1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại

109 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Nhà nước rất khuyến khích và tạo điều kiện để mọi người phát triển nghề nghiệp, điều này đã được quy định rất rõ trong Bộ luật Lao Động của nước Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LÊ VIỆT ANH

PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG

DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VIỆT ANH

PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG

DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TRỌNG XUÂN

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập

của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân

Các số liệu, kết quả nêu trong bản luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích

dẫn rõ ràng

Tác giả luận văn

Lê Việt Anh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân - Người trực tiếp hướng dẫn

khoa học và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Việt Anh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG, HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Đóng góp của đề tài luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ 4

1.1 Cơ sở lý luận về nghề và công tác đào tạo nghề 4

1.1.1 Khái niệm nghề 4

1.1.2 Đặc trưng của nghề 5

1.1.3 Khái niệm đào tạo 6

1.1.4 Khái niệm đào tạo nghề 6

1.1.5 Phân loại đào tạo nghề 7

1.1.6 Các hình thức đào tạo nghề 9

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề của một trường 12

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài 12

1.2.2 Các yếu tố bên trong 18

1.3 Vai trò của đào tạo nghề 30

1.3.1 Về mặt kinh tế 30

1.3.2 Về mặt xã hội 31

1.3.3 Về mặt văn hoá 31

1.3.4 Về mặt trật tự, an toàn xã hội 33

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4 Kinh nghiệm về phát triển công tác đào tạo nghề trên thế giới và ở

Việt Nam 34

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển đào tạo nghề trên thế giới 34

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển công tác đào tạo nghề tại Việt Nam (kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An) 36

1.4.3 Kinh nghiệp phát triển công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Nghề du lịch và dịch vụ Hải Phòng 44

Tiểu kết Chương 1 45

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 Câu hỏi nghiên cứu: 46

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 46

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu /thông tin /dữ liệu 46

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 47

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 47

2.2.4 48

2.3 Các chỉ tiêu sử dụng đánh giá hoạt động đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 49

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI 50

3.1 Giới thiệu chung về Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 50

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường 50

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 51

3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 51

3.1.4 Quy mô, cơ cấu đội ngũ giáo viên của Nhà trường 54

3.2 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 58

3.2.1 Thực trạng quy mô, cơ cấu đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 58

3.2.2 Kết quả học tập của học sinh 62

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2.3 Tỷ lệ học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp 63

3.2.4 Tỷ lệ học sinh có việc làm ổn định 64

3.2.5 Tỷ lệ học sinh được doanh nghiệp đặt hàng 65

3.2.6 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nghề của Nhà trường 66

3.3 Đánh giá chung 68

3.3.1 Ưu điểm 68

3.3.2 Hạn chế 69

3.3.3 Nguyên nhân 69

Tiểu kết chương 3 71

Chương 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI 73

4.1 Dự báo nhu cầu lao động được đào tạo nghề lĩnh vực du lịch trong thời kỳ 2016-2020 và tầm nhìn 2030 73

4.2 Mục tiêu của công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 75

4.2.1 Mục tiêu chung 75

4.2.2 Các mục tiêu cụ thể 75

4.3 Một số giải pháp nhằm phát triển công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 76

4.3.1 Hoàn thiện xây dựng nội quy, quy chế của Nhà trường 76

4.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý 79

4.3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 83

4.3.4 Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và Doanh nghiệp 86

4.3.5 Hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng dạy nghề 91

Kết luận chương 4 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CĐN : Cao đẳng nghề CNKT : Công nhân kỹ thuật CSDN : Cơ sở dạy nghề CSVC : Cơ sở vật chất ĐTN : Đào tạo nghề GTVT : Giao thông vận tải GVDN : Giáo viên dạy nghề HSSV : Học sinh sinh viên KCN : Khu công nghiệp KTCN : Kỹ thuật công nghiệp KT-XH : Kinh tế - xã hội TB&XH : Thương binh xã hội TCN : Trung cấp nghề XKLĐ : Xuất khẩu lao động

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Bảng:

Bảng 3.1: Số lượng, cơ cấu lực lượng lao động của Trường theo trình độ 55

Bảng 3.2: Số lượng giáo viên cơ hữu của Trường theo ngành đào tạo 57

Bảng 3.3: Quy mô tuyển sinh của Nhà trường qua các năm 58

Bảng 3.4: Quy mô đào tạo nghề qua các năm 59

Bảng 3.5: Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo của Trường năm 2014 60

Bảng 3.6: Kết quả tốt nghiệp qua các năm học 62

Bảng 3.7: Tỷ lệ học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp 63

Bảng 3.8: Tỷ lệ học sinh có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp 64

Bảng 3.9: Tỷ lệ học sinh được doanh nghiệp đặt hàng 65

Bảng 3.10: Ý kiến của doanh nghiệp về chất lượng lao động 67

Hình: Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại 53

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tế tại Việt Nam trong những năm gần đây đang có sự dịch chuyển đáng kể lực lượng lao động từ nông nghiệp, nông thôn sang làm việc ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Đó chính là cơ sở của thực trạng lao động trong công nghiệp vẫn chủ yếu là lao động phổ thông, mới chỉ tham gia vào quá trình lao động đơn giản trong các nhà máy nên năng suất lao động còn thấp, thu nhập của người lao động chưa đảm bảo ổn định được cuộc sống Mặt khác, sự yếu kém về lao động lành nghề, lao động qua đào tạo đã ảnh hưởng xấu đến sự phát triển Hải Dương là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng Bắc

Bộ, có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế Hiện tại, toàn tỉnh đã quy hoạch, triển khai và đưa vào khai thác sử dụng 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719 ha Công suất khai thác các khu công nghiệp ước đạt trên 70%, tương đương số vốn trên 350 triệu USD và thu hút hàng trăm ngàn lao động từ các địa phương trong và ngoài tỉnh

Trong định hướng phát triển, Hải Dương ra sức thực hiện các kế hoạch, chỉ tiêu đặt ra để trở thành một tỉnh công nghiệp Vì vậy, nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho các khu công nghiệp, hiện đại hoá nông thôn và cho các làng nghề rất lớn và cấp thiết Đồng thời, đào tạo nghề để giải quyết việc cho

số lao động của các địa phương trong diện thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp cũng đang được tỉnh quan tâm và là nỗi bức xúc của mỗi địa phương

và người lao động

Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại là cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ Công Thương đóng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, có nhiệm vụ đào tạo nhân lực ở các trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp gồm cả hệ chính quy và hệ nghề, đáp ứng nhu cầu nhân lực thuộc lĩnh vực kinh doanh du lịch, thương mại cho nhu cầu xuất khẩu lao động, khu vực đồng bằng sông

Trang 12

Hồng và tỉnh Hải Dương Đến thời điểm hiện nay, Nhà trường đã có bề dày đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng trên 50 năm Hằng năm, Nhà trường cung cấp cho thị trường từ 200 đến 300 lao động có tay nghề ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề Với số lượng và cơ cấu học sinh sinh viên được đào tạo nghề ra trường hằng năm, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho thị trường lao động Chính vì những lý do trên

mà em chọn vấn đề: “Phát triển công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng

Du lịch và Thương mại” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề xuất các biện pháp cụ thể, phù hợp nhằm phát triển công tác đào tạo nghề của Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu nhân lực lĩnh vực kinh doanh du lịch, dịch vụ, thương mại cho tỉnh Hải Dương, khu vực đồng bằng sông Hồng và cho nhu cầu xuất khẩu lao động

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác phát triển đào tạo nghề; Nghiên cứu một vài bài học thực tiễn về công tác đào tạo nghề của một quốc gia và một địa phương có hoạt động đào tạo nghề phát triển

Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo nghề của Trường Cao đẳng

Du lịch và Thương mại, tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác đào tạo nghề của Nhà trường

Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công tác đào tạo nghề của Nhà trường và các biện pháp cụ thể để thực thi các giải pháp đã đề xuất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Công tác đào tạo nghề

Về thời gian: Thời gian: Giai đoạn từ năm 2010 đến nay

Về không gian: Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại

4 Đóng góp của đề tài luận văn

Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du lịch

và Thương mại, chỉ ra được điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác đào tạo nghề, trên cơ sở đó đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển công tác đào tạo nghề cho Nhà trường

5 Kết cấu của luận văn

Lời mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng Du

lịch và Thương mại

Chương 4: Giải pháp phát triển công tác đào tạo nghề tại Trường Cao

đẳng Du lịch và Thương mại

Kết luận

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Cơ sở lý luận về nghề và công tác đào tạo nghề

1.1.1 Khái niệm nghề

Nói đến khái niệm nghề, có rất nhiều cách thức tiếp cận khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao động trong xã hội”

Với cách tiếp cận này, mỗi người trong hệ thống phân công lao động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi lặp lại thường xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc

đó không hoặc ít thay đổi, và nó được hiểu là nghề

Nghề, cũng có thể được hiểu là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định1

Như vậy, nghề là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động trong xã hội Để có thể làm được một nghề, người lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo Thông qua quá trình lao động của mỗi người lao động đối với nghề của mình, họ sẽ hoàn thành công việc mà nghề đó yêu cầu, từ đó tạo ra được những sản phẩm vật chất và tinh thần, phục vụ cho bản thân họ, cho gia đình họ và cho toàn xã hội

Tóm lại, nghề là tổng hợp những kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong công việc

1

Giáo trình kinh tế lao động trang 55- Phạm Đức Thành và Mai Văn Chánh

Trang 15

1.1.2 Đặc trưng của nghề

Đã là nghề, cho dù được hiểu theo cách thức như thế nào thì nó cũng có những đặc trưng cơ bản như sau:

• Là một công việc chuyên làm

• Là phương tiện sinh sống gắn với cả cuộc đời hoặc phần lớn cuộc đời của người lao động

• Bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay

▪ Phù hợp với yêu cầu của xã hội

• Có rất nhiều nghề, giữa các nghề có thể có mối quan hệ với nhau, cũng có thể chúng độc lập với nhau

Có thể nói, nghề gắn liền với kiến thức và kinh nghiệm, nói đến một nghề là phải nói đến hiểu biết và sự thành thạo của người lao động đối với công việc của nghề Những kiến thức và kinh nghiệm đó không phải tự nhiên

có được mà là do kết quả của đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm

Nói đến nghề, là nói đến một hoặc một số những công việc nào đó trong hệ thống phân công lao động xã hội, nhưng nói đến nghề nghiệp, là nói đến một cái gì đó rất cụ thể, bởi vì đó là nghề của một người lao động Với nghề này, người lao động đó đang thực hiện những nội dung công việc cụ thể, đem kiến thức và kỹ năng của họ thực hiện công việc, tạo ra của cải vật chất

và tinh thần

Hiện nay, Nhà nước rất khuyến khích và tạo điều kiện để mọi người phát triển nghề nghiệp, điều này đã được quy định rất rõ trong Bộ luật Lao Động của nước Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam: “mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” (Điều 5- bộ Luật Lao động) “mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình” (Điều 20- bộ Luật Lao động)

Trang 16

Lựa chọn nghề nghiệp đúng sẽ là cơ sở quan trọng cho sự thành đạt của mỗi người lao động vì nó tạo ra sự cuốn hút, say mê trong quá trình làm việc

Xã hội có rất nhiều nghề và cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhiều ngành nghề mới sẽữ xuất hiện và cũng có những ngành nghề sẽ phải mất đi; nghề đang làm trong hiện tại là phù hợp, nhưng không thể nói trước được rằng nó vẫn còn là phù hợp trong tương lai Điều đó cũng góp phần giải thích vì sao nhiều người phải chuyển nghề sau một thời gian làm việc hoặc phải đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề của bản thân

1.1.3 Khái niệm đào tạo

Là quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiêp) cần thiết

Đào tạo cũng có thể được hiểu là quá trình học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn

Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức và kỹ năng

mà mỗi cá nhân có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể nào

đó hoặc đào tạo nhấn mạnh vào mặt phát triển và rèn luyện năng lực, tạo tiền đề

để cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả

1.1.4 Khái niệm đào tạo nghề

Với cách tiếp cận về nghề và đào tạo nghề như trên, ta có thể hiểu:

“Đào tạo nghề là quá trình có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó, từ đó tạo ra năng lực để thực hiện thành công nghề đã được đào tạo”

Thông qua quá trình đào tạo nghề, học sinh sẽ được học hệ thống những kiến thức (hiểu biết) về lý thuyết cần thiết của nghề, được thực hành

Trang 17

trong thực tế để hình thành kỹ năng, kỹ xảo của nghề, đồng thời họ còn được giáo dục và phát triển cả thái độ, ý thức đối với nghề trong tương lai của bản thân họ Sau khoá học đào tạo nghề này, người lao động sẽ nắm vững một nghề, một chuyên môn, quá trình đào tạo nghề sẽ được thực hiện với cả những người đã có nghề, có chuyên môn rồi hoặc học để làm nghề, chuyên môn khác

1.1.5 Phân loại đào tạo nghề

(1) Căn cứ thời gian đào tạo nghề

▪ Đào tạo ngắn hạn: có thể được thực hiện 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hoặc 1 năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với cơ

sở kinh doanh, dịch vụ và cơ sở giáo dục khác Quá trình đào tạo ngắn hạn tổ chức theo hình thức học lý thuyết và thực hành theo lớp, kèm cặp tại xưởng, tại nhà, lấy thực hành là chính, vừa học, vừa làm, chuyển giao công nghệ; đưa kiến thức khoa học, công nghệ mới và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Đào tạo nghề ngắn hạn dành cho những người có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học

Các khóa học ngắn hạn sẽ cung cấp đầy đủ các yêu cầu kỹ năng, kiến thức của một nghề nhưng ở trình độ thấp Bên cạnh đó, còn có các khoá học ngắn hạn chỉ cung cấp một phần nội dung của nghề nghiệp, hoặc chỉ có tác dụng bổ trợ Mỗi người có thể theo học nhiều khoá học ngắn hạn để tích luỹ dần kiến thức nghề nghiệp cho mình hoặc để bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới

Thông tin về các khoá học ngắn hạn này có thể thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên bảng thông báo ngay ở cơ sở đào tạo

▪ Đào tạo dài hạn: được thực hiện từ 1 đến 3 năm tại các trường dạy nghề, các trường trung học chuyên nghiệp, trường Cao đẳng, trường Đại học

có đủ điều kiện để tổ chức dạy nghề dài hạn Đào tạo dài hạn thường cung cấp đầy đủ kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện một nghề nào đó Sau khi kết

Trang 18

thúc khoá học dài hạn, người lao động sẽ cơ bản có đủ hành trang để khởi đầu nghề nghiệp của mình Đào tạo dài hạn có ưu điểm là tính liên tục cao nên người học có thể tiếp nhận các kiến thức, kỹ năng một cách hệ thống, bài bản

và cũng thuận lợi hơn khi muốn học tập để nâng cao trình độ

(2) Căn cứ trình độ đào tạo nghề

Trình độ đào tạo nghề là chuẩn mực kỹ thuật hoặc nghiệp vụ theo mức

độ khác nhau, được quy định theo các căn cứ khoa học thống nhất Bao gồm:

٭ Trình độ bán lành nghề: được trang bị một số kiến thức, kỹ năng nghề nhất đinh Tổ chức đào tạo cấp trình độ này nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành nghề giản đơn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi

cơ cấu lao động tại chỗ, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế gia đình và phát triển cơ hội có việc làm cho người lao động Tỷ trọng lao động được đào tạo ở cấp trình độ này sẽ giảm dần trong kế hoạch đào tạo, song vẫn chiếm phần lớn trong tổng số lao động được đào tạo hàng năm

٭ Trình độ lành nghề: người học được trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành chuyên sâu, giúp họ có khả năng đảm nhận được những công việc phức tạp Lao động được đào tạo ở cấp trình độ này chủ yếu để phục vụ nhu cầu sử dụng của các khu công nghiệp, khu chế xuất, những dây chuyền sản xuất sử dụng công nghệ cao, phục vụ nhu cầu xuất khẩu và chuyên gia

٭ Trình độ cao: không những người học có được hệ thống lý thuyết và

kỹ năng thực hành đầy đủ mà họ còn được tiếp cận với những khoa học mới, với công nghệ tiên tiến, hiện đại từ đó họ có thể thực hiện công việc trên những thiết bị mới, những công việc cần trình độ cao và sự khéo léo Theo yêu cầu phát triển của công nghệ sản xuất, theo xu hướng quốc tế, để hội nhập

và cạnh tranh trên thị trường lao động trong và ngoài nước, trong một số lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật ở bậc trung cấp và cao đẳng Vì

Trang 19

vậy, hệ thống đào tạo nghề cần sớm tổ chức đào tạo lai động ở cấp trình độ này với tỉ trọng ngày càng nhiều hơn

(3) Căn cứ thực tế đào tạo đối với người học (đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng cao)

Đào tạo mới: là quá trình đào tạo nghề cho những người chưa có nghề Đào tạo lại: đào tạo cho những người đã có nghề song vì một lý do nào đó nghề của họ không còn phù hợp nữa Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để đổi nghề Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, nhiều lĩnh vực kỹ thuật được tiếp cận với nhau để hình thành những kỹ thuật mới thì mặc dầu không thay đổi nghề, nhưng người lao động cũng cần được trang bị thêm về kiến thức và kỹ năng của một lĩnh vực chuyên môn mới

Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn

1.1.6 Các hình thức đào tạo nghề

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình thức đào tạo thích hợp Thực chất là tính toán hiệu quả kinh tế của các hình thức đào tạo, là so sánh giữa chi phí đào tạo với hiệu quả đem lại khi đào tạo Đây là vấn đề phức tạp Trong thực tế chưa có phương pháp tính toán thật chính xác Hiện nay mới chỉ có thể phân tích được những ưu và nhược điểm của các hình thức đào tạo Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện thực tế, có thể

áp dụng hình thức này hay hình thức khác Những hình thức đào tạo đang được áp dụng hiện nay là:

1* Đào tạo tại nơi làm việc

Đào tạo tại nơi làm việc là đào tạo trực tiếp, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất, do xí nghiệp tổ chức

Trang 20

Đào tạo tại nơi làm việc được tiến hành dưới hai hình thức: cá nhân và

tổ đội sản xuất Với đào tạo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công nhân

có trình độ lành nghề cao hướng dẫn Người hướng dẫn vừa sản xuất, vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức đào tạo theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề, thoát ly sản xuất chuyên trách hướng dẫn

Những công nhân dạy nghề phải có trình độ văn hoá, trình độ nghề nghiệp và có phương pháp sư phạm nhất định

Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước:

Phân công những công nhân có trình độ lành nghề cao vừa sản xuất, vừa hướng dẫn thợ học nghề Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất, vừa giảng cho người học nghề về cấu tạo máy móc, nguyên tắc vận hành, quy trình công nghệ, phương pháp làm việc Người học nghề theo dõi, quan sát những theo tác, động tác và phương pháp làm việc của người hướng dẫn Cũng trong bước này, doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý thuyết cho người học nghề do kỹ sư hoặc kỹ thuật viên phụ trách

Giao việc làm thử sau khi đã nắm được những nguyên tắc và phương pháp làm việc, người học nghề bắt tay làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắm của người hướng dẫn

Giao việc hoàn toàn cho người học nghề Khi người học nghề có thể tiến hành công việc độc lập được, người hướng dẫn giao hẳn công việc cho người học nghề nhưng vẫn phải thường xuyên theo dõi, giúp đỡ

Muốn cho hình thức này đạt kết quả tốt, việc kèm cặp trong sản xuất cần phải được tổ chức hợp lý, có chế độ đồng kèm cặp giữa người dạy học và người học, giữa xí nghiệp và người dạy

2* Mở các lớp cạnh xí nghiệp

Đối với những nghề tương đối phức tạp, việc đào tạo trong sản xuất không đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, các doanh

Trang 21

nghiệp phải tổ chức các lớp đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất- kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện

tự nhiên sẵn có của doanh nghiệp Chương trình đào tạo gồm có hai phần:

Lý thuyết và thực hành sản xuất Phần lý thuyết được giảng tập trung do các

kỹ sư, cán bộ phụ trách Phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng thực tập và trong các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn

3* Đào tạo tại các trường, trung tâm dạy nghề

Để đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, Bộ hoặc các ngành cần tổ chức các trung tâm dạy nghề, các trường dạy nghề tập trung, quy mô tương đối lớn, đào tạo công nhân có trình độ lành nghề cao Khi tổ chức các trường dạy nghề, cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề của các trường, cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

Phải có kế hoạch và chương trình đào tạo Đối với các nghề phổ biến, chương trình do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hôi, Bộ Giáo dục- Đào tạo xây dựng và ban hành Chương trình đào tạo phải bao gồm hai phần lý thuyết

và thực hành, không coi nhẹ phần nào

Phải có đội ngũ giáo viên dạy nghề có đủ khả năng, chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường Những nơi có điều kiện, nhà trường cần cần tổ chức xưởng sản xuất riêng, nên để ở gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện cho giảng dạy và học tập thuận lợi Các tài liệu giảng dạy

và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường Như vậy, muốn cho việc đào tạo có chất lượng phải đi từ những vấn đề cơ bản

Trang 22

của công tác dạy nghề, như định rõ nhiệm vụ, mục tiêu của mỗi trường, lớp; tăng cường trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học tập; đào tạo đội ngũ giáo viên lý thuyết và thực hành cho các nghề; ban hành những chế độ, chính sách cần thiết như quy chế trường, lớp, tiêu chuẩn giáo viên, tiêu chuẩn tuyển sinh vào các trường

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề của một trường

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài

Công tác đào tạo nghề là công tác hết sức quan trọng, nó chịu ảnh hưởng và tác động của rất nhiều yếu tố, đồng thời nó cũng tác động tới nhiều mặt của sự phát triển đất nước Các yếu tố nội tại bên trong quá trình ấy không phải là đứng yên mà thường xuyên vận động, gây ảnh hưởng đến nhau, làm cho công tác đào tạo nghề cũng phát triển theo, có diện mạo mới Nhưng diện mạo mới này không phải là hoàn toàn các yếu tố bên trong đó tạo ra, mà

nó còn chịu ảnh hưởng của những nhân tố khác bên ngoài quá trình, làm thay đổi, đổi mới nó, làm cho quá trình ấy chuyển biến theo xu hướng phát triển chung của đất nước

1.2.1.1 Nhận thức của người dân

Thực tế trong thời gian vừa qua và cho tới tận bây giờ, tâm lý chung của học sinh sau khi tốt nghiệp PTTH là muốn vào các trường Đại học và đó cũng là mong muốn của các bậc cha mẹ Từ nguyện vọng đó, hàng năm số lượng thí sinh vào các trường Đại học ngày một đông, có nhiều thí sinh tham gia nhiều kỳ thi để mong được vào đại học Ngược lại, số thanh niên vào học các trường nghề rất ít, phần lớn những em vào học trường nghề đều do hoàn cản khó khăn, học lực thấp, đã vậy, khi vào trường nghề tâm lý vẫn không hứng khởi, học với tinh thần “bất đắc dĩ” Tình trạng đó đã gây nên việc truyền đạt kiến thức cho học sinh gặp rất nhiều khó khan

Như vậy, nhận thức này đã tác động rất tiêu cực đến việc phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề, lượng học sinh tham gia vào học nghề ít khiến các cơ

Trang 23

sở dạy nghề không thể đổi mới trang thiết bị giảng dạy, đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng không được trau dồi thêm kiến thức, kỹ năng mới Có nghĩa là, công tác đào tạo nghề sẽ không thể phát triển tốt được

Tuy nhiên, do yêu cầu chung của sự phát triển mà cho đến nay, nhận thức này cũng đã có những chuyển biến tích cực Lượng học sinh tham gia vào các cơ sở dạy nghề ngày một nhiều Đã có suy nghĩ: “đường tới tương lai không chỉ bằng con đường đại học”, do vậy các em học sinh từ các trường phổ thông đã tích cực tìm hiểu thêm về hệ thống nghề nghiệp và đã có những lựa chọn tích cực cho nghề nghiệp trong tương lai; các bậc cha mẹ cũng ngày càng ủng hộ việc con em mình tham gia vào các trường học nghề; toàn xã hội

ra sức đầu tư, tuyên truyền và ủng hộ cho sự phát triển của hệ thống cơ sở dạy nghề Đây là điều đáng mừng và cần thiết được phát huy hơn nữa để công tác đào tạo nghề ngày càng đạt hiệu quả tốt phục vụ sự phát triển đất nước trong tương lai

1.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội

Kinh tế có phát triển, xã hội có ổn định thì mới có thể đầu tư cho công tác đào tạo nghề, mới có thể được các ban, ngành, đoàn thể quan tâm Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng nghề mới có thể phát triển được

Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, vì vậy nó cũng là một trong các khoản chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước Kinh

tế đất nước có phát triển thì lượng vốn đầu tư cho công tác này mới gia tăng Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải có đội ngũ những người lao động có trình độ chuyên môn, vì thế có nhiều doanh nghiệp cũng bỏ tiền ra để đào tạo nghề cho người lao động hoặc họ bỏ tiền ra để “mua” những người lao động được đào tạo hoặc bồi dưỡng nghề với trình độ cao vào doanh nghiệp của họ Muốn vậy, doanh nghiệp phải có tiềm lực kinh tế nhất định mới có thể thực hiện được

Trang 24

Nói chung, ở cả cấp độ vi mô hay vĩ mô, đào tạo nghề muốn tồn tại, phát triển được đều càn cơ sở kinh tế vững chắc Kinh tế càng phát triển, đào tạo nghề

sẽ càng mở rộng quy mô và đi sâu vào cải thiện chất lượng và ngược lại

Tương tự, với tình hình xã hội cũng vậy Một xã hội thường xuyên không ổn định thì công tác giáo dục nói chung, đào tạo nghề nói riêng sẽ ít được quan tâm hơn là khi tình hình xã hội ổn định

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, với một xã hội rất ổn định, nền kinh

tế đang ngày càng phát triển thì công tác đào tạo nghề đang được hết sức quan tâm để từ đó có thể tạo ra những người lao động với trình độ nhất định, đến lượt

nó sẽ phục vụ tốt hơn nữa cho quá trình phát triển kinh tế, ổn định xã hội

1.2.1.3 Nhu cầu của xã hội về lao động qua đào tạo nghề

Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn của con người xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhằm để đạt được những mục đích nào đó như nhu cầu tâm sinh lý, nhu cầu xã hội…

Xã hội được hiểu ở đây là tổng thể các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các làng nghề truyền thống… mà ở đó có sử dụng lao động qua đào tạo nghề

Vậy nhu cầu của xã hội về lao động qua đào tạo nghề có thể hiểu là tổng thể những nhu cầu của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các làng nghề… về người lao động qua đào tạo nghề

Đã có rất nhiều học thuyết bàn về “cung” và “cầu”, giữa những học thuyết đó có những điểm khác biệt nhau, cũng có những điểm hài hoà nhau, nhưng tất cả các học thuyết đều không phủ nhận mối quan hệ biện chứng giữa

“cung” và “cầu” Có nghĩa là có cung thì sẽ có cầu và ngược lại có cầu thì sẽ

có cung

Chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ này qua hai khía cạnh

Trang 25

Thứ nhất, khía cạnh về cung: chính là những người có trình độ chuyên môn nào đó mà nơi chủ yếu để tạo ra nguồn cung này chính là hệ thống các

cơ sở dạy nghề

Thứ hai, khía cạnh về cầu: như đã nói ở trên, đó là các cơ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề… cần lao động có trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn nhất định để tiến hành tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống của con người và xã hội

Khi đưa hai cạnh này lên trên thị trường lao động, chúng sẽ gặp nhau và tác động qua lại lẫn nhau Cầu càng lớn thì cung sẽ làm sao để thoả mãn một cách tối ưu nhu cầu này Hay nói khác đi,nếu cầu về lao động qua đào tạo nghề càng lớn thì lượng học sinh tham gia và đào tạo, bồi dưỡng nghề càng nhiều, các

cơ sở đào tạo nghề sẽ mở rộng quy mô, đầu tư vào cơ sở vật chất, kỹ thuật nhiều hơn, đội ngũ giáo viên được nâng cao trình độ… đến một mức nào đó, nó có thể làm thay đổi cơ cấu lao động trong xã hội theo hướng mong muốn

1.2.1.4 Chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề

Đào tạo nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, vì thế nó cũng chịu

sự quản lý và tác động của hệ thống pháp luật thông qua các văn bản pháp luật như Nghị định, nghị quyết, Thông tư, Quyết định… có liên quan đến công tác đào tạo nghề

Những chính sách của Nhà nước về các khía cạnh đào tạo nghề càng nhiều càng chứng tỏ đào tạo nghề được quan tâm Ở nước ta trước đây, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cả nước cần tập trung sức người, sức của cho tiền tuyến nhưng Nhà nước vẫn quy định khuyến khích học nghề Sắc lệnh số 27/SL ngày 12/03/1947 của chủ tịch nước quy định:

“bắt buộc các hãng kỹ nghệ, hầm mỏ… nếu dùng từ 30 người thợ thì phải dạy một số thợ học nghề bằng 1/10 số thợ chuyên nghiệp…” Vào thập kỷ 80, Chính phủ ra nghị quyết104/CP: “Những xí nghiệp có khoảng 2000 công nhân thợ mỏ trở lên phải thành lập trường dạy nghề…”, chính vì vậy mà thời

Trang 26

gian đó tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng công tác đào tạo nghề vẫn được duy trì thường xuyên và có hiệu quả Đến giai đoạn từ 1995 đến 1998, mặc dầu nền kinh tế có những bước phát triển vượt bậc nhưng hệ thống đào tạo nghề của cả nước lại giảm dần, năm 1997 cả nước có 360 trường thì đến đầu năm 1999 chỉ có 138 trường, quy mô đào tạo nghề cũng giảm, năm 1997 có

250 nghìn học sinh thì đến năm đến năm 1998 chỉ còn đào tạo 96 nghìn học sinh; trang bị cho các cơ sở dạy nghề vừa thiếu, vừa lạc hậu: 82% trường còn thiếu thiết bị dạy học, 40% thiết bị dạy nghề bằng biểu đồ, 50% thư viện trường nghề chỉ có 50 đầu sách Thực tế đó cũng là do phần nào Nhà nước quá tập trung vào việc phát triển kinh tế mà lơ là phát triển công tác đào tạo nghề thể hiện ở việc có rất ít những văn bản pháp luật quy định dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề Cho đến nay, bộ mặt của ngành đào tạo nghề cũng đã có những phát triển đáng mừng bởi lẽ Nhà nước và toàn xã hội ngày càng quan tâm đến quá trình phát triển của hệ thống các cơ sở dạy nghề, quan tâm tới kết quả và hiệu quả của công tác dạy nghề

1.2.1.5 Tiến bộ khoa học kỹ thuật

Cách mạng khoa học kỹ thuật tạo ra bước ngoặt cơ bản trong việc chuyển đổi toàn bộ yếu tố lực lượng sản xuất, đề ra yêu cầu ngày càng cao đối với cấu trúc nghề nghiệp, phẩm chất và năng lực của lực lượng lao động đòi hỏi quá trình đào tạo nghề phải diễn ra liên tục trong quá trình lao động

Cách mạng khoa học kỹ thuật làm tăng thêm lượng thông tin khoa học với tốc độ như vũ bão, dẫn tới sự bùng nổ thông tin, đặt ra cho các nhà giáo dục yêu cầu khách quan về sự thay đổi phương pháp giáo dục, làm cho nhà giáo dục đủ sức, kịp thời và hiệu quả trong việc chuyến tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong thực tiễn sản xuất

Có nghĩa là: khoa học - kỹ thuật tác động đến nhiều mặt của công tác đào tạo nghề

Trang 27

Thứ nhất: khoa học - kỹ thuật làm thay đổi tính chất và nội dung lao động nghề nghiệp của người lao động

Nội dung lao động được thể hiện ở mặt số lượng và chất lượng của các thao tác lao động đặc trưng bởi đối tượng lao động, công cụ lao động, quy trình công nghệ và trình độ lành nghề của họ Một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ nặng nề về lao động trí óc hay chân tay

Thứ hai: khoa học - kỹ thuật làm thay đổi diện nghề của người lao động Ngày nay, cùng với những thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ đang diễn ra một xu thế là các lĩnh vực khoa học ngày càng tiến lại gần nhau, một số bộ môn khoa học cũng đang được mở rộng tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau thành những lĩnh vực khoa học mới như toán- tin, công nghệ sinh học- công nghệ thực phẩm…

Trong kỹ thuật cũng vậy, dưới ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều lĩnh vực công nghệ cũng đã được thực hiện bằng sự kết hợp các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau Ví dụ như chiếc radio hiện đại ngày nay là sự kết hợp tinh xảo giữa cơ khí, điện, điện tử, tự động hoá, vi sử lý… Do đó, diện nghề của nhiều loại hình lao động được mở rộng như kỹ sư cơ - điện tử, kỹ sư toán- tin, kỹ sư công nghệ sinh học- công nghệ thực phẩm…

Thứ ba, khoa học kỹ thuật đã từng bước “quốc tế hoá” trong một số lĩnh vực sản xuất quan trọng

Đối với một số lĩnh vực sản xuất cần rất nhiều loại công nghệ khác nhau mà ở trong cùng một nước không thể nào giỏi được đồng đều hay không

có đủ những điều kiện cần thiết để thực hiện tất cả các mặt của quá trình sản xuất Do đó, đã diễn ra quá trình hợp tác quốc tế trong sản xuất, làm cho các quốc gia, các vùng lãnh thổ gần gũi nhau hơn

Thứ tư, khoa học kỹ thuật dẫn đến việc phải chuyển đổi nghề

Cách mạng công nghệ đã và đang làm cho bao nhiêu nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp bị bào mòn

Trang 28

nhanh chóng Người ta tính rằng hiện nay cứ trung bình trong vòng từ 7 đến

10 năm, nội dung lao động của các nghề nói chung bị lạc hậu mất 30%, thậm chí đối với các nghề kỹ thuật điện tới 50%

Như vậy, với sự tác động vô cùng lớn của khoa học kỹ thuật như vậy đối với người lao động, quá trình lao động của họ và đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề thì công tác này cần có những thay đổi sao cho phù hợp với

sự phát triển khoa học kỹ thuật trong tình hình mới

1.2.2 Các yếu tố bên trong

1.2.2.1 Nỗ lực của bản thân học sinh trong học tập

- Trong quá trình học tập, người học đóng vai trò chủ đạo trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức, cho nên người học có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Mặc dù các điều kiện đảm bảo chất lượng như: chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất,

có tốt đến đâu nhưng năng lực của người học quá yếu hoặc người học không tích cực, không chủ động học tập và không tham gia vào quá trình học tập thì cũng không đạt kết quả

- Trong cấu trúc của hoạt động học tập, thành tố tâm lý quan trọng nhất

là động cơ học tập Hoạt động học tập chỉ có kết quả cao khi xuất hiện nhu cầu học tập, các điều kiện và môi trường học tập tốt

- Trong hoạt động học tập, học sinh đóng vai trò chủ thể, bản thân người học phải chủ động, tự giác tích cực trong việc tiếp thu kiến thức

- Đối với học sinh, học tập là việc tiếp thu kiến thức, hành động của người học nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển các kỹ năng trí tuệ và hành động nghề nghiệp, góp phần hình thành và phát triển nhân cách đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội Các kiến thức và kỹ năng mới bao giờ cũng được hình thành và phát triển dựa trên vốn kiến thức và kỹ năng lao động cơ bản Vì vậy quá trình học tập

Trang 29

đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động tư duy lôgíc và cảm xúc, giữa trí tuệ và tình cảm, giữa nhận thức và hành động Để học sinh tiếp thu hiệu quả quá trình giảng dạy phải coi học sinh là chủ thể của quá trình học tập và biện pháp quan trọng là tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh

“Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.”

Như vậy, việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một quá trình lâu dài, toàn diện khi phối hợp hoạt động giữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó phải hình thành cho học sinh ý thức, thái độ nghề nghiệp Động cơ học tập của học sinh học nghề có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng đào tạo Muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải tuyển chọn được học sinh có đủ năng lực và động cơ học tập đúng đắn, đồng thời mỗi giáo viên phải có tác động tích cực đến thái độ nghề nghiệp của học sinh Học sinh có động cơ học tập đúng đắn sẽ chủ động, tích cực, tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập Xu thế đổi mới phương pháp dạy học sẽ tăng cường tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và tăng tính hành dụng cho học sinh, hướng tới

mục tiêu học tập hiện đại là: “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học

để chung sống với mọi người"

1.2.2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Giáo viên có vai trò quan trọng trong sự nghiệp GD&ĐT, giáo viên là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng và hiệu quả GD&ĐT

Phát triển của GD&ĐT trong tiến trình phát triển của xã hội loài người

ngay từ thời xa xưa đã thể hiện vai trò quan trọng “không thầy đố mày làm nên” của nhà giáo đối với sự phát triển và thành đạt của các cá nhân trong đời

sống xã hội nói chung và hoạt động lao động nghề nghiệp nói riêng bên cạnh

sự nuôi dạy của gia đình và quá trình tự học tập, rèn luyện của bản thân Và ngày nay tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo cũng được Đảng ta khẳng định:

Trang 30

“Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”

Muốn có chất lượng tốt phải có được đội ngũ nhà giáo tốt Trong lĩnh vực dạy nghề, giáo viên có vai trò là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo, bởi vì giáo viên chính là người vạch kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn, giám sát quá trình học tập và giáo dục học sinh Chính họ là người kết hợp gia đình với xã hội nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Từ đó giúp học sinh sau khi ra trường có thể tự hành nghề, đảm bảo cuộc sống gia đình và bản thân Vì vậy đòi hỏi người giáo viên dạy nghề phải có trình độ chuyên môn, năng lực thực hành vững vàng, có khả năng tự đánh giá, có hiểu biết xã hội, có nhân cách sư phạm và lòng yêu nghề sâu sắc,

có trách nhiệm với học sinh và phải tác động đến tính tự giác, tự học và lòng

yêu nghề của học sinh Như nhà sư phạm nổi tiếng người Đức đã nói: “Người

ta chỉ học thực sự khi có lòng yêu nghề và yêu thầy Phải làm cho học viên tìm được niềm vui trong học tập Không có chuyện người ta phải biết mà chỉ có thể

là người ta muốn biết”(Hans - Georg Godamer)

Chất lượng đào tạo đạt được khi đảm bảo mục đích đào tạo đặt ra đó là: Đào tạo người lao động có kiến thức, trình độ, phát triển nhân cách, đặc biệt tạo nên việc học tập suốt đời cho người học Do sự phát triển của khoa học công nghệ, yêu cầu của sự hội nhập với xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi người học phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới, kỹ năng giao tiếp, kiến thức văn hóa - xã hội, nên người thầy phải là tấm gương sáng về tinh thần học tập cho học sinh noi theo

Ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh, giáo viên phải là người tiên phong đi đầu trong công tác quản lý đào tạo, là đội ngũ trực tiếp tham gia công tác quản lý chất lượng đào tạo Có thể nói rằng, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình phát triển giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng Vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của đội ngũ giáo viên dạy nghề luôn được khẳng định và ghi nhận Từ đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên dạy nghề

Trang 31

phải luôn cố gắng tự hoàn thiện mình, cập nhật kiến thức chuyên môn xã hội, rèn giũa tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy, hoàn thiện nhân cách nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và đóng góp vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo

1.2.2.3 Hệ thống nội quy, quy chế của Nhà trường

Để nâng cao hiệu quả dạy nghề theo phương châm “Học đi đôi với hành” và “gắn đào tạo với thực tiễn”, việc đổi mới phương pháp giảng dạy được Ban giám hiệu các Nhà trường coi trọng hàng đầu Để đạt được mục tiêu

đó thì hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà trường và công tác tổ chức, thực hiện các văn bản đó là một công việc hết sức quan trọng

Ban giám hiệu về những phương pháp về kiểm tra giám sát các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, quy chế đào tạo, quy chế thi, kiểm tra cấp văn bằng, chứng chỉ; thực hiện các quy định về giáo trình, bài giảng và các điều kiện cần thiết khác đảm bảo chất lượng đào tạo ở tất cả các loại hình đào tạo của nhà trường

Phòng Quản lý Học sinh - sinh viên là nhân vật trung tâm của Nhà trường Tạo môi trường học tập lành mạnh để HSSV toàn tâm toàn ý, chủ động học tập, sáng tạo và tiếp cận với nghiên cứu khoa học HSSV phải được phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ để tự tin tham gia các sân chơi trí tuệ dành cho sinh viên của các trường đại học trong cả nước và trên thế giới; giúp họ thích ứng nhanh nhất với cơ chế thị trường và khẳng định được mình trong xã hội Từ đó củng cố vị thế của Nhà trường với xã hội và thu hút được nhu cầu học tập tại trường ngày càng đông với chất lượng được nâng cao

Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại trực thuộc Bộ Công Thương đóng trên địa bàn tỉnh Hải Dương sẽ tiếp tục mở rộng hợp lý quy mô đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và xã hội, phấn đấu trở thành địa chỉ tin cậy về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đị Để

Trang 32

đạt được hiệu quả trong đào tạo Nhà trường đã ban hành các hệ thống các văn bản về nội quy, quy chế như: Quy chế tuyển sinh hàng năm; Quy chế quản lý học sinh, sinh viên; Quy chế đào tạo, quản lý điểm,…

1.2.2.4 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

"Phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học Khi đã xác định được mục đích, đã xây dựng được nội dung chương trình dạy học thì phương pháp dạy của thầy và học của trò sẽ quyết định chất lượng quá trình đào tạo nguồn nhân lực" Cùng một nội dung nhưng

học sinh có hứng thú, tích cực học tập hay không; có để lại ấn tượng sâu sắc

và khơi dậy tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các em hay không, phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của người thầy Trong quá trình dạy học, việc tìm tòi những phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giờ học là hoạt động sáng tạo chủ yếu, thường xuyên của người thầy giáo

Phương pháp là con đường, cách thức mà giáo viên sử dụng tác động vào học sinh, định hướng và hướng dẫn học sinh chủ động tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức cũng như hình thành các kỹ năng và thái độ cần thiết theo mục đích đã định sẵn Trong đào tạo nghề, phương pháp dạy thực hành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm đang được coi trọng Đối với phương pháp đào tạo nghề có một số đặc điểm sau:

- Phương pháp đào tạo nghề được hiểu là tổ hợp cách thức phối hợp hoạt động chung của giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo

- Phương pháp dạy học thực hành là đặc biệt quan trọng trong đào tạo nghề, vì 60 - 70% thời lượng dạy nghề là dạy thực hành, mặt khác hình thành

kỹ năng cho học sinh là yếu tố quan trọng nhất trong mục tiêu đào tạo nghề

Để dạy thực hành tốt giáo viên phải có thao tác mẫu rất chuẩn xác để học sinh làm theo, bên cạnh đó phải kịp thời uốn nắn các sai lệch của học sinh

Trang 33

độ và năng lực của mỗi giáo viên Sau đây chúng ta đi sâu vào hai kiểu dạy học chính

- Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm: trong đó sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên trình bày giải thích, hoạt động của học sinh chủ yếu ghi chép, nhớ và tái hiện thông tin, tiếp thu kiến thức một cách thụ động Sự tham gia của học sinh giới hạn bởi những vấn đề mà người thầy

đã giảng, không khí lớp học mang nặng tính hình thức

- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm: “Trong phương pháp này toàn

bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, hứng thú của học sinh Mục đích là nhằm phát triển ở học sinh kỹ năng, năng lực độc lập học tập và biện quyết các vấn đề Không khí trong lớp học linh hoạt, cởi mở về mặt tâm lý Giáo viên và học sinh cùng nhau xem xét các khía cạnh của vấn

đề Học sinh được giúp đỡ để tự biện quyết vấn đề” Loại phương pháp này

tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

Trong dạy học không thể có phương pháp dạy học nào được coi là tối

ưu Có nhiều trường hợp có thể áp dụng cùng một phương pháp dạy học để biện quyết các nhiệm vụ dạy học khác nhau, truyền đạt những nội dung khác

Trang 34

nhau, nhưng cũng có những trường hợp đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học để biện quyết cùng một mục đích dạy học, cùng một nội dung dạy học Như vậy, tùy thuộc vào các đối tượng người học, mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, loại hình đào tạo mà chúng ta sử dụng hoặc kết hợp các phương pháp đào tạo khác nhau nhằm đạt được mục tiêu và kết quả đào tạo như mong muốn

1.2.2.5 Chương trình, giáo trình

Chương trình, giáo trình có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng đào tạo, bởi với cách tiếp cận chương trình đào tạo gồm cả yêu cầu và phương thức kiểm tra đánh giá sẽ tác động đến cách dạy và cách học của giáo viên và học sinh trong nhà trường Trước tầm quan trọng của chương trình, giáo trình trong đào tạo nghề với đầu ra của quá trình đào tạo, cho nên để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo thì vấn đề hàng đầu là chương trình và giáo trình đào tạo phải được thiết kế đảm bảo chất lượng, phù hợp với các điều kiện thực hiện và sử dụng chương trình đó

Trên thế giới, chương trình đào tạo thường được sử dụng bằng thuật ngữ

“Curriculum” Mỗi nước có các quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo Theo các chuyên gia giáo dục thì việc nghiên cứu chương trình đào tạo là một trong những lĩnh vực khó nhất của giáo dục, bởi chương trình đào tạo thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: người dạy, người học, phụ huynh học sinh, nhà tuyển dụng, tôn giáo, chính trị, nên

có nhiều quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo Tùy theo cách lý biện khác nhau mà có cách hiểu khác nhau về chương trình đào tạo

Theo Tim Wentling (1993): Chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Nó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khi kết thúc

Trang 35

khóa học Nó phác họa quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo và cũng chỉ ra phương pháp đào tạo, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ

Theo White (1995): Chương trình đào tạo là bản kế hoạch phản ánh các mục tiêu mà trường theo đuổi, nó cho ta biết nội dung, phương pháp dạy và học cần thiết để đạt mục tiêu đã đề ra

Theo Nghị định 43/NĐ-CP: Chương trình đào tạo là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động, giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo

Tuy những quan niệm có khác nhau, song đều thừa nhận rằng các bộ phận cấu thành một chương trình đào tạo là: Mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; quy trình đào tạo; hình thức tổ chức; cách thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo Chúng gắn kết với nhau như một chỉnh thể đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu, nội dung đào tạo và đáp ứng nhu cầu, lợi ích của người học

Cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo nghề phải căn cứ vào yêu cầu thực tế sản xuất dịch vụ về: Nội dung, trình độ do vị trí nghề đòi hỏi, căn cứ vào mục tiêu đào tạo của Nhà nước và căn cứ vào tiến bộ của khoa học và điều kiện của cơ sở đào tạo nghề Chương trình đào tạo phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo chương trình chuẩn của Việt Nam

và Quốc tế, các ý kiến phản hồi tứ phía các nhà tuyển dụng lao động, học sinh tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và tổ chức khác, nhằm phát triển nguồn nhân lực phát triển KT - XH

Chương trình đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, đồng thời các hoạt động của nhà trường đều xoay quanh việc thực hiện chương trình đào tạo đề ra từ cơ cấu bộ máy đến việc tuyển chọn giáo viên, từ việc lập

Trang 36

kế hoạch đào tạo đến các hoạt động khác như: Phòng đào tạo, phòng công tác học sinh sinh viên,… thư viện, mối quan hệ giữa các bộ phận, mối quan hệ giữ nhà trường với các đơn vị sử dụng nhân lực,

Như vậy, nội dung chương trình đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình đào tạo Để quá trình đào tạo đạt chất lượng cũng như nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thì yếu tố đầu tiên và cơ bản là cơ sở đào tạo phải xác định đúng mục tiêu cũng như nội dung chương trình đào tạo

1.2.2.6 Cơ sở vật chất

a Hệ thống phòng học

Trong các trường dạy nghề các phòng học thực hành đóng vai trò vô

cùng quan trọng, “là một thành phần cơ bản trong các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ các chức năng đào tạo của nhà trường” Đó là nơi tổ chức các

hoạt động dạy thực hành cơ bản trong chương trình đào tạo của nhà trường ngoài ra nó có thể đảm nhiệm một số nhiệm vụ khác như sản xuất ra sản phẩm, trưng bày giới thiệu ngành nghề đào tạo

- Các thiết bị chuyên dùng cho từng ngành nghề gồm thiết bị mang tin (sách giáo khoa, tranh ảnh, bản vẽ, sơ đồ, ), các mô hình học cụ, các thiết bị

Trang 37

để thực hành (máy hàn, máy tiện, máy phay,…)

Tuy nhiên, để có thiết bị hiện đại đáp ứng được yêu cầu đào tạo đối với các trường nghề trong điều kiện đất nước còn khó khăn như hiện nay là rất khó và đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ càng là cản trở lớn cho các trường trong việc đầu tư thiết bị dạy học Để đáp ứng được yêu cầu đào tạo, mỗi trường phải coi trọng công tác tự làm các thiết bị, phương tiện dạy học, điều đó còn giúp giáo viên và học sinh hiểu sâu hơn về bài học, cũng như rèn luyện tay nghề Để học sinh có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới hiện đại phù hợp với thực tế sản xuất thì Nhà trường cần phải

có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

1.2.2.7 Nguồn lực tài chính

a Nguồn tài chính do ngân sách cấp

- Nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước cấp cho công tác đào tạo nghề được xác định là khoản đầu tư chính và quan trọng nhất cho hoạt động dạy nghề Việc xác định mức đầu tư ngân sách Nhà nước cho dạy nghề được tiến hành hàng năm căn cứ vào luật ngân sách, các hướng dẫn thi hành luật ngân sách, GDP, cân đối tổng thu, chi ngân sách Nhà nước, định hướng đầu tư của Nhà nước đối với dạy nghề Đề xuất đầu tư từ các địa phương, bộ ngành căn

cứ vào quy định của Nhà nước về định mức chi cho dạy nghề

- Đầu tư ngân sách Nhà nước cho dạy nghề đảm bảo tăng hàng năm, năm sau không thấp hơn năm trước về số lượng tiền đầu tư bao gồm đầu tư về

cơ sở vật chất và đầu tư mỗi chỉ tiêu đào tạo do Nhà nước đặt hàng

b Nguồn tài chính thu từ học phí

- Mức thu học phí được thu theo quy định của Nhà nước và của Nhà trường trên cơ sở chi phí đào tạo theo từng ngành nghề và mức thu học phí chung của các trường trên địa bàn

- Đối với các trường dạy nghề công lập thì nguồn thu từ học phí là nguồn tài chính lớn thứ hai Tuy nhiên đối với các trường dạy nghề do đối

Trang 38

tượng học sinh chủ yếu là con em ở khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế chưa cao nên mức thu học phí còn ở mức thấp

c Các nguồn thu khác

- Nguồn thu từ doanh nghiệp: Nguồn thu huy động từ doanh nghiệp vào các hoạt động dạy nghề được thực hiện thông qua việc khuyến khích doanh nghiệp thành lập các cơ sở dạy nghề, hỗ trợ và liên kết các cơ sở dạy nghề trong đào tạo, ứng dụng sản xuất, trả công cho người học nghề khi họ tham gia hoặc trực tiếp làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong quá trình đào tạo

- Nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh dịch vụ: Các cơ sở dạy nghề được thành lập cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề và giáo viên của Nhà trường thực hành, thực tập nâng cao tay nghề và có thêm thu nhập Việc thành lập cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nhà trường được thực hiện theo quy định của pháp luật

- Nguồn thu từ đầu tư nước ngoài: Cũng như các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư vào hoạt động dạy nghề thông qua việc thành lập các cơ sở dạy nghề, các dự án hợp tác phát triển dạy nghề, đóng góp tài chính tự nguyện cho dạy nghề Nguồn đóng góp này cho dạy nghề chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong hoạt động dạy nghề

d Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp

- Mối quan hệ giữa nhà trường và các doanh nghiệp là mối quan hệ biện chứng giữa nhà sản xuất và người sử dụng sản phẩm Trong đó, nhà trường đóng vai trò là nhà sản xuất, các doanh nghiệp đóng vai trò là người sử dụng sản phẩm, các sản phẩm chính là học sinh tốt nghiệp

- Theo quy hoạch nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, chỉ tính riêng số lao động trong các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng lên 15 triệu người vào năm 2015 và đến năm 2020 tăng lên 20 triệu người Nhu cầu đào tạo nghề mới cho lao động mới tuyển dụng là rất lớn, chưa kể nhu cầu đào tạo lại số lao động hiện có

Trang 39

Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:

+ Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc triển khai xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo theo quy chế chung do

Bộ Công Thương; Bộ Lao động TB&XH và Tổng cục Dạy nghề ban hành, mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phải xét đến tính đặc thù của các doanh nghiệp là nơi tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp

+ Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khoá cho học sinh

+ Ngoài kinh phí nhà nước cấp, doanh nghiệp cần đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo: kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia và thợ bậc cao

+ Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng qua việc hoạch định nhu cầu đào tạo: số lượng, cơ cấu ngành nghề, hình thức đào tạo (đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề)

Những nguyên tắc của mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp: + Sự liên kết đảm bảo mục tiêu đào tạo đã đề ra, không làm ảnh hưởng tới quy trình đào tạo của nhà trường cũng như tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, mà trái lại nó phải góp phần vào sự phát triển chung của cả hai đơn vị,

có lợi cho cả cơ sở đào tạo và doanh nghiệp

+ Sự kết hợp phải mang tính chất giáo dục: nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh (không quá chú trọng về mặt kinh tế)

+ Sự kết hợp này phải có tính chất vừa sức với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp (sức khoẻ, năng lực, công nghệ, )

Những điều kiện đảm bảo mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp: + Cấp vĩ mô: Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp Có tổ chức điều hành mối quan hệ này

Trang 40

Các quy định của Nhà nước đối với doanh nghiệp liên quan tới đào tạo: thuế đào tạo, tỷ lệ lao động có kỹ thuật trong tổng số người lao động, cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực,…

Thành lập các đơn vị sản xuất trong các trường dạy nghề như Nghị quyết TW2 khoá VIII đã đề ra, như chính sách về đầu tư cho các trường dạy nghề

+ Cấp vi mô (phía nhà trường): Đổi mới bộ máy và phương thức điều hành nhằm tăng cường mối quan hệ, có các quy định, chế độ rõ ràng đối với phương thức liên kết

1.3 Vai trò của đào tạo nghề

1.3.1 Về mặt kinh tế

Quá trình đào tạo nghề nhìn về trực diện là quá trình tiêu tốn tiền của cả người học và toàn xã hội nhưng đó chỉ là sự đầu tư rất nhỏ so với kết quả mà đào tạo nghề mang lại về mặt kinh tế Đào tạo nghề mang lại:

- Nâng cao năng suất lao động của cá nhân người lao động cũng như năng suất lao động của toàn xã hội

- Giúp người lao động thực hiện có hiệu quả hơn công việc của mình

- Giảm những chi phí không đáng có trong quá trình lao động sản xuất

do không hiểu quá trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất

- Nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức có sử dụng nhiều lao động qua đào tạo nghề

- Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Làm cho doanh nghiệp có sự năng động hơn trong điều kiện cạnh tranh

- Giảm bớt sự giám sát đối với người lao động vì những người lao động được đào tạo nghề là những người có khả năng tự giám sát

- Quá trình đào tạo nghề làm cho người lao động có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập, là phương tiện để cải tạo đời sống hay nếp sống

Ngày đăng: 19/11/2015, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trần Xuân Cầu (2004), Giáo trình Phân tích lao động xã hội, Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích lao động xã hội
Tác giả: Trần Xuân Cầu
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2004
4. Vũ Đình Cự, Đào tạo nghề và việc làm quốc sách hàng đầu thế kỷ, LĐXH T5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề và việc làm quốc sách hàng đầu thế kỷ
5. Đỗ Minh Cương (2001), Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của công tác dạy nghề trong năm 2001, LĐXH T3/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của công tác dạy nghề trong năm 2001
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Năm: 2001
7. Lê Khắc Đoá (1988), Hoàn thiện hệ thống dạy nghề Việt Nam, Luận án PTSKH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống dạy nghề Việt Nam
Tác giả: Lê Khắc Đoá
Năm: 1988
8. Thái Việt Đức (2002), Một số vấn đề về đào tạo nghề cho người lao động ở thành phố Hải Phòng, QTNL40A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo nghề cho người lao động ở thành phố Hải Phòng
Tác giả: Thái Việt Đức
Năm: 2002
9. Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Lan Hương, Viện KHLĐ & các vấn đề xã hội, Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001-2010, LĐXH T3/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện KHLĐ & các vấn đề xã hội, Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001-2010
10. Vũ Duy Giảng, Nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, ĐH Nông nghiệp I Hà Nội, TTLĐ T6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
11. Nguyễn Thị Hằng, Về chiến lược đào tạo nghề thời kỳ 2001- 2010, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, LĐXh T5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược đào tạo nghề thời kỳ 2001- 2010
12. Trần Hiếu, Đào tạo nghề - vấn đề cấp bách hiện nay, Báo Hải Dương, CSSK T3/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề - vấn đề cấp bách hiện nay
13. Trần Văn Hoan, Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề giai đoạn 2001- 2005, Viện khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, TTLĐ T2/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề giai đoạn 2001- 2005
14. Nguyễn Công Nam (2004), Hoàn thiện công tác đào tạo nghề góp phần thực hiện CNH- HĐH ở Việt Nam, KTLĐ & Dân số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề góp phần thực hiện CNH- HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Nam
Năm: 2004
15. Vũ Thị Phương Oanh (2002), Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn tỉnh Hải Dương, QTNL40A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn tỉnh Hải Dương
Tác giả: Vũ Thị Phương Oanh
Năm: 2002
16. Nguyễn Minh Quế (2002), Một số ý kiến về công tác dạy nghề của trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề, KTLĐ & Dân số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về công tác dạy nghề của trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề
Tác giả: Nguyễn Minh Quế
Năm: 2002
17. Cao Văn Sâm, Trần Hùng Lƣợng, Chú trọng nâng cao chất lượng bồi dưỡng sư phạm cho giáo viên dạy nghề, TTLĐ T4/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chú trọng nâng cao chất lượng bồi dưỡng sư phạm cho giáo viên dạy nghề
18. Phạm Quang Sáng (1996), Đổi mới đào tạo bồi dưỡng lao động có trình độ Cao Đẳng và Đại Học nhằm phát triển thị trường lao động Việt Nam, Luận án PTSKHKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đào tạo bồi dưỡng lao động có trình độ Cao Đẳng và Đại Học nhằm phát triển thị trường lao động Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Sáng
Năm: 1996
19. Phạm Đức Thành, Mai Quốc Chánh (1995), Giáo trình Kinh tế lao động, Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế lao động
Tác giả: Phạm Đức Thành, Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 1995
20. Nguyễn Thị Thiềng (2001), Giáo trình Dân số và phát triển, Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Thiềng
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2001
21. Trung tâm thông tin, Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề trong hệ thống trung tâm, Thống kê LĐXH, TTLĐ T4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề trong hệ thống trung tâm
22. Nguyễn Minh Xưa, TP Quản lý đào tạo nghề, Sở Lao động - Thương binh Xã hội Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: TP Quản lý đào tạo nghề
1. Báo cáo tổng kết năm học Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại hằng năm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại (Trang 63)
Bảng 3.1: Số lượng, cơ cấu lực lượng lao động của Trường theo trình độ - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.1 Số lượng, cơ cấu lực lượng lao động của Trường theo trình độ (Trang 65)
Bảng 3.2: Số lượng giáo viên cơ hữu của Trường theo ngành đào tạo - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.2 Số lượng giáo viên cơ hữu của Trường theo ngành đào tạo (Trang 67)
Bảng 3.3: Quy mô tuyển sinh của Nhà trường qua các năm - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.3 Quy mô tuyển sinh của Nhà trường qua các năm (Trang 68)
Bảng 3.4: Quy mô đào tạo nghề qua các năm - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.4 Quy mô đào tạo nghề qua các năm (Trang 69)
Bảng 3.5: Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo của Trường năm 2014 - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.5 Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo của Trường năm 2014 (Trang 70)
Bảng 3.6: Kết quả tốt nghiệp qua các năm học - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.6 Kết quả tốt nghiệp qua các năm học (Trang 72)
Bảng 3.7: Tỷ lệ học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.7 Tỷ lệ học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp (Trang 73)
Bảng 3.8: Tỷ lệ học sinh có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.8 Tỷ lệ học sinh có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp (Trang 74)
Bảng 3.10. Ý kiến của doanh nghiệp về chất lƣợng lao động - Phát triển công tác đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch và thương mại
Bảng 3.10. Ý kiến của doanh nghiệp về chất lƣợng lao động (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w