1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ Gia Lâm – Hà Nội”.

69 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích - Tìm hiểu hiện trạng phát sinh rác thải tại thị trấn Trâu Quỳ; - Đánh giá công tác quản lý thu gom rác thải tại thị trấn Trâu Quỳ; - Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của dự

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hoá ngày càngtăng cùng đời sống của nhân dân không ngừng được nâng lên dẫn đến lượngrác thải ngày một tăng Tổng lượng chất thải rắn phát sinh cả nước mỗi năm

là 28 triệu tấn, dự báo đến năm 2015 tổng lượng chất thải rắn phát sinh là 43,6triệu tấn, năm 2020 là 67,6 triệu tấn và năm 2025 là 91 triệu tấn

Chất thải rắn nếu không được xử lý nghiêm túc sẽ gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và phát triển bền vững.Đây là một vấn đề bức xúc với toàn xã hội, cần nhận được sự quan tâm đầu tưđúng mức từ mọi ngành mọi cấp Phải có biện pháp quản lý, thu gom triệt để,vận chuyển an toàn và xử lý hiệu quả Để giảm thiểu áp lực của rác thải lênmôi trường, một số đô thị nước ta đã thí điểm việc phân loại rác tại nguồn vàbước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định

Hòa cùng xu thế phát triển và hội nhập của cả nước, những năm gầnđây thị trấn Trâu Quỳ đã có những bước tăng trưởng khá vững chắc cả vềkinh tế, văn hóa và đời sống tinh thần Dân số tăng nhanh, tỉ lệ gia tăng tựnhiên và đặc biệt tỉ lệ gia tăng cơ học cao Một trong những nguyên nhân dẫnđến tình trạng này là do thị trấn Trâu Quỳ có trường Đại học Nông Nghiệp HàNội - một trong những trường đại học trọng điểm của quốc gia với hàng chụcnghìn sinh viên, nghiên cứu sinh… đang theo học và nghiên cứu Sinh viênđến cư trú ngày một gia tăng cùng với người dân trong vùng làm cho lượngrác thải ra hàng ngày tương đối lớn và có chiều hướng ngày càng gia tăngnhanh chóng Tháng 10/2009 UBND huyện Gia Lâm triển khai dự án PLRTNtrên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ với sự hỗ trợ kinh phí của Vùng Ile -de –France Dự án đã đạt được một số thành tựu ban đầu tuy nhiên vẫn còn nhiềuhạn chế Để thấy được hiệu quả cụ thể về mặt kinh tế cũng như môi trường

Trang 2

mà dự án mang lại và để dự án có thể triển khai rộng hơn trong thành phố

cũng như các tỉnh thành khác, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội”.

1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

- Tìm hiểu hiện trạng phát sinh rác thải tại thị trấn Trâu Quỳ;

- Đánh giá công tác quản lý thu gom rác thải tại thị trấn Trâu Quỳ;

- Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của dự án 3R và PLCRTTN;

- Đánh giá vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án 3R vàPLCTRTN;

- Tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục các mặt hạn chế,giúp hoạt động quản lý môi trường hiệu quả hơn

Trang 3

PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Một số khái niệm

Chất thải rắn

Chất thải rắn (CTR) được hiểu là những vật ở dạng rắn do hoạt độngcủa con người (sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng…) và động vật gây ra Đó lànhững vật đã bỏ đi, thường ít được sử dụng hoặc ít có ích và không có lợi cho

con người.[23].

Các nguồn sinh ra chất thải: dân cư, thương mại, công nghiệp, xâydựng, hoạt động nông nghiệp, khu vực xử lí chất thải…

Chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là chất thải rắn phát thải trong sinh

hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.[9].

Thu gom chất thải rắn

Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu

giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở

được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.[3].

Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời

gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận

chuyển đến cơ sở xử lý.[3].

Xử lý chất thải

Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải vàkhông làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã

hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế.[3]

Quản lí môi trường

Quản lí môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phươnghướng và mục đích xác định của chủ thể (con người, địa phương, quốc gia, tổchức quốc tế ) đối với một đối tượng nhất định (môi trường sống) nhằm khôiphục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường của con người trong khoảng thời

gian dự định.[4].

Trang 4

3R là từ viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tiếng Anh: Reduce – Reuse –Recycle

Reduce (Giảm thiểu): Giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối

sống hoặc/và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch…

Ví dụ: Sử dụng làn hay túi vải để đi chợ thay cho túi nlon để nhằm giảmlượng rác thải phát sinh từ túi nilon…

Reuse (Tái sử dụng): Sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản

phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: sử dụng lạichai đựng nước khoáng để đựng nước nước…

Recycle (Tái chế): Sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật

chất có ích khác

2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Trên thế giới

Ước tính hàng năm lượng chất thải được thu gom trên thế giới từ 2,5

-4 tỷ tấn (ngoại trừ các lĩnh vực xây dựng và tháo dỡ, khai thác mỏ và nôngnghiệp) Năm 2004, tổng lượng chất thải đô thị được thu gom trên toàn thếgiới ước tính là 1,2 tỷ tấn Con số này thực tế chỉ gồm các nước OECD và cáckhu đô thị mới nổi và các nước đang phát triển

Phát sinh chất thải rắn ở châu Á

Vấn đề chất thải rắn là một trong những thách thức môi trường mà cácnước trong khu vực phải đối mặt Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đôthị của châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị

Đến năm 2025, con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày.[18].

Malayxia

Theo báo cáo, năm 2004 khối lượng rác thải bình quân đầu người là1,2kg (so với năm 1998 là 0,75kg) Tốc độ phát sinh chất thải rắn hàng ngàydao động từ 45 đến 3000 tấn, Kuala Lumpur đã phát sinh lượng chất thải caonhất nước, xấp xỉ 3000 tấn/ngày Mức độ phát sinh chất thải tính bình quân

Trang 5

đầu người giữa các địa phương, dao động từ 0,25kg/người/ngày - 2

kg/người/ngày, ở thủ đô Kuala Lumpur là 2 kg/người/ngày.[1].

Hồng Kông

Hồng Kông là thành phố đông đúc và náo nhiệt với số dân khoảng 6,9triệu người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới,mỗi ngày thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải

Thách thức đối với Hồng Kông là việc quản lý các loại chất thải đanggia tăng (kể từ năm 1986 tăng 3% mỗi năm) và việc tìm kiếm các bãi đổ chấtthải thay thế bãi chôn lấp hiện nay đã quá tải Với sự gia tăng về dân số và kinh

tế phát triển, năm 1990, lượng chất thải sinh hoạt tính theo đầu người tăng từ0,95 lên 1,11 kg/người/ngày trong năm 2002 Với tình trạng này, Hồng Kông

sẽ hết nơi chôn lấp chất thải sớm hơn dự tính.[1].

Bungari

Vào năm 2001 - 2004, lượng chất thải phát sinh trung bình ở Bungari là13,45 triệu tấn Phát sinh chất thải rắn đô thị trên đầu người trong năm 2004 là 472kg; dưới mức trung bình của EU-25 là 537 kg và thấp hơn đáng kể so với mứctrung bình của EU-15 là 580 kg Lượng chất thải rắn đô thị được thu gom trong

năm 2004 là 3,09 triệu tấn, ít hơn năm 2003 là 4%.[1].

2.2.2 Tại Việt Nam

Theo Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004, trên cả nước đãphát sinh 15 triệu tấn chất thải rắn (CTR) trong đó khoảng 250.000 tấn chấtthải nguy hại CTR sinh hoạt (đô thị và nông thôn) chiếm khối lượng lớn với

số lượng khoảng 13 triệu tấn, CTR công nghiệp phát sinh vào khoảng 2,8triệu tấn và CTR từ các làng nghề là 770.000 tấn Do quá trình đô thị hoá diễn

ra mạnh mẽ, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đang tăng nhanh trung bình đạt 0,7

- 1,0 kg/người/ngày và có xu hướng tăng đều 10 - 16% mỗi năm Trong sốhơn 15 triệu tấn CTR có:

- 12,8 triệu tấn (khoảng 80% tổng lượng chất thải) phát sinh từ các hộgia đình, nhà hàng, chợ, khu kinh doanh

-  2,6 triệu tấn (chiếm 17%) từ các cơ sở công nghiệp

Trang 6

-  Khoảng 160.000 tấn (chiếm 1%) là chất thải nguy hại, gồm chất thải

y tế nguy hại, các chất dễ cháy, chất độc hại từ công nghiệp, các loại thuốc trừ

sâu, thùng chứa thuốc, vỏ, bao bì (bảng 1.3).[15].

Bảng 2.1 Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt

Nam Loại chất thải rắn Đơn vị

tính Toàn quốc Đô thị Nông thôn Tổng lượng chất thải

Chất thải rắn không nguy

hại từ công nghiệp tấn/năm 2.510.000 1.740.000 770.000Chất thải nguy hại phát

sinh từ nông nghiệp tấn/năm 8.600

Lượng hóa chất tồn lưu tấn 37.000

Chất thải y tế lây nhiễm tấn/năm 21.000

Tỷ lệ phát sinh chất thải

Số lượng các cơ sở tiêu

(Số liệu tổng hợp từ Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam 2006)

Trang 7

Chất thải rắn sinh hoạt đô thị

Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta phát sinh ngàycàng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10 - 15% Tỷ lệ tăng cao tậptrung ở các đô thị đang mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số vàcác khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý(17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đôthị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tăng đồngđều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Theo thống kê năm 2002, lượngCTR sinh hoạt trung bình từ 0,6 - 0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và 0,4 -0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ Đến năm 2008 và đầu

2009, tỷ lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9 - 1,3kg/người/ngày (bảng 2.2)

Bảng 2.2. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Khu vực

Lượng phát thải theo đầu người (kg/người/ngày)

%

so với tổng lượng chất thải

% thành phần hữu cơ

Tại Thành phố Hà Nội với số dân khoảng 3,5 triệu người và lượng

chất thải rắn tạo ra năm 2003 vào khoảng 620.000 tấn chất thải sinh hoạt.Tính bình quân lượng chất thải tạo ra trên đầu người là 0,57 kg/ngày, tỷ lệ này

Trang 8

thấp hơn các thành phố lớn trong khu vực châu Á với tỉ lệ trung bình từ 0,9đến 1,5 kg/người/ngày.

Theo Chi cục bảo vệ MT Hà Nội năm 2009, tổng lượng CTR sinh hoạtcủa thành phố khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn/ngàyCTR sinh hoạt đô thị và khoảng 1.500 tấn/ngày CTR sinh hoạt nông thôn.Chất thải xây dựng khoảng 1.000 – 1.200 tấn/ngày, chất thải công nghiệp vàchất thải nguy hại khoảng 750 tấn/ngày, bùn bể phốt và chất thải khác 500 –

600 tấn/ngày, chất thải y tế nguy hại trên 5 tấn/ngày Lượng CTR sinh hoạttăng lên theo thời gian do Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, do gia tăngdân số và mức sống của người dân được nâng lên Khối lượng CTR sinh hoạtphát sinh ở Hà Nội năm 2002 là 1.500 tấn/ngày và đã tăng lên 2.500 tấn/ngàyvào năm 2006, 2.800 tấn/ngày vào năm 2007 và khoảng 5.000 tấn/ngày vàonăm 2009 Nhưng việc xử lý chúng của các công ty, xí nghiệp môi trườngchưa theo kịp thực tế

Hoạt động chính về quản lý rác thải áp dụng cho một khu vực bất kìbao gồm:

 Thành lập cơ quan chuyên trách ;

 Xác định địa bàn quản lý, ranh giới hành chính, địa lý;

 Xác định các nguồn thải trong khu vực bao gồm vị trí, số lượng,đặc điểm nguồn thải: công nghiệp, khu tập thể, chợ, trường học, bệnh viện, cơquan hành chính;

 Xác định khối lượng rác thải;

Trang 9

 Xác định tuyến thu gom, kí kết hợp đồng thu gom rác thải vớicác cơ quan xí nghiệp, nhà máy;

 Xây dựng và ban hành quy định về vệ sinh rác thải;

 Kế hoạch và trang thiết bị thu gom vận chuyển rác thải;

 Xây dựng bãi chôn lấp vệ sinh, lò thiêu đốt, nhà máy sản xuấtphân ủ;

 Biện pháp quản lý tổng hợp rác thải

Hình 2.1 Mô hình quản lý rác thải.

Trang 10

Là một nước nhỏ, Singapo không có nhiều diện tích đất để chôn lấpchất thải rắn như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằng phươngpháp đốt và chôn lấp Cả nước Singapo có 3 nhà máy đốt rác Những thànhphần chất thải rắn không cháy được chôn lấp ở bãi rác ngoài biển Bãi chônlấp rác Semakau được xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảonhỏ ngoài khơi Singapo Rác thải từ các nguồn khác nhau sau khi thu gomđược đưa đến trung tâm phân loại rác Ở đây rác được phân loại ra nhữngthành phần cháy được và thành phần không cháy được Những chất cháyđược được chuyển tới các nhà máy đốt rác còn những chất không cháy đượcđược chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan để chở ra khu chôn lấp rác Ở

đây rác thải lại một lần nữa chuyển lên xe tải để đưa đi chôn lấp.[22].

Tại Thái Lan

Ở Thái Lan, việc phân loại rác được thực hiện ngay từ nguồn Người tachia ra 3 loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thựcphẩm và các chất độc hại Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe

ép rác có màu sơn khác nhau

Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh đượcchuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sửdụng trong tái chế Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biếnphân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinhđược xử lý bằng chôn lấp Chất thải độc hại được xử lý bằng phương phápthiêu đốt

Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ Ngoài nhữngphương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phốchính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tậpkết Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lýmôi trường Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành

phố ít nhất 30 km.[22]

Trang 11

Tại Thụy Điển

+ Xử lý chất thải

Những thành phố tự trị chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt

và các loại chất thải tương tự Trừ chất thải sinh hoạt mà các nhà sản xuất chịu tráchnhiệm (như bao bì đóng gói, giấy báo, lốp xe, ô tô và chất thải từ các sản phẩm điện

và điện tử) Đối với chất thải khác, trách nhiệm tuỳ thuộc vào chủ cơ sở sản xuất,kinh doanh, nơi chất thải phát sinh

+ Chôn lấp: Lượng chất thải sinh hoạt được đem đi chôn lấp giảm xuống rõ

rệt và năm 2004 là 0,38 triệu tấn Cho đến thời điểm hiện nay, lần đầu tiên lượngchất thải được đưa đi chôn lấp chỉ chiếm gần 10%

+ Xử lý sinh học: Trong năm 2004, 10,4% (0,43 triệu tấn) chất thải sinh hoạt

phải qua quá trình xử lý sinh học, tăng 7,7% kể từ năm 2003 Lượng chất thải được

phân loại tại nguồn gồm: 0,11 triệu tấn chất thải thực phẩm, 0,14 triệu tấn chất thảixanh (ở các công viên và các khu vườn), 18.000 tấn chất thải sinh hoạt được tách tại

nguồn và ước tính có 70.000 tấn chất thải sinh hoạt được ủ phân tại nhà.[22]

Tại Trung Quốc

Ước tính khoảng 20% chất thải rắn đô thị phát sinh ở Trung Quốc đượcthu gom và xử lý phù hợp, mặc dù hàng năm chính phủ đầu tư khoảng 30 tỷnhân dân tệ (3,7 tỷ USD) cho quản lý chất thải rắn Số chất thải không thugom được đổ vào các sông thành đống, đốt hoặc xử lý không theo quy định.Tuy nhiên, trong 10 năm qua Trung Quốc đã có những cải thiện đáng kể tronglĩnh vực quản lý chất thải Hầu hết các thành phố lớn đều chuyển sang chônlấp hợp vệ sinh và sử dụng nhiều hơn các công nghệ thiêu đốt Vào nhữngnăm 90 WB thông báo các bãi chôn lấp thiếu quản lý là vấn đề nan giải gaygắt nhất của Trung Quốc, do thiếu kiểm soát việc thoát khí mêtan và các khínhà kính khác, các hoá chất gây ung thư, nước rác độc hại thấm vào nguồnnước ngầm và những mối nguy hiểm về sức khoẻ và môi trường khác

Trang 12

Việc phân loại và tái chế chất thải rắn ở Trung Quốc được tiến hànhbằng lao động thủ công Một Báo cáo môi trường chính thức của Trung Quốccho biết khoảng 1,3 triệu người làm nghề thu gom chất thải, bao gồm nhữngngười quét dọn đường phố do chính quyền địa phương trả lương khoảng 2,5triệu người sống bằng nghề bới rác, phần lớn là những người nghèo ở TrungQuốc chưa có hệ thống chính thống để phân loại và tách chất thải

Ủ phân compost là một phương pháp khả thi ở Trung Quốc, vì trên50% lượng chất thải có chứa các chất hữu cơ có thể phân huỷ sinh học Tuynhiên, những nỗ lực sản xuất compost bị hạn chế bởi việc tách thuỷ tinh, nhựa

và các hoá chất khác không phù hợp trong nguyên liệu làm compost

Chôn lấp chất thải là phương pháp xử lý phổ biến nhất ở Trung Quốc.Hiện nay, 660 thành phố có khoảng 1000 bãi chôn lấp lớn, chiếm hơn 50 000

ha đất và ước tính trong 30 năm tới Trung Quốc sẽ cần tới 100 000 ha đất đểxây dựng các bãi chôn lấp mới Trong thập kỷ qua, Trung Quốc mới bắt đầuxây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh và phần lớn chất thải rắn vẫn đang gây

ra các vấn đề nan giải về môi trường Nhìn chung, chất lượng các bãi chôn lấpcủa Trung Quốc không cao theo các tiêu chuẩn của phương Tây Trên các bãichôn lấp có cả người , động vật hoạt động, đặc biệt các bãi chôn lấp không có

hệ thống xử lý nước rác, kiểm soát khí thải, không được phủ đất

Thiêu đốt chất thải rắn đô thị ở Trung Quốc bắt đầu vào cuối nhữngnăm 80 và phát triển nhanh chóng vào những năm 90 Số liệu chính xác nhất

về trạm thiêu đốt chất thải thu hồi năng lượng năm 2003 trên thực tế là 19, vớitổng công suất là 7000 tấn/ngày Con số này là rất nhỏ đối với một đất nướcrộng lớn, trong khi Đài Loan (TQ) là 21 trạm, phục vụ số dân là 22 triệu

người, Hoa Kỳ là trên 50 trạm.[22]

Trang 13

Hình 2.2 Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Trung Quốc.

2.3.2 Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn tại Việt Nam

Tình hình quản lý chất thải rắn

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống quản lý chất thải từ trung ương đến cáctỉnh thành phố chưa hoàn thiện và chưa nhất quán Ở cấp thành phố và thị xã,mỗi nơi có hệ thống quản lý khác nhau, các thị trấn hầu như không có Nhữngnăm gần đây tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở các địa phương đã đượcchú trọng hơn trước, nhưng về cơ bản hình thức và nội dung vẫn chậm đổimới Tuy đã có luật bảo vệ môi trường nhưng còn thiếu các văn bản pháp quyquy định về quản lý đô thị nói chung và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói

Tiếp nhận rác thải

Thiết bị chứa (hầm ủ kín) có bổ sung vi sinh vật, thổi khí, thu

nước rác trong thời gian 10-12 ngày

Ủ chín, độ ẩm 40%

15-20 ngày

Sàng phân loại theo kích thước(bằng

băng tải, sàng quay) Chất vô cơ

Ủ phân bón (nhiệt độ từ

30-40 0 C), thời gian 5-10 ngày

Trang 14

riêng Hệ thống thu hồi chất thải tái sinh trong các đô thị chưa được hợp pháphóa mà được tổ chức lỏng lẻo với một mạng lưới gồm những người thu nhặt

và thu mua tự phát

Hình 2.3 Hệ thống quản lý CTR sinh hoạt ở các đô thị lớn ở Việt Nam

Một nghiên cứu gần đây của bộ Tài nguyên Môi trường cho thấy tổnglương chất thải rắn phát sinh ở nước ta năm 2007 ước đạt 17 triệu tấn, trong

đó riêng chất thải rắn sinh hoạt tại 69 đô thị được điều tra khảo sát đã đạt 6,5triệu tấn Lượng chất thải rắn còn lại tập trung ở các xã, thị trấn thuộc huyện.Với lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng nhanh chóng, nguy cơ gây ô nhiễmmôi trường và tác động xấu đến môi trường đang trở thành một vấn đề cấpbách của công tác bảo vệ môi trường nước ta hiện nay

Về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị, việc thu gom và xử lýchất thải rắn đô thị thường do công ty Môi trường đô thị đảm nhận Tỉ lệ thugom chất thải rắn sinh hoạt trung bình ở nước ta tuy đã tăng lên xong vẫn còn

ở mức thấp Trong giai đoạn 2002 – 2003 , tỉ lệ thu gom rác thải trong cả

chế loại bỏ CT

Trang 15

nước từ 65% - 71% Năm 2003 tỉ lệ thu gom giao động từ 45% (Long An)đến 95% (Huế) Năm 2004 tỉ lệ này là 72% Năm 2008, tỉ lệ thu gom chất thảirắn sinh hoạt trên cả nước trung bình đạt 80% Trong khi Hà Nội, Hưng Yên,Bạc Liêu, Vĩnh Phúc… có tỉ lệ thu gom đạt hơn 90% thì Lai Châu, HàGiang… chỉ thu gom được dưới 40%.

Rác thải tạo ra chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Tuynhiên, phần lớn các bãi chôn lấp của Việt Nam chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật

vệ sinh môi trường Thêm vào đó lại không có đủ phương tiện kĩ thuật thíchhợp cho việc thu gom và xử lý rác thải nguy hại, công nghiệp và y tế

CTR sinh hoạt có khối lượng lớn và đòi hỏi xử lý tức thì, không để tồnđọng là trở ngại đầu tiên Thêm vào đó, lượng rác thải tạo ra lại được trải rộng

và đều khắp nơi có cư dân sinh sống, việc thu gom khó đạt hiệu quả cao khi ýthức và trách nhiệm của con người với môi trường sống còn thấp

Việc thúc đẩy phân loại rác tại nguồn nếu được thực hiện tốt sẽ làmgiảm chi phí, tạo thuận lợi cho quá trình xử lý, tái chế và làm giảm tác độngtới MT Mặc dù đã có khá nhiều chương trình phân loại chất thải được triểnkhai nhưng phần lớn mọi người vẫn chưa nhận thức được hết tầm quan trọngcủa việc làm này Các chương trình tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thứccho người dân có quy mô, thời gian chưa đủ lớn và đặc biệt là chưa có được

phương pháp có tính thực tiễn để mọi người dễ dàng thực hiện [14]

Tình hình xử lý chất thải rắn

Phần lớn các đô thị, khu đô thị đều chưa có bãi chôn lấp chất thải rắnhợp vệ sinh và vận hành đúng quy trình Bên cạnh đó, các loại chất thải nguyhại không được phân loại riêng mà trộn chung với những chất thải sinh hoạt,nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dẫnđến suy thoái môi trường đất, nước, không khí

Hiện tại, công nghệ xử lý chất thải rắn ở các đô thị Việt Nam khá đadạng, tùy theo đặc điểm đô thị mà mỗi đô thị áp dụng những công nghệ xử lý

Trang 16

riêng Công nghệ xử lý rác thải rắn theo kiểu xử lý cuối đường ống, chôn lấp,chế biến rác thành phân vi sinh và sản phẩm nhựa được khá nhiều đô thị ápdụng Đó là Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (TP Vinh - Nghệ An) sử dụngcông nghệ Seraphin có công suất từ 80 - 150 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rácThủy Phương (TP Huế - Thừa Thiên Huế) áp dụng công nghệ ASC, côngsuất 80 - 150 tấn/ngày, trong đó 85 - 90% rác thải được chế biến và tái chế, 10

- 15% rác thải chôn lấp, không phát sinh nước rỉ rác

Ngoài ra, một số đô thị còn áp dụng công nghệ lò đốt chất thải y tế,chất thải công nghiệp nguy hại Lò đốt CEETIA - CN 150 tại Bãi rác NamSơn (Hà Nội) công suất 150kg/h, có buồng đốt đa cấp, hạ nhiệt độ khói thảinhanh trước khi thải qua ống khói để tránh dioxin/furan tái sinh, xử lý khói đacấp, vận hành tự động hoặc bán tự động Một số đô thị có mức độ côngnghiệp cao còn áp dụng công nghệ xử lý bụi trong khí thải (lọc bụi) như côngnghệ Xiclon, công nghệ lọc bụi tĩnh điện (ESP) ở Nhà máy Nhiệt điện Uông

Bí Công nghệ xử lý nước rác của các bãi chôn lấp rác, công nghệ xử lý nướcthải tập trung của các đô thị, khu công nghiệp và công nghệ xử lý khí thải SO2

công nghiệp cũng được áp dụng.[1].

Một số phương pháp xử lý rác thải rắn

Phân loại và xử lý cơ học

Đây là khâu ban đầu không thể thiếu trong quy trình xử lý chất thải.Biện pháp này sẽ làm tăng hiệu quả tái chế và xử lý ở các bước tiếp theo Cáccông nghệ dùng để phân loại, xử lý cơ học chất thải bao gồm: cắt, nghiền,sàng, tuyển từ, truyền khí nén….Ví dụ: các loại chất thải có kích thước lớn vàthành phần khác nhau phải được phân loại ngay khi tiếp nhận Các CTR chứacác chất độc hại (như muối xyanua rắn) cần phải được đập thành những hạtnhỏ trước khi được hoà tan để xử lý hoá học Các chất thải hữu cơ dạng rắn

có kích thước lớn phải được băm và nghiền nhỏ đến kích thước nhất định, rồi

trộn với các chất thải hữu cơ khác để đốt.[1]

Trang 17

Công nghệ thiêu đốt

Đốt là quá trình oxy hoá chất thải ở nhiệt độ cao Công nghệ này rất phùhợp để xử lý CTR công nghiệp và chất thải nguy hại hữu cơ như cao su, nhựa,giấy, da, cặn dầu, dung môi, thuốc bảo vệ thực vật và đặc biệt là chất thải y tếtrong những lò đốt chuyên dụng hoặc công nghiệp như lò nung xi măng

Công nghệ này có nhiều ưu điểm: khả năng tận dụng nhiệt, xử lý triệt

để khối lượng, sạch sẽ, không tốn đất để chôn lấp nhưng cũng có một số hạnchế như chi phí đầu tư, vận hành, xử lý khí thải lớn, dễ tạo ra các sản phẩm

phụ nguy hiểm.[1]

Công nghệ xử lý hoá - lý

Công nghệ này là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hoá học để làmthay đổi tính chất của chất thải nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năngnguy hại của chất thải đối với môi trường Công nghệ này rất phổ biến để thuhồi, tái chế chất thải, đặc biệt là một số loại chất thải nguy hại như: dầu, mỡ,kim loại nặng, dung môi…

Biện pháp này chỉ thực sự có hiệu quả cao về kinh tế và môi trường đốivới những nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại để

có thể thu hồi sản phẩm từ chất thải.[1]

Công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

Chôn lấp hợp vệ sinh là biện pháp tiêu huỷ chất thải được áp dụng rấtrộng rãi trên thế giới Theo công nghệ này, chất thải rắn công nghiệp và chấtthải nguy hại dạng rắn hoặc sau khi đã cố định ở dạng viên được đưa vào các

hố chôn lấp có ít nhất hai lớp lót chống thấm, có hệ thống thu gom nước rò rỉ

để xử lý, có hệ thống thoát khí, có giếng khoan để giám sát khả năng ảnh

hưởng đến nước ngầm.[1]

Tái sử dụng và tái chế

Tái sử dụng và tái chế là phương thức phổ biến ở nhiều gia đình Ngườidân thường có thói quen tái sử dụng ngay tại gia định, hoặc bán cho các cửa

Trang 18

hàng đồ cũ, đồng nát các loại chất thải có khả năng tái chế như nhựa, kimloại… Việc PLCTRTN nhằm tăng cường hoạt động tái chế chất thải, điều nàygóp phần làm giảm chi phí sản xuất, giúp tiết kiệm được một lượng chi phíđáng kể dùng cho việc tiêu hủy rác thải sinh hoạt.

Tiềm năng tái chế chất thải là khá lớn Lượng rác thải sinh hoạt phátsinh ở Hà Nội đã được tái chế khoảng 20% và theo ước tính thì tiềm năngthực sự có thế lớn gấp hai lần Nhìn chung, hoạt động tái chế, tái sử dụngCTR vẫn diễn ra tự phát, các cơ sở tái chế tư nhân thường có quy mô nhỏ, dâychuyền công nghệ lạc hậu, không có hệ thống xử lý chất thải, là nguyên nhân

gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe con người.[1]

Chế biến phân hữu cơ compost và tận thu

Chế biến phân compost là một hình thức tái chế rất hữu hiệu các chấtthải hữu cơ có tiềm năng sản xuất các loại sản phẩm làm màu mỡ đất, khônggây ô nhiễm môi trường, giúp tận thu và làm tăng tỉ lệ thu gom các loại chấtthải có thể tái chế được Chính vì vậy phương pháp này góp phần quản lý tốthơn rác thải sinh hoạt Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp này đã khôngthành công ở nước ta vì: đòi hỏi rác phải được phân loại chuẩn xác trước khiđưa vào hố ủ; có phát sinh nước thải và khí thải, đặc biệt mùi hôi trong quảtrình ủ; tác dụng của phân rác không rõ ràng và không nhanh như phân hóahọc nên không được thị trường ưa chuộng Nước ta hiện có hơn 10 nhà máychế biến rác thải hữu cơ thành phân bón vi sinh Các nhà máy này có quy mô

và công suất nhỏ Đó là nhà máy Cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý50.000 tấn rác/năm (công nghệ Tây Ban Nha); nhà máy xử lý rác thải NamĐịnh với công suất xử lý 250 tấn/ngày (công nghệ Pháp); công nghệ Dano –Đan Mạch tại Hoóc Môn, TP Hồ Chí Minh công suất 240 tấn/ngày… Ngoài

ra, một số đô thị khác như Việt Trì, Vinh, Sơn Tây, Huế… cũng có nhà máy

xử lý rác thành phân bón, nhựa tái sinh, vật liệu xây dựng hoàn toàn do ViệtNam tự nghiên cứu và chế tạo

Trang 19

Chất lượng phân bón của nhà máy Cầu Diễn (Hà Nội) do Tây Ban Nhađầu tư được đánh giá tốt nhưng phân compost vẫn có lẫn các mảnh vụn thủytinh, kim loại do đó khó tiêu thụ Vì vậy việc phân loại rác thải là rất cần thiết

để tăng chất lượng của phân hữu cơ giảm thành phần tạp chất.[1]

Tại Thành phố Hà Nội đã ban hành Chương trình hành động về công

tác bảo vệ môi trường Thủ đô thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa Chương trình xác định một số chỉ tiêu về môi trường đến năm 2010,trong đó có chỉ tiêu 100% rác thải sinh hoạt đô thị được thu gom, vận chuyển,

xử lý hợp vệ sinh và 40% được tái chế Chương trình này nhằm ngăn ngừa,hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường; giải quyết tích cực những vấn đề ônhiễm môi trường nước mặt, suy thoái nguồn nước ngầm, rác thải sinh hoạt,rác thải nguy hại công nghiệp, ô nhiễm bụi Hiện nay, Hà Nội có 5 bãi chônlấp nhưng chỉ có bãi rác Nam Sơn và bãi Lâm Du đang hoạt động, trong đóbãi rác Lâm Du chủ yếu dùng để chôn lấp rác xây dựng Bãi rác Nam Sơn,cách thành phố Hà Nội khoảng 65km, mặc dù được quản lý tương đối tốtnhưng việc xử lý nước rác vẫn đang là vấn đề bức xúc cần phải giải quyết.Bên cạnh đó, sự tăng đáng kể khối lượng rác hàng năm dẫn đến tình trạng quátải tại các bãi chôn lấp.Việc thu thập và tái chế các loại chất thải có thể bánđược như giấy, bìa carton, nhựa, nhôm và các kim loại thải khác được thugom và tái chế Tuy nhiên, các chất thải hữu cơ không được tái chế, đồng thờicũng không có biện pháp nào để giải quyết được vấn đề này một cách kinh tếhơn là đem chôn lấp hoặc đem thiêu đốt.Một phần chất thải hữu cơ đã đượctận dụng để chế biến thành phân compost tại nhà máy sản xuất phân compost

tại Cầu Diễn.[1].

Trang 20

Hình 2.4: Công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ chất thải rắn sinh hoạt tại Cầu Diễn

Trang 21

Bảng 2.3 Hiện trạng của một số nhà máy chế biến compost

tập trung ở Việt Nam

Địa điểm

Công suất (tấn/ngày )

Thời gian bắt đầu hoạt động

Nguồn chất thải hữu cơ Hiện trạng

Cầu Diễn,

Hà Nội (1) 140

1992

Mở rộng2002

Chất thải từcác khu chợ,đường phố

Đang hoạt động,bán 3 loại sản phẩm

có chất lượng khácnhau

có chất lượng khácnhau, giá khácnhau

Phúc Hoà –

Tân Thành –

Bà Rịa Vũng

Tàu (2)

Nguồn: (1) - Nguyễn Thị Kim Thái 2004 – Báo cáo tư vấn cho Ngân hàng Thế giới

(2) - Dự án Vệ sinh cho 3 thành phố do Ngân hàng Thế giới tài trợ

2.4 3R và phân loại rác tại nguồn

2.4.1 3R là gì?

3R là từ viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tiếng Anh: Reduce – Reuse –Recycle

Reduce (Giảm thiểu): Giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối

sống hoặc/và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch…

Trang 22

Ví dụ: Sử dụng làn hay túi vải để đi chợ thay cho túi nlon để nhằm giảmlượng rác thải phát sinh từ túi nilon…

Reuse (Tái sử dụng): Sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản

phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: sử dụng lạichai đựng nước khoáng để đựng nước nước…

Recycle (Tái chế): Sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật

chất có ích khác

Tại sao chúng ta cần thực hiện 3R?

3R là hoạt động góp phần:

Ngăn ngừa các vấn đề suy thoái môi trường

Tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý rác thải

Giảm quỹ đất giành cho việc chôn lấp rác.[17].

2.4.2 Phân loại rác tại nguồn

Giới thiệu

Tái chế chất thải là một biện pháp hữu hiệu giảm thiểu lượng rác thải

và tăng nguồn nguyên liệu cho nền kinh tế Song công việc tái chế chỉ đượcthực hiện tốt khi nguồn rác được phân loại tốt Vì vậy phân loại rác tại nguồn

là một giải pháp cần thiết trong chu trình thu gom và xử lí rác thải nói chung

và rác thải sinh hoạt nói riêng

Rác được phân loại thành:

Rác hữu cơ: Rau, củ, thức ăn thừa, bã chè… Có thể tái chế thành phân

hữu cơ, một loại phân hiệu quả cho cây trồng và an toàn cho người sử dụng

Rác tái chế: Vỏ hộp, giấy báo, chai nhựa, túi nilon có thể tái chế thành

nguyên liệu thô phục vụ cho sản xuất

Rác vô cơ: Sành sứ, gạch vỡ, xỉ than…không thể tái chế nên phải mang

đi chôn lấp Nếu rác tái chế và rác hữu cơ được tách riêng ra khỏi rác vô cơ

thì lượng rác cần phải mang đi chôn lấp sẽ giảm xuống.[17].

Trang 23

Sự thành công của công tác PLRTN và tái chế chất thải là kết quả của 3yếu tố: một là quá trình vận động, tuyên truyền, cưỡng chế người dân, hai là

sự đầu tư của Nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải, ba là trình độphát triển của xã hội cả về mặt kinh tế và nhận thức, thiếu một trong 3 yêú tốnày thì việc PLRTN và tái chế sẽ rất khó thành công

Hiện trạng công tác phân loại rác tại nguồn

Nhật Bản có 37 đạo luật về bảo vệ môi trường trong đó có 7 đạo luật vềquản lí và tái chế chất thải rắn.Việc phân loại tại nguồn được thực hiện từnhững năm 1970 Rác được phân thành 3 dòng là rác dễ phân hủy để sản xuấtphân compost, rác không cháy được (vỏ chai, hộp ) để tái chế, và rác cháyđược để đưa đến nhà máy đốt rác và thu hồi năng lượng Đối với rác có kíchthước lớn như tủ lạnh, tivi, bàn ghế… phải đăng kí và đúng ngày quy định đặttrước cổng có xe của bộ phận chuyên trách đến chở đi Điển hình về phân loạirác triệt để là thành phố Minamata thuộc tỉnh Kumamoto ở đây rác được phânthành 22 loại khác nhau rất thuận tiện cho việc tái chế

Ở Hàn Quốc, rác hữu cơ nhà bếp một phần dùng làm giá thể trồng nấm,phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biogas cung cấp chophát điện, sau khi rác ở bãi chôn phân hủy hết tiến hành khai thác mùn bãichôn làm phân bón và tái chôn lấp cho chu kì sau

Như vậy, tại các nước phát triển PLRTN đã diễn ra trên 30 năm và cơbản đã thành công ở các mức độ khác nhau Ở mức độ thấp, rác được phânthành 2 loại dễ phân hủy và khó phân hủy ở mức độ cao hơn, rác được chia

Trang 24

thành nhiều dòng rác ngay từ hộ gia đình nhờ đó công tác tái chế rác thải đạthiệu quả hơn, tốn ít chi phí hơn thậm chí người dân không phải nộp phí xử lírác Hiện ở Châu Âu đang vận động phân loại rác thành 9 loại.

Tại Đông Nam Á trừ Singapore, các quốc gia còn lại đều đang trong

quá trình tìm kiếm, thí điểm hoặc mới triển khai công tác PLRTN.[17].

Việt Nam

Vài năm gần đây, một số địa phương đã bắt đầu thí điểm PLRTN

Tháng 3/2006 TP HCM triển khai thí điểm PLRTN tại quận 6 Với 320

-330 tấn rác một ngày tại quận naỳ nếu thành công dự án có thể thu về 120.000đến 180.000 tấn phân compost từ rác hữu cơ, các loại chất thải còn lại được dùngtái chế với mức thu khoảng hơn 17,5 tỷ đồng mỗi năm Tuy nhiên do thiếu đồng

bộ, chưa có nhà máy sản xuất phân compost nên rác phân loại xong lại bị thu gomchung gây lãng phí va mất lòng tin của người dân Dự án đang được đề xuất mởrộng ra 6 quận huyện 1, 4, 5, 6, 10 và huyện Củ Chi

Năm 2003, thị xã Tân An (Long An) triển khai thí điểm dự án “Phân

loại rác tại nguồn và xử lý phục hồi môi trường bị ô nhiễm ở bãi Lợi Bình Nhơn tại phường 1” Dự án này do Liên minh châu Âu hỗ trợ trong thời gian

27 tháng

Năm 2008, phường Nam Dương, Đà Nẵng đã tiến hành thí điểm phânloại rác tại nguồn và nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân Tuynhiên, do công tác thu gom, vận chuyển còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ nên

dự án phải dừng lại

Tại Biên Hòa, PLRTN được triển khai thực hiện thí điểm tại 4 phường

là Trung Dũng, Quyết Thắng, Hòa Bình và Thanh Bình, trong đó, phườngTrung Dũng được triển khai thực hiện đầu tiên từ giữa năm 2008 với tổngkinh phí trên 3 tỷ đồng Tuy nhiên, cuộc khảo sát gần đây nhất vào cuối tháng

6 - 2009 ở hơn 350 hộ dân tại 13/15 tuyến thu gom rác cho thấy, chỉ có 33%

Trang 25

hộ phân loại đúng hướng dẫn, 50% thực hiện không đúng và sử dụng thùngrác, túi PE vào việc khác và 17% hộ dân không thực hiện.

Hầu hết các dự án này hầu hết chỉ mang tính phát động phong trào, khi

dự án kết thúc thì việc phân loại rác cũng chấm dứt

Hà Nội

Từ năm 2002 URENCO đã thí điểm PLRTN tại phường Phan ChuTrinh Các hộ gia đình được phát 2 túi: túi đen đựng rác hữu cơ, túi đỏ đựngrác vô cơ Vì là dự án đầu tiên nên còn nhiều hạn chế: người dân chưa tạođược thói quen, giờ thu gom rác không cố định, rác không được thu gom ngaylại bị những người bới rác bới lên gây lộn xộn, mất vệ sinh

Dự án “sáng kiến 3R” tại Hà Nội bắt đầu triển khai thí điểm từ tháng 11

- 2006 với tổng mức tài trợ từ JICA là 3 triệu USD Dự án đã được triển khaithí điểm tại 4 phường thí điểm tại thành phố Hà Nội là phường Phan ChuTrinh, Nguyễn Du, Thành Công và Láng Hạ Sau 3 năm triển khai, dự án đã

có được những kết quả khả quan, cho thấy khả năng có thể mở rộng hoạtđộng 3R ra toàn thành phố Hà Nội và các địa bàn khác trong cả nước

Tổng cộng có khoảng 18.000 hộ gia đình đã tham gia vào dự án 3R tạibốn phường thí điểm Tính đến tháng 9/2009, đã có hơn 250 tình nguyện viêntham gia các Câu lạc bộ Tình nguyện viên 3R, triển khai các hoạt động thôngtin tuyên truyền rộng khắp nhằm nâng cao ý thức người dân như đội tuyêntruyền 3R lưu động, cuộc thi kiểm tra thân thiện, giáo dục 3R tại trường học,

… Các hoạt động đều nhằm mục đích nhằm gắn kết các bên liên quan: đơn vịthu gom - người dân thải rác - nhà máy xử lý rác - nông dân sử dụng phân bónchế biến từ rác

Tại địa bàn thí điểm, lượng rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình đãgiảm bình quân từ 31,2 - 45,1% tùy từng phường, đạt mục tiêu giảm thiểu30% lượng chất thải phải mang đi chôn lấp dự án đã đặt ra

Trang 26

Ông Nguyễn Văn Hòa, Giám đốc điều hành dự án cho rằng, 3R đã đạtđược mục đích lớn nhất đề ra là nhận thức của người dân về rác đã được thayđổi Tỷ lệ người dân biết đến các hoạt động phân loại rác tại nguồn ở bốnphường là từ 85 đến 97%.

Trong thời gian này, dự án đã thu được khoảng 25.000 tấn rác thải hữu

cơ và đã chế biến được khoảng 10.000 tấn phân hữu cơ từ số rác này theo quy

trình mới.[17]

Năm 2009 dự án mở rộng ra thực hiện tại 4 phường thuộc các quận Tây

Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Thanh xuân Một số phường xã thuộc các huyện

Từ Liêm, Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh, Sóc Sơn

Theo tiến trình thực hiện “sáng kiến 3R” đến năm 2015 thành phố sẽ

giảm được 30% lượng rác thải chôn lấp, và đạt 70% vào năm 2020

Huyện Gia Lâm

Tháng 10/2009 UBND huyện Gia Lâm triển khai dự án PLRTN Dự ánđược triển khai trên địa bàn 2 xã Cổ Bi, Dương Xá và thị trấn Trâu Quỳ với

sự hỗ trợ 50% kinh phí của Vùng Ile -de -France và 50 % còn lại từ ngân sáchđịa phương

Trong khuôn khổ dự án, mỗi hộ gia đình đã được phát miễn phí 2 thùngrác: thùng màu xanh chứa rác hữu cơ và màu vàng chứa rác vô cơ Đồng thời,IMV đã cấp kinh phí cho việc xây dựng hai điểm tập kết và trung chuyển ráctại xã Trâu Quỳ Từ ngày 26 đến ngày 29/10/2009, tổ chức EAST đã lần lượt

tổ chức các buổi tập huấn cho người dân tại ba xã Cổ Bi, Dương Xá và TrâuQuỳ về phân loại rác Buổi tập huấn này (3 ngày/xã) nhằm mục đích hướngdẫn các cán bộ thu gom rác của địa phương cách thu gom rác đã được phânloại và các biện pháp đảm bảo vệ sinh; tập huấn cho các tuyên truyền viêncách thức tuyên truyền cho người dân; hướng dẫn chính quyền địa phươngxây dựng bản cam kết của các địa phương về việc quản lý rác thải (trong đóxác định rõ trách nhiệm của các xã, các trưởng thôn và lãnh đạo các cơ quan

Trang 27

đoàn thể địa phương) Khoá tập huấn đã thu hút sự tham gia của 100% cáccán bộ thu gom rác, 90% các trưởng thôn và lãnh đạo các cơ quan đoàn thểđịa phương. 

Ngày 23/11/2009, các thùng phân loại rác đã được phát đồng loạt chocác hộ tại ba xã Cổ Bi, Dương Xá và Trâu Quỳ song song với việc triển khai

các hoạt động thông tin tuyên truyền cho người dân[24]

2.5 Vai trò của cộng đồng

Muốn thực hiện tốt bất cứ dự án nào về phân loại rác, 3R, hay mộtchương trình thí điểm gì thì quá trình nhận thức của cộng đồng vẫn là quantrọng nhất Cộng đồng cần hiểu và nắm vững về các thông tin tuyên truyềnnhư: lợi ích của dự án, nguyên tắc cần tuân thủ, những điều cần tránh, trình độchuyên môn của chính quyền… để có thể tham gia nhiệt tình Thực tế rằngnhận thức của cộng đồng là yếu tố quyết định sự thành công của một dự ánbao gồm cả về phía người dân và cơ quan chính quyền có trách nhiệm

2.5.1 Trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới đã tuyên chiến với nạn "ô nhiễm trắng" Năm

2007, Đài Loan đã cấm tất cả các cửa hàng, siêu thị, tiệm ăn nhanh sử dụngtúi nilon Trung Quốc đã nghiêm cấm việc vứt bỏ các túi nilon đựng đồ vàkêu gọi quay trở lại với túi vải cổ truyền Tại Nam Phi, Ireland, Bangladesh,chính phủ đã đánh thuế vào người đi chợ sử dụng túi nilon Còn ở SanFrancisco - thành phố đầu tiên ở Mỹ cấm dùng các túi nhựa làm từ dầu mỏtrong các cửa hàng tạp phẩm lớn Ở Pháp, các chuỗi siêu thị cũng đã bắt đầu e

dè khi cấp túi nilon và các cửa hàng ở Đức buộc phải trả một khoản phí tái

chế nếu họ muốn cung cấp chúng cho khách hàng.[12] Với những biện pháp

tích cực này đã góp phần giảm thiểu một lượng lớn túi nilon thải vào môitrường Tại Nhật Bản, ở những nơi công cộng như sân bay, ga tàu điện, kháchsạn, trung tâm thương mại đâu đâu cũng thấy những thùng rác Thậm chí cónơi đặt tới 3 hoặc 4 thùng, mỗi thùng rác có màu sắc riêng và được vẽ hình

Trang 28

những loại rác để người đi đường dễ phân biệt bỏ vào Vì thế mà những côngnhân vệ sinh môi trường đã không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc

quét dọn đường phố.[11] Và như thế vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi

trường cho mọi người dân vẫn là quan trọng cần triển khai hiện nay, nhưSingapore, Nhật Bản, Thái Lan… đã chú trọng thực hiện vấn đề này đặc biệtngay từ các em nhỏ mẫu giáo

2.5.2 Tại Việt Nam

Nhận thức của cộng đồng trên thế giới đã có nhiều chuyển biến tích cựccòn ở Việt Nam thì tình hình thực hiện như thế nào đây Qua tìm hiểu thìnhận thức của cộng đồng đã nâng cao trong khi đó vẫn còn một bộ phậnngười dân còn chưa thực hiện tốt

Người dân

Quá trình tuyên truyền, vận động người dân ở Kim Bảng, Hà Namtham gia vào công tác phân loại rác tại nguồn ban đầu gặp rất nhiều khó khăn,không phải ai cũng hưởng ứng tham gia nhiệt tình, trước thực trạng người dân

có thói quen xả rác bừa bãi, Ủy ban mặt trận tổ quốc các cấp ở Kim Bảng đã

mở rộng các hình thức tập hợp, tuyên truyền thông qua sinh hoạt các câu lạc

bộ, các cuộc tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, thông qua các buổi liên hoan vănnghệ chào mừng các ngày lễ; nhất là cán bộ, đảng viên Kim Bảng đã tiênphong thực hiện, làm gương cho mọi người vì thế mà mô hình này đã được

nhân ra trên diện rộng.[10]

Còn ở huyện Tân Lạc, Hòa Bình, trước 4/2006 các hộ dân nơi đây vẫncòn thờ ơ với hoạt động vệ sinh môi trường và thu gom rác thải Với nỗ lựckhông biết mệt mỏi của 11 thành viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và vệsinh môi trường huyện Tân Lạc, đến 10/2009 tất cả mọi người đã cùng nhau

“tuyên chiến với rác thải”, suốt hơn 3 năm và ý thức cộng đồng tại đây đã

được nâng cao.[8]

Trang 29

Tại Hải Phòng, trước đây người dân phường Quán Toan (Hồng Bàng),Vĩnh Niệm (Lê Chân) có thói quen xả rác tự do ra ngoài đường hay nhữngchỗ trống trong khi tổ thu gom rác lúc đó của phường chỉ có vài ba người,phương tiện thu gom thì cọc cạch, nhân viên thu gom không được đào tạo hay

hướng dẫn chuyên môn nên không có tín nhiệm với người dân Còn chính

quyền địa phương xử lý những trường hợp vi phạm hành chính chưa đủ sức

răn đe, lực lượng mỏng nên chưa thể giải quyết triệt để.[7]

Cuộc khảo sát mới đây nhất của VnExpress trên 25000 bạn đọc chothấy chỉ có 7,2% là thấy cần phải giữ lại túi nilon Điều đáng buồn là mặc dù

rác đã trở thành một vấn đề “sống còn” của xã hội, thì không ít người trong chúng ta vẫn “an nhiên tự tại” xem đó là chuyện của người, không phải chuyện của mình! Và cứ thế, đội “thanh niên xung kích” vừa thu gom rác xong ở phía trước thì phía sau đã đùn đùn rác mới Bãi biển vừa được “thanh

niên phong trào xanh” dọn sạch thì lại trôi nổi đủ loại rác Mặc cho công

nhân sở vệ sinh sớm hôm cần mẫn làm sạch đường phố, ta cứ “tự nhiên” đổ

và vứt rác ra đường Khán giả theo dõi các phóng sự truyền hình tại chỗ chắc

đã có lần tự hỏi có bao nhiêu người thật sự đau lòng khi thấy cảnh rác rưởingập tràn sân vận động quốc gia Mỹ Đình sau buổi khai trương và Sa Pa sau

lễ hội mừng 100 năm du lịch? Với sức “tàn phá” thiếu văn minh và vô tội vạ

như vậy thì không bao lâu nữa chúng ta sẽ không còn những cảnh đẹp thiên

nhiên và công trình hiện đại nào để thăm viếng, chiêm ngưỡng và tự hào![13]

Giáo dục môi trường

Giáo dục môi trường là quan trọng nhất hiện nay, có giáo dục tốt thìnhận thức của người dân nâng cao và hiệu quả các chương trình sẽ giúp cảithiện tốt tình hình rác thải hiện nay Mặc dù kinh phí đầu tư vào các chươngtrình tuyên truyền môi trường của nhà nước không phải là nhỏ nhưng vấn đềgiáo dục bảo vệ môi trường vẫn chưa đạt hiệu quả cao và đem lại lợi ích lớncho cộng đồng Ngay trong những trường đại học lớn, dù đã có những thùng

Trang 30

rác phân loại ở nhiều nơi trong trường hay gần các bến xe buýt nhưng rất ítngười có ý thức bỏ rác vào thùng Vì thế cần giáo dục môi trường từ những

điều nhỏ nhặt cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay Các kết quả điều

tra ở một số trường học tại Đà Nẵng cho thấy ở cấp học cao thì khả năng nhậnthức về tiềm năng sử dụng của rác thải tốt hơn, lần lượt là 21,9%, 64,5% và61,9% ở các cấp I, II và III Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học khi trình

độ và kiến thức tổng quát của các em còn non nớt Phần lớn học sinh đềuchưa nghe (43,5 – 57,4% ) hoặc không để ý (6,2 – 21,6%) đến chương trìnhphân loại rác tại nguồn ở Đà Nẵng Các em biết đến chương trình từ cácnguồn thông tin chủ  yếu là tivi, radio, báo chí (chiếm 69,8%), internet (chiếm13,4%), từ bố mẹ (chiếm 6,6%) và từ nhà trường (chiếm 10,2%) Tuy vậy,hầu hết những học sinh này đều chưa hiểu về PLRTN, mục đích của phân loạirác và cách xử lý rác sau khi phân loại Do đó cần lưu ý thiết kế đa dạng cáchình thức tuyên truyền sử dụng các tài liệu, tờ rơi, CD kết hợp với phổ biếnvào các giờ ngoại khóa, lồng ghép vào các bài học để đạt hiệu quả tốt nhất

[5] Tại Hà Nội chương trình thí điểm giáo dục phân loại rác (3R) tại hai khối

lớp 3 và lớp 4 của 3 trường tiểu học Thành Công A, Thành Công B và NamThành Công vừa kết thúc, kết quả khả quan có tới 96% các em đã ý thức đượcviệc phân loại rác tại nguồn Theo Ban quản lý 3R Hà Nội, các em học sinhtham gia rất tích cực, sôi nổi các hoạt động trong quá trình giáo dục về 3R

Qua đó, các em được nâng cao nhận thức đối với rác.[16]

Trang 31

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện từ 1/2011 – 12/2011 tại 3 tổ dân phố ThànhTrung, Vườn Dâu, An Đào thuộc thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội

- Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt;

Chương trình PLRTN;

Ý thức của cộng đồng trong công tác PLRTN

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của thị trấn Trâu Quỳ

- Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn

- Vai trò của cộng đồng trong công tác PLRTN tại thị trấn

- Đánh giá hiệu quả của dự án 3R

- Đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Các số liệu thu thập được thông qua các cơ quan của thị trấn: UBNDthị trấn, các tổ dân phố

- Kết quả nghiên cứu của các cơ quan khoa học, sách báo, internet

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Phỏng vấn cán bộ nhân viên môi trường thị trấn, công nhân thu gomrác thải trực tiếp tại 3 tổ dân phố, các tổ trưởng tổ dân phố, ý kiến của một số

hộ dân

3.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa

- Khảo sát tình hình phát sinh, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải củatừng tổ dân phố để có được những đánh giá, nhận định chung

Trang 32

- Quan sát thực tế: phương pháp quan sát thông tin thực tế về các sốliệu cần thu thập để điều tra thực trạng vệ sinh môi trường của thị trấn, ý thứcngười dân…

- Phỏng vấn một số hộ gia đình, công nhân thu gom rác thải

- Hình thức phỏng vấn: phát phiếu điều tra, đặt câu hỏi, ghi chép lại kếtquả nghiên cứu Số lượng mẫu: 120 phiếu điều tra người dân chia đều cho 3

tổ dân phố, 240 phiếu điều tra sinh viên

3.3.3 Phương pháp định lượng rác thải

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành định lượng rác thảibằng cách cân rác thải vào các ngày bình thường và các ngày cuối tuần của 3

tổ dân phố Mỗi tổ dân phố cân trong 1 tuần theo nguyên tắc:

Điều tra số người trong gia đình (kí hiệu là x);

Cân khối lượng rác hằng ngày (kí hiệu là a);

Phân loại rác thành 2 loại rác hữu cơ và rác vô cơ Cân khối lượng củatừng loại rác;

Từ đó xác định được lượng rác bình quân theo đầu người: a/x

3.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

3.3.5 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các thầy cô trong ngành môi trường, cán bộ làmviệc trong lĩnh vực liên quan nhằm giúp hoàn thiện đề tài nghiên cứu

Trang 33

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thị trấn Trâu Quỳ

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lí, địa hình, địa mạo

Hình 4.1 Bản đồ vị trí địa lí khu vực thị trấn Trâu Quỳ

Vị trí địa lí của thị trấn Trâu Quỳ: Phía Bắc giáp xã Cổ Bi, phía Namgiáp xã Đa Tốn, phía Tây giáp xã Cự Khối, phía Đông giáp xã Dương Xá

Địa hình tương đối bằng phẳng, có sông Cầu Bây chảy qua Địa hìnhthị trấn Trâu Quỳ thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông với độ cao trung bình từ 5 – 20 mét so với mực nước biển (Nguồn:UBND thị trấn Trâu Quỳ, 2011)

Khí hậu

Khí hậu tại thị trấn thuộc vùng nhiệt đới gió mùa ẩm: khu vực quanhnăm nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao do tác động

Trang 34

của biển Khí hậu Trâu Quỳ có sự thay đổi và khác biệt giữa hai mùa nóng vàlạnh Mùa hè nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, nhiệt độ trung bình 290C,kèm theo mưa nhiều, chiếm khoảng 92% tổng lượng mưa trong năm Độ ẩm

và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa/năm Mùa đông kéo dài từtháng 11 tới tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 15,20C

Trung bình hằng năm, nhiệt độ không khí 23,60C Nhiệt độ cao nhất là

390C, thường vào tháng 7 và tháng 8 Nhiệt độ thấp nhất là 80C, thường vàotháng 12 và tháng 1 Độ ẩm bình quân hang năm khoảng 79%, lượng mưatrung bình 1400 - 1600mm Cùng với hai chu kì chuyển tiếp vào tháng 4 vàtháng 10, thị trấn có đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông (Nguồn: Từ UBND thị trấnTrâu Quỳ, 2011)

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số và chất lượng dân số

Thị trấn Trâu Quỳ hiện nay với diện tích khoảng 734,28 ha với dân sốgần 30.000 người Có khoảng 3843 hộ dân được chia làm 12 tổ dân phố

Chất lượng dân số: theo kết quả điều tra của UBND thị trấn hầu hết dân

số cảu khu vực là dân số trẻ với 57% dân số trong độ tuổi lao động Trình độdân trí của người dân trong khu vực tương đối cao Hầu hết dân số được phổcập hết trung học phổ thông Chất lượng dân số ngày càng được cải thiện sẽtạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện thành công quy hoạch tổng thể kinh tế -

xã hội và công tác bảo vệ môi trường từ năm 2010 – 2020 (Nguồn: TừUBND thị trấn Trâu Quỳ, 2011)

Thương mại, dịch vụ

Thương mại, dịch vụ phát triển nhất là các ngành dịch vụ như: Bưuchính viễn thông, tài chính ngân hàng, dịch vụ du lịch và giao thông vận tải.Các trung tâm thương mại, chợ tiếp tục được đầu tư, xây dựng và phát triểnkhá mạnh

Ngày đăng: 19/11/2015, 05:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Bảng 2.1. Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt (Trang 6)
Bảng 2.2. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Bảng 2.2. Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (Trang 7)
Hình 2.1. Mô hình quản lý rác thải. - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 2.1. Mô hình quản lý rác thải (Trang 9)
Hình 2.2. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Trung Quốc. 2.3.2. Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn tại Việt Nam - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 2.2. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Trung Quốc. 2.3.2. Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn tại Việt Nam (Trang 13)
Hình 2.4: Công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ chất thải rắn sinh hoạt tại Cầu Diễn - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 2.4 Công nghệ sản xuất phân hữu cơ từ chất thải rắn sinh hoạt tại Cầu Diễn (Trang 20)
Bảng 2.3. Hiện trạng của một số nhà máy chế biến compost - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Bảng 2.3. Hiện trạng của một số nhà máy chế biến compost (Trang 21)
Hình 4.1. Bản đồ vị trí địa lí khu vực thị trấn Trâu Quỳ - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.1. Bản đồ vị trí địa lí khu vực thị trấn Trâu Quỳ (Trang 33)
Hình 4.2. Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Trâu Quỳ - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.2. Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Trâu Quỳ (Trang 35)
Hình 4.3. Biểu đồ thành phần rác thải sinh hoạt trên thị trấn Trâu Quỳ 4.2.3. Khối lượng rác thải - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.3. Biểu đồ thành phần rác thải sinh hoạt trên thị trấn Trâu Quỳ 4.2.3. Khối lượng rác thải (Trang 36)
Bảng 4.1. Lượng rác thải sinh hoạt bình quân theo đầu người - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Bảng 4.1. Lượng rác thải sinh hoạt bình quân theo đầu người (Trang 37)
Hình 4.4. Sơ đồ khối lượng rác thải trong tuần (kg) - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.4. Sơ đồ khối lượng rác thải trong tuần (kg) (Trang 39)
Hình 4.6. Biểu đồ nhận xét của người dân về mức phí thu gom - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.6. Biểu đồ nhận xét của người dân về mức phí thu gom (Trang 43)
Hình 4.7. Sơ đồ thu gom rác thải sinh hoạt của thị trấn Trâu Quỳ - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.7. Sơ đồ thu gom rác thải sinh hoạt của thị trấn Trâu Quỳ (Trang 44)
Hình 4.8. Biểu đồ mức độ hiểu biết về 3R của sinh viên khóa 53, 54, 55 ở - Tiểu luận: “Đánh giá lợi ích của việc thực hiện dự án 3R và vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện dự án tại khu vực thị trấn Trâu Quỳ  Gia Lâm – Hà Nội”.
Hình 4.8. Biểu đồ mức độ hiểu biết về 3R của sinh viên khóa 53, 54, 55 ở (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w