LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY
Trang 11 Lãi suất và đặc điểm của lãi suất
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trảthêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu Tỉ lệ phần trăm củaphần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất(interest rate) Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay cógiá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian củatiền tệ Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác cónghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mìnhvới hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai Sẽ không có sựchuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nókhông đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ
Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các
tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1])
Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng
vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả chongười sở hữu vốn([2])
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ
của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thờigian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụngtiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đốivới việc trì hoãn chi tiêu
Trang 2Từ những cơ sở trên, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về lãi suất như
sau: lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất
thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuậnhoặc do pháp luật quy định Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời gianvay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định Số tiền này tỉ lệ thuận vớilãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồngvay tiền sẽ không có lãi suất Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thìkhông được vượt quá “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhànước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng”([4]) Như vậy, nếucác bên thoả thuận về lãi suất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất củaNgân hàng Nhà nước công bố thì khi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối
đa mà Toà án chấp nhận không vượt quá “150% mức lãi suất cơ bản doNHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng”
Đặc điểm của lãi suất
Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặctinh thần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơbản sau đây:
· Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài
sản: Qua nghiên cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp
đồng đầu tư, cho thuê tài chính hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở đểtĩnh lãi Tuy nhiên, lãi suất chủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồngvay bởi lẽ trong hợp đồng vay bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau mộtthời hạn nhất định do đó phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứngvới thời hạn vay Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuê tàichính, đầu tư thì cơ sở để tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác như chi
Trang 3phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợp đồng vay thì cơ sở để tínhlãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quyđịnh.
· Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát
sinh do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc:
Bản chất của lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bêncho vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời hạn nhất định Do đó, sẽkhông thể có tỉ lệ đó nếu như không tồn tại số tiền gốc mà các bên thoảthuận được trong hợp đồng vay tài sản
· Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời
gian vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời
hạn vay Do đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dàihay ngắn mà các bên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp
2 Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọiquan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằmngoài vòng kiểm soát của pháp luật Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi cácvăn bản pháp luật của nước ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao,hơn nữa luật nước ta là luật khung, muốn thi hành được trên thực tế phải
có Nghị định hướng dẫn thi hành Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vaycũng rơi vào tình trạng này Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất mộtđiềuvề lãi suất một cách trực tiếp:
“Điều 476 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
Trang 42 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.
Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 làquá khái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làmbiến thái đi và lợi dụng nó để kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hìnhthức không lành mạnh
Lãi suất cơ bản được quy định trong điều 476 bỗng dưng đã gây tranhcãi xem có nên sửa đổi hay không Lãi suất này tự dưng trở thành mốc
để suy ra lãi suất trần Ví dụ có thời điểm lãi suất cơ bản lãi 12%/nămsuy ra lãi suất cho vay tối đa sẽ ở mức 18%/năm Tức là một điều luậtnhằm ngăn chặn hiện tượng cho vay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trởthành yếu tố điều tiết lãi suất của hệ thống ngân hàng chính thống
Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thoả thuận; tuynhiên, nhằm ngăn ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi và cũng tạo cơ sởpháp lý để giải quyết các tranh chấp về lãi suất hoặc trong trường hợpkhông có cơ sở xác định rõ mức lãi đã thỏa thuận, mà pháp luật dân sựquy định phương thức để xác định một mức lãi suất nào đó được xem làhợp lý và tiêu chuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơchế điều hành trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãi suấtcao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời điểm đối với loạicho vay tương ứng
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất về lãi suấtnhưng so với Bộ luật này, BLDS 2005 có những thay đổi căn bản Đối
với BLDS 1995 thì chỉ quy định “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của mức lãi suất cao nhất do Ngân
Trang 5hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng”.Thực tế cho
thấy khi áp dụng quy định này trong nhiều năm có nhiều bất cập và
không còn phù hợp nữa, thay vào đó là quy định “Lãi suất vay do các
bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.
Quy định mới này đã dễ hiểu hơn, thực tế hơn và hiệu quả hơn và saugần bốn năm thực hiện quy định về lãi suất này, từ ngày 01/01/2006 –ngày BLDS 2005 có hiệu lực thi hành, chúng ta đã thu được những kếtquả đáng mừng Tại sao lại có sự thay đổi đó? Đó là vì cơ chế điều hànhlãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã có nh÷ng thay đổi, cơ chế điềuhành trần lãi suất được thay thế bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản.Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 quy định: “Lãi suất cơ bản là lãisuất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các Tæ chøc tÝndông (TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh”([3]); “Ngân hàng Nhà nước xácđịnh và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”([4]) Mặc dù vậy,phải đến 02/8/2000, Ngân hàng Nhà nước mới ban hành Quyết định số241/2000/QĐ-NHNN (có hiệu lực từ ngày 5/8/2000) chính thức bắt đầuthực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng ĐồngViệt Nam thay cho cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay Hệ quả là: từthời gian này cho đến trước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, rõ ràng đãtồn tại một khoảng trống pháp lý khi có sự bất tương đồng giữa Điều 473BLDS năm 1995 với Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 và Quyết định số241/2000/QĐ-NHNN1 về tiêu chí so sánh (lãi suất trần và lãi suất cơbản), Toà án không có cơ sở để dẫn chiếu khi giải quyết các tranh chấp
về lãi suất phát sinh trong thời gian ấy Thay thế cho BLDS năm 1995 và
có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, về nội dung này, BLDS năm 2005 quyđịnh: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150%
Trang 6của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vaytương ứng”([5]) Đây là sự pháp điển hoá Luật Ngân hàng Nhà nước,Quyết định sè 241/2000/QĐ-NHNN1 vào trong BLDS mới một cách hợp
lý và tất yếu
Như vậy, nếu như cơ sở tồn tại của tiêu chí so sánh đã được BLDS năm
2005 giải quyết hợp lý, thì trong lời văn của điều luật lại phát sinh mộtvấn đề khác, đó là sự khác nhau về mức lãi suất thoả thuận tối đa đượcphép (bị khống chế) giữa 2 quy định tương ứng trong hai Bộ luật dân sự.Vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần thống nhất cách hiểu và cách tính toánmức lãi suất cho vay tối đa này của BLDS năm 2005 như thế nào đểkhông phạm luật? Hay nói cách khác, với quy định trên ta cần quan niệmgiá trị 150% là của phần vượt quá so với lãi suất cơ bản hay là tỷ lệ sosánh thuần tuý giữa chúng với nhau – lãi suất thoả thuận với lãi suất cơbản?
Theo LuËt s Trương Thanh Đức([6]), «ng đã mặc nhiên xác định theocách: so sánh tỷ lệ thuần tuý giữa mức lãi suất thoả thuận với lãi suất cơ
bản trong giới hạn luật định là 150% (mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản x 150%), ví dụ: nếu lãi suất cơ bản là 1% thì lãi
suất cho vay tối đa không vượt quá 150% là mức 1,5% (= 1% x 150%).Với cách thể hiện lời văn điều luật của BLDS thì luôn có thể đưa đến chongười đọc quan niệm giống như Luật sư Trương Thanh Đức Nhưng từnhững băn khoăn cã s¬ së, LuËt s §ç Hång Th¸i lại cã cách hiểu khác vềtinh thần cũng như nội dung đích thực của điều luật này([7]):
· Theo quy định của BLDS năm 1995 (Khoản 1, Điều 473) thì mức lãisuất thoả thuận tối đa không vượt quá 50% (của lãi suất trần do NHNNquy định đối với loại cho vay tương ứng) Trong thực tiễn áp dụng phápluật suốt thời gian qua thì cái ngưỡng 50% này luôn được hiểu và vận
Trang 7dụng nhất quán: lãi suất thoả thuận không được vượt giới hạn nhiều hơngấp rưỡi, nghĩa là phần vượt quá phải ít hơn hoặc bằng 50% (và được
xác định theo công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất trần + lãi suất trần x 50%) Hiển nhiên sẽ là phi lý nếu xem ngưỡng
50% ấy chỉ là phân nửa (của lãi suất trần do NHNN quy định) bởi không
lẽ pháp luật lại buộc các thoả thuận dân sự trong xã hội (bao gồm cảhoạt động cho vay của ngân hàng) chỉ được thoả thuận mức lãi suất vaytối đa bằng nửa mức lãi suất trần do NHNN quy định (= lãi suất trần x50%), thực tiễn giao lưu dân sự và việc giải quyết các tranh chấp dân sựcủa Toà án cũng không bao giờ diễn dịch theo ý tứ này Có lẽ ở nội dungnày, chúng ta cần mặc nhiên thừa nhận bởi sự lý giải rõ ràng của chínhthực tiễn áp dụng và thực thi BLDS năm 1995 Tuy nhiên, dường nhưvẫn có điều gì đó bất ổn, phải chăng thực tiễn áp dụng luật có thể làđúng với ý đồ nhà làm luật nhưng cách diễn đạt của điều luật số 473 lạihàm chứa thiếu sót là chưa phản ánh đúng tinh thần ấy?
· Đến BLDS năm 2005, tại khoản 1, Điều 476, ngưỡng tối đa được phépcủa lãi suất vay thoả thuận nêu trên đã có sự chỉnh lý – thay giá trị 50%bằng giá trị 150% và:
- Với cùng lập luận như cách hiểu về tinh thần và thực tiễn thi hànhBLDS năm 1995 thì nên chăng ta cần nhất quán cách xác định ngưỡngnày là tiếp tục căn cứ vào giá trị của phần vượt quá, nếu mức lãi suất cơbản là 1% thì mức lãi suất tối đa được phép thoả thuận sẽ là 2,5% (= 1%+ 1% x 150%), trong đó phần vượt quá là 1,5%, tức bằng 150% của mứclãi suất cơ bản 1% (nghĩa là tiếp tục xác lập theo công thức: mức lãi suấtthoả thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản + lãi suất cơ bản x 150%).Hay nói cách khác, BLDS năm 2005 đã nâng giá trị tỷ lệ xác định mức tối
đa của lãi suất thoả thuận được phép, so với BLDS năm 1995 (đồng thời
Trang 8thay đổi đối tượng so sỏnh lói suất trần bằng lói suất cơ bản) Nh vậyLuật s Đỗ Hồng Thái đã không đồng tình với cách tính của Luật s TrơngThanh Đức.
- Nhưng cũn cú một khả năng khỏc: phải chăng lời văn khoản 1, Điều
473, BLDS năm 1995 đó khụng chuyển tải đỳng ý đồ nhà làm luật (thay
vỡ phải xỏc định giỏ trị của tỷ lệ cần so sỏnh trực tiếp giữa 2 mức lói suất
là đối tượng cần quan tõm với nhau chứ khụng thể búc tỏch phần vượtquỏ để so sỏnh – nghĩa là phải lấy giỏ trị 150% chứ khụng phải là 50%),
và để giải quyết bất cập ấy mà BLDS năm 2005 về cõu chữ “tưởng như”
đó nõng số giỏ trị % của mức ngưỡng tối đa, song nội dung thực tế làkhụng tăng mà chỉ đơn giản là trả lại tỷ lệ % cần so sỏnh về đỳng với sựhợp lý của ý tứ lời văn điều luật, theo đú: “Lói suất vay do cỏc bờn thoảthuận nhưng khụng vượt quỏ 150% của lói suất cơ bản…”([8]) sẽ được
hiểu và tớnh toỏn bởi cụng thức: mức lói suất thoả thuận tối đa = lói suất
cơ bản x 150% Như vậy, Đ476 BLDS năm 2005 cũn ẩn chứa điều gỡ
chưa rừ ràng và cần cú sự giải thớch kịp thời của Quốc hội, trước hết là
sự hướng dẫn ỏp dụng phỏp luật của liờn ngành cỏc cơ quan tư phỏptrung ương về vấn đề nờu trờn
Đối với Luật sư Luu Trường Hận([9]), ụng đưa ra cỏch hiểu tương tự Luật
sư Đỗ Hồng Thỏi: theo BLDS năm 1995 Gọi A: lói suất cơ bản do Ngõnhàng nhà nước quy định, thỡ mức lói suất cho vay do cỏc bờn thỏa thuậnnhưng khụng được vượt quỏ 50% của A (nghĩa là ngoài mức lói suất cơbản là A thỡ Ngõn hàng cú thể được phộp cho vay vượt mức lói suất cơbản nhưng khụng được vượt quỏ 50% của lói suất cơ bản, tức là lói suấtcho vay tối đa mà cỏc Ngõn hàng cú thể ỏp dụng = A + A x 50%) Ta
cú: A + A x 50% = A (1+50%) = A(100%+50%) = A x 150% = A x 1,5 lần
(để chuyển cỏc số ra cựng một đơn vị, ta đổi: 1 = 100%)
Trang 9Tại thông tư số 01 – TT/LT ngày 19/6/1997 của Liên tịch Tòa án nhândân Tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tàiChính: Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản cũng hướng dẫntheo cách tính trên, như sau: Nếu mức lãi suất do các bên thoả thuậnvượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy địnhđối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1Điều 473 Bộ luật dân sự buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãisuất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tươngứng([10]) Ví dụ: C vay của D 10.000.000 đồng vào ngày 30/12/1995 với
thời hạn vay là 6 tháng và với lãi suất là 4%/tháng Hàng tháng C đã phảitrả lãi cho D Tháng 7/1996 C ngừng trả lãi cho D Do đòi nhiều lầnkhông được, nên tháng 11/1996 D khởi kiện yêu cầu toà án buộc bên Cphải trả cả nợ gốc và lãi cho D Khi giải quyết vụ kiện này, toà án buộc Ctrả cho D tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi theo cách tính nhưsau:
- Thời điểm C vay D là tháng 12 – 1995 Theo Quyết định số381-QĐ/NH1 ngày 28 – 12 – 1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trunghạn và dài hạn là 1,7%/tháng Như vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãisuất của hợp đồng vay nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x 50% =2,55%/tháng) Nay BLDS 2005 đã sửa đổi Khỏan 1 Điều 473 BLDS 1995như sau: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượtquá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối vớicác loại cho vay tương ứng”([11]) Để dễ nhận thấy sự khác biệt giữa hai Điềuluật, ta lập bảng so sánh, đối chiếu:
Khoản 1 Điều 473 BLDS 1995 Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005
Qui định: “Lãi suất vay do các bên
thỏa thuận nhưng không được
Qui định: “Lãi suất vay do các bên
thỏa thuận nhưng không được
Trang 10vượt quá 50% của lãi suất cao
nhất (nay là lãi suất cơ bản) do
Ngân hàng nhà nước quy
định(công bố) đối với các loại cho
vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãi
suất của hợp đồng vay nợ là
2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x 50%
= 2,55%/tháng) Từ Ví dụ trên, áp
dụng to¸n học ta có công thức tính
lãi suất cho vay, như sau: Gọi A: là
lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho
vay tối đa Ta có: B = A + A x 50%
là 21,875%/năm (8,75% + 8,75% x 150% = 21,875/năm) Từ Ví dụ
trên, áp dụng to¸n học ta có côngthức tính lãi suất cho vay như sau:Gọi A: là Lãi suất cơ bản; B: là Lãi
suất cho vay tối đa Ta có: B= A +
A x 150% = A (1+150%) [Qui đổi 1=100%] = A (100%+150%) = A x 250% hay B = A x 2,5lần
Tóm lại: Theo BLDS 1995, nếu
mức lãi suất do các bên thoả thuận
vượt quá 50% của lãi suất cao
nhất do Ngân hàng Nhà nước quy
định đối với loại vay tương ứng tại
thời điểm vay, thì toà án áp dụng
Theo BLDS 2005, nếu mức lãi suất
do các bên thoả thuận vượt quá150% của lãi suất cơ bản do Ngânhàng Nhà nước công bố đối vớiloại vay tương ứng tại thời điểmvay, thì toà án áp dụng khoản 1
Trang 11khoản 1 Điều 473 BLDS1995 buộc
bên vay phải trả lãi bằng 150%
mức lãi suất cao nhất do Ngân
hàng Nhà nước quy định đối với
loại vay tương ứng
Điều BLDS 2005 buộc bên vayphải trả lãi bằng 250% mức lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nướccông bố đối với loại vay tươngứng
Như vậy với cách hiểu và tính toán trên ta có: Gọi A: Lãi suất cơ bản doNgân hàng nhà nước công bố, thì lãi suất cho vay của các Ngân hàng sẽ
không được vượt quá: A + A x 150% = A (1+150%) = A (100%+150%) =
A x 250% = A x 2,5 lần Như vậy mức lãi suất cơ bản được NHNN công
bố là 8,75%/năm thì mức lãi suất cho vay của các ngân hàng khôngđược vượt quá: 8,75% x 250% = 21,875%/năm Nếu các ngân hàng chovay trên mức 21,875%/năm (hay 1,82%/tháng) là phạm luật
Đây là những quan điểm của các luật sư và các nhà chuyên môn mànhững quan điểm này được đánh giá rất cao và là cơ sở để thế hệ chúngtôi học tập Một điều luật có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhaunhưng với cách hiểu của mình tôi thiết nghĩ nếu hiểu nội dung của điều
476 BLDS 2005 là quy định lãi suất không được vượt quá 250% lãi suất
cơ bản thì không ổn Vì khi quy định như thế chẳng khác nào là khuyếnkhích cho vay nặng lãi Một đòi hỏi bức thiết là cần phải giải thích luậtmột cách rõ ràng, cụ thể để trách tình trạng có những quan điểm khácnhau([12])
Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “thoả thuận giữa cácbên” tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay tronghợp đồng vay tiền có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoảthuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngânhàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” Nhưng “quyđịnh vẫn chỉ là quy định”, không có chế tài áp dụng thì việc đưa ra các
Trang 12quy định này cũng không mang lại kết quả như ý muốn Nếu có chế tài
áp dụng đối với việc quy định lãi suất cũng chỉ là chế tài hành chính,trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại một khoản tiền mà bên vaychứng minh được việc vay với lãi suất vượt qua mức quy định của phápluật của bên cho vay gây thiệt hại cho mình Hơn nữa, nhu cầu đi vaycủa người vay thường trong những trường hợp cấp bách và cần thiết,việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu của Toà án đôi khi làm ảnh hưởng đếncông việc của người đi vay Cần phải có những quy định và chế tài cụthể để hạn chế tình hình trên
Việc quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh
tế mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay Khi lãi suất của bên chovay cao sẽ khiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vaydẫn đến tình trạng tiền bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lờicủa nó Doanh nghiệp vay tiền là để đầu tư nhưng với mức lãi suất cao
sẽ dự tính việc đầu tư không có lãi nên các doanh nghiệp không vay làđương nhiên Còn cá nhân, họ cần tiền cũng có thể để đầu tư, cũng cóthể vay để chi trả cho một công việc nào đó hay để đảm bảo cho cuộcsống hàng ngày… lãi suất cao khiến những người này không có khảnăng trả cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay Và như vậy nguồn tiềntrong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không nhữngkhông đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các
cá nhân… muốn vay
Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế cũng không ổn Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng chocác đối tượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phảiphù hợp với mọi nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảmphát, kinh tế phát triển hay chậm phát triển…) Lãi suất thấp sẽ làm giảm