1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh

123 481 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn cho thấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản luôn đồng hành - gắn liền với việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nguồn lực quan trọng để phát triển của đất nước,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 3

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn là trung thực Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả

LÊ THANH HUỆ

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học: TS Dương Quỳnh Phương đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn này

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, đặc biệt các thầy cô trong tổ Kinh tế - xã hội, Ban chủ nhiệm khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Phòng sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chuyển lời cảm ơn đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh; Phòng Văn hóa - Thông tin, UBND thị xã Quảng Yên cùng những người dân địa phương đã giúp tôi trong quá trình thu thập tài liệu thực tế

Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè đã chia sẻ những khó khăn, cổ vũ, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thanh Huệ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ 4

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp của đề tài 8

7 Cấu trúc của đề tài 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Di sản 9

1.1.2 Du lịch 16

1.1.3 Vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Khái quát về di sản, di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam 27

1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch từ khai thác giá trị các di sản của Việt Nam 32 Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 DI SẢN - THẾ MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 35

2.1 Tổng quan tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 35

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 37

2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 40

Trang 7

2.2 Giá trị của các di sản được UNESCO công nhận và các di sản đặc biệt

cấp quốc gia ở tỉnh Quảng Ninh 43

2.2.1 Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới 43

2.2.2 Di tích quốc gia đặc biệt Yên Tử 48

2.2.3 Di tích quốc gia đặc biệt chiến thắng Bạch Đằng 50

2.3 Hiện trạng phát triển du lịch từ việc khai thác giá trị các di sản của tỉnh Quảng Ninh 54

2.3.1 Vịnh Hạ Long 54

2.3.2 Di tích quốc gia đặc biệt Chùa Yên Tử 62

2.3.3 Di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng 68

2.4 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với khai thác di sản trong phát triển du lịch của tỉnh 69

2.4.1 Điểm mạnh 69

2.4.2 Điểm yếu 70

2.4.3 Cơ hội 71

2.4.4 Thách thức 71

2.5 Liên kết không gian du lịch của tỉnh Quảng Ninh, kết nối di sản với những điểm du lịch khác 72

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 77

3.1 Cơ sở để đưa ra các giải pháp 77

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản 77

3.1.2 Quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 78

3.2 Nhóm các giải pháp chung 81

3.2.1 Về phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật 81

3.2.2 Về đào tạo nguồn nhân lực 82

3.2.3 Về công tác quản lí và quy hoạch của nhà nước 83

Trang 8

3.2.4 Xây dựng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, bảo tồn các

khu di tích văn hoá và có những biện pháp bảo vệ môi trường du lịch 83

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với phát huy các giá trị di sản của tỉnh Quảng Ninh 84

3.3.1 Vịnh Hạ Long 84

3.3.2 Di tích quốc gia đặc biệt Yên Tử 92

3.3.3 Di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng 97

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 1

Trang 9

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc

WHC : Hội đồng di sản thế giới

EATOF : Diễn đàn du lịch Đông Á

WTM : Hội chợ Du lịch quốc tế

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Di sản thế giới tại Việt Nam 28

Bảng 1.2 Danh sách di tích quốc gia đặc biệt 29

Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch đến thăm quan Vịnh Hạ Long giai đoạn 2009 - 2013 59

Bảng 2.2 Số lượng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 60

Bảng 2.3 Số lượng khách quốc tế đến thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 60

Bảng 2.4 Doanh thu vé thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 61

Bảng 2.5 Các tuyến tham quan Vịnh Hạ Long 62

Bảng 2.6 Doanh thu cáp treo tại Yên Tử giai đoạn 2005 - 2014 67

Bảng 2.7 Lượng khách du lịch đến Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2009-2013 75

Bảng 3.1 Các dự án quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đến năm 2020 85

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 36

h 2.2 53 Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện khách du lịch đến Vịnh Hạ Long giai đoạn

2004 - 2013 59 Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch đến Yên Tử giai đoạn

2004 - 2013 66

Hình 2.6 Biểu đồ thể hiện tổng khách và tốc độ tăng khách du lịch tỉnh

Quảng Ninh giai đoạn 2004 - 2013 75

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Di sản tự nhiên và di sản văn hoá là tài sản vô giá của mỗi quốc gia Thực tiễn cho thấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản luôn đồng hành - gắn liền với việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nguồn lực quan trọng để phát triển của đất nước, vì di sản của mỗi quốc gia chính là một trong những nội lực giúp ngành du lịch cất cánh Di sản và du lịch có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ Du lịch không chỉ dựa vào di sản để phát triển, mà còn mang sứ mệnh cao cả đó là tôn vinh giá trị di sản đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản đã được kết tinh và gìn giữ

Có nhiều lý do để thu hút con người đến với du lịch trong đó các di sản là nhịp cầu giúp con người tìm về với lịch sử của dân tộc, tìm về những nét độc đáo, hấp dẫn của thiên nhiên Việt Nam là một đất nước có cảnh quan, địa hình, thiên nhiên phong phú đa dạng cộng với truyền thống văn hóa lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, vì vậy, nước ta

có một khối lượng khá lớn các di sản cả về thiên nhiên lẫn văn hóa, lịch sử Với 22 di sản được UNESCO vinh danh ở tầm thế giới (gồm cả di sản tư liệu), hơn 4 vạn di tích và danh lam thắng cảnh phong phú, khai thác giá trị di sản trong hoạt động du lịch vẫn luôn được khẳng định là quân “Át chủ bài” trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của nước ta, phía bắc giáp đất nước Trung Hoa rộng lớn, phía nam là các tỉnh thuộc tam giác châu thổ sông Hồng, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp, phía đông nghiêng thoải dần xuống vịnh Bắc Bộ, bao bọc phía ngoài là hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ, đặc biệt là Vịnh Hạ Long - được hai lần UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Đồng thời Quảng Ninh còn có lịch sử văn hóa truyền thống từ lâu đời được lưu giữ lại thông qua các lễ hội truyền thống, thể hiện đậm nét văn hóa tâm linh, bản sắc văn hóa người Việt So với các tỉnh khác trong cả nước, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có thế mạnh nhất để phát triển du lịch, đặc biệt là dựa vào các di sản cấp quốc gia và di sản thế giới Nếu khai thác tốt lợi thế này thì ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh chóng, kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác Vấn đề đặt ra đối với tỉnh Quảng Ninh là cái giá phải trả của quá trình thương mại hóa du lịch, quan điểm phát triển nóng vội là rất đắt và bài học của quá trình phát triển kinh tế bền vững là hãy để chính người dân cùng tham gia vào quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản của dân tộc

Trang 13

Xuất phát từ những lí do có tính cấp thiết trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu

đề tài: “KHAI THÁC GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH”

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

2.1 Trên thế giới

Mỗi di sản của các quốc gia đều có vai trò rất quan trọng cả về giá trị tự nhiên và văn hóa, xã hội Chúng được hình thành một cách tự nhiên qua một thời gian khá dài có thể là trải qua cùng với thời kì thành tạo và phát triển của Trái Đất ứng với các di sản thiên nhiên - địa chất, cũng có thể là được tạo ra trong từng quá trình phát triển của con người Chính vì vậy, con người muốn tìm hiểu cụ thể về các

di sản thông qua nhiều công trình nghiên cứu để hiểu rõ hơn về chúng

Các di sản thiên nhiên, văn hóa - xã hội đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Từ năm 1972, Hội đồng di sản thế giới (WHC) của UNESCO đã được thành lập và tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện công nhận của các di sản văn hóa

và thiên nhiên thế giới, đồng thời nghiên cứu, giúp đỡ các quốc gia trong việc nghiên cứu, tôn tạo, bảo vệ các di sản thế giới Trên thế giới, đã có nhiều các công trình

nghiên cứu các di sản như “Quản lý di sản ở New Zealand và Australia, Quản lý du khách, Tuyên truyền quảng bá và Tiếp thị” của Michael C Hall và Simon McArthur (năm 1993), “Đa dạng sinh học rừng nhiệt đới và Công ước di sản Thế Giới” của

Jeffrey, Sayer, Ishwaran, Natarajan, Thorsell, James và TodSagaty (năm 2000), cuốn

sách: “Du lịch bền vững trong những khu vực được bảo vệ” của Tiến sỹ Paul Eagles

(năm 2002) thuộc Ủy ban thế giới về những khu vực được bảo vệ với sự đóng góp

của nhiều chuyên gia quốc tế, công trình “World cultural and natural heritage sites:

Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới” (2002) của Luo Zhewen đã giới thiệu các

danh thắng ở Trung Quốc đã được công nhận là những di sản văn hoá Thế giới,

Ngành du lịch trên thế giới được ra đời cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, thương mại và những sinh hoạt tôn giáo Nhưng những công trình khoa học nghiên cứu về các khía cạnh của du lịch như tài nguyên du lịch, quy hoạch du lịch

và tổ chức lãnh thổ du lịch mới chỉ xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX và ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học cùng với xu hướng quy hoạch phát triển

Trang 14

kinh tế - xã hội và phát triển của ngành du lịch từ những năm 30 của thế kỉ XX Về sau này, số lượng khách du lịch ngày càng tăng lên, du lịch càng được quan tâm và nghiên cứu ở nhiều quốc gia Một số các công trình nghiên cứu về các khía cạnh của du lịch:

“Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Gunn (1972), “Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá, phục

vụ mục đích quy hoạch du lịch” của L.I Mukhina (1973), “Du lịch và sự phát triển sáng tạo” của Lawson và Baud Bovy (1977),…

2.2 Ở Việt Nam

Năm 1994, khi lần đầu tiên Việt Nam có một di sản được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, từ đó đã bắt đầu các công trình nghiên cứu nhiều di sản và được đệ trình để được công nhận di sản thế giới Tính đến năm 2014, Việt Nam có 22 di sản được UNESCO công nhận (bao gồm cả di sản tư liệu) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tìm hiểu về một di sản riêng mà về các di sản ở Việt Nam Một số các công trình nghiên

cứu về di sản: “Di sản thiên nhiên thế giới: Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng” Trần Nghi (năm 2003), “Quần thể di tích Huế” Phan Thuận An (năm 2005), “Giá trị nổi bật

về địa chất vịnh Hạ Long” Trần Đức Thạnh, Tony Waltham,… Mới đây, Tổng cục du lịch Việt Nam cho xuất bản cuốn “Would heritage in Viet Nam” nhằm cung cấp cho bạn

đọc thông tin đầy đủ, phong phú về vị trí, đặc điểm, các giá trị nổi bật của di sản cũng như các dịch vụ du lịch liên quan đến từng di sản,… và một số bài báo có giá trị trên các tạp chí Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận…

Đối với ngành du lịch ở Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay, các công trình nghiên cứu Địa Lí du lịch vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung vào tổ chức không gian du lịch, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu du lịch của một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi,… Một số các dự án, công trình

nghiên cứu về du lịch Việt Nam như: “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020”, 2006; Địa lý du lịch Việt Nam, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 2010; Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Lê Hồng Lý (chủ biên) 2010, Gần đây, Tổng cục

du lịch Việt Nam đã xuất bản cuốn sách: “Di sản Thế giới ở Việt Nam” (2012)

Trong cuốn sách này, các di sản thế giới tại Việt Nam (di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu) đã được giới thiệu và phân tích dưới góc độ du lịch

Trang 15

2.3 Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trên thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu về di sản tỉnh Quảng Ninh của Tổng cục Du lịch hay Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, điển hình là Vịnh Hạ Long - di sản thế giới được 2 lần UNESCO công nhận, vì vậy là đề tài nghiên

cứu cho nhiều nhà nghiên cứu như “Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long” Trần Đức Thạnh (năm 1998), “Báo cáo thẩm định của IUCN về địa chất vịnh Hạ Long” của Giáo sư Smith, “Những di sản thể giới nổi tiếng” Trần Mạnh Thường (năm 2000),…

Một số cuốn sách viết về du lịch Quảng Ninh, chủ yếu là giới thiệu, hướng dẫn khách du lịch: “Quảng Ninh, Đất và Người” của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Quảng Ninh, xuất bản năm 2005; “Du lịch Quảng Ninh” năm 1995 và “Quảng Ninh - Hạ

Long” năm 2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh; “Du lịch Hạ Long” Phạm Hoàng

Hải (năm 2012),…

Hầu hết các công trình nghiên cứu hay các bài báo cáo, tài liệu đều chỉ tập trung nghiên cứu về một điểm cụ thể mà chưa có tài liệu nào nghiên cứu về tổng hợp các di sản gắn với sự phát triển du lịch của tỉnh Vì vậy, đề tài “Khai thác giá trị của các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh” là một đề tài nghiên cứu độc lập, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có những đóng góp nhất định cho sự phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

3 Mục tiêu và nhiệm vụ

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng một cách có chọn lọc những vấn đề lí luận

và thực tiễn về giá trị di sản, du lịch; vận dụng vào việc khai thác giá trị di sản phục

vụ du lịch ở Quảng Ninh Đề tài đề xuất một số giải pháp có tính khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản và phát triển du lịch hướng tới sự phát triển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về di sản, du lịch

- Đánh giá tiềm năng và giá trị của các di sản đối với sự phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh

- Thu thập thông tin tư liệu, tìm hiểu thực tế, hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là tại các khu di sản

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản và phát triển du lịch hướng tới sự phát triển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu Vịnh Hạ Long - di sản

thế giới được UNESCO công nhận hai lần và hai di tích quốc gia đặc biệt là khu di tích chùa Yên Tử và khu di tích chiến thắng Bạch Đằng

Từ đó, tập trung nghiên cứu về giá trị của chúng đối với sự phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh; phân tích hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh; Định hướng phát triển du lịch gắn với các giá trị di sản trong thời kì hội nhập

- Về nguồn tư liệu: đề tài sử dụng số liệu thống kê về dân số, kinh tế, du lịch

(số liệu từ năm 2009 đến năm 2013) và các bài báo của những cơ quan liên quan và điều tra thực tế ở tỉnh Quảng Ninh

- Về không gian: tỉnh Quảng Ninh (tập trung vào các khu vực có di sản, đặc

biệt là di sản được UNESCO công nhận và di sản cấp Quốc gia)

- Về thời gian: đề tài tập trung sử dụng, phân tích các tài liệu, số liệu thống

kê của các cơ quan chức năng như Sở văn hóa - du lịch - thể thao tỉnh Quảng Ninh

trong 10 năm trở lại đây

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng

Mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến đổi không ngừng và đều có xu hướng phát triển Dựa trên quan điển duy vật biện chứng để nghiên cứu sẽ giúp cho các kết quả nghiên cứu có tính logic và phản ánh đúng quá trình phát triển và nguyên nhân của sự phát triển

đề cần nghiên cứu

Trang 17

Quảng Ninh là tỉnh có diện tích khá lớn, đồng thời cũng có tài nguyên du lịch khá phong phú, đặc biệt là các di sản Yếu tố này được xem xét là một trong các mối quan hệ tổng thể

5.1.4 Quan điểm lịch sử

Các đối tượng, hiện tượng địa lý đều phải có thời gian hình thành và phát triển nhất định Vì vậy, cần phải vận dụng quan điểm này để gắn liền giữa lí luận và thực tiễn, từ đó tránh có cái nhìn phiến diện, chủ quan về vấn đề nghiên cứu Đồng thời, khi xem xét quá khứ và hiện tại của các đối tượng, ở một mức độ nhất định có thể dự đoán được tương lai của chúng

Đối với luận văn, dù là di sản tự nhiên hay văn hóa, xã hội cũng đều có một thời gian dài để hình thành Sự hình thành của chúng gắn liền với quá trình thành tạo của Trái Đất hay sự phát triển lịch sử, văn hóa của người dân tộc trên cả nước nói chung, của tỉnh nói riêng Đồng thời, sự hình thành và phát triển của du lịch Quảng Ninh của gắn liền với chúng Tạo ra sức hấp dẫn riêng biệt, một thương hiệu

du lịch của tỉnh Quảng Ninh

5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Ngành du lịch hiện nay đang trở thành một ngành kinh tế phát triển cao Tuy nhiên, việc khai thác lợi thế của các di sản trong phát triển du lịch cần phải gắn liền với sự phát triển bền vững Cần có những kế hoạch và biện pháp sao cho sử dụng hợp lý, hiệu quả, đồng thời cũng cần tôn tạo và phát huy những giá trị quý báu của các di sản để đảm bảo phát triển bền vững, không ảnh hưởng tới thế hệ tương lai

Trang 18

Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp, đồng thời cũng cần có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những tác động xấu đến môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội

5.1.6 Quan điểm viễn cảnh

Du lịch là ngành luôn vận động và phát triển không ngừng, vì vậy nó đòi hỏi những cách thức hoạt động, sản phẩm và dịch vụ du lịch mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của khách thăm quan Vận dụng quan điểm này để đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển du lịch cụ thể trên cơ sở đánh giá hiện trạng hoạt động hướng tới sự phát triển lâu dài cho du lịch Quảng Ninh

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lý các số liệu, tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều, biến động trong không gian và thời gian, do đó rất thích hợp với việc nghiên cứu du lịch Phương pháp này cho phép tác giả tổng quan các tài liệu, kế thừa những nghiên cứu trước đó và có cơ sở để đưa ra những nhận định

và kết quả của công trình Những thông tin, những nguồn tài liệu tham khảo, sử dụng từ các nguồn xử lý, thống kê từ các ban ngành có liên quan đến di sản và

du lịch Quảng Ninh (Nhất là tài liệu từ Sở văn hóa, thể thao - du lịch Quảng Ninh, UBND Quảng Ninh,…)

Ngoài ra, để phục vụ cho mục đích và yêu cầu của luận văn, tác giả có sử dụng tài liệu từ các dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến di sản và du lịch của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng Đồng thời, phân tích, tổng hợp và xử lí số liệu để tự biên vẽ, thành lập một số bản đồ, biển đồ nhằm làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu

Hiện nay, sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã giúp cho việc khai thác và xử lí thông tin qua internet trở nên dễ dàng, là nguồn tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu luận văn

5.2.2 Phương pháp thực địa

Đây là một phương pháp khá đặc trưng và truyền thống của khoa học Địa

Lý Cùng với việc nghiên cứu bản đồ và tìm hiểu các tài liệu liên quan, phương pháp thực địa sẽ cho chúng ta thấy thực tế hơn về các vấn đề cần nghiên cứu, đặc biệt với đối với các đề tài về du lịch

Trang 19

Trước và trong quá trình làm luận văn, tác giả đã trực tiếp đi thực tế ở một số di sản (như Vịnh Hạ Long, Chùa Yên Tử) cũng như một số tuyến du lịch trong tỉnh Qua

đó, chọn lọc và ghi chép nhưng tư liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu luận văn

5.2.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ, lược đồ

Đối với khoa học địa lý thì các bản đồ, biểu đồ, lược đồ là không thể thiếu Chúng vừa là những hình ảnh minh họa nhưng cũng đồng thời chúng ta cũng khai thác kiến thực từ đó Bằng ngôn ngữ kí hiệu, bản đồ mô phỏng hình ảnh thu nhỏ một cách trung thực nhất các đối tượng nghiên cứu Địa lý du lịch với sự phân bố về bề mặt không gian lãnh thổ cũng như bản chất của đối tượng Kết hợp với bản đồ là biểu đồ chỉ ra xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc các dạng biểu đồ so sánh với không gian nhất định

5.2.4 Phương pháp SWOT

Du lịch là ngành có tính liên tục, liên ngành, mang tính xã hội hóa cao Trong vấn đề khai thác di sản đối với sự phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, tác giả sử dụng phương pháp SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vấn đề Từ đó, cho thấy cái nhìn tổng quát về việc khai thác di sản trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung

5.2.5 Phương pháp sử dụng các kĩ thuật phụ trợ: ứng dụng CNTT để biên vẽ và

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về di sản và phát triển du lịch

Chương 2: Di sản - thế mạnh phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản và phát triển

du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Trang 20

Theo Từ điển tiếng Việt, Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một

quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc, văn hoá dân tộc …

có những giá trị về tự nhiên, những giá trị văn hoá vật thể hoặc phi vật thể được để lại từ xa sưa vả tồn tại cho tới ngày nay, đó chính là tài sản của mỗi quốc gia

Theo nghiên cứu của UNESCO, toàn bộ di sản thế giới được chia làm ba loại: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp

* Di sản thiên nhiên

Trong Công ước về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại đại hội Tổ

chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp ở Paris từ

17 tháng 10 đến 21 tháng 11 năm 1992, kỳ họp lần thứ 17 Những loại hình thuộc về di sản thiên nhiên:

Các cấu tạo tự nhiên (natural features): bao gồm các thành tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Các thành tạo địa chất và địa văn (geological and physiographical formations) và các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe doạ mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Các di chỉ tự nhiên (natural sites) hoặc các khu vực tự nhiên đã dược khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu

Như vậy, Những di sản thiên nhiên là những tuyệt tác do thiên nhiên tạo ra cùng với quá trình thành tạo của Trái Đất Các đặc trưng tự nhiên bao gồm thành tạo hoặc các nhóm thành tạo vật lý hoặc sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan

Trang 21

điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; các thành tạo địa chất hoặc địa văn và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi sinh của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo toàn; các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới được xác định chính xác có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tự nhiên

*Di sản văn hóa

Di sản là những giá trị vật chất và tinh thần của một quốc gia, dân tộc để lại cho thế hệ sau Văn hóa là là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu cùng con người thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo Nó được bảo tồn và chuyển cho thế hệ nối tiếp theo sau

Có thể hiểu di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm mà con người sáng tạo ra, chứa đựng những giá trị về chân, thiện, mĩ và nó được truyền từ đời này sang đời khác

Trên bình diện quốc tế, năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau: DSVH là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việc khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm con người Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi của mọi chính sách văn hóa [6 tr.14]

Luật DSVH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định:

"DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [5]

Như vậy, theo các quan điểm trên, con người bao giờ cũng có 2 nhu cầu cơ bản,

đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Do đó hoạt động của con người cũng

có 2 loại cơ bản, đó là sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra các giá trị tinh thần Tương ứng với nó là những giá trị của DSVH vật thể và DSVH phi vật thể:

DSVH vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất của con người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ ăn,

đồ mặc, các phương tiện đi lại DSVH vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa

Trang 22

chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử

rõ rệt DSVH vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người, luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc Do đó, vấn đề giữ gìn những DSVH vật thể lâu đời đòi hỏi cần công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ

Tại điều 4, Luật DSVH định nghĩa DSVH vật thể như sau: "DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia" [7]

DSVH phi vật thể bao gồm những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người sáng tạo ra như phong tục, tập quán thể hiện trong lối sống, trong các mối quan hệ xã hội của con người, các quy ước thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân

và cộng đồng, giữa con người với tổ tiên, với lực lượng siêu nhiên mà con người luôn tin tưởng Đó là toàn bộ tri thức liên quan đến việc sản xuất ra của cải vật chất

để duy trì sự sống và phát triển của con người như sản xuất lương thực, y học dân gian, văn hóa ẩm thực, nghề thủ công Đó là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như

âm nhạc, múa rối, sân khấu, các loại hình thức trình diễn cho đến kiến trúc, trang trí, đồ họa Đó là các loại hình nghệ thuật ngôn từ như truyện kể, ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ

Các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo

đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVH phi vật thể được các cộng đồng và nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của

họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích

lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người

Trang 23

“DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [31]

Trên thực tế, sự phân biệt hai thể loại DSVH như trên chỉ có ý nghĩa quy ước, thực ra chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, khó phân biệt rạch ròi

Cả hai loại này sẽ mất đi nếu không được cộng đồng, cá nhân giữ gìn và phát huy

Dựa trên những văn bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của các tác giả đi trước về DSVH mà chúng tôi vừa khái quát, có thể rút ra: DSVH là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết, qua đó tiến hành giữ gìn và phát huy nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của cuộc sống hiện tại

Trong Điều 1 của luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và

di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [30]

Ngoài ra còn các khái niệm về: Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó

có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

* Di sản hỗn hợp

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản Hay nói cách khác, di sản thế giới hỗn hợp là một loại di sản kép, nó đáp ứng đủ cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa (tiêu chuẩn i, ii, iii, vi, v, vi) và một tiêu chí

về di sản thiên nhiên (tiêu chuẩn vii, viii, ix, x) [1]

Trang 24

1.1.1.2 Tiêu chí công nhận di sản

* Tiêu chí công nhận di sản của UNESCO

- Tiêu chí để đưa các tài sản văn hóa vào danh sách Di sản thế giới [1]:

Các di tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoành tráng, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, hang cư trú và các đặc trưng kết hợp, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Quần thể các công trình xây dựng: Quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà, do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Các di chỉ: các công trình do con người tạo nên hoặc có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo, và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học

Một di tích, một quần thể các công trình xây dựng hoặc một di chỉ được định nghĩa như trên nếu đề nghị được đưa vào danh sách Di sản thế giới sẽ được coi là có

“giá trị toàn cầu nổi bật” phù hợp với mục tiêu của Công ước khi Ủy ban thấy rằng chúng đáp ứng một hoặc nhiều tiêu chí sau đây, và chứng minh được tính nguyên bản của chúng Vì vậy, mỗi di sản đệ trình cần phải:

"(i) là một kiệt tác cho thấy thiên tài sáng tạo của con người, hoặc

(ii) biểu hiện sự giao lưu các giá trị của con người, trong một thời gian dài hoặc trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những bước phát triển trong kiến trúc, nghệ thuật tượng đài hoặc quy hoạch thành phố và thiết kế cảnh quan; hoặc

(iii) là minh chứng độc đáo hoặc chí ít cũng là hiếm có cho truyền thống văn hóa hoặc cho một nền văn minh còn đang tồn tại hoặc đã mất; hoặc

(iv) là một mẫu hình nổi bật của một loại công trình xây dựng hoặc quần thể kiến trúc hay cảnh quan minh họa cho một (các) giai đoạn trong lịch sử loài người; hoặc

(v) là một mẫu hình nổi bật về nơi sinh sống truyền thống hoặc sử dụng đất đai của con người đại diện cho một (hoặc nhiều) nền văn hóa, đặc biệt khi nó trở nên dễ bị tổn thương do tác động của những biến đổi không cưỡng lại được; hoặc

Trang 25

(vi) liên quan trực tiếp hoặc đích thực tới các sự kiện hay truyền thống đang còn tồn tại, với những ý tưởng hoặc niềm tin, với các tác phẩm nghệ thuật hoặc văn học có ý nghĩa toàn cầu nổi bật (tiêu chuẩn này chỉ được xem xét trong những hoàn cảnh đặc biệt hoặc liên quan đến các tiêu chí văn hóa hoặc thiên nhiên khác khi Ủy ban xem xét có đưa vào danh sách Di sản thế giới hay không)" [1, tr.17]

- Tiêu chí một tài sản thiên nhiên là một di sản thế giới [1]

“Các đặc trưng tự nhiên bao gồm thành tạo hoặc các nhóm thành tạo vật lý hoặc sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; các thành tạo địa chất hoặc địa văn và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi sinh của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo toàn; các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới được xác định chính xác có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tự nhiên” Một tài sản

thiên nhiên - như đã định nghĩa trên - khi được đệ trình để đưa vào danh sách Di sản thế giới, sẽ được coi là “có giá trị toàn cầu nổi bật” theo mục tiêu của Công ước nếu

Ủy ban thấy chúng đáp ứng một hay nhiều tiêu chí sau đây, và đáp ứng đầy đủ những điều kiện toàn vẹn dưới đây Do đó, các khu được đệ trình cần phải:

"(i) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các giai đoạn lớn của lịch sử trái đất, bao gồm hồ sơ về sự sống, các tiến trình địa chất có ý nghĩa đang diễn ra trong sự phát triển của địa hình hoặc các đặc điểm địa mạo hay địa văn có ý nghĩa; hoặc

(ii) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các quá trình sinh thái và sinh học đang diễn ra trong sự tiến hóa và phát triển của các hệ sinh thái đất, nước ngọt, vùng duyên hải ven biển và của các cộng đồng động thực vật; hoặc

(iii) chứa đựng những hiện tượng tự nhiên siêu phàm hoặc những khu vực có

vẻ đẹp tự nhiên kiệt xuất có tầm quan trọng về thẩm mỹ, hoặc

(iv) chứa đựng những khu cư trú tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với việc bảo toàn tại chỗ tính đa dạng sinh học, bao gồm cả các loài có giá trị toàn cầu nổi bật có nguy cơ tuyệt chủng theo quan điểm khoa học và bảo toàn".[4, tr.17,18]

Trang 26

1.1.1.3 Phân loại, phân cấp quản lí di sản ở Việt Nam

Theo Điều 29, luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10, Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (gọi là di tích) được chia thành: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích cấp quốc gia đặc biệt

Di sản thế giới tại Việt Nam sẽ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay

là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) lập hồ sơ di tích tiêu biểu của Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét Hồ sơ này phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia [30]

Đối với các di sản, Bộ Văn hóa - Thông tin có trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Đồng thời, Chính phủ cũng quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm

vụ và quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của chính phủ [30] (Điều 55, Chương V, Mục 1, Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10) Đối với các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong quá trình thăm dò hoặc cá nhân, tổ chức tìm kiếm được, sẽ phải giao nộp và tạm nhập vào kho bảo quản của bảo tàng cấp tỉnh nơi phát hiện ra Bảo tàng cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và báo cáo cho Bộ Văn hóa - Thông tin

Các cơ quan chức năng trong việc quản lý di sản cần phải thực hiện các nhiệm vụ nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị to lớn của các di sản Việc xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, giải pháp quản lý; thực hiện đầu tư, tu bổ, tôn tạo các công trình phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản, cùng với các ngành, địa phương có liên quan thẩm định, trình ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt các dự án, chương trình phát triển kinh tế xã hội trên khu vực di sản theo quy định Nhằm góp phần quảng bá hình ảnh cũng như là những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam ra trường quốc tế

Trang 27

1.1.2 Du lịch

1.1.2.1 Khái niệm về du lịch

Thực tế hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ thời kì cổ đại với một số nền văn hóa lớn như Ai Cập, Hi Lạp Tuy nhiên đó chỉ là những hoạt động mang tính tự phát Đến thế kỉ thứ XVII, thời kì Phục hưng ở các nước Châu Âu, kinh tế xã hội đã khá phát triển, các lĩnh vực thông tin, giao thông vận tải theo đó cũng phát triển nhanh chóng, điều đó đã thúc đẩy du lịch phát triển Đến thời kì hiện đại, cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch có điều kiện phát triển mạnh mẽ Đồng thời trong thời đại công nghiệp hiện nay, con người phải làm việc nhiều với các loại máy móc, máy tính, bó hẹp trong không gian văn phòng nên nhu cầu đi du lịch càng lớn nhằm có những thời gian nghỉ ngơi, thư giãn Như vậy du lịch

đã dần trở thành một hoạt động quen thuộc trong đời sống của con người, đồng thời ngày càng phát triển phong phú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Thuật ngữ “du lịch” ngày nay được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến trên thế giới Tuy nhiên còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này

Theo một số nhà nghiên cứu, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “tonos” nghĩa

là đi một vòng Thuật ngữ này được La tinh hóa thành “turnur” và sau đó thành

“tour” (theo tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều quốc gia đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số ý kiến khác lại không cho rằng thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ Hi Lạp mà là từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới Nhìn chung trên thế giới chưa có một sự thống nhất, đồng nhất quan điểm về thuật ngữ này nhưng một điểm khá chắc chắn rằng thuật ngữ này được bắt nguồn từ chuyến đi đến một nơi nào đó và có sự quay trở lại Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải nghĩa theo âm Hán - Việt: “du” nghĩa

là đi chơi, “lịch” có nghĩa là sự từng trải

Trang 28

Năm 1811, định nghĩa về du lịch xuất hiện đầu tiên tại nước Anh: “Du lịch là

sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Quan niệm này cho thấy còn khá đơn giản và động cơ cho hoạt động

du lịch chỉ có mục tiêu giải trí

Hai học giả Huziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lí thuyết về

cung - cầu du lịch đã đưa ra định nghĩa: “du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [21] So với các quan niệm trước đó, quan niệm của

Huziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch Song quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và các hiện tượng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,…)

Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về thống kê Du lịch

cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm" [21]

Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác”

Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Pháp lệnh Du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”.[21]

Trang 29

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch, đầu tiên là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,… Thứ hai là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và lao động dịch vụ tại chỗ Hầu như nước nào cũng coi trọng phát triển hoạt động du lịch Nói chung trên thế giới, du lịch ra nước ngoài có xu hướng phát triển nhanh Việt Nam

là nước có tiềm năng du lịch rất lớn

Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch

Theo Điểm 4, Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam (2005):

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử

- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác

có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [32]

1.1.2.3 Khách du lịch

Có nhiều người đã nghiên cứu và đưa ra những ý kiến khác nhau về khái niệm “khách du lịch” Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp: “khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành trình lớn” (cuộc hành trình dọc theo Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgone)

Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa: “khách

du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”

Trang 30

Theo Khadginicolov (Bungari) “Khách du lịch là người hành trình tự nguyện, với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”

Như vậy, có nhiều ý kiến, quan điểm về khách du lịch Tuy nhiên, về cơ bản chúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm Một số mới chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, hoặc bóc tách du lịch khỏi các chức năng kinh tế - xã hội,

Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (năm 1989) đã đưa ra quan niệm:

“khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà học cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là thăm quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải rời khỏi nước đến thăm quan để về nước thường trú của mình hoặc đi đến một số nước khác”.[21]

Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống kê Liên hiệp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:

- Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm:

+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia

+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia

đó đi du lich trong nước

+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến

+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài

Trang 31

Hiện nay, trong các thống kê của Việt Nam: Khách du lịch là những người đi

ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục, với mục đích chính của chuyến đi là tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến Khái niệm khách du lịch này được áp dụng cho cả khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và áp dụng cho cả

khách du lịch đi trong ngày và đi dài ngày có ngủ qua đêm [13]

Khách du lịch quốc tế được hiểu là khách đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến một nước khác trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm thu được thù lao ở nơi đến

Khách du lịch quốc tế không bao gồm các trường hợp sau:

- Những người đến và sống như một người cư trú ở nước đó, kể cả những người đi theo sống dựa vào họ

- Những người dân lao động cư trú ở vùng biên giới của một nước, nhưng lại lao động ở nước khác đi lại hằng ngày

- Những nhân viên đại sứ quán, tham tán, các tùy viên quân sự đi nhận nhiệm

vụ ở các nước và cả những người đi theo sống dựa vào họ

- Những người đi tị nạn hoặc du mục

- Những người quá cảnh không vào trong nước, chỉ chờ để chuyển máy bay

ở sân bay, hoặc phương tiện khác trong thời gian rất ngắn tại nhà ga, sân bay, bên tàu, bến cảng,

Khách du lịch trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng cùng với các mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các công việc nhằm thu được thù lao ở nơi đến

Khách du lịch trong nước không bao gồm các trường hợp sau đây:

- Những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình với mục đích thường trú ở nơi đến

- Những người đi đến một nơi khác trong nước với mục đích để tiến hành các hoạt động nhận thù lao ở nơi đến

- Những người đến và làm việc tạm thời ở nơi đó

Trang 32

- Những người đi thường xuyên hoặc theo thói quen giữa các vùng lân cận để học tập, nghiên cứu

- Những người du mục và những người không cư trú cố định

- Những chuyến đi diễn tập của các lực lượng vũ trang

Có thể thấy, quan niệm về khách du lịch ít nhiều có những điểm khác nhau, song nhìn chung chúng đều đề cập đến: động cơ khởi hành, yếu tố thời gian, và những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và những đối tượng không được liệt

kê là khách du lịch

Ở nước ta, theo luật du lịch Việt Nam (năm 2005), tại điều 4, chương I:

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc ngành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

Tại điều 34, chương V quy định: “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa

Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình”.[22]

Theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn như cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [32]

Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Điểm chung nhất của sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi ta mua sắm một hàng hóa vật chất, mà ở đây sự hài lòng là do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong kí ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch

Trang 33

Sản phẩm du lịch bao gồm hai bộ phận: Dịch vụ du lịch và Tài nguyên du lịch

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

- Dịch vụ du lịch gồm có: Dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, dịch vụ thông tin - hướng dẫn, dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung

- Tài nguyên du lịch gồm có: Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn

Sản phẩm về du lịch về cơ bản không phải là cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật chất Thực chất, sản phẩm du lịch là một kinh nghiệm du lịch được tích lũy được qua quá trình thực hiện du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách cũng như là tăng cao doanh thu du lịch Do vậy, việc đánh giá và kiểm tra chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, vì thường mang tích chất chủ quan và phần lớn không phụ thuộc và chủ kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch Chất lượng sản phẩm

du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch

Sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt của du khách (nhu cầu thưởng thức cái đẹp, nhu cầu tìm hiểu giá trị văn hóa, ) Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có những hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ăn ở,

đi lại của con người, nhưng mục đích chính của chuyến đi không nhằm vào ăn ở,

mà là để giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết, Vì vậy, cần phải chú trọng vào nhu cầu của khách du lịch để họ thấy hài lòng

Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn liền với yếu tố tự nhiên nên không thể dịch chuyển được Trên thực tế, không thể mang sản phẩm du lịch đến nơi của du khách, mà du khách phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn các nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch Đặc điểm này là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm

Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó, sản phẩm du lịch không thể cất đi, không thể dự trữ được như các mặt hàng khác Khi một buồng khách sạn không được thuê trong một đêm thì

Trang 34

khách sạn sẽ bị mất doanh thu chứ không thể cất chúng vào kho lưu trữ để cộng thêm vào số buồng cho thuê vào buổi hôm sau được Do vậy, để tạo ra sự nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch

Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Đây là hiện tượng lúc thì cung không thể đáp ứng cầu, lúc thì cầu lại vượt quá cung Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ôn định trong thời gian dài còn lượng cầu của khách

du lịch thì thường xuyên thay đổi, dẫn đến sự chênh lệch giữa cung và cầu

Ngoài mục đích du lịch thuần túy cũng có nhiều cuộc hành trình tham quan

vì các lý do khác nhau như học tập, tôn giáo, hội nghị Trong cuộc hành trình này,

họ sử dụng các dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống, tham quan, nghỉ ngơi Về cơ bản có các loại hình du lịch kết hợp sau:

Trang 35

+ Du lịch tôn giáo là một hình thức du lịch tâm linh

+ Du lịch học tập, nghiên cứu là loại hình du lịch ngày càng phổ biến do nhu cầu kết hợp lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành

+ Du lịch thể thao kết hợp

+ Du lịch công vụ

+ Du lịch chữa bệnh

+ Du lịch thăm thân

* Phân loại theo tài nguyên du lịch

Theo tài nguyên du lịch, du lịch được phân loại thành hai hình thức cơ bản

- Du lịch văn hóa, theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại Điều

4, Chương I “là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [32]

Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa - lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật thể thao

- Du lịch sinh thái, theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại Điều

4, Chương I “là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [32] Địa điểm

tổ chức du lịch sinh thái thường là những khu vực có hệ sinh thái tương đối hoang

sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng, bản văn hóa

* Phân loại theo lãnh thổ hoạt động

- Du lịch trong nước là tất cả hoạt động phục vụ cho nhu cầu du khách ở trong nước đi nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi đất nước mình, chi phí bằng tiền nội tệ

- Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà trong quá trình thực hiện có sự giao tiếp với nước ngoài, một trong hai phía hoặc là du khách hoặc là nhà cung ứng dịch

vụ du lịch, phải sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp Về mặt không gian, du khách phải ra khỏi đất nước mình Về mặt kinh tế, phải có sự thanh toán bằng ngoại tệ Du lịch quốc tế được chia thành hai loại:

Trang 36

+ Du lịch quốc tế chủ động (du lịch đón khách) là loại hình du lịch quốc tế, đón tiếp khách nước ngoài đến nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở đất nước của cơ quan cung ứng dịch vụ du lịch, nghĩa là nước này chủ động đón khách

và thu ngoại tệ

+ Du lịch quốc tế bị động (du lịch gửi khách) là loại hình du lịch quốc tế đưa khách từ trong nước đi du lịch nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở nước ngoài, nghĩa là nước này gửi khách đi du lịch sang nước khác và phải mất một khoản ngoại tệ

* Phân loại theo vị trí địa lý

- Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao biển Loại hình này thường có tính mùa vụ rõ rệt nên thường được tổ chức vào mùa nóng với nhiệt độ nước biển và không khí trên 200C

- Du lịch núi là loại hình du lịch gắn liền với các khu vực có địa hình cao Hoạt động du lịch ở đây thuận lợi để nghỉ mát vào mùa hè ở các nước nhiệt đới và nghỉ đông

ở các nước xứ lạnh với nhiều hoạt động thể thao (trượt tuyết, trượt băng )

- Du lịch đô thị là loại hình du lịch mà điểm đến thường là các thành phố, các trung tâm kinh tế với nhiều công trình kiến trúc lớn, khu thương mại, đầu mối giao thông, công viên giải trí

- Du lịch đồng quê thường diễn ra ở những nơi có không khí trong lành, yên tĩnh, thanh bình và thoáng mát

* Phân loại theo thời gian của cuộc hành trình (độ dài chuyến đi)

- Du lịch ngắn ngày là loại hình du lịch thường kéo dài từ 1 - 3 ngày (hoặc dưới 1 tuần), tập trung vào những ngày cuối tuần Loại hình này thích hợp với các đối tượng du khách ít thời gian, du khách tham quan với gia đình vào cuối tuần

- Du lịch dài ngày là loại hình du lịch thường gắn với các kỳ nghỉ kéo dài từ vài tuần đến một năm ở các địa điểm cách xa nơi ở của khách, kể cả trong nước và ngoài nước

* Phân loại theo việc sử dụng các phương tiện giao thông

- Du lịch xe đạp là loại hình sử dụng phương tiện chính là xe đạp, là loại hình phổ biến ở các nước phát triển và thường kết hợp với du lịch thể thao

Trang 37

- Du lịch ô tô là loại hình du lịch phổ biến và chiếm ưu thế so với các phương tiện khác Đặc điểm của loại hình du lịch này là giá rẻ, dễ tiếp cận với các điểm du lịch

- Du lịch máy bay là một trong những loại hình du lịch hiện đại, có thể đáp ứng nhu cầu của khách đến các vùng xa xôi

- Du lịch tàu hỏa là loại hình du lịch phổ biến của nhiều du khách với ưu điểm giá thành rẻ, có thể tranh thủ tham quan ngắm cảnh trên đường, tiết kiệm thời gian

- Du lịch tàu thủy là loại hình chủ yếu phát triển ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, loại hình du lịch này có giá thành cao và không thích hợp với những người có vấn đề sức khỏe

* Phân loại theo hình thức tổ chức

- Du lịch có tổ chức theo đoàn là loại hình du lịch có sự chuẩn bị chương trình từ trước hay thông qua các tổ chức du lịch

- Du lịch cá nhân là hoạt động du lịch do cá nhân tự quyết định chuyến đi, kế hoạch lưu trú, địa điểm ăn uống

- Du lịch gia đình là loại hình du lịch do các gia đình tự tổ chức hoặc thông qua các công ty cung cấp dịch vụ trong thời gian sao cho phù hợp với công việc và thu nhập của mình

Ngoài các cách phân loại như trên, người ta còn sử dụng các cách phân loại như: theo lứa tuổi - đối tượng khách (du lịch thiếu nhi, học sinh; du lịch thanh niên;

du lịch lớn tuổi; du lịch tuần trăng mật ); theo phương thức hợp đồng (du lịch trọn gói, du lịch từng phần ); theo địa điểm lưu trú (du lịch ở khách sạn, du lịch ở lều trại; làng du lịch),

1.1.3 Vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch

Có thể nói những di sản là một tiềm lực kinh tế hay là một nguồn lực phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với ngành du lịch Khi mà ngành du lịch đang ngày càng chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế quốc dân ở các nước đã và đang phát triển trên thế giới thì di sản đóng một vai trò khá quan trọng

Khi mà đời sống của con người hiện nay đang dần bó hẹp trong không gian văn phòng, quanh bốn bức tường việc nhằm giải tỏa, thư giãn đầu óc chính là đi du lịch Du lịch ngày nay đã và đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng

Trang 38

trong đời sống của nhân loại Có thể có nhiều yếu tố làm nên hiện tượng quan trọng này, song một điều khó có thể phủ nhận rằng di sản là một trong những yếu tố chiếm vị trí quan trọng hàng đầu Sự khao khát khám phá, tìm tiếm về tính đa dạng của thế giới, nhu cầu tiếp xúc và giao lưu văn hóa, nhu cầu đổi mới không gian tồn tại quen thuộc, cũng như nhu cầu giải trí tích cực để nâng cao sức khỏe về thể chất

và tinh thần, là động lực thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động du lịch

Trong hoạt động du lịch cùng với các dịch vụ du lịch, các di sản, đặc biệt là các DSVH góp phần tạo sự hiểu biết lẫn nhau và các quan hệ kinh tế giữa các nước Để hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp nước bạn cần phải tìm hiểu về những nét văn hóa, về tâm hồn, tính cách, truyền thống của một dân tộc để lựa chọn đối tác Và DSVH là một nguồn cung cấp thông tin khá quan trọng và đáng tin cậy đối với họ Thực tế Việt Nam cho thấy, mỗi năm nước ta đón nhận hàng triệu lượt khách quốc tế, trong đó có rất nhiều nhà doanh nghiệp, nhà đầu tư và các nhà nghiên cứu văn hóa, kinh tế, ngoại giao, Qua các bảo tàng, những di tích văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, không những tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch mà đồng thời sẽ trở thành chiếc cầu nối mở rộng hợp tác với các quốc gia trên thế giới

Giữa du lịch và các di sản thiên nhiên, văn hóa luôn có mối liên hê mật thiết, tương tác, hỗ trợ cho nhau Khai thác các thế mạnh của di sản để phát triển du lịch

và khi du lịch phát triển sẽ có tác dụng góp phần bảo tồn và phát huy những di sản, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về di sản, di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam

1.2.1.1 Di sản thế giới tại Việt Nam

Danh sách di sản thế giới bao gồm: Di sản thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa thế giới và di sản hỗn hợp Một số danh hiệu khác do UNESCO công nhận như: di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và di sản tư liệu thế giới cũng được thống kê vào danh sách này mặc dù nó không được công nhận bởi

Ủy ban di sản thế giới

Trang 39

Bảng 1.1 Di sản thế giới tại Việt Nam

2000

2 VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Di sản thiên nhiên 2003

3 Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) Công viên địa chất Toàn cầu 2010

4 Quần thể di tích Cố Đô Huế Di sản văn hóa 1993

7 Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành

9 Quần thể danh thắng Tràng An Di sản hỗn hợp 2014

10 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Di sản văn hóa phi vật thể 2012

11 Nhã nhạc - Âm nhạc Cung đình

Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể 2003

12 Không gian văn hóa Cồng Chiêng

Tây Nguyên Di sản văn hóa phi vật thể 2005

13 Ca Trù Di sản văn hóa phi vật thể 2009

14 Quan họ Bắc Ninh Di sản văn hóa phi vật thể 2009

15 Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc Di sản văn hóa phi vật thể 2010

16 Hát Xoan ở Phú Thọ Di sản văn hóa phi vật thể 2011

17 Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam Bộ Di sản văn hóa phi vật thể 2013

18 Ví, dặm Nghệ Tĩnh Di sản văn hóa phi vật thể 2014

19 Bia đá các khoa thi tiến sĩ Triều Lê và

20 Mộc bản Triều Nguyễn Di sản tư liệu 2009

21 Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc

Lâm Chùa Vĩnh Nghiêm Di sản tư liệu 2012

22 Châu bản Triều Nguyễn Di sản tư liệu 2014

(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)

Trang 40

Các di sản này không chỉ là minh chứng cho một đất nước Việt Nam tươi đẹp, đa dạng về phong cảnh thiên nhiên; giàu đẹp, phong phú về bản sắc văn hoá dân tộc; Có bề dày chiều sâu lịch sử, mà còn là những điểm đến thu hút nhiều khách

du lịch trong nước và quốc tế

1.2.1.2 Các di tích quốc gia đặc biệt

Tính đến thời điểm hết năm 2013, Nước ta có 48 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng chính phủ quyết định thông qua 4 đợt xếp hạng Trong đó, Hà Nội

là địa phương sở hữu 9 di tích quốc gia đặc biệt, tiếp đó là Quảng Ninh với 4 di tích quốc gia đặc biệt Dưới đây là bảng danh sách các di tích quốc gia đặc biệt được tác

giả tổng hợp từ 4 văn bản “Quyết định về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt”

được Thủ Tướng chính phủ phê duyệt vào năm 2009, 2012 và 2013

Bảng 1.2 Danh sách di tích quốc gia đặc biệt

1 Khu trung tâm Hoàng Thành

Thăng Long Hà Nội Lịch sử và khảo cổ 8/2009

2 Quần thể kiến trúc

Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật 8/2009

3 Khu Đền tháp Mĩ Sơn Quảng

Nam

Kiến trúc nghệ thuật 8/2009

4 Đô thị cổ Hội An Quảng

Nam

Kiến trúc nghệ thuật 8/2009

Ninh

Danh lam thắng cảnh 8/2009

6 VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Quảng

Bình

Lịch sử và danh lam thắng cảnh 8/2009

8 Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ

Chí Minh tại Phủ Chủ tịch Hà Nội Lịch sử 8/2009

9 Chiến trường Điện Biên Phủ Điện Biên Lịch sử 8/2009

Bình

Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật 5/2012

12 Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội Lịch sử và kiến

trúc nghệ thuật 5/2012

Ngày đăng: 19/11/2015, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Di sản thế giới tại Việt Nam - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 1.1. Di sản thế giới tại Việt Nam (Trang 39)
Bảng 1.2. Danh sách di tích quốc gia đặc biệt  STT  Tên di tích  Tỉnh  Loại hình di tích  Năm - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 1.2. Danh sách di tích quốc gia đặc biệt STT Tên di tích Tỉnh Loại hình di tích Năm (Trang 40)
Bảng 2.1. Số lƣợng khách du lịch đến thăm quan Vịnh Hạ Long - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 2.1. Số lƣợng khách du lịch đến thăm quan Vịnh Hạ Long (Trang 70)
Bảng 2.2. Số lƣợng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 2.2. Số lƣợng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long (Trang 71)
Bảng 2.5. Các tuyến tham quan Vịnh Hạ Long - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 2.5. Các tuyến tham quan Vịnh Hạ Long (Trang 73)
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện lƣợng khách du lịch đến Yên Tử - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện lƣợng khách du lịch đến Yên Tử (Trang 77)
Bảng 3.1. Các dự án quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 3.1. Các dự án quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị (Trang 96)
Bảng 1: Thống kê nhân lực phân theo trình độ chuyên môn và - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 1 Thống kê nhân lực phân theo trình độ chuyên môn và (Trang 116)
Bảng 2: Bảng giá cước vận chuyển tham quan Vịnh Hạ Long - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 2 Bảng giá cước vận chuyển tham quan Vịnh Hạ Long (Trang 119)
Bảng 4: Thời gian đón khách trên Vịnh Hạ Long - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 4 Thời gian đón khách trên Vịnh Hạ Long (Trang 119)
Bảng 5:  Huy động vốn đầu tư cho ngành du lịch - Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh
Bảng 5 Huy động vốn đầu tư cho ngành du lịch (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w