1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN, TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO.

25 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 347,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan.. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng gan (LFTs). LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan. Để xác định cần có xét nghiệm chuyên sâu và đặc biệt hơn. Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan. Xét nghiệm chức năng gan để giúp bác sĩ đưa ra một vài nhận định rằng đang có vấn đề gì đó với gan. Nhưng đừng hiểu sai về xét nghiệm này. Trong khi LFTs thường được dùng để phản ánh tình trạng gan đang hoạt động tốt không, xét nghiệm này có thể bị sai vì không phải bất kỳ xét nghiệm máu nào cũng đánh giá chính xác tất cả các chức năng khác nhau của gan. Vì vậy, chỉ giống như đèn pha và thiết bị đo trong ô tô, LFTs không phải là dấu hiệu hoàn hảo để xác định chính xác bệnh. Tuy nhiên nó giúp cảnh báo cho bác sĩ rằng có điều gì đó bất ổn với gan. Hơn nữa nó giúp cho bác sĩ xác định sự cần thiết tiến hành thêm các xét nghiệm khác. Và khi kết hợp các kết quả xét nghiệm thêm này với LFTs, bác sĩ sẽ có cơ sở tốt hơn để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có được cải thiện không, có hồi phục không hoặc xấu đi; biện pháp điều trị có đáp ứng không hoặc có cần thử biện pháp khác không; và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa.LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau để kiểm tra nồng độ men gan; bilirubin; và protein gan. Sau đây là các xét nghiệm này.Trân trọng giới thiệu cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển tài liệu:CHUYÊN ĐỀ Y HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN, TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO. Chân trọng cảm ơn

Trang 1

TƯ LIỆU CHUYÊN MÔN TIỂU HỌC.

- -CHUYÊN ĐỀ Y HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN,

TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN

CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO.

NĂM 2015

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng gan (LFTs) LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan Để xác định cần có xét nghiệm chuyên sâu vàđặc biệt hơn Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan Xétnghiệm chức năng gan để giúp bác sĩ đưa ra một vài nhận định rằng đang có vấn đề gì đó với gan Nhưng đừng hiểu sai về xét nghiệm này Trong khi LFTs thường được dùng

để phản ánh tình trạng gan đang hoạt động tốt không, xét nghiệm này có thể bị sai vì không phải bất kỳ xét nghiệm máu nào cũng đánh giá chính xác tất cả các chức năng khác nhau của gan Vì vậy, chỉ giống như đèn pha và thiết

bị đo trong ô tô, LFTs không phải là dấu hiệu hoàn hảo đểxác định chính xác bệnh Tuy nhiên nó giúp cảnh báo cho bác sĩ rằng có điều gì đó bất ổn với gan Hơn nữa nó giúp cho bác sĩ xác định sự cần thiết tiến hành thêm các xét nghiệm khác Và khi kết hợp các kết quả xét nghiệm thêm

Trang 3

này với LFTs, bác sĩ sẽ có cơ sở tốt hơn để chẩn đoán liệugan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không Bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm

trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân

có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có

được cải thiện không, có hồi phục không hoặc xấu đi;

biện pháp điều trị có đáp ứng không hoặc có cần thử biện pháp khác không; và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa

LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau để kiểm tra nồng độ men gan; bilirubin; và protein gan Sau đây là các xét nghiệm này

Trân trọng giới thiệu cùng quý vị bạn đọc tham khảo vàphát triển tài liệu:

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN,

TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN

CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO.

Chân trọng cảm ơn!

Trang 4

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN,

TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN

CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO.

I.TÌM HIỂU VỀ XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN (LFTS)

Xét nghiệm chức năng gan để giúp bác sĩ đưa ramột vài nhận định rằng đang có vấn đề gì đó vớigan Nhưng đừng hiểu sai về xét nghiệm này Trongkhi LFTs thường được dùng để phản ánh tình trạnggan đang hoạt động tốt không, xét nghiệm này cóthể bị sai vì không phải bất kỳ xét nghiệm máu nàocũng đánh giá chính xác tất cả các chức năng khácnhau của gan Vì vậy, chỉ giống như đèn pha vàthiết bị đo trong ô tô, LFTs không phải là dấu hiệuhoàn hảo để xác định chính xác bệnh Tuy nhiên nógiúp cảnh báo cho bác sĩ rằng có điều gì đó bất ổnvới gan Hơn nữa nó giúp cho bác sĩ xác định sự cầnthiết tiến hành thêm các xét nghiệm khác Và khikết hợp các kết quả xét nghiệm thêm này với LFTs,bác sĩ sẽ có cơ sở tốt hơn để chẩn đoán liệu gan bị

Trang 5

bệnh gì và có đang hoạt động tốt không Bằng việclưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng vànăm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ vàbệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổnđịnh không, có được cải thiện không, có hồi phụckhông hoặc xấu đi; biện pháp điều trị có đáp ứngkhông hoặc có cần thử biện pháp khác không; vàliệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép ganchưa.

LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau đểkiểm tra nồng độ men gan; bilirubin; và protein gan.Sau đây là các xét nghiệm này

1.MEN GAN

Có 4 men gan khác nhau được đưa vào trong các xétnghiệm thông thường Đó là aspartateaminotransferase (AST hoặc SGOT) và alanineaminotransferase (ALT hoặc SGPT) được biết đếnnhư transaminase; và phosphate kiềm (AP) vàgamma-glutamyl transferase (GGTP), được biết nhưmen gan mật Khi các men này tăng lên có thể biểuhiện của bệnh gan

Trang 6

a.AST và ALT (transaminase)

AST và ALT thường liên quan đến viêm và/hoặctổn thương tế bào gan, một tình trạng được coi làtổn thương tế bào gan Tổn thương gan điển hìnhdẫn đến tình trạng rò gỉ men AST và ALT vào dòngmáu

Do AST được tìm thấy trong nhiều cơ quan khácngoài gan bao gồm thận, cơ và tim, việc tăng mứcAST không phải luôn luôn (nhưng thường) cho thấy

có vấn đề về gan Khi hoạt động thể lực mạnh cũnglàm tăng nồng độ AST Mặt khác, do ALT chủ yếu

có ở gan nên nồng độ ALT cao hầu như luôn phảnánh tình trạng gan có vấn đề (tuy nhiên thì mứcALT bình thường không nhất thiết có nghĩa rằnggan bình thường Điều này được đề cập ở phần sau).Mặc dù có thể dự đoán được nhưng mứctransaminase máu cao không phải luôn luôn biếtmức độ viêm hoặc tổn thương gan Đây là điểmquan trọng cần phải nhớ Khoảng trung bình củaAST và ALT tương ứng là 0-40 IU/l và 0-45 IU/l.(IU/l là đơn vị quốc tế trên lít và là cách thườngđược dùng nhiều nhất để định lượng những men đặc

Trang 7

biệt này) Nhưng nếu một người có mức ALT là 50IU/l không phải lúc nào cũng tốt hơn so với người

có mức ALT 250 IU/l! Điều này do những xétnghiệm máu đánh giá sự tổn thương hoặc viêm ganđược lấy mẫu vào những thời điểm đặc biệt Ví dụ,nếu bị viêm gan và lấy mẫu vào thời điểm bệnhnhân mới uống rượu vài giờ trước khi lấy máu thìmức transaminase cao hơn nhiều lần so với nhữngngười không uống rượu Cũng lý do tương tự, nếugan đã bị tổn thương từ nhiều năm trước do uốngrượu nhiều – kết quả xét nghiệm máu ngày hôm naycho thấy bình thường có thể vẫn bị tổn thương gan

Đi sâu hơn về vấn đề này, có nhiều yếu tố khácngoài tổn thương gan có thể ảnh hưởng tới nồng độAST và ALT Ví dụ transaminase ở nam cao hơn

nữ, nam giới Mỹ gôc Phi có mức AST cao hơn namgiới da trắng Thậm chí thời điểm lấy máu trongngày cũng ảnh hưởng tới mức transaminase; dườngnhư mức transaminase vào buổi sáng và trưa caohơn vào buổi tối Thức ăn hầu như không ảnhhưởng rõ rệt tới mức transaminase Vì vậy, không

Trang 8

khác biệt rõ rệt giữa lúc đói và lúc bình thường.Transaminase cũng có thể thay đổi theo ngày.

Đôi điều về khoảng tham khảo bình thường

Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họthường so sánh với giá trị thu được từ một nhómngười khỏe mạnh Khoảng của giá trị này được gọi là

“giá trị bình thường” được gọi là giới hạn tham khảohoặc khoảng tham khảo Giá trị cao nhất và thấp nhấtcủa khoảng này thường được gọi là giới hạn bìnhthường trên và giới hạn bình thường dưới Khoảngtham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy theo từngthời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm Bác sĩ sẽchú ý đến giới hạn này khi đọc từng kết quả xétnghiệm cụ thể

Tỷ lệ ALT và AST cũng có thể mang lại thông tin

có giá trị liên quan đến mức độ và nguyên nhânbệnh gan Hầu hết các bệnh gan thì mức tăng ALTcao hơn mức tăng AST nhưng có 2 trường hợpngoại lệ Xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng ASTcao hơn mức tăng ALT, thường tỷ lệ này là 2:1.Mức tăng transaminase xảy ra do quá nhiều nguyên

Trang 9

nhân nên chỉ giúp bác sĩ đưa ra một nhận địnhkhông rõ ràng Cần phải làm thêm các xét nghiệmkhác để xác định chính xác hơn xem gan bị bệnh gì.Những nguyên nhân sau có thể làm tăng mứctransaminase:

 Viêm gan do virus

Trang 10

mật, bệnh gan được gọi là bệnh gan mật (xơ ganmật tiên phát là một ví dụ của bệnh gan mật) Ứ mậttrong gan nói đến tình trạng tắc đường mật hoặc tổnthương bên trong gan Ứ mật trong gan có thể gặp ởngười bị xơ gan mật tiên phát hoặc ung thư gan Ứmật ngoài gan nói đến tình trạng ứ mật hoặc tổnthương ngoài gan Ứ mật ngoài gan có thể xảy ra ở

Khi bị viêm hoặc tắc đường mật, GGT và AP có thể

bị tràn ra như mở kho dự trữ và đi vào dòng máu.Những men này tăng lên rõ rệt – gấp gần 10 lần giátrị bình thường ở giới hạn trên.GGT được tìm thấy chủ yếu trong gan AP được tìmthấy chủ yếu trong xương và gan nhưng cũng có thể

ở nhiều cơ quan khác như ruột, thận và nhau thai Vìvậy, mức AP tăng chỉ phản ánh có vấn đề về gannếu có kèm theo tăng GGT Nên nhớ rằng GGT cóthể tăng và không kèm theo tăng AP, vì GGT dễ bịảnh hưởng bởi rượu và những thuốc có độc tính vớigan Lưu ý rằng, những người hút thuốc thường cómức AP và GGT cao hơn những người khác vớinhững lý do chưa biết rõ Tương tự, nồng độ AP và

Trang 11

GGT gần như phản ánh chính xác sau khi nhịn đói

12 giờ Bắt đầu có sự phức tạp khi đánh giá xétnghiệm chức năng gan bất thường!Nồng độ AP bình thường vào khoảng 35-115 IU/l,

và nồng độ GGTP bình thường vào khoảng 3-60 IU/

L Một số nguyên nhân sau có thể làm tăng nồng độ

AP và GGTP:

 Xơ gan mật tiên phát

 Bệnh gan nhiễm mỡ ở người không nghiện rượu

 Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

Bilirubin là một chất có màu vàng do gan sản xuất

ra khi nó tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầugià Khi chất này tăng lên, mắt và da cũng có màuvàng (vàng da), nước tiểu sẫm màu như trà đặc,phân có màu đất sét nhạt Khi có tăng bilirubin,trong khi không có sự bất thường trong các xét

Trang 12

nghiệm liên quan đến gan, thấy rõ khi thăm khámthực thể, thường đây là những bất thường liên quantới gan với phần lớn dân số.Một cụm từ mà bác sĩ thường được nghe từ bệnhnhân là “tôi không thể bị bệnh gan vì tôi không bịvàng da” Mọi người thường ngạc nhiên khi biếtrằng hầu hết những người bị bệnh gan không baogiờ bị vàng da Thực tế là mức tăng bilirubin thậmchí không liên quan chút nào tới bệnh gan Sựchuyển hóa của bilirubin phức tạp và trải qua nhiềubước Nếu trục trặc ở một trong số những bước này

sẽ làm tăng nồng độ bilirubin Vì nó có liên quan tớigan, nên mức tăng bilirubin thường đi kèm với tìnhtrạng gan kém hoặc tắc mật Một số nguyên nhânsau có thể gẫn đến tăng bilirubin:

 Xơ gan mật tiên phát

 Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

 Viêm gan do rượu

 Tan máu – Hồng cầu bị vỡ

 Bệnh gan do thuốc

 Sỏi mật

 Suy gan hoặc tình trạng gan kém nói chung

Trang 13

 Những khối u có ảnh hưởng đến gan, đường mậthoặc túi mật.

 Viêm gan do virus

 Rối loạn chuyển hóa bilirubin lành tính mang tínhgia đình, như hội chứng Gibert

Tăng bilirubin thường đi kèm với tăng AP và GGT.Khi tăng đồng thời bilirubin, AP và GGT có thể bị ứmật Tuy nhiên nếu mức bilirubin vẫn bình thườngnhưng GGT và AP cao, thì có thể bị ứ mật khôngvàng da Những bệnh có đặc điểm bilirubin cao,GGT và AP cao thường là bệnh gan mật

3.PROTEIN GAN

Albumin, prothrobin (yếu tố II) và globulin miễn dịch

là những protein được sản xuất chủ yếu bởi gan Khi cóbất thường về mức protein này có thể giúp xác định liệu

có bị bệnh gan trầm trọng hay không

4.ALBUMIN

Mức albumin bình thường trong máu khoảng 4g/dl.Khi gan bị tổn thương nghiêm trọng, nó mất khảnăng sản xuất albumin Những người bị bệnh gan

Trang 14

mãn tính đi kèm với tình trạng xơ gan thường cómức albumin dưới 3 g/dl Mức albumin thấp nóichung chỉ tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém vàkhông chỉ có riêng ở bệnh gan.

Đôi điều về hội chứng Gilbert là một rối loạn chuyển hóabilirubin di truyền, rất phổ biến và lành tính Nó xuất hiện ởkhoảng 4-9% dân số Chúng có đặc điểm là tăng mứcbilirubin không liên tục Hội chứng này thường được pháthiện khi xét nghiệm máu thường xuyên, khi xét nghiệm nàyđược tiến hành để đánh giá những bệnh khác, hoặc trước khituyển dụng hoặc trước khi tham gia bảo hiểm Mức bilirubinthường tăng tới 3 mg/dl nhưng hiếm khi vượt quá mức 5mg/dl Mức tăng thường rõ rệt khi đói, stress, kỳ kinhnguyệt, hoặc khi bị ốm không phải do gan hoặc khi bị nhiễmkhuẩn Vàng da là bất thường duy nhất phát hiện thấy khikhám thực thể Một số người có những triệu chứng thôngthường như khó chịu vùng bụng, buồn nôn hoặc mệt mỏi;tuy nhiên một số chuyên gia lại cho rằng những triệu chứngnày là do lo lắng Tất cả các xét nghiệm chức năng gan đềubình thường Không khuyến cáo làm chẩn đoán hình ảnhnhư siêu âm gan và sinh thiết gan, nhưng nếu làm thì sẽ bình

Trang 15

thường Không có biến chứng lâu dài từ hội chứng vô hạinày và không cần điều trị.

5.THỜI GIAN PROTHROMBIN

Gan sản xuất ra phần lớn các yếu tố tạo ra cục máuđông mà cơ thể dùng để ngăn chặn sự chảy máu.Thời gian để tạo ra một cục máu đông này gọi làthời gian prothrombin (PT), thông thường khoảng từ9-11 giây Vitamin K là một thành phần quan trọngcủa quá trình tạo cục máu đông Nếu gan bị tổnthương nghiêm trọng hoặc bị thiếu vitamin K (đôikhi xảy ra ở bệnh gan mật như xơ gan mật tiênphát), PT sẽ kéo dài hơn nhiều so với bình thường,

do vậy làm tăng nguy cơ chảy máu quá mức Trongmột vài trường hợp, tiêm vitamin K giúp PT trở vềbình thường Khi tiêm vitamin K mà có cải thiệnđược PT cho thấy rằng gan vẫn còn chức năng Khi

PT không bình thường hóa được khi tiêm vitamin

K, tình trạng đó gọi là bệnh chảy máu (có xu hướngxảy máu quá mức), tổn thương gan nặng và/ hoặc cósuy gan Để điều chỉnh sự khác nhau trong các

Trang 16

phòng thí nghiệm cách đo PT, thường dùng tỷ lệquốc tế (INR).

6.GLOBULIN MIỄN DỊCH

Globulin miễn dịch là những protein liên quan đến

hệ miễn dịch, một vài trong số này được được tạo ra

ở gan và một số được tạo ra từ bạch cầu – tế bàomáu trắng Một vài loại globulin miễn dịch tăng lên

ở nhiều người bị bệnh gan mãn tính Mức tăngglobulin miễn dịch A, G và M (IgA, IgG, IgM) cóthể là biểu hiện của bệnh gan nào đó (xem bảng 3.1)

7.TIỂU CẦU

Tiểu cầu là tế bào máu giúp hình thành cục máuđông Lá lách đóng vai trò như một kho dự trữ tiểucầu Ở những người xơ gan, lá lách thường phảilàm việc nhiều để bù lại chức năng bị suy giảm dotổn thương gan Điều này thường làm cho lách to và

số lượng tiểu cầu giảm, được gọi là giảm tiểu cầu.Bình thường tiểu cầu có số lượng từ 150-400 x 103/microlit Nếu bệnh nhân thấp hơn 150 x 103/

Trang 17

microlit được coi là giảm tiểu cầu, và nên nghĩ đếnkhả năng bị xơ gan.

8.AMONIAC (NH3)

Amoniac là một sản phẩm phân hủy của amino acid.Tăng mức ammoniac trong máu có thể là một dấuhiệu của bệnh não Một số bác sĩ dựa vào mứcammoniac để theo dõi bệnh nhân bị bệnh não,nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy ít có mốitương quan giữa nồng độ ammoniac và mức độ củabệnh não, và việc sử dụng nó vào mục đích này cònđang còn gây tranh cãi Không khuyến cáo xác địnhnồng độ ammoniac cho bệnh nhân bị bệnh gan, vìbất kỳ bệnh gan nào cũng có thể làm tăng nhẹ thông

số này và không phải là chẩn đoán của bệnh não.Cuối cùng, có nhiều yếu tố làm tăng giả mứcammoniac mà có thể biết được sự sai số bao gồmhút thuốc, dùng một vài thuốc nhất định (như acidvalproic), tình cờ bị lẫn mồ hôi vào mẫu máu trongquá trình lấy máu và phòng thí nghiệm chậm làmphân tích máu

9.MỘT VÀI LƯU Ý CUỐI CÙNG VỀ XÉT NGHIỆM MÁU

Trang 18

Nên nhớ một số loại xét nghiệm máu riêng biệtkhông thể dùng để dự đoán sự tiển triển của bệnhgan Bản thân những xét nghiệm này ít khi biểu hiện

rõ rệt Chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với một sốcác yếu tố khác, chúng phải được đánh giá kỹ lưỡngbởi bác sĩ Nói cách khác, không nên quá đề caonhững xét nghiệm riêng lẻ này Mỗi xét nghiệm chỉ

là một phần của sự phức tạp Trong hầu hết cáctrường hợp, các xét nghiệm này chỉ đưa ra nhậnđịnh rằng có vấn đề gì bất ổn – chỉ là bước đầu tiên

để đi đến sự chẩn đoán chính xác.Sau khi đánh giá các kết quả xét nghiệm thôngthường, thường yêu cầu làm thêm xét nghiệm máu

cụ thể để tìm ra nguyên nhân chính xác của các bấtthường về gan Bảng 3.1 liệt kê các xét nghiệmmáu được dùng để chẩn đoán những bệnh gan cụthể Nói chung, khoa xét nghiệm đưa cho bác sĩ kếtquả xét nghiệm máu thông thường trong vòng 1hoặc 2 ngày; nhưng kết quả xét nghiệm máu riêngbiệt hơn có thể cần tới 2 tuần, phụ thuộc vào từngkhoa xét nghiệm Thời gian chờ đợi này thật không

dễ dàng gì (bệnh nhân cần phải kiên nhẫn)

Ngày đăng: 19/11/2015, 08:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh cụ thể của gan - CHUYÊN ĐỀ Y HỌC  MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ BỆNH GAN,  TRẨN ĐOÁN XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG GAN  CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO.
Bảng 3.1 Xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh cụ thể của gan (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w