nghĩa cho du khách

1.2 DU LỊCH KẾT HỢP

1.2.1 Khái niệm

Tour du lịch còn được gọi là chương trình du lịch

Theo luật du lịch Việt Nam: Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình đã được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi (Tổng cục du lịch, 2009)

Theo Quy định về dịch vụ lữ hành trọn gói của EU (Liên minh Châu Âu) và Hội

lữ hành Vương quốc Anh: Chương trình du lịch là sự kết hợp được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ nơi ăn ở, các dịch vụ khác sinh ra từ dịch vụ giao thông, nơi ăn ở và nó được bán với mức giá gộp Thời gian của chương trình nhiều hơn 24 giờ (Trương Thị Kim Thủy, 2009)

Theo David Wright: Chương trình du lịch là các dịch vụ trong lộ trình du lịch thông thường bao gồm giao thông vận tải, nơi ăn ở, sự di chuyển và tham quan ở một hoặc nhiều hơn các quốc gia, vùng lãnh thỗ hay thành phố Sự phục vụ này được đăng

kí đầy đủ hoặc hợp đồng trước với một doanh nghiệp lữ hành Khách du lịch phải thanh toán đầy đủ trước khi các dịch vụ được thực hiện (Trương Thị Kim Thủy, 2009)

Tour du lịch kết hợp là chương trình đi du lịch tham quan, như các tour du lịch khác Song song du lịch còn kết hợp thêm các tổ chức các hoạt động theo động cơ nhu cầu của du khách

Ngày nay có rất nhiều tour du lịch kết hợp: du lịch kết hợp lễ hội, từ thiện, du lịch kết hợp mua sắm, du lịch kết hợp chương trình làm tình nguyện hay khám chữa bệnh,…

1.2.1.1 Du lịch kết hợp lễ hội ở Việt Nam

Theo Hồ Ngọc Thạch, 2012 có nhận định về loại hình du lịch này như sau : Có thể nói, lễ hội là một kho tàng văn hoá, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con người Việt Nam một cách trung thực Nhìn chung, lễ hội dân tộc Việt Nam gồm hai bộ phận: lễ hội truyền thống cúng đình và lễ hội dân gian, tôn giáo Với lễ hội dân gian, đây là nơi lưu giữ nhiều tín

Trang 24

ngưỡng dân gian Tín ngưỡng của lễ hội dân gian Việt Nam được biểu hiện dưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng tổ nghề… Ngoài

ra, các tín ngưỡng dân gian còn tiềm ẩn các trò diễn như tín ngưỡng thờ mặt trời, mặt trăng, thần nước… Sự tiềm ẩn đó khiến chúng ta khó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa

ấy Cùng với tín ngưỡng, nhiều lễ hội còn gắn với phật giáo, thiên chúa giáo Lễ hội truyền thống còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hoá văn nghệ đặc sắc Nơi mở hội nhiều khi là những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàu tính văn hoá Chính địa điểm

mở hội đáp ứng các tiêu chuẩn một điểm du lịch

Với ngành du lịch, lễ hội là một sản phẩm văn hoá đặc biệt Ngành Du lịch càng phát triển, càng gắn kết với lễ hội truyền thống Tự thân ngành Du lịch trong bước đường phát triển của mình tự tìm đến với loại sản phẩm văn hoá đặc biệt này Đưa khách đến với lễ hôi truyền thống là nhằm để giới thiệu đất nước, con người Việt Nam hôm qua, hôm nay là giới thiệu các giá trị về văn hoá, tín ngưỡng của lễ hội, tính dân tộc và tính phổ quát của lễ hội Trong di sản văn hoá của các thế hệ trước để lại, lễ hội dân tộc có tác dụng hữu hiệu với ngành du lịch không chỉ hôm nay mà cả ngày mai ở

cả hai mặt: giới thiệu đất nước, con người và kinh doanh

Khai thác, giới thiệu những lễ hội dân tộc biến nó thành người bạn đồng hành trong cuộc sống hôm nay là công việc của ngành du lịch Về cả phương diện giới thiệu bản sắc văn hoá dân tộc lẫn phương diện kinh doanh, Ngành rất cần một thái độ khoa học, đúng hướng, sự hỗ trợ của các nhà văn hoá Lễ hội dân tộc luôn có sức hấp dẫn và thu hút du khách Bởi đó là thế giớitâm linh của con người

Các lễ hội dù có qui mô lớn nhỏ khác nhau- Có lễ hội diễn ra trên địa bàn rộng

và có lễ hội chỉ bó gọn trong một địa phương nhỏ hẹp Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến hoạt động du lịch và khả năng khai thác thu hút khách du lịch Các lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử - văn hóa Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả

di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch Di tích và lễ hội là hai loại hình hoạt động văn hóa sóng đôi và đan xen ở nước ta Lễ hội gắn với di tích Lễ hội không tách rời di tích Có thể nói di tích là dấu hiệu truyền thống được đọng lại, kết tinh lại ở dạng cứng, còn lễ hội là cái hồn và nó được chuyển tải, truyền thông đến xã hội ở dạng mềm Khách du lịch thường có nhu cầu tham gia các lễ hội Do họ nhận thấy được một

sự hòa đồng mãnh liệt, say mê nhập cuộc Những hội hè như vậy gắn chặt vào kết cấu của đời sống khu vực hay quốc gia và chính tại đây tình cảm cộng đồng, sự hiểu biết

về dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ (Nguyễn Minh Tuệ 1996)

Trang 25

1.2.1.2 Xu hướng du lịch kết hợp làm từ thiện ở Việt Nam

Là chương trình gắn kết tạo điều kiện thuận lợi cho những du khách vừa kết hợp tham quan những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp của đất nước, vừa giành thời gian để trải nghiệm những địa danh vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn - đây cũng là cơ hội để du khách du lịch có thể đóng góp một phần nhỏ vật chất và tinh thần giúp đỡ cho các mảnh đời khó khăn bất hạnh bằng các hoạt động thiện nguyện tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực trong cộng đồng (Bảo Châu, 2012)

Theo Thảo Nguyên (2011), Du lịch làm từ thiện đã có từ nhiều năm qua nhưng chủ yếu mang tính tự phát và hội nhóm Tuy nhiên đến nay, sản phẩm này đang được khai thác khá mạnh, mang nhiều ý nghĩa nhân văn trong hoạt động kinh doanh của các công ty lữ hành Tour thiện nguyện đối với các nước không xa lạ, ngược lại còn khá phổ biến Trong thời gian qua nhiều đoàn khách quốc tế đến Việt Nam để xây nhà, xây trường, phát triển các hoạt động cộng đồng dành cho người già, trẻ em và nạn nhân chất độc da cam là dẫn chứng Còn tại Việt Nam, với tour từ thiện đúng nghĩa bao gồm các hoạt động từ thiện, kết hợp tham quan chỉ mới xuất hiện gần đây, do hoạt động từ thiện được nhiều người quan tâm và sự tiếp sức của các chương trình truyền hình hướng đến đồng bào nghèo cả nước đã dấy lên phong trào cả nước làm từ thiện, hướng đến cuộc sống người dân và trẻ em ở những vùng đặc biệt khó khăn

Các tour được triển khai thường là tặng quà như quần áo, sách vở; vui chơi với trẻ em vùng nông thôn, miền núi, tình nguyện viên dọn rác ở những vùng sinh thái bị ô nhiễm, sơn trường, sửa trường, lát gạch lớp học, làm lại cổng trường Mặc dù phải lặn lội, chịu không ít nỗi khổ nhưng hầu hết người chọn lựa tour từ thiện đều rất vui và hạnh phúc, vì chuyến du lịch của họ không chỉ để hưởng thụ mà đã có thêm sự chia sẻ khó khăn với cộng đồng Du khách chọn tour này thường đến từ Australia, Mỹ, Nhật Bản, Singapore và đông nhất là học sinh, sinh viên Đây là nhu cầu có thật và rất được du khách quan tâm bởi chuyến du lịch không đơn thuần là sự cảm nhận vẻ đẹp của những vùng đất mới mà tại những điểm đến ấy còn có dấu ấn đầy ý nghĩa của những hành động vì cộng đồng Du khách có thể đóng góp một phần nhỏ vật chất và tinh thần giúp các em bé ở vùng cao có được tấm áo ấm và bữa cơm tươm tất hơn

Đây là một sân chơi, một loại hình tour mà ý nghĩa và người thụ hưởng hướng đến sau cùng chính là những đối tượng cần giúp đỡ trong xã hội Hành trình của tour

sẽ khó khăn hơn vì đặc thù phải tìm kiếm những điểm đến xa xôi, hẻo lánh, đôi lúc khá vất vả và khó khăn về các dịch vụ tại chỗ Tuy nhiên nếu du khách cùng đồng hành và vượt qua trở ngại này thì đó là điều tuyệt vời nhất Du lịch từ thiện là nhánh du lịch tương đối mới nhưng có rất nhiều tiềm năng, không phải ở góc độ lợi nhuận mang về cho doanh nghiệp lữ hành mà vấn đề lớn hơn chính là cơ hội để doanh nghiệp lữ hành đầu tư lại cho cộng đồng Nói theo một cách khác thì đây chính là sự tiệm cận với

Trang 26

hướng phát triển du lịch bền vững theo nguyên tắc khai thác và tái đầu tư để nâng cao các giá trị tự nhiên, văn hóa và lợi ích cộng đồng thông qua hoạt động du lịch

1.2.1.3 Xu hướng du lịch kết hợp chữa bệnh ở Việt Nam

Du lịch điều dưỡng kết hợp chữa bệnh (medical tourism) là sản phẩm độc đáo Việt Nam khai thác tinh hoa y học cổ truyền; các bài thuốc Nam kết hợp Tây y làm tiềm năng văn hoá du lịch Việt Nam Theo thông tin từ Báo Y Khoa Việt Nam, tháng 11/2006 vừa qua “Chương trình du lịch châm cứu nâng cao sức khoẻ và chữa bênh” do

GS Nguyễn Tài Thu đã lập đề án và trực tiếp triển khai đã được trình làng đầu tiên trên thị trường du lịch Đã tạo tiền đề cho đất nước phát triển sâu, chuyên môn về mô hình du lịch này Bởi khi tham gia chương trình du lịch nghỉ dưỡng, khách bệnh sẽ được tận hưởng tinh hoa y học dân tộc Việt Nam và phong thuỷ của các thắng cảnh hữu tình cùng văn hoá du lịch đậm đà bản sắc dân tộc Việt chắc chắn sẽ để lại trong lòng du khách một ấn tượng tuyệt vời về đất nước con người và nền văn hoá Việt Nam Điều này càng sâu sắc đậm đà hơn khi được gắn kết với các cơ sở y đức tại các nơi tâm linh miền quê yên tĩnh Đây là chương trình tour nhằm tạo điều kiện cho du khách kết hợp tham quan những thắng cảnh tự nhiên các tỉnh miền quê, đồng thời dành thời gian để trải nghiệm cuộc sống, đóng góp một phần nhỏ vật chất và tinh thần sức khỏe khi kết hợp chữa bệnh (Phong vân, 2007)

1.2.2 Một số loại hình du lịch kết hợp khác ở Việt Nam

1.2.2.1 Du lịch ẩm thực

Nét tinh tế của ẩm thực Việt Nam chịu sự ảnh hưởng rất lớn của y ếu tố lịch sử, khí hậu, điều kiê ̣n tự nhiên… Có nhâ ̣n xét cho rằng : Ẩm thực Trung Hoa chú trọng bổ thân, ẩm thực Nhật Bản chú trọng cái đẹp , còn ẩm thực Việt Nam chú trọng cái ngon” Sự tinh tế trong ẩm thực vùng miền cũng là mô ̣t yếu tố được du li ̣ch khai thác hiê ̣u quả

1.2.2.2 Du lịch xanh

Gần đây du li ̣ch hướng về thiên nhiên trở thành mô ̣t xu hướng chung không chỉ

ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới Hình thức du lịch này gần gũi , đồng thời có thể phát huy hết vai trò của yếu tố thiên nhiên, lợi thế tự nhiên của mô ̣t quốc gia Ở Việt Nam, du li ̣ch “xanh” cũng là mô ̣t hình thức “giữ chân” du khách nô ̣i đi ̣a Lượng khách

du li ̣ch nô ̣i đi ̣a tăng dần những năm gần đây mô ̣t phần nhờ loa ̣i hình du li ̣ch này

1.2.2.3 Du li ̣ch MICE

Loại hình du lịch theo dạng gặp gỡ xúc tiến , hội nghị, hội thỏa, du lịch chuyên

đề Loa ̣i hình du li ̣ch này thường ở da ̣ng tâ ̣p thể của các doanh nghiệp , công ty Hiê ̣n nay các đơn vi ̣ du li ̣ch đã thiết kế các tour du li ̣ch p hục vụ cho giới công nhân viên , doanh nhân dưới hình thức kết hợp du li ̣ch hô ̣i thảo này

Trang 27

1.2.2.4 Du lịch Teambuilding

Mô ̣t xu hướng mới của du li ̣ch Viê ̣t Nam hiê ̣n nay là Du li ̣ch Teambuiding Với viê ̣c xây dựng các tour kết hợp du l ịch tham quan , nghĩ dưỡng với các chương trình Team nhằm xây dựng , tăng cường tinh thần đoàn kết , tâ ̣p thể, loại hình du lịch nàý đang đươ ̣c nhiều doanh nghiê ̣p , công ty “đă ̣t hàng” nhằm nâng cao vai trò đoàn kết giữa các nhân viên với nhau Du lịch teambuilding là một loại hình phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá mới ở Việt Nam Tuy nhiên theo nhìn nhận chung du lịch “xanh”

và du lịch Teambuilding trong tương lai sẽ là những loại hình du lịch chủ đạo ở nước

ta (Đa dạng hóa các loại hình du lịch Việt Nam, 2010)

1.3 TÍNH CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA

1.3.1 Khái niệm

Tính cộng đồng của người Việt hiểu theo nghĩa rộng thông thường tiếng Việt,

đó là ý thức và tình cảm gắn bó tộc người Việt với nhau (tức là tính cộng đồng dân tộc Việt), là hệ thống tư tưởng yêu nước (Trần Văn Giàu, 1980)

Theo nghĩa hẹp của bộ môn Nhân học văn hóa (Cultural anthropology), tính

cộng đồng chỉ sự gắn bó với từng nhóm trong cộng đồng dân tộc lớn… (in-group: gia

đình, thân tộc, tôn giáo…) gần như tính tập thể để giúp đỡ hỗ trợ nhau trên các lĩnh vực đời sống tinh thần, vật chất và sức khỏe trong cùng một địa phương, đất nước hay rộng hơn nữa là mang tính toàn cầu (Hữu Ngọc, 2010)

du lịch như vậy là tiền đề quan trọng cho sự phát triển du lịch Bản thân du lịch đã thành một hiện tượng ngày càng phức hợp đóng một vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục, an sinh cho xã hội (Công ước quốc tế về

du lịch văn hóa, 1999)

Trang 28

1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN NGƯỠNG NGƯỜI KINH

1.4.1 Tín nguỡng thờ thần ở Đình

Thành hoàng (chữ Hán: 城隍) là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam Vị thần này dù có hay không có họ tên, lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ thể trên cõi thiêng của làng, đều mang tính chất chung

là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó Đình là thiết chế văn hóa

tín ngưỡng của làng xã thời xưa, là nơi thờ thần Thành hoàng, được sắc phong theo ý nghĩa là thần phù hộ cư dân một làng Ngoài ra, ngôi đình còn là nơi thờ các vị phúc thần, thần linh, danh nhân lịch sử, Tiền hiền, Hậu hiền (những người có công thành lập

và xây dựng làng xã); là nơi dân làng đến lễ bái cầu mưa thuận gió hòa, xóm làng yên

ổn, là nơi tụ họp dân làng, yến ẩm, vui chơi Trong một giai đoạn ngắn của lịch sử hành chánh, ngôi đình còn là trụ sở hành chánh của làng xã (Bách khoa toàn thư mở, 2011)

Từ rất lâu, những ngôi đình đã dựng mốc cho chuẩn mực văn hóa và định hình cho đời sống tâm linh và đạo đức từng thành viên trong làng Mỗi làng đều có đình thờ Thành Hoàng Thành Hoàng là một ông tổ của một nghề truyền thống nào đó, ngày xưa mang nghề nghiệp về, mang sự ấm no cho dân Cũng có thể là những anh hùng dân tộc có công đánh giặc giữ nước, là người làng xuất thân hoặc người của nơi khác nhưng khi hóa thân ở làng, hoặc có công lao với làng, được dân tôn thờ làm Thành Hoàng Những ngày mất, ngày sinh của các Ngài trở thành ngày hội để dân làng nhớ

ơn, đến nơi đình làng bái vọng, chiêm ngưỡng, tưởng niệm, tạ ơn công đức (Nguyễn Minh Tuệ, 1996)

là một tôn giáo tiến bộ khi không có thái độ phân biệt đẳng cấp Đức Phật đã từng nói:

“Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” Ngoài ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết và không phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúng đồng tu”,

đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu và nếu ai có quyết tâm đều

có thể thành tựu như Đức Phật (Minh Nga, 2012)

Trang 29

1.4.3 Tịnh Độ - Hội quán

Theo nguồn của Ban Trị sự Trung Ương (2012), khái quát về tôn phái Tịnh độ

Cư sĩ Phật hội Việt Nam như sau:

Vào những năm đầu thế kỷ 20, làn sóng chấn hưng đạo Phật ở Việt Nam nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giới Phật tử Từ Sài Gòn, Gia Định, phong trào chấn hưng lan rộng tới các vùng nông thôn, vùng đồng bằng sông Cửu Long Một số tôn giáo mới được hình thành dưới hình thức mới, vừa hoạt động tôn giáo, vừa giúp đỡ dân nghèo Một số tôn giáo phát triển trên nền tảng giáo lý nhà Phật, nhưng được cải tiến ngắn gọn và dễ hiểu để phù hợp với sinh hoạt và trình độ của người dân Nam bộ lúc bấy giờ Điển hình của một trong những tôn giáo mới xuất hiện trong giai đoạn này

là Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam

Người sáng lập ra TĐCSPHVN có tộc danh là Nguyễn Văn Bồng, sinh năm Bính Tuất 1886 tại xã Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp) Trước phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, ngài đã ứng dụng việc chuyển tải giáo lý nhà Phật qua ngôn ngữ của thơ ca, văn vần, và kinh sách dưới dạng đối đáp ngắn gọn dễ hiểu, để đi vào lòng người, để mọi người đến được với giáo lý Phật đà, đồng thời hướng mọi người vào hoạt động phước thiện để giúp đỡ người nghèo khó Với hoạt động Phật pháp gắn với từ thiện nhơn đạo, giúp đỡ người nghèo bệnh tật bằng thuốc Nam

Hành đạo theo tôn chỉ là Phước Huệ Song Tu, lấy Pháp môn niệm Phật làm căn bản Tu Phước là đóng góp công sức, trí tuệ, tài vật để xây dựng, phát triển ngành Y dược dân tộc (Phòng Thuốc Nam phước thiện) để chữa bệnh miễn phí giúp người đời Đây được xem là phương tiện để tạo cơ hội cho người nghèo khó có cơ duyên đến với Phật pháp Tu Huệ là học Kinh–Luật–Luận của Phật đạo để nâng cao trí tuệ, nâng cao

sự hiểu biết để đạt tới giải thoát, an vui

Trang 30

Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp

có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài là phẩm Giáo tông

Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới

nhập môn vào đạo Cao đài

1.5 ĐÔI NÉT VỀ LỄ HỘI TẠI CÁC CƠ SỞ TÂM LINH

1.5.1 Các lễ hội tiêu biểu

1.5.1.1 Lễ hội Kỳ Yên – Thuợng điền, Hạ điền

Lễ hội ở đình, thể hiện nét sinh hoạt văn hóa thiêng liêng, tín ngưỡng thờ thần, biết ơn thần, tạ ơn đất trời đã cho con người cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, tạo được sự cộng tác của cộng đồng làng xã Cũng chính ở sự liên kết cộng đồng làng xã mà con người có ý thức đoàn kết, nhớ về cội nguồn, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, ứng phó trước mọi chuyển biến của lịch sử Hàng năm, đình có hai kỳ lễ chính: lễ Kỳ Yên thượng điền và lễ Kỳ Yên hạ điền Lễ Hạ điền và Thượng điền: Đây là hai lễ lớn trong năm (Xuân Thu nhị kỳ) Và dịp cúng đình cũng là ngày lễ hội của dân làng, người ta tổ chức các trò chơi ở làng, diễn hội làng, hát bội, hát cải lương với những tuồng tích xưa… Quy mô tổ chức lễ hội của đình tùy thuộc vào làng giàu hay nghèo, năm trúng mùa hay thất mùa (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2010)

Những người đến dự lễ hội đình làng được tự do xem hát, tham gia các trò chơi, trao đổi tâm tình và cùng nhau ăn uống vui vẻ, nhưng ăn uống có văn hóa, vui chơi có mức độ Ai cũng cố gắng giữ tư cách, không say sưa, càn quấy hay nói tục, bởi trong những ngày này, mọi khía cạnh đời thường đã được nâng lên đời thiêng Không gian thiêng liêng của đình cả năm im lìm nay được tái hiện trở lại bởi con người Đèn, nến sáng trưng, cờ ngũ sắc tung bay, chiêng trống nổi lên, lòng người khắp nơi náo nức, rộn rã hướng về không gian thiêng liêng đó Người đến lễ hội trước hết là để biểu thị lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân đã khuất, có nhiều công lao tạo dựng quê hương, xây nên cơ nghiệp để lại cho những thế hệ cháu con, sau, là

Trang 31

dịp để biểu thị ý thức tôn trọng văn hóa truýền thống của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt tinh thần cộng đồng vốn có nhiều gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần Lễ hội đình được diễn ra còn do tín ngưỡng thờ thần và vui được mùa, thắng trận của con người Tất cả cũng nhằm nhớ về cội nguồn, chuyển giao văn hóa, liên kết cộng đồng Bởi thế, lễ hội ở đình trở thành rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng dân tộc (Nguyễn Minh Tuệ, 1996)

Đặc biệt là Mùng 1 tết ở Việt Nam ta nhận thấy phần lớn các ngôi chùa đều có tấm băng- rôn: Mừng xuân Di Lặc Hình ảnh đức Di Lặc Tôn vương Phật và quốc độ của Ngài rất gần gũi với niềm mơ ước của dân Việt Và với hình tướng của một vị Phật miệng cười tươi, bụng to dáng ngồi tự tại thoải mái…để tượng trưng cho tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả của Ngài Ngày mùng một tết theo truyền thống dân tộc là ngày đầu xuân, hầu hết những dân Việt Nam mong muốn được chu tất hết mọi việc, áo mới, cái

gì cũng mới đẹp, đến chùa đảnh lễ Di Lặc và xin lộc đầu năm mới Chính hình ảnh của đức Phật Di Lặc hoan hỷ vô biên vào đầu năm mới đã gieo vào tâm trí người con Phật một hình ảnh tươi vui của mùa xuân: vạn sự may mắn, kiết tường, sự yên vui và no đủ cho muôn dân Chính sự chuyển hóa tự thân là nguyên nhân đưa mọi người đến với đời sống an lạc và hạnh phúc (Báo Phật Giáo Việt Nam, 2011)

1.5.1.3 Rằm tháng Giêng

Theo truyền thống của phần lớn các ngôi chùa Bắc tông, ngày rằm tháng giêng thường là lễ cầu an hội qua nghi thức “cúng sao – giải hạn” Cúng sao hạn là một khóa

lễ đã tồn tại lâu đời trong dân gian Ở một số chùa việc cúng sao hạn cũng thường gọi

là Lễ Dược Sư Nhương Tinh Giải Hạn Tín đồ Phật tử đến với lễ hội này thường vào sáng sớm hoặc chiều tối với tinh thần “tùy duyên bất biến”của Phật giáo, ngành hoằng pháp chúng ta cần tổ chức thuýết giảng để giúp cho các hàng Phật tử hiểu rõ hơn về mục đích của lễ hội cầu an đầu năm Hình thức lễ hội Phật giáo mang cách khoa học

Trang 32

và đúng chánh pháp chính lễ hội đã tạo duyên lành cho các Phật tử quy tụ về dưới mái chùa tụng Kinh, niệm Phật và nghe pháp thoại (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2012)

1.5.1.4 Lễ Phật Đản (Rằm tháng tƣ)

Lễ Phật Đản là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sanh vào ngày trăng tròn tháng 4

âm lịch hằng năm Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này chính là ngày Tam hợp (kỷ niệm lễ Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn) Trước năm 1959 các nước Đông Á, thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch Nhưng Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo, Tích Lan năm 1950, 26 nước là thành viên thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng

Tư âm lịch Ngày 15 tháng 12 năm 1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc (34 nước) đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa tôn giáo quốc tế của Liên hơp quốc, những hoạt động kỷ niệm sẽ diễn ra tại các trung tâm Liên Hợp quốc trên thế giới từ năm 2000 trở đi Chính vì ý nghĩa và tầm quan trọng đã được công nhận tại LHQ, ngày lễ Phật đản tại Việt nam đã trở thành lễ hội lớn của dân tộc với những rừng hoa, cờ, những đoàn xe hoa mang hình ảnh đức Phật Thích ca đản sinh Và nhân lễ hội này, giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn thường tổ chức các hoạt động hoằng pháp sâu rộng trong phật tử và quần chúng nhân dân để giúp mọi đối tượng hiểu rõ ý nghĩa của

lễ Phật đản Các nước Châu Á cũng tổ chức lễ rất trọng thể nhưng mỗi nước lại có một

nét đặc trưng riêng (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2012)

1.5.1.5 Lễ Vu Lan (Rằm tháng bảy)

Vu-lan hay còn gọi là Tết Trung nguyên, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo, còn được hiểu là lễ báo hiếu Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa ullambana) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn, cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa, là cách phiên âm Phạn-Hán từ danh từ ullambana Ullambana nghĩa là “treo (ngược) lên” Thế nên các dịch giả Trung Quốc cũng dùng từ Đảo huyền, “treo ngược lên” cho từ Vu-lan, chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ địa ngục Xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và cửu huyền thất tổ đa sanh phụ mẫu trong nhiều đời Đây là lễ hội của Phật giáo nhưng người dân Việt các tôn giáo khác thì không ai là không biết ngày lễ Vu lan báo hiếu - ngày Xá tội vong nhân Truyền thống hiếu đạo của Phật giáo qua ngày lễ trọng đại này đã ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân Những người con nghĩ đến việc dâng quà, phụng dưỡng cha mẹ làm vui cha mẹ Tại các chùa tổ chức lễ bông hồng cài áo; tổ chức trai đàn bạt độ, cúng dường trai tăng, hoặc các lễ phóng sanh rất lớn Ngành hoằng pháp thường được các đạo tràng mời thuyết giảng về lễ Vu lan để giáo dục tinh thần hiếu đạo và giải thích về cuộc sống ở các cõi giới khác như địa ngục ngạ quỷ súc sanh để giáo hóa tinh thần tu học của các hàng phật tử các nhà tù

Trang 33

cũng thường tổ chức phóng thích tù nhân vào ngày rằm tháng 7 – ngày xá tội vong nhân này Các chùa riêng ở một số nước Châu Á thì tiến hành lễ Vu lan theo truyền thống bản sắc riêng ( Phổ Đà Sơn, 2007)

1.5.1.6 Rằm tháng mười

Lễ Hạ Nguyên mang sắc thái truyền thống Phật giáo và văn hóa dân gian có giá trị về mặt tâm linh nhất đối với người Phật tử, rằm tháng mười là dịp để cho người Phật tử hướng tâm tu tập, trên nhờ hồng ân chư Phật gia hộ, Thần Thánh độ trì Mười

là dịp để mọi người con Phật hướng tâm tu tập, trên nhờ ân đức chư Phật mười phương gia hộ, thánh thần độ trì, kế đến là tổ tiên ông bà che chở Nhưng quan trọng hơn hết là mỗi người phải biết nhớ ơn, đền ơn, kết nối truyền thống gia đình trong ý nghĩa “Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng/ Nghĩa sinh thành muôn kiếp khó đáp đền”

Phong tục từ cổ xưa cũng nói rằng, ngày Tết Cơm mới (Tết Hạ nguyên) nhà nhà đều nấu xôi gạo mới, sắm sửa hương hoa, đèn nến cùng mâm lễ thơm ngon tinh khiết

để cúng tổ tiên Trong những ngày diễn ra lễ hội, người ta thiết lập nghi lễ cúng tổ tiên

như Văn khấn Trong ý nghĩa thiêng liêng, ngập tràn khát vọng sống và đầy lòng tự tin

được truyền thông kết nối giữa các thế hệ, ngày nay lễ hội rằm tháng Mười hàng năm lại càng tôn vinh thêm các giá trị tinh thần văn hóa cội nguồn dân tộc, nhất là văn hóa - triết lý sống Duyên khởi của đạo Phật

Một trong những biểu hiện triết lý sống này là thực thi lòng biết ơn và tri ân tất

cả Dịp này là dịp cha mẹ ông bà thiết lập và dạy bảo con cháu sống theo tinh thần suy nghiệm về cội nguồn, biết sống theo tinh thần giải thoát khổ đau, hệ lụy với những cám dỗ cuộc đời Từ đó con cháu - mỗi người biết tiếp nhận nguồn sống vô biên mà khi được mở mắt chào đời đã được trao cho cái gia tài đầu tiên của con người là “Tình người” Đây chính là hành trang để mỗi cá nhân hiện hữu cất bước chân vào đời mà để sống, để tạo phúc lành cho nhau, cùng nhau hưởng hương thơm quả ngọt đất trời… mà trên hết là được an trú trong miền đất an lạc - hạnh phúc

1.5.1.7 Lễ hội thuờng niên

TĐCSPHVN hành lễ tuy đơn giản nhưng thành kính Hằng năm có hai ngày lễ lớn : Thứ nhất: Ngày 8-4 âm lịch : Lễ Phật đản và Đại hội thường niên ngành Y tế phước thiện, đồng thời bầu Ban lãnh đạo Trung ương Thứ hai: Ngày 23-8 âm lịch : Lễ

kỷ niệm ngày viên tịch của Đức Tông Sư Minh Trí - Giáo chủ TĐCSPHVN, và Đại hội thường niên ngành Đạo đức Bên cạnh đó hằng tháng vào ngày mùng một và 15

âm lịch là những ngày lễ sóc vọng, làm lễ qui y cho tín đồ mới nhập đạo và thuyết giảng giáo lý Ngoài ra còn tổ chức những ngày lễ chung của đạo Phật, như rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười,…Nội dung hành lễ công phu tứ thời: Theo qui định lễ Phật 24 lạy (giản chính theo Lễ Bái Lục Phương), lễ Đức Quán Thế Âm 12 lạy,

Trang 34

1.5.1.8 Lễ vía Đức Chí Tôn

Vía Đức Chí Tôn là ngày Đại lễ cúng bái bày tỏ lòng sùng kính đối với Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đại Từ Phụ của vạn linh, Chúa tể Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật Vía Đức Chí Tôn hằng năm là ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch Đây không phải

là ngày giáng sanh của Đức Chí Tôn, mà việc chọn lựa ngày nầy là căn cứ theo các con số Dịch học của Nho giáo Chọn ngày này vì số 9 là số thành của các số dương nên được gọi là: Thuần dương, Lão dương hay Thái dương Đức Chí Tôn là chủ của Dương quang, nên chọn hai số làm ngày và tháng Vía của Đức Chí Tôn phải chọn là những con số dương Chọn theo Nho giáo: chọn tháng trước và ngày sau Số 1 là số khởi đầu, là số dương, nên chọn tháng là tháng 1, tức là tháng Giêng Số 9 là số thuần dương nên chọn ngày là ngày 9 Ngày Vía Đức Chí Tôn không phải là ngày giáng sanh, mà chỉ là ngày do nhơn loại chọn ra để tượng trưng Đức Chí Tôn và sự hình thành Càn Khôn Vũ Trụ vạn vật của Đức Chí Tôn (Nguyễn Văn Hồng, 2005)

1.5.1.9 Lễ hội Điêu Trì thánh Mẫu

Vía Đức Phật Mẫu được Hội Thánh chọn ngày rằm Trung Thu, tức là ngày 15

tháng 8 âl, do hai sự tích: Hớn rước Diêu Trì; Do lòng thành kính cầu khẩn của vua

Hớn Võ Đế nhà Hớn (Hán) bên Tàu, Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương với bốn Tiên đồng nữ nhạc, cỡi chim thanh loan, giáng xuống Hoa Điện nơi cõi trần, chứng lễ

Khánh Thọ Lục tuần của Hớn Võ Đế vào đêm rằm Trung Thu có trăng sáng vằng vặc

Hội Yến Diêu Trì Cung; Vào dịp Trung Thu, đêm 14 rạng 15 tháng 8 âm lịch năm Ất

Sửu (dl 2-10-1925), vào giờ Tý (12 giờ khuya), do theo lịnh của Đức Chí Tôn và theo lời thỉnh cầu của ba vị (Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang), Đức Phật Mẫu cùng Cửu vị Tiên Nương giáng xuống tư gia của Ngài Cao Quỳnh Cư ở tại nhà số

134 đường Bourdais, Quận I Sài Gòn, Việt Nam, để chứng lễ Hội Yến Diêu Trì Cung lần đầu tiên Lễ Hội Yến nầy chỉ là cái tiệc chay do ba vị (Cư, Tắc, Sang), đãi Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương Sau buổi tiệc, Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương

lần lượt giáng cơ cảm tạ và cho 10 bài thi, mỗi bài bốn câu, để kỷ niệm buổi tiệc nầy

Do hai sự tích này, Hội Thánh chọn ngày 15-8 âl hằng năm làm ngày vía Đức Phật Mẫu Trong rằm Trung Thu nầy, vào giờ ngọ (12 giờ trưa), thiết Đại lễ cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ và đến tối lúc 22 giờ thì khởi lễ Hội Yến DTC Ngày nay các ngôi chùa theo đạo Cao Đài tổ chức lễ cúng này hằng năm (Nguyễn Văn Hồng, 2005)

Trang 35

1.5.1.10 Lễ hội Tết Đoan Ngọ

Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương, Đoan Ngũ hay Trùng Nhĩ là ngày lễ giữa năm để phòng bệnh và trừ tà (ngày thay đổi thời tiết xuân sang hè dễ gây bệnh) Vào ngày “giết sâu bọ” mọi người phải dậy sớm ăn rượu nếp cái và hoa quả Lễ được thực hiện vào giữa trưa giờ Ngọ Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ Người lớn thì giết sâu

bọ bằng uống rượu hoặc ăn rượu nếp Trẻ em giết sâu bọ xong khi còn ngồi trên giường, rồi rửa mặt mũi, chân tay xong bắt đầu nhuộm móng tay, móng chân, đeo chỉ ngũ sắc Em gái đến độ tuổi xâu lỗ tai cũng chọn ngày này mà xâu

Vì là đoan ngọ nên cúng gia tiên phải cúng vào giờ ngọ Tục hái thuốc mùng năm cũng bắt đầu vào giờ ngọ, đó là giờ có dương khí tốt nhất trong cả năm, lá cây có thu hái được trong giờ đó có tác dụng chữa bệnh tốt, nhất là các chứng ngoại cảm, các chứng âm hư Người ta hái bất kỳ loại lá gì có sẵn trong vườn, trong vùng, miễn sao đủ trăm loại, nhưng các loại có độc chẳng hạn lá ngón, cà độc dược, lá sắn chẳng dám hái Nhiều người mua bùa chỉ đeo cho trẻ con Bùa kết bằng chỉ ngũ sắc, kết theo hình hoa sen, quả đào, quả ớt Dân gian còn may áo lụa mang đến các cửa chùa, cửa tĩnh

in dấu vẽ bùa rồi mặc cho trẻ, có ý trừ ma tà cho khỏi quấy (Cục du lịch, 2012)

1.5.2 Hình thức hoạt động lễ hội tại các cơ sở tâm linh

Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội

1.5.2.1 Phần nghi lễ

Là hành vi cúng tế thần tổ tông, cầu phúc, lễ đàng đà và được mở rộng nghĩa

đến lề lối phân chia sự đóng góp và hưởng thụ vật cúng tế Trong tính trừu suất của

nó, lễ là hình thức phép tắc để phân biệt trên dưới, thứ bậc lớn nhỏ thân sơ trong xã hội khi đã phân hóa thành đẳng cấp Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc

có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển xã hội Nghi thức lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh Nghi lễ tạo thành một nền móng vững chắc, một yếu

tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng (Tuấn Linh, 2011)

1.5.2.2 Phần hội

Diễn ra các hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng, văn hóa dân tộc chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên Trong hội thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa.Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn, mang lại niềm vui cho mọi người, các chàng trai,

Trang 36

cô gái đi hội là cái cớ để gặp nhau, tìm nhau Chính vì thế mà phần hội thường gắn liền với tình yêu, giao duyên nam nữ mà có phong vị hữu tình (Nguyễn Minh Tuệ, 1996)

Tiêu biểu điển hình nhất ở đình chùa Nam Bộ là hai hình thức hội; múa Lân và hát Bội

- Múa lân: là một phong tục dân gian đặc sắc mang lại không khí tưng bừng, náo nhiệt

của nhân dân ta trong ngày lễ lội Múa lân được xem là loại hình văn nghệ dân gian với nhiều ý nghĩa tượng trưng nhất: chúc phúc, thịnh vượng, thanh bình và may mắn

Từ xa xưa, lân là một linh vật, thường được đặt tại nơi tôn nghiêm ở các đền đài, lăng tẩm vua chúa, ở các đình chùa Do vậy, đầu lân và các điệu múa đều thể hiện sức mạnh, sự oai phong lẫm liệt Vì thế múa lân phải giỏi võ, có thể lực tốt, sức dẻo dai để chịu dựng được thời gian biểu diễn kéo dài (Tin tức du lịch, 2012)

- Hát bội: Hát bội cúng đình là nét đặc trưng văn hóa tín ngưỡng dân gian của làng xã

Ðàng Trong, vùng đất mới, nơi mà cuộc sống tâm linh của con người bất an trước cảnh

“sơn lâm chướng khí” Làng nào cũng thấy có dựng miếu miễu, am, cóc, chùa, để thờ cúng Ðình làng với tổ chức hát bội cúng thần là lễ nghi chánh thức của làng, tổ chức rất long trọng và trang nghiêm kéo dài 3 ngàý đêm, gây ấn tượng trong tâm tư tình cảm người dân trong làng Hát bội cúng đình trong làng thường diễn ra ở nhà võ ca trước đình hoặc nơi sân trống, sân khấu hướng vào cửa đình Hát đình trước hết là để cúng thần hoàng cùng các bậc tiền hiền-hậu hiền có công khai phá dựng làng; sau đó cho dân trong làng được xem hát Thành hoàng có sắc của vua phong, tới ngày cúng làng tổ chức thỉnh sắc thần về đình Ở Lục Tỉnh xưa rước dắt thần bằng đường thủy Người ta ghép hai ba ghe thành bè, trên có kiệu màu đỏ sắc thần bên trong được trang trí cờ lộng, bông hoa, tàn lọng, múa lân, có lính theo hầu rất vui mắt Ðình nào thuận thì rước sắc thần bằng long xa đi đường bộ cũng đầy đủ nghi thức rất náo nhiệt Hát bội cúng đình tuồng tích được chọn lựa có nội dung thể hiện qua các nhân vật trung hiếu tiết nghĩa nhằm giáo hóa người dân Các vở tuồng kinh điển như Lưu Kim Ðính giải giá Thọ Châu, Thần Nữ dâng Ngũ linh kỳ, Tiết Ðinh San cầu Phàn Lê Huê, Sơn Hậu thường được chọn hát cúng đình Nội dung hát bội ảnh hưởng đến truyện thơ,

vè, tuồng tích cải lương như là một phần của văn hóa đời sống sau này của người Lục Tỉnh Với nội dung cùng nghi thức hát bội là một nghệ thuật cao khiến nhiều người đam mê (Trần Văn Chi, 2007)

1.5.3 Ý nghĩa của các lễ hội trong du lịch

Nhà văn Sơn Nam cho rằng:"Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ; bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng “lưu dân tập thể”, mặc

dù làng lắm gạo nhiều tiền”

Trang 37

Chính các lễ hội đình chùa truyền thống là một trong những yếu tố cơ bản và giá trị của nguồn tài nguyên du lịch, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho hoạt động phát triển du lịch Đáp ứng được nhu cầu cần tìm hiểu, tham quan các giá trị văn hóa truyền thống của du khách Lễ hội đình, chùa là thành phần quan trọng của nguồn tài nguyên du lịch Việt Nam, góp phần làm hấp dẫn, đa dạng về đặc trưng sản phẩm du lịch của đất nước.Với vùng du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và huyện Thạnh Trị xa xôi nói riêng với cảnh quan thiên nhiên còn đơn điệu, điều kiện kinh tế

xã hội tương đối hạn chế đã tác động tiêu cực rất nhiều đến hoạt động du lịch Thế nhưng những lễ hội này lại là nguồn tài nguyên vô giá để tổ chức triển khai các loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu Bởi lễ hội đình, chùa là một bảo tàng sống tái hiện lại một cách cụ thể những bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được xem

là chiếc cầu nối đưa du khách về với những tinh hoa văn hóa dân tộc góp phần đáp ứng nhu cầu cho du khách cũng như phát huy được hình ảnh truyền thống đặc trưng dân tộc Lễ hội đình, chùa còn là cầu nối tâm linh giữa con người, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của di sản văn hóa tinh thần của dân tộc Khôi phục các lễ hội ở đình làng cũng là góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng được đời sống văn hóa cơ sở, tạo được sân chơi cho đông đảo dân làng mỗi kỳ lễ hội, đồng thời tạo được một điểm tham quan, vui chơi giải trí cho khách du lịch, nhất là du khách nước ngoài Hơn nữa chính từ các giá trị văn hóa sinh hoạt cộng đồng này của cư dân địa phương sẽ là thành phần quan trọng tạo cho vùng có được điều kiện du lịch nói

riêng và kinh tế - xã hội nói chung (Sơn Nam, 1999)

- Là cái thiện hiện thực chứ không phải chỉ là ước muốn như những quan niệm trước

đó, cái thiện gắn với sự đấu tranh cho hạnh phúc con người

- Cái thiện bản thân có sự sáng tạo vì chứa đựng chân lý, cái thiện không chỉ trong ý thức tư tưởng mà phải được thể hiện trong hành động

“Chỗ hoàn thiện của con người không phải là quyền lực, chỗ hoàn thiện của con người chính là lòng phục thiện của mình” "Từ" là "Từ Tâm", là tình thương, lòng nhân ái đối với người khác Từ đồng nghĩa với nhân quả hỷ lạc, có thể cho niềm vui "Từ Thiện"

Trang 38

là làm việc tốt "Từ Tâm".Từ thiện không những là vấn đề lớn lao của những tập thể

mà từ thiện cũng có thể xuất phát từ những việc nhỏ của mỗi trái tim từ thiện đều có thể xuất phát từ mỗi trái tim nồng nàn yêu thương Và đó là tiêu chí của một dân tộc yêu thương con người như dân tộc ta "Lá lành đùm lá rách" ( Phạm trù cơ bản đạo đức)

1.6.1.2 Làm từ thiện

Làm từ thiện là một tập thể trong xã hội có mục tiêu hoạt động chính là giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như bệnh tật, neo đơn hay trẻ em vô gia cư Tổ

chức từ thiện không thuộc sự quản lý của chính phủ (là một trong những tổ chức phi

chính phủ ) hoạt động nhờ kinh phí từ các tổ chức kinh tế và cá nhân đóng góp Hoạt

động của các "tổ chức từ thiện" bao gồm các phong trào vận động gây quỹ, chuyển trợ giúp bằng quà hay tiền đến những đối tượng thuộc diện khó khăn và cần trợ giúp của

xã hội Tổ chức từ thiện thường được tổ chức với sự giúp đỡ của Hội Chữ thập đỏ và

có hoạt động gắn liền với các cơ sở dạy nghề hay chữa bệnh như bệnh viện, các trại dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, mái ấm, trung tâm bảo trợ người tàn tật…Những hành động

từ thiện phải xuất phát từ tinh thần tự giác tham gia một việc gì đó mang tính chất cá nhân nhiều hơn Dựa trên tinh thần giác ngộ ý thức bản thân về cộng đồng để làm những việc không đặt ra lợi ích vật chất cho cá nhân, được làm với tinh thần tự nguyện

và đem lại lợi ích cho người khác, cho cộng đồng, đó mới là hành động từ thiện có ý nghĩa (Trái tim yêu thương, 2011)

1.6.1.3 Thuốc từ thiện tại các cơ sở tâm linh

Các cơ sở tâm linh là biểu tượng của nơi tồn tại cái thiện mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, chính vì thế mà việc hình thành các phòng thuốc từ thiện cứu nạn, cứu khổ giúp dân là kết quả của quá trình kết hợp giữa lương y trong y học nền YHCT truyền thống Nơi đạo pháp và dân tộc luôn hòa quyện, không thể tách rời và đó cũng

là tư tưởng của nhà Phật và cũng là tâm nguyện của đạo tăng, phật tử ở các cơ sở tâm

linh (Báo tôn giáo Việt Nam, 2012)

Là hoạt động xã hội hóa việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần giúp người nghèo vượt qua khốn khó, phục hồi sức khỏe Với tấm lòng thương yêu người bệnh như người thân trong gia đình, với những bàn tay đầy nhân ái, những thang thuốc nam nặng trĩu tình người từ các địa chỉ nhân đạo ở các cơ sở tâm linh đã giúp cho nhiều bệnh nhân nghèo xoa dịu nỗi đau, phục hồi sức khỏe ổn định cuộc sống Nhiều

cơ sở thờ tự, tịnh xá, đình chùa thành lập tổ chẩn trị từ thiện Nổi bật như tổ bốc thuốc nam từ thiện tại phòng thuốc từ thiện của các ngôi đình chùa Để có điều kiện phục vụ bệnh nhân nghèo, các tổ chẩn trị, cơ sở khám bệnh này vận động các nhà hảo tâm, Mạnh Thường Quân hỗ trợ kinh phí; đồng thời vận động người dân hỗ trợ ngày công sưu tầm, bào chế thảo dược Đối với những bệnh nhân lành bệnh còn tình nguyện đi

Trang 39

tìm dược thảo, tích cực trồng cây thuốc nam đóng góp để chữa bệnh cho người khác Nhờ vậy mà các cơ sở khám chữa bệnh Y học cổ truyền được duy trì và nhân rộng (Chu Trinh, 2011)

1.6.2 Ý nghĩa trong du lịch

Những năm gần đây, du lịch tình nguyện, từ thiện đã mở thêm một hướng đi mới trong sự phát triển của ngành du lịch Không chỉ vượt cả đoạn đường dài để "thay đổi không khí" mà sau mỗi chuyến hành trình, du khách còn tìm thấy ý nghĩa và mục đích thực sự của cuộc sống Khác với những chương trình tour thông thường, hành trình tour du lịch từ thiện chính là nhịp cầu kết nối những trái tim, những con người ở mọi miền biên giới, Tổ quốc cùng xích lại gần nhau Khi xây dựng sản phẩm tour du lịch từ thiện, những đơn vị lữ hành đều mong muốn đóng vai trò là "cây cầu" đưa ngày càng nhiều du khách có lòng hảo tâm đến với những bản làng vùng sâu, vùng xa để cùng giao lưu và mang đến niềm vui cho người dân nghèo Mặt khác, họ cũng tin tưởng rằng, sản phẩm này sẽ tạo nên nhiều hiệu ứng tốt trong cộng đồng Du lịch kết hợp làm từ thiện vừa thể hiện văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương, đồng thời cũng tạo thêm nhiều ý nghĩa, tính hấp dẫn cho sản phẩm du lịch (Xuân Lộc, 2011)

Đi tham quan du lịch kết hợp với khám và chữa bệnh là một loại hình hấp dẫn

trong du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng là loại hình giúp cho con người phục hồi sức khoẻ

và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thường xuyên

xảy ra trong cuộc sống Kết hợp nghĩ dưỡng, chữa bệnh tại các cơ sở tâm linh nó còn

gắn kết với hoạt động từ thiện từ hai yếu tố trên; làm từ thiện tại các phòng thuốc từ thiện ở các cơ sở tâm linh vào dịp lễ hội Những người làm thuốc nam, họ là những nghệ nhân đang nắm giữ một vốn văn hóa phi vật thể quý giá mà hàng ngàn năm qua ông cha ta truyền lại Sự mai một của vốn văn hóa ấy khó mà định lượng được nhất là khi người ta vô tình bỏ quên nó Hoạt động du lịch vừa là nhà khai thác giá trị vô giá này và cũng tạo điều kiện đãi ngộ và tôn vinh những người làm YHCT Để nghề truyền thống YDCT luôn giữ được giá trị xã hội hiện đại phục vụ an sinh xã hội, góp phần tạo nét phong phú đặc sắc cho du lịch khi tận dụng thế mạnh này vào các chương

trình tour du lịch kết hợp (Báo Thăng Long, 2011)

Trang 40

Chương 2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN THẠNH TRỊ 2.1 SƠ LƯỢC HUYỆN THẠNH TRỊ

Theo nguồn thống kê của ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Sóc Trăng, huyện Thạnh Trị

có điều kiện về tự nhiên và xã hội như sau:

Bản đồ hành chính huyện Thạnh Trị

Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng

2.1.1 Lịch sử huyện Thạnh Trị

Theo sử liệu, vùng đất Thạnh Trị được khai phá vào những năm đầu thế kỷ 19

trong chính sách khai phá châu thổ Cửu Long của nhà Nguyễn

Năm 1830 vùng đất Thạnh Trị đã sớm được khai phá và thịnh vượng đó là thôn Châu Hưng, tổng Định Khánh thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang

Thời Pháp thuộc 1868 đến năm 1876 Thạnh Trị là một số thôn thuộc tổng thạnh

An, huyện Phong Thạnh thuộc hạt Ba Xuyên Năm 1984 Thạnh Trị thuộc hạt Sóc Trăng gồm có các tổng, làng sau: tổng Thạnh An có 14 làng trong đó 8 làng thuộc địa giới Thạnh Trị là: Châu Hưng, Lâm Kiết, Phú Lộc, Châu Thới, Đào Viên Tây, Gia Hòa, Hòa Tú, Xa Mau; tổng Thạnh Lợi 7 xã thì 3 xã thuộc Thạnh Trị Lâm Kiết, Phú Giao, Tuân Tức

Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, tháng 04/1957 quận Thạnh Trị có 12 xã là, Thạnh Trị, Thạnh Quới, Gia Hòa, Châu Hưng, Châu Thới, Lâm Kiết, Tuân Tức, Mỹ Quới, Hưng Phú, Tân Long Tháng 12/1957 tỉnh Ba Xuýên sửa đổi lại các đơn vị hành chính quận Thạnh Trị có 3 tổng 12 xã là tổng Thạnh An 4 xã; Thạnh Trị, Vĩnh Lợi, Châu

Ngày đăng: 19/11/2015, 17:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức phỏng vấn là phỏng vấn trực tiếp trên từng cá nhân. - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình th ức phỏng vấn là phỏng vấn trực tiếp trên từng cá nhân (Trang 18)
Bảng 3.1:Tổng hợp thông tin đáp viên - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Bảng 3.1 Tổng hợp thông tin đáp viên (Trang 49)
Hình 3.1: Tỷ trọng thời gian diễn trung bình các lễ hội - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.1 Tỷ trọng thời gian diễn trung bình các lễ hội (Trang 51)
Hình 3.2 Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của lễ hội - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.2 Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của lễ hội (Trang 52)
Hình 3.3  Đánh giá mức  độ hoạt động các nội dung hội hiện nay - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.3 Đánh giá mức độ hoạt động các nội dung hội hiện nay (Trang 53)
Hình 3.4 Đánh giá mức độ thành phần khách đến tham gia lễ hội - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.4 Đánh giá mức độ thành phần khách đến tham gia lễ hội (Trang 54)
Hình 3.6: Đánh giá mức độ các đối tượng hướng đến giúp đỡ  (N = 30) - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.6 Đánh giá mức độ các đối tượng hướng đến giúp đỡ (N = 30) (Trang 57)
Hình 3.7: Thống kê tỷ trọng số lần tham gia từ thiện của khách trong năm (N = 30) - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.7 Thống kê tỷ trọng số lần tham gia từ thiện của khách trong năm (N = 30) (Trang 60)
Hình 3.8: Thống kê tỷ trọng các hình thức từ thiện khách đã tham gia (N =30) - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.8 Thống kê tỷ trọng các hình thức từ thiện khách đã tham gia (N =30) (Trang 60)
Hình 3.9: Đánh giá mức độ thuận lợi của hoạt động từ thiện (N = 34) - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình 3.9 Đánh giá mức độ thuận lợi của hoạt động từ thiện (N = 34) (Trang 65)
Bảng 3.14: Đánh giá mức độ các vấn đề khó khăn của hoạt động từ thiện - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Bảng 3.14 Đánh giá mức độ các vấn đề khó khăn của hoạt động từ thiện (Trang 67)
Bảng 3.15: Đánh giá mức độ hài lòng về việc tổ chức lễ hội (N = 48) - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Bảng 3.15 Đánh giá mức độ hài lòng về việc tổ chức lễ hội (N = 48) (Trang 68)
Bảng 4.4: Những lợi ích từ du lịch đối với cộng đồng - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Bảng 4.4 Những lợi ích từ du lịch đối với cộng đồng (Trang 74)
(Ảnh: Lê Ngọc Thạch, 06/04/2012  Hình: Tịnh Xá Ngọc Thạnh, Ngã Năm - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
nh Lê Ngọc Thạch, 06/04/2012 Hình: Tịnh Xá Ngọc Thạnh, Ngã Năm (Trang 152)
Hình về thuốc từ thiện - tìm hiểu vai trõ hoạt động văn hóa cộng đồng và khả năng khai thác du lịch kết hợp tại các cơ sở tâm linh của người kinh ở huyện thạnh trị  tỉnh sóc trăng
Hình v ề thuốc từ thiện (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w