1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

16 841 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Chủ Yếu Để Phát Huy Vai Trò Của Pháp Luật Thuế Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Và Hội Nhập Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Trang 1

I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ

Khái niệm pháp luật thuế

Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác Sự xuất hiện, phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử dụng nó làm công cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế - xã hội ấy Có nhiều cách hiểu về thuế, như Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của

bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” Còn đối với các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng thuế là “một hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”

Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật

pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách Thuế không có bất kì sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta có thể thấy nét

chung như sau: “thuế là khoản thu bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định” Thuế không phải là một

hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và

nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật

Quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước và dân cư được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế

Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách Nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước Việc đưa ra khái niệm pháp luật thuế nhằm phân định ranh giới giữa các nhóm quan hệ, qua đó lựa chọn áp dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt được hiệu quả điều chỉnh cao

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của luật thuế ở Việt Nam cho thấy pháp luật thuế ra đời rất sớm Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, sử dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung bộ phận của cái xã hội mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng nắm giữ của cải đó Điều này cũng giúp cho việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách Nhà nước mặc dù giữa luật thuế

và luật ngân sách Nhà nước có mối liên hệ nội tại

Hệ thống pháp luật thuế ở nước ta hiện nay bao gồm:

- Luật quản lý thuế 2006;

Trang 2

- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005.

- Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008;

- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008;

- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008;

- Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2008;

- Luật thuế tài nguyên năm 2009;

- Luật thuế sư dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 (chưa có hiệu lực)

- Các nghị định hướng dẫn thi hành những văn bản pháp luật nêu trên và các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động và nội dung hoạt động của các chủ thể, đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế bao gồm các nhóm quan hệ:

Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý thuế;

Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế;

Nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình xử lý vi phạm và khiếu nại về thuế

Xét đối tượng điều chỉnh của pháp luật thuế, có thể nhận thấy Nhà nước, với tư cách là chủ thể quyền lực, luôn là một bên tham gia quan hệ thuế và trực tiếp chi phối các quan hệ đó Các quan hệ đều nhằm hướng tới việc chuyển giao bắt buộc một nguồn tài chính vào cho nhà nước Nguồn tài chính đó nhằm phục

vụ lợi ích công cộng, điều chỉnh xã hội ở tầm vĩ mô

Xuất phát từ tính chất của các quan hệ thuế do luật thuế điều chỉnh, để sự tác động của pháp luật có hiệu quả, luật thuế sử dụng phương pháp mệnh lệnh quyền uy

Nguồn của pháp luật thuế là các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế và các văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện quyền thu thuế mà Việt Nam đã ký kết hoặc cam kết thực hiện Nguồn của văn bản pháp luật thuế do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật Các văn bản pháp luật quốc tế là nguồn của pháp luật thuế bao gồm các điều ước quốc tế song phương và đa phương

Quan hệ pháp luật thuế

Để phục vụ lợi ích của mình và tạo ra trật tự chung cho xã hội, nhà nước dùng quy phạm pháp luật như một quy tắc xử sự chung nhằm tập trung nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước Quan hệ thu, nộp thuế thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật đã trở thành quan hệ pháp luật thuế

Quan hệ pháp luật thuế mang một số đặc điểm sau:

Trang 3

Thứ nhất, quan hệ pháp luật thuế mang nặng tính quyền uy Hệ quả của

quan hệ pháp luật thuế là sự chuyển giao một khối lượng tài sản từ người nộp thuế cho nhà nước, vì vậy việc nộp thuế không phải là sự lựa chọn của đối tượng nộp thuế mà do yêu cầu của nhà nước

Thứ hai, quan hệ pháp luật thuế thường quy định cụ thể những quyền và

nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ

Thứ ba, một bên tham gia quan hệ pháp luật thuế bao giờ cũng là cơ quan

quản lý thuế

Nội dung quan hệ pháp luật thuế bao gồm:

Căn cứ pháp lý hình thành quan hệ pháp luật thuế cụ thể, thường được ghi nhận rõ trong các quyết định của cơ quan quản lý thuế;

Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế, gồm hai chủ thể cơ bản là các cơ quan quản lý, thu thuế và đối tượng nộp thuế;

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế;

Sự kiện pháp lý trong quan hệ pháp luật thuế là những sự kiện thực tế làm xuất hiện các điều kiện của chủ thể nộp thuế, được pháp luật ghi nhận rõ

II - VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ

Vai trò của pháp luật thuế

Thuế và nhà nước là hai phạm trù lịch sử luôn đi cùng nhau, chi phối và phụ thuộc nhau Vì vậy, thuế vừa được hiểu là công cụ kinh tế hỗ trợ cho sự tồn tại của nhà nước và bộ máy nhà nước; mặt khác, thuế lại được nhà nước sử dụng như là loại công cụ để thực hiện những nhiệm vụ mục tiêu nhất định Mặc dù bất

kỳ nhà nước có chủ quyền nào cũng được quyền đánh thuế nhưng để nguồn thu

từ thuế trở thành hiện thực, nhà nước phải sử dụng pháp luật như là công cụ hữu hiệu và đặc thù nhất của mình để giải quyết các mục tiêu định trước Có thể chỉ

ra hệ thống pháp luật thuế có vai trò cơ bản sau đây:

2.1.1 Pháp luật thuế tạo c ơ sở pháp l ý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà n ước

Pháp luật thuế bao gồm các quy phạm pháp luật xác định quyền thu thuế của nhà nước, nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể đủ điều kiện Điều này có nghĩa nguồn thu từ thuế chỉ có thể có được khi các bên thực hiện đúng quy định pháp luật thuế Vấn đề đặt ra, pháp luật thuế có vai trò đến đâu và cần phải tồn tại ở mức độ thế nào để đáp ứng về nguồn thu ngân sách nhà nước

Trước hết, cần khẳng định nguồn thu từ thuế có vị trí quyết định đến cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời ký, ở các quốc gia đã cho thấy: thu từ thuế chiểm phần lớn các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước Các luật thuế được ban hành

Trang 4

đều xác nhận “động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước” như một

lý do cơ bản Khoản thu từ thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách nhà nước, phải đảm nhiệm cho hàng loạt các yêu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước, cho cộng đồng xã hội Điều này lý giải cơ cấu cân đối ngân sách nhà nước được

pháp luật ghi nhận Điều 8 Luật ngân sách nhà nước quy định rõ: “Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào đầu tư phát triển” Với những lý do đó, bất kỳ quốc gia nào cũng cần phải có và mong muốn

có được hệ thống pháp luật thuế đầy đủ với tư cách là căn cứ pháp lý vững chắc

để tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước Mọi thay đổi về cơ cấu hệ thống luật thuế, nội dung từng luật thuế đều ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả thu ngân sách nhà nước từ thuế Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của pháp luật thuế trong việc tạo căn cứ pháp lý hình thành nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước

2.1.2 Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện đường lối trong một thời kỳ nhất định của nhà n ước

Nhà nước, bằng pháp luật có khả năng quản lý, điều tiết tời mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Bằng hệ thống pháp luật thuế, nhà nước thể hiện ý chí của mình đối với đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng cho xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức, các nhân có thể tồn tại và vận động theo nhu cầu và lợi ích của chính họ, điều này có thể tổn thương đến trật tự

xã hội cũng như định hướng của nhà nước trong từng giai đoạn, ở mỗi quốc gia Giải quyết vấn đề này, pháp luật thuế có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp vào hoạt động, vào quyết định đầu tư của các chủ thể nhằm đạt tới mục tiêu nhất định của nhà nước Thông qua hệ thống pháp luật thuế, nhà nước có thể thay đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế mà không cần can thiệp hành chính

Để thực hiện cơ cấu đầu tư định trước, pháp luật thuế có những quy định cụ thể khác nhau giữa nghĩa vụ thuế của đối tượng ưu tiên và đối tượng bị hạn chế Chính điều này sẽ làm ảnh hưởng tới cơ hội tìm kiếm thu nhập của đối tượng đầu

tư, qua đó có thể làm thay đổi luồng chu chuyển vốn từ khu vực đầu tư này sang khu vực đầu tư khác Pháp luật thuế các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều phản ánh rõ vai trò nêu trên Chẳng hạn, việc quy định đánh thuế hay không đánh thuế, mức thuế suất khác nhau đối với từng ngành nghề, các mặt hàng hay các loại thu nhập đều có thể tác động đến các ngành, nghề, qua đó đảm bảo sự phát triển cân đối ngành nghề trong nền kinh tế

Trang 5

Hệ thống pháp luật thuế cũng có khả năng định hướng chi tiêu xã hội, điều chỉnh thu nhập trong những trường hợp cần thiết Việc tiêu dùng xã hội, ở mỗi quốc gia có những định hướng khác nhau tùy theo điều kiện thực tế pháp luật thuế Việt Nam ghi nhận rõ sự hạn chế chi tiêu của các đối tượng đối với hàng hóa, dịch vụ chưa thực sự phù hợp với giai đoạn hiện tại; trong khi đó lại khuyến khích, tạo cơ hội tối đa cho mọi đối tượng có thể tiếp cận đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội

Ở Việt Nam, bên cạnh những vai trò chung đối với nền kinh tế xã hội, pháp luật thuế còn được Nhà nước sử dụng như một công cụ thể hiện chính sách

xã hội

2.1.3 Nhà n ước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh

Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ thuế, các cơ quan quản lý thuế cùng với đối tượng nộp thuế buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn với chế độ chứng từ hóa đơn, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức kinh doanh, cơ cấu tổ chức… Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lý nền kinh tế; trên

cơ sở đó có hệ thống pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng tuân thủ pháp luật thuế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng có khả năng pháp hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm trong quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung

2.2.Một số thành tựu đạt được của pháp luật thuế

2.2.1 Pháp luật thuế hiện hành của Việt Nam về căn bản đã là hệ thống thuế của một nền kinh tế thị tr ường đang phát triển theo định hướng x ã hội chủ nghĩa

Trước hết, pháp luật thuế đã thể hiện được quan điểm của nhà nước khuyến khích quyền tự do kinh doanh của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế, trong nước cũng như ngoài nước Điều này thể hiện ở một số điểm như: trong các luật thuế hiện hành đã không có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh

tế trong nước, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong nghĩa

vụ nộp thuế (ngoại trừ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao); quy định các mức thuế phù hợp để giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế trên cơ sở tái tạo nguồn thu; đơn giản hóa thủ tục trong hành thu thuế…

Trang 6

Bên cạnh đó, pháp luật thuế Việt Nam còn mang tính xã hội sâu sắc, góp phần giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo – vốn là mặt trái thường thấy của nền kinh tế thị trường Điển hình có thể kể đến thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

2.2.2 Pháp luật thuế đã thể chế hóa các quan điểm, chính sách của nhà n ước trong lĩnh vực thuế, kịp thời sửa đổi, bổ sung để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ

Pháp luật thuế hiện hành đã thể hiện rõ vai trò của thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nhìn chung, hệ thống thuế của Việt Nam đã có cơ cấu phù hợp về mặt lý luật bao gồm ba nhóm thuế: thuế đánh vào tiêu dùng, thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản Cơ cấu này về cơ bản đã đảm bảo bao quát hết nguồn thu Nhờ có hệ thống pháp luật thuế phù hợp, tỷ trọng các khoản thu từ thuế trong các khoản thu ngân sách ngày càng tăng và chiếm đến 90-95% tổng thu ngân sách Điều này dẫn đến nguồn lực tài chính nhà nước được củng

cố và ngày càng lớn mạnh, đảm bảo cân đối ngân sách và đầu tư cho các mục tiêu quan trọng của xã hội Bên cạnh đó, pháp luật thuế cũng đã được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung kịp thời để phù hợp với tình hình thực tiễn tại từng giai đoạn phát triển kinh tế Điển hình phải kể đến là việc ban hành Luật quản lý thuế

2006, việc sửa đổi, bổ sung nhiều lần các luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt trong thời gian qua đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn điều chỉnh

2.2.3 Pháp luật thuế về căn bản đã đồng bộ với các luật khác trong tổng thể

hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung

Trước hết, pháp luật thuế là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh tế Sự xuất hiện và hoàn thiện pháp luật thuế không thể tự phát mà phải hài hòa với sự hình thành và hoàn thiện pháp luật về thương mại, đầu tư, đất đai… Xét dưới góc độ này, pháp luật thuế hiện hành về căn bản

đã đồng bộ với Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai và các luật có liên quan khác Pháp luật thuế hiện hành mang tính ổn định cao đã góp phần tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch cho những nhà đầu tư, thu hút và làm an tâm các nhà đầu tư nước ngoài về môi trường kinh doanh ở Việt Nam 2.2.4 Pháp luật thuế đã từng b ước phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam

Hội nhập nền kinh tế thế giới là một tất yếu đối với Việt Nam Yêu cầu của tiến trình hội nhập là phải có sự sửa đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp và hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này

Trang 7

Trong những năm qua hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam đã từng bước được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những cam kết của Việt Nam trong các hiệp ước quốc tế song phương và đa phương về thương mại, về khu mậu dịch tự

do, và của các tổ chức quốc tế Điển hình là những sửa đổi bổ sung luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo các cam kết của Việt Nam trong khu vực mậu dịch tự

do AFTA; sửa đổi, bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuê nhập khẩu sau khi Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO Bên cạnh đó việc Việt Nam ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần với gần 60 nước trên thế giới để đảm bảo và khuyến khích đầu tư cũng đã

là những bước tiến quan trọng trong các quan hệ song phương về thuế

III - CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT THUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1 Các yêu cầu cơ bản để hoàn thiện pháp luật thuế ở Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế:

- Hoàn thiện pháp luật thuế trong tiến trình hội nhập cần đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước không bị biến động lớn

Trong những năm qua, nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế xuất nhập khẩu chiếm 1 tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước (khoản 25% tổng thu ngân sách nhà nước) Vấn đề đặt ra là khi chúng ta thực hiện các cam kết giảm thuế nhập khẩu thì trước mặt nguồn thu của ngân sách Nhà Nước (NSNN)

từ thuế nhập khẩu sẽ giảm đi đáng kể kéo theo ảnh hưởng dây truyền tới cân đối ngân sách và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Do đó, yêu cầu đảm bảo nguồn thu ngân sách không bị biến động lớn khi tiến hành hoàn thiện pháp luật thuế hiện hành là xác đáng và cấp thiết

Để đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN chúng ta cần giảm từ từ tỉ trọng thuế nhập khẩu theo tỷ lệ tương ứng với việc tăng dần nguồn thu từ thuế nội địa, từng bước cơ cấu lại các sắc thuế gián thu, tiến tới nâng dần tỉ trọng thuế trực thu, giảm tỉ trọng thuế gián thu trong cơ cấu thu NSNN

Điều này cũng có ý nghĩa là việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thuế cần được tiến hành đồng bộ và có sự cân nhắc thấu đáo với tầm nhìn rộng Vấn đề cắt giảm thuế nhập khẩu từ từ là có cơ sở thực hiện và phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế quan theo các hiệp định đã kí kết

- Hoàn thiện pháp luật thuế trong tiến trình hội nhập cần đảm bảo sự bảo hộ đúng đắn, đúng mức nền sản xuất trong nước

Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua được xây dựng trên nguyên tắc bảo hộ nền sản xuất trong nước, một nguyên tắc được

Trang 8

thừa nhận rộng nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế Song điều đáng nói ở đây

là chính sách bảo hộ đó có nhiều hạn chế, không phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế

Điều kiện trước mắt của Việt Nam tiến hành hội nhập khi xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, nền sản xuất trong nước còn yếu kém về nhiều mặt thì vẫn cần thiết thực hiện bảo hộ phù hợp nền sản xuất trong nước Tuy vậy, phương hướng bảo hộ cần thay đổi cho phù hợp với các cam kết quốc tế Tiến hành bảo hộ chọn lọc đối với các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất những mặt hàng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội nhưng sức cạnh tranh đối với hàng hóa quốc tế còn yếu, chi phí sản xuất còn cao là thực sự cần thiết và phù hợp với nguyên tắc và cam kết hội nhập Khi thực hiện giải pháp này cùng cần lưu ý rằng theo pháp luật và thông lệ quốc tế thì các biện pháp bảo hộ chỉ được phép sử dụng bằng công cụ thuế quan và trong thời hạn nhất định Vì vậy, khi hoàn thiện pháp luật thuế việc xây dựng các biện pháp bảo hộ cần đảm bảo đúng hướng, có mức độ hợp lí, có điều kiện và có thời hạn cụ thể Mức độ bảo

hộ cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc và lợi thế cạnh tranh của từng loại hàng hóa đối với từng thị trường và chính sách của Nhà Nước về định hướng phát triển từng ngành Các mức độ bảo hộ được thực hiện giảm dần để kích thích cạnh tranh lành mạnh và tính hiệu quả

- Hoàn thiện pháp luật thuế trong tiến trình hội nhập cần đảm bảo sử dụng thuế như một công cụ quan trọng nhằm khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế

có hiệu quả, thúc đẩy tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là yêu cầu và mục tiêu quan trọng được đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là một công cụ phân phối quan trọng của nhà nước, thuế có tác động rất lớn đến quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phù hợp và tiến bộ

Do đó, để tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập, pháp luật thuế cần phải được quy định theo hướng hợp lí nhằm phát huy tốt vai trò to lớn nói trên theo định hướng của nhà nước

- Hoàn thiện pháp luật thuế phải đảm bảo tạo môi trường pháp lí bình đẳng, công bằng áp dụng thuế thống nhất cho mọi đối tượng nộp thuế Thuế phải đảm bảo tính trung lập cần thiết của nó, bỏ các quy định về ưu đãi, miễn, giảm thuế

để thực hiện các chính sách xã hội, chuyển sang thực hiện các biện pháp tài chính khác…

- Pháp luật thuế trong tiến trình hội nhập phải có tính hệ thống, đồng bộ, ổn định và đơn giản cần đẩy mạnh cải cách theo hướng đơn giản, minh bạch, công

Trang 9

khai, dân chủ trong công tác quản lí thuế, bảo đảm dễ hiểu dễ thực hiện, giúp người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí thuế

- Cần hoàn thiện pháp luật thuế theo hướng hiện đại hóa, kiện toàn bộ máy quản lí thuế, đẩy mạnh công tác tin học hóa….để hạn chế tới mức thấp nhất các hành vi gian lận thuế, chống thất thu ngân sách, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong quản lí thuế, tiến tới thực hiện cơ chế người nộp thuế tự khai,

tự tính, tự nộp thuế…

- Pháp luật thuế hiện hành cần phải phù hợp và tương thích với luật phát, thông lệ quốc tế, các cam kết về thuế mà VN tham gia, kí kết nhưng phải đảm bảo tói đa hóa lợi ích từ các cam kết thuế, tối thiểu hóa các chi phí trong quá trình hội nhập

- Pháp luật thuế phải phù hợp với chủ trương chính sách của đảng và nhà nước, đảm bảo giữ vững tính định hướng xã hội chủ nghĩa

3.2 Giải pháp phát huy vai trò của pháp luật thuế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường

3.2.1 Xây dựng hệ thống pháp luật thuế nhằm giữ vững vị trí nguồn thu từ thuế trong kết cấu ngân sách nhà n ước

Xuất phát từ cội nguồn xuất hiện thuế và vai trò của thuế trong kết cấu nguồn thu ngân sách, bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn đạt tới số thu từ thuế ngày càng tăng trưởng Kết quả nghiên cứu về lịch sử phát triển của thuế qua các thời kỳ, ở các quốc gia cho thấy: thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu Ngân sách nhà nước Trong giai đoạn nền kinh tế tập trung ở Việt Nam, các khoản thu mang tính chất thuế từ khu vực kinh tế nhà nước được thực hiện với tên gọi khác (thu quốc doanh, thu lợi nhuận trích nộp và thu khấu hao tài sản cố định của xí nghiệp quốc doanh), chúng đều chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí là quyết đinh trong tổng thu ngân sách nhà nước Trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật thuế bị bó hẹp Diện nộp thuế chỉ là các tổ chức, cá nhân “ngoài quốc doanh”, với các loại thuế được ban hành ở mức độ ít về loại thuế, hẹp về phạm vi áp dụng Hiện nay, hệ thống pháp luật thuế đang tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành trong thực tế nguồn thu ổn định với tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thu từ thuế đã thực hiện được nguyên tắc cân đối: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu bắt buộc khác không những đảm bảo chi trả cho toàn bộ các khoản chi thường xuyên mà còn đáp ứng được một phần cho chi đầu tư phát triển

Tuy nhiên, với hệ thống pháp luật thuế hiện hành cùng với những cam kết quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ phải thực hiện, nguồn thu từ thuế có thể bị

Trang 10

giảm sút Sự giảm sút không chỉ là hệ quả của việc sửa đổi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà còn có thể là hệ quả của việc sửa đổi các khoản thu từ thuế nội địa Thuế nhập khẩu đang ở mức thuế suất cao nay phải cắt giảm theo cam kết làm giảm số thu tuyệt đối từ thuế nhập khẩu Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt giảm đáng kể Bên cạnh đó, việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác cũng làm giảm số thu từ thuế so với hiện tại Chẳng hạn như, Luật thuế thu nhập cá nhân được ban hành sẽ làm giảm diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

so với pháp luật hiện hành; số các nhà kinh doanh cá thể (cá nhân kinh doanh) không nằm trong diện phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là con số rất đáng kể

so với việc các đối tượng kinh doanh thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành Trong khi đó, mục tiêu thu ngân sách trong năm 2006-2010 lại có xu hướng tăng hai lần so với giai đoạn 2001-2005; trong đó động viên từ thuế chiếm 20-21% GDP

Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra cho hệ thống pháp luật thuế là phải tìm ra các giải pháp thích hợp để tăng nguồn thu từ thuế Để giữ vững vai trò của pháp luật thuế trong việc ổn định và tăng nguồn thu từ thuế, đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước, chúng ta có thể đề cập đến một số giải pháp như:

Thứ nhất: Xác định đúng và đủ phạm vi điều chỉnh của mỗi loại thuế

Việc xác định đúng và đủ phạm vi áp dụng của một loại thuế không chỉ đảm bảo nguyên tắc công bằng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế mà còn là biện pháp tăng thu thực tế và tạo cơ sở pháp lý ổn định cho các loại nguồn thu cho ngân sách nhà nước Chẳng hạn như nếu trong thuế thu nhập cá nhân việc xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập, không phân biệt nguồn gốc tạo

ra thu nhập có thể coi là việc mở rộng diện chịu thuế của loại thuế mới Đó có thể là thu nhập từ đầu tư chứng khoán, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập

từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Hệ quả là nguồn thu ngân sách nhà nước

từ thuế thu nhập cá nhân sẽ ổn định và công bằng hơn Những trường hợp và phân tích tương tự cũng được đặt ra cho các luật thuế khác Với cách lập luận trên, việc tiếp tục sửa đổi bổ sung diện chịu thuế, căn cứ tính thuế trong mỗi luật thuế là hoàn toàn cần thiết

Thứ hai: Nghiên cứu và xác định lại những hoạt động kinh tế, xã hội cần thiết phải điều chỉnh bằng loại thuế mới

Thực tế cho thấy có nhiều hoạt động phát sinh trong đời sống xã hội chưa thực sự chịu sự tác động của hệ thống thuế Yêu cầu bảo vệ môi trường và khả năng hỗ trợ trong vấn đề bảo vệ môi trường là một ví dụ Việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu sự gia tăng của các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, tăng nguồn thu cho ngân sách từ thuế là hết

Ngày đăng: 23/04/2013, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w