1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

28 455 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,có tài sản,có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện môt hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư,từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Nhu cầu xác định giá trị DN Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá và xác định giá trị đối với loại hàng hóa này là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên. Trong điều hành kinh tế vĩ mô cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thông tin về GTDN. GTDN là mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân có lợi ích liên quan, giắn bó trực tiếp đến GTDN được xuất phát chủ yếu từ các yêu cầu quản lý và các giao dịch: Định giá doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu của hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp. Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về đàu tư trục tiếp vào sản xuất kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho sự tăng trưởng và phát triển bằng các yếu tố bên ngoài, nhằm tăng cường khả năng tồn tại trong môi trường tự do cạnh tranh. Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên phạm vi rộng lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó GTDN là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người ta thương thuyết với nhau trong tiến trình giao dịch mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia nhỏ doanh nghiệp.

Trang 1

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY.

Nội dung

Chương I: Cơ sở lí luận chung

Chương II :Phần nội dung

I.Cập nhật các văn bản pháp lí liên quan.

II.Các phương pháp định giá doanh nghiệp

III.Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay IV.Thực trạng áp dụng các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp để phục vụ cổ phần hóa nhà nước.

V.Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao,hoàn thiện các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Trang 2

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG

1.Giá trị doanh nghiệp và nhu cầu xác định giá trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,có tài sản,có trụ sở giao dịch ổnđịnh,được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện môt hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư,từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà doanh

nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh

Nhu cầu xác định giá trị DN

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá và xác định giá trị đối với loại hàng hóa này là một đòi hỏi hoàn toàn tự nhiên Trong điều hành kinh tế vĩ mô cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thông tin về GTDN GTDN là mối quan tâm của các pháp nhân và thể nhân có lợi ích liên quan, giắn bótrực tiếp đến GTDN được xuất phát chủ yếu từ các yêu cầu quản lý và các giao dịch:

Định giá doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu của hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị trường, phản ánh nhu cầu về đàu tư trụctiếp vào sản xuất kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho sự tăng trưởng và phát triển bằng các yếu tố bên ngoài, nhằm tăng cường khả năng tồn tại trong môi trường tự do cạnh tranh Để thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên phạm virộng lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó GTDN là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực tiếp để người ta thương thuyết với nhau trong tiến trình giao dịch mua bán, sáp nhập, hợp nhất, chia nhỏ doanh nghiệp

GTDN là loại thông tin quan trọng để các nhà quản trị phân tích, đánh giá trước khi ra các quyết định về kinh doanh và tài chính có liên quan đến doanh nghiệp được đánh giá Nội dung cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp, xét cho cùng

là phải tăng được giá trị doanh nghiệp GTDN là sự phản ánh năng lực tổng hợp, khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, căn cứ vào đây các nhà QTKD có thể thấy dược khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình và các doanh

Trang 3

nghiệp khác Do vậy GTDN làm một căn cứ thích hợp, cơ sở để đưa ra cac quyết định về kinh doanh, tài chính… một cách đúng đắn.

Trong cách nhìn của các nhà đầu tư, người cung cấp, thông tin về GTDN cho người ta một sự đánh giá tổng quát về uy tín kinh doanh, khả năng tài chính và vị thế tín dụng để từ đó có cơ sở đưa ra các quyết định về đầu tư, tài trợ hoặc tiếp tục cấp tín dụng cho doanh nghiệp

GTDN là loại thông tin quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô: Giá cả các loại chứng khoán được quyết định bởi giá trị thực của doanh nghiệp có chứng khoán được trao đổi mua bán trên thị trường Vì vậy trên phương diện quản lý vĩ mô, thông tin về GTDN là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, các hiệp hội kinh doanh chứng khoán đánh giá tính ổn định của thị trường, nhận dạng hiện tượng đàu cơ, thao túng thị trường, thâu tóm quyền kiểm soát doanh nghiệp… để từ đó có thể đưa ra các chính sách điều tiết phù hợp Ngoài

ra, trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định GTDN còn là một bước đi quan trọng để cải cách các DNNN như: cổ phần hóa, sáp nhập, hợp nhất hay giao, bán và cho thuê

Có thể nói, các hoạt động quản lý và những giao dịch kinh tế thông thường trong

cơ chế thị trường đã đặt ra những yêu cầu cần thiết phải xác định GTDN Đó có thể

là những yêu cầu có tính chất tình huống, cũng có thể là đòi hỏi thường nhật trong hoạt động SXKD Chúng là mối quan tâm của 3 loại chủ thể: Nhà nước, nhà đầu tư

và nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy định giá doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yêu đối với các quốc gia muốn xây dựng và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Theo quy định hiện hành của Nhà nước thì có 03 phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, đó là: phương pháp tài sản; phương pháp dòng tiền chiết khấu và phương pháp khác Tuy nhiên, trong thực tế phương pháp khác là phương pháp gì

và chưa có doanh nghiệp nào xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp khác Trong 02 phương pháp còn lại thì phương pháp tài sản là phương pháp gốc, nghĩa là khi xác định theo phương pháp dòng tiền chiết khấu thì giá trị doanh nghiệp cũng không được thấp hơn phương pháp tài sản

Chương II: Nội dung

I.CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ LIÊN QUAN:

Trang 4

Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính Phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà Nước thành công ty cổ phần,có hiệu lực từ ngày 05 tháng 9năm 2011,được sửa đổi,bổ sung bởi:

Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần,có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2014

Thông tư 202/2011/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành

Thông tư 127/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện

và quy trình thủ tục công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp

Luật Doanh Nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005

Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001

Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006

Xét đề nghị,hướng dẫn thi hành của Bộ Tài Chính

II.Các phương pháp định giá doanh nghiệp

A.PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN

1.Nội dung của phương pháp tài sản

Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Đối tượng áp dụng:Là các doanh nghiệp cổ phần hóa,trừ các doanh nghiệp thuộc đối tượng phải áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu

2 Công thức tính:

Giá trị thị trường của doanh nghiệp được tính toán dựa trên bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp và giá trị của vốn chủ sở hữu được tính như sau:

Trang 5

VE = VA – VD

Trong đó: VE: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu

VA: Giá trị thị trường của toàn bộ tài sản

VD: Giá trị thị trường của nợ

2.1 Giá trị thị trường của toàn bộ tài sản (V A ) gồm có:

2.1.1 Tài sản hữu hình

2.1.1.1 Tài sản là hiện vật:

- Tài sản cố định (kể cả tài sản cố định cho thuê)

Giá trị thực tế của tài sản cố định = Nguyên giá tính theo giá thị trường x Chất lượng còn lại của tài sản cố định tại thời điểm định giá

+ Đối với những tài sản có giao dịch phổ biến trên thị trường thì căn cứ vào giá thị trường và áp dụng phương pháp so sánh giá bán để ước tính nguyên giá

+ Đối những tài sản không có giao dịch phổ biến trên thị trường thì áp dụng các phương pháp thẩm định giá bất động sản, máy thiết bị phù hợp khác để ước tính giá

+ Đối với những hàng hoá, vật tư, thành phẩm không có giá trên thị trường thì xác định theo nguyên giá ghi trên sổ sách kế toán * Chât lượng còn lại

2.1.1.2 Tài sản bằng tiền gồm tiền mặt, tiền gửi và các giấy tờ có giá (tín

phiếu, trái phiếu, ) của doanh nghiệp vào thời điểm thẩm định giá được tính như sau:

a Tiền mặt được xác định theo biên bản kiểm quỹ

b Tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận với ngân hàng

c Các giấy tờ có giá thì xác định theo giá giao dịch trên thị trường Nếu không có giao dịch thì xác định theo mệnh giá của giấy tờ

2.1.1.3 Giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn được xác định

theo số dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận vào thời điểm thẩm định giá

Trang 6

2.1.1.4 Giá trị các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp: về nguyên tắc

phải đánh giá một cách toàn diện về giá trị đối với doanh nghiệp hiện đang sử dụngcác khoản đầu tư đó Tuy nhiên nếu các khoản đầu tư này không lớn thì căn cứ vào

số liệu của bên đối tác đầu tư để xác định

2.1.1.5 Đối với các khoản phải thu: do khả năng đòi nợ các khoản này có

nhiều mức độ khác nhau; nên thông qua việc đối chiếu công nợ, đánh giá tính pháp

lý, khả năng thu hồi nợ của từng khoản nợ cụ thể, từ đó loại ra những khoản nợ màdoanh nghiệp không thể đòi được, để xác định giá trị thực tế của các khoản phải thu

2.1.1.6 Đối với quyền thuê bất động sản tính theo thu nhập thực tế trên thị

trường hoặc theo phương pháp chiết khấu dòng thu nhập trong tương lai

- Nếudoanh nghiệp đã trả tiền thuê một lần cho nhiều năm thì tính lại theo giá thị trường vào thời điểm thẩm định giá

2.1.1.7 Giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp: theo phương pháp này,

người ta chỉ thừa nhận giá trị các tài sản vô hình đã được xác định trên sổ kế toán (số dư trên sổ kế toán vào thời điểm thẩm định giá) hoặc lợi thế về quyền thuê tài sản và thường không tính đến lợi thế thương mại của doanh nghiệp

Giá trị lợi thế thương mại của doanh nghiệp (nếu có) sẽ được xác định trên cơ sở lấy giá trị doanh nghiệp tính theo phương pháp so sánh thị

trường, hoặc theo phương pháp thu nhập trừ cho giá trị doanh nghiệp tính theo phương pháp tài sản

2.2 Giá trị thị trường của nợ (V D ):được xác định theo số dư thực tế trên sổ kế

toán vào thời điểm thẩm định giá

3.ƯU ĐIỂM VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG

+Đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi những kỹ năng tính toán phức tạp

+Phương pháp giá trị tài sản thuần đã chỉ ra giá trị của những tài sản cụ thể cấu thành giá trị doanh nghiệp

+Phương pháp xác định giá trị thị trường của số tài sản có thể bán rời tại thời điểm đánh giá.Như vậy,nó chỉ ra rằng có 1 khoản thu nhập tối thiểu mà người sở hữu sẽ nhận được.Đó cũng là mức giá thấp nhất,là cơ sở đàu tiên để các bên có liên quan đưa ra trong quá trình giao dịch và đàm phán về giá bán của doanh nghiệp

4.NHƯỢC ĐIỂM

+Doanh nghiệp không được coi như 1 thực thể,1 tổ chức đang tồn tại và còn có thểđiều chỉnh,phát triển trong tương lai.Vì vậy mà nó không phù hợp với 1 tầm nhìn chiến lược về doanh nghiệp

Trang 7

+Phương pháp giá trị tài sản thuần đã không cung cấp và xây dựng được những cơ

sở thông tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lời của doanh nghiệp

+Phương pháp giá trị tài sản thuần đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưng lại có giá trị thực sự.Đó có thể là những doanh nghiệp có tài sản không đáng

kể nhưng triển vọng sinh lời lại khá cao

+Trong nhiều trường hợp,xác định giá trị tài sản thuần lại trở nên quá phức tạp+ Phát sinh một số chi phí do phải thuê chuyên gia đánh giá tài sản; Không thể loại

bỏ hoàn toàn tính chủ quan khi tính giá trị doanh nghiệp; Việc định giá doanh nghiệp dựa vào giá trị trên sổ sách kế toán, chưa tính được giá trị tiềm năng như thương hiệu, sự phát triển tương lai của doanh nghiệp

B Phương pháp dòng tiền chiết khấu.

Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.

⇒ giá trị hiện tại của dòng tiền thuần đem lại cho nhà đầu tư đa số, từ việc đầu tư vào DN ở thời điểm hiện tại và tương lai, được xem là tiêu chuẩn thích hợp để xác định giá trị DN

Phương pháp xác định

- Các khoản thu trong tương lai được thay thế bằng dòng tiền thuần của dự án đầu

tư vào DN Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra trong đó:

Trang 8

+ Dòng tiền vào: các khoản thu nhập ñem lại cho DN (khấu hao TSCĐ, lợi nhuận thuần hàng năm, vốn thu được khi dự án kết thúc,…)

+ Dòng tiền ra: các khoản đầu tư vào DN (vốn ñầu tư vào TSCĐ và TSLĐ thường xuyên trong tương lai )

+CFt : thu nhập thuần năm t

+Vn : giá trị của DN cuối chu kỳ ñầu tư (năm thứ n)

+ i : tỷ suất hiện tại hóa

Các bước cơ bản xác định giá trị doanh nghiệp

Bước 1: dự báo dài hạn về các dòng tiền vào và ra có thể phát sinh trong tương lai Dự báo doanh thu, chi phí vận hành, khoản vốn bổ sung và rút ra khỏi quá trìnhluân chuyển hàng năm Dự báo chu kỳ đầu tư (n) và giá trị DN cuối chu kỳ đó (Vn)

Bước 2: Xác định tỷ suất chiết khấu dòng tiền, thường dựa trên chi phí sử dụng vốn bình quân (phản ánh chi phí cơ hội ñầu tư vốn vào DN)

Bước 3: Xác định giá trị hiện tại của dòng tiền thuần theo tỷ suất chiết khấu trên

để tìm ra giá trị của DN

Ghi chú

Dòng tiền vào = LN thuần + Khấu hao + Lãi vay

Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - Đầu tư bổ sung vào TSCĐ ± Chênh lệch về vốnlưu động thường xuyên

Trang 9

Thừa số hiện tại hóa (10%) được tính theo công thức: f (i, n )= 1

+Giá trị DN tính theo phương pháp này sẽ là mức giá cao nhất mà nhà đầu tư đa số

có thể trả (nếu tham gia ñấu thầu thì ñây là giới hạn ñể bỏ thầu)

+“Vì sao DN này lại có giá trị cao hơn DN kia?” Mỗi nhà đầu tư luôn có những

dự định riêng khi họ có thể kiểm soát ñược DN Theo những dự định riêng đó, mỗi nhà ñầu tư sẽ trả DN với giá khác nhau

+ Đây là phương pháp ñiển hình tính giá trị DN trong trạng thái động

+Tránh vấn đề phức tạp là phải điều chỉnh số liệu kế toán sao cho có thể phản ánh đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền

Hạn chế :

+ Vấn đề về tỷ suất hiện tại hóa (i) và chu kỳ đầu tư (n)

+Khó khăn trong dự báo dòng tiền vào và dòng tiền ra

+ Không thích hợp với các DN nhỏ không có chiến lược kinh doanh hoặc có chiến lược nhưng không rõ ràng

+ Người đánh giá dự án phải có năng lực giỏi về lãnh vực thẩm ñịnh dự án đầu tư + Mức ñộ tin cậy của thông tin đánh giá các yếu tố tác động đến DN còn thấp

Trang 10

III Th c tr ng c ph n hóa doanh nghi p Vi t ực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ần hóa doanh nghiệp ở Việt ệp ở Việt ở Việt ệp ở Việt Nam.

1.Khái ni m C ph n hóa , công ty c ph n và tình hình các DNNN tr ệp ở Việt ổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ần hóa doanh nghiệp ở Việt ổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ần hóa doanh nghiệp ở Việt ước khi c khi

C ph n hóa ổ phần hóa doanh nghiệp ở Việt ần hóa doanh nghiệp ở Việt

* Tình hình các DNNN trước khi Cổ phần hóa :

Trước khi Cổ phần hóa tình hình hoạt động kinh doanh của các DNNN cũng

có những điều đáng chú ý Trước khi có luật Công ty năm 1990, đa số các DNNNrơi vào tình trạng thua lỗ kéo dài, bộ máy tổ chức kém, các chi phí cho hoạt động

bộ máy là rất lớn Trước tình hình đó chúng ta cũng đã có chủ trương giao quyền

tự chủ sản xuất kinh doanh cho các Doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể chủ độngsản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tự hoạch toán lỗ lãi… Với chủ trương này doanhnghiệp nào tổ chức tốt sẽ nhanh chóng thích nghi, chuyển đổi nhạy bén nắm bắtcác ưu thế của DNNN nâng cao sức mạnh và khả năng cạnh tranh, ngược lại nếudoanh nghiệp tổ chức kém sẽ không đứng vững trên thị trường, mất khả năng cạnhtranh và tự loại ra cuộc chơi Nhiều người cho rằng các DNNN làm ăn thua lỗ là dotrình độ quản lý kém trong khi đó quy mô các DNNN lớn song không thực tế phảihoàn toàn như vậy đa số các DNNN thời kì này là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, có0,4% doanh nghiệp vốn trên 100 tỷ đồng; 3,7% doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ

Trang 11

đồng; 72% doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ đồng; không phát huy được nội lực trongnội bộ doanh nghiệp,nhà nước phải bao cấp, trên 50% DNNN bị thua lỗ, một số ít

có lãi nhưng lãi giả lỗ thật,nguồn vốn đầu tư cho các DNNN là vay nợ nướcngoài,viện trợ phát triển,…

Từ những vấn đề đó cho thấy DNNN thời kì này không thể giữ vai trò chủ chốttrong nền kinh tế quốc dân Nếu xóa bỏ các doanh nghiệp này thì nhà nước sẽ khó

có thể điều tiết nỗi nền tài chính đất nước, vì thế thực hiện Cổ phần hóa là một lốithoát

2.Thực trạng Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước trong năm qua

Năm 2014, có sự thay đổi rõ rệt và mạnh mẽ trong động thái cổ phần hóaDNNN Với cách tiếp cận phải đặt quá trình tái cơ cấu trên nền tảng các nguyêntắc cơ bản của kinh tế thị trường (cạnh tranh tự do, bình đẳng và hệ thống giá đượcthiết lập trên cơ sở chủ yếu là cung - cầu thị trường và cạnh tranh), Chính phủ đã tỏ

ra quyết liệt hơn trong việc đẩy mạnh chương trình cổ phần hóa DNNN, coi đây làhướng ưu tiên trong 3 trục chính của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Chính phủđặt ra nhiệm vụ trong 2 năm 2014-2015, phải cổ phần hóa được 532 DNNN (saukhi rà soát, bổ sung danh mục DN phải CPH theo tiêu chí phân loại DNNN mớiđược ban hành thì số DNNN phải cổ phần hóa, thoái vốn tăng thêm 100 so với 432

DN như kế hoạch trước đó, ở mức 532 DN), tức là căn bản hoàn thành toàn bộchương trình cổ phần hóa DNNN trước năm 2016 So với tốc độ cổ phần hóa cực

kỳ chậm chạp của những năm trước, đặt trong bối cảnh cả nền kinh tế - cả khu vựcnhà nước và khu vực doanh nghiệp – đều gặp khó khăn, đặc biệt là nguồn lực tàichính, nhiệm vụ cổ phần hóa 532 DNNN dường như là một thách thức to lớn màChính phủ tự đặt ra cho mình

Ba tình huống cổ phần hoá/ IPO tiềm năng trong thời gian sắp tới sẽ diễn ra ởCông ty dịch vụ viễn thông di động Việt Nam (MobiFone), Tổng công ty hàng hải

Trang 12

Việt Nam (Vinalines), và Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam(Vinacomin).

Với giá trị sở hữu vào khoảng 3,4 tỷ USD, MobiFone hiện nắm giữ khoảng21% thị phần thị trường điện thoại di động của Việt Nam MobiFone và Vinaphone

là hai công ty con (chiếm 19% thị phần) của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam (VNPT) Mặc dù MobiFone được dự kiến thực hiện cổ phần hoá từ năm

2005, nhưng Mobifone sẽ cổ phần hoá trước một phần cuối năm 2015 và Nhà nước

sẽ chỉ nắm giữ 20% cổ phần

Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) hiện là công ty hàng hải quốcdoanh của Việt Nam Vinalines đã gặp nhiều khó khăn tài chính sau sự kiện thamnhũng và khoản nợ lên tới 4 tỷ USD do tình trạng quản lý tài chính yếu kém Đểtrả nợ, Vinalines đã phải bán cổ phần tại nhiều đơn vị của mình, bao gồm các cảngbiển

Vinacomin gần đây đã hoàn thành thoái vốn trong lĩnh vực tài chính, bao gồmviệc thoái vốn tại Công ty Bảo hiểm SHB, Ngân Hàng SHB, Công ty Bảo hiểmHàng không, Công ty chứng khoán SHB và Công ty tài chính Vinacomin Tính đếntháng 8/2014, Vinacomin đã cổ phần hoá được ba trong tám đơn vị thành viên.Năm đơn vị còn lại sẽ được cổ phần hoá năm 2015 bao gồm: Tổng công ty điệnlực- than khoáng sản, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin, Tổngcông ty Khoáng sản – Vinacomin, Công Ty TNHH MTV Cơ Khí Đóng Tàu -Vinacomin, và Công ty TNHH MTV Môi Trường-Vinacomin

Có thể thấy, với dự báo đầy hứa hẹn về tăng trưởng và lạm phát của Việt Namcùng hàng trăm cơ hội từ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn tớiđây, giới đầu tư nên tích cực tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội tốt nhất ngay trongnăm 2015 này nhằm tối ưu hóa khoản đầu tư Các doanh nghiệp sau cổ phần hóacũng nhờ đó có thêm cơ hội huy động vốn, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất

Trang 13

lao động, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp.

IV.Thực trạng áp dụng các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp vào việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang được thực hiệnchuyển đổi mô hình các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần Vấn đề đặt

ra hiện nay là việc xác định giá trị doanh nghiệp, phục vụ cho mục đích cổ phầnhóa phải phù hợp với thị trường nhằm thất thoát nguồn vốn ngân sách nhànước.Thời gian vừa qua, việc xác định giá trị doanh nghiệp cho cổ phần hóa đãđược nhiều thành tựu song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong cácphương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cho cổ phần hóa Hiện nay, việc xácđịnh giá trị doanh nghiệp cho cổ phần hóa thực hiện theo nghị định số109/2007/NĐ –CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty

cổ phần

1.Các quy đ nh c a pháp lu t liên quan đ n các ph ịnh của pháp luật liên quan đến các phương pháp ủa pháp luật liên quan đến các phương pháp ật liên quan đến các phương pháp ến các phương pháp ương pháp ng pháp xác đ nh giá tr doanh nghi p: ịnh của pháp luật liên quan đến các phương pháp ịnh của pháp luật liên quan đến các phương pháp ệp ở Việt

Điều 27 Giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp tài sản

1 Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị toàn bộ tài sản hiện

có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng sinh lời củadoanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được

Giá trị thực tế vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị thực tếcủa doanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả, số dư Quỹ khen thưởng,Quỹ phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có)

Trang 14

2 Khi cổ phần hóa toàn bộ tập đoàn, tổng công ty nhà nước thì giá trị vốn nhànước là giá trị thực tế vốn nhà nước được xác định tại tập đoàn, tổng công ty nhànước.

3 Trường hợp cổ phần hóa công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty conthì giá trị vốn nhà nước là giá trị thực tế vốn nhà nước tại công ty mẹ

4 Đối với các tổ chức tài chính, tín dụng khi xác định giá trị doanh nghiệptheo phương pháp tài sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xácđịnh tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánhgiá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn và giá trị quyền sử dụng đấttheo chế độ Nhà nước quy định

Điều 28 Các khoản sau đây không tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần

hóa

1 Giá trị những tài sản quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 14 Nghị định

này

2 Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi

3 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã có quyết định đìnhhoãn của cấp có thẩm quyền trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

4 Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác được quy định tại

điểm a khoản 2 Điều 18 Nghị định này.

5 Người có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét quyết địnhviệc không tính vào giá trị doanh nghịêp để cổ phần hoá đối với các nội dung quyđịnh tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và chịu trách nhiệm trước pháp luật vềquyết định của mình

Điều 29 Các căn cứ xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp

Ngày đăng: 19/11/2015, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w