1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008 2013”

85 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 19,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết các thông số không vượt QCVN 08:2008 cột A2 trừ một số đoạn sông suối phụ lưu cấp 1, 2 chảy qua các khu khai thác mỏ, khu tuyển quặng, đào đãi khoáng sản tự do,…[3] Đoạn sông chả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG

ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008 - 2013”

Người thực hiện : Hoàng Đức Tài Lớp : MTD

Khóa : 55 Chuyên ngành : Môi trườngGiáo viên hướng dẫn : TS Ngô Thế Ân Địa điểm thực tập : Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng

Hà Nội - 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

- -

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, các thầy cô giáo khoa Môi trường – trường Đại học Nông nghiệp – Hà Nội, toàn thể các cán bộ chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong cả quá trình thực tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy TS Ngô Thế Ân bộ môn Sinh thái môi trường, là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho

em trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin được gửi lời cám ơn tới gia đình và những người thân đã động viên, chia sẻ và khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Hoàng Đức Tài

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… 4

MỤC LỤC………5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU……….9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ………10

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ.……….12

1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài………13

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……….14

2.1 Hiện trạng chất lượng nước tại một số lưu vực sông ở Việt Nam… 14

2.1.1 Lưu vực sông Kỳ Cùng – Bằng Giang, Ka Long………14

2.1.2 Lưu vực sông Cầu………15

2.1.3 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy………19

2.1.4 Lưu vực sông Đồng Nai……… 24

2.2 Tình hình quản lý chất lượng nước ở các lưu vực sông…….……… 32

2.2.1 Tổ chức quản lý lưu vực sông……… 33

2.2.2 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép xả nước thải ở lưu vực sông ……… 35

2.2.3 Áp dụng các công cụ kinh tế………36

2.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra……….37

2.2.5 Thực hiện quy hoạch lưu vực sông……… 38

2.2.6 Xây dựng nguồn lực……….38

2.2.7 Sự tham gia của cộng đồng……… 41

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU …….……… 42

3.1 Đối tượng nghiên cứu……… 42

3.2 Phạm vi nghiên cứu……… 42

3.3 Nội dung nghiên cứu 42

Trang 5

3.4 Phương pháp nghiên cứu 42

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 42

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 42

3.4.3 Phương pháp ước tính nguồn thải 43

3.4.4 Phương pháp so sánh với các tiêu chuẩn, quy chuẩn 43

3.4.5 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu 43

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……… 44

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 44

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 44

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 46

4.2 Áp lực tác động lên chất lượng nước sông Bằng Giang tại khu vực nghiên cứu 50

4.2.1 Áp lực từ hoạt động sinh hoạt 51

4.2.2 Áp lực từ hoạt động y tế 53

4.2.3 Áp lực từ hoạt động công nghiệp 54

4.2.4 Áp lực từ hoạt động nông nghiệp 54

4.3 Diễn biến chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu 57

4.3.1 Diễn biến thông số DO 57

4.3.2 Diễn biến thông số COD 59

4.3.3 Diễn biến thông số BOD5 60

4.3.4 Diễn biến thông số NH4+ 61

4.3.5 Diễn biến thông số PO43- 62

4.3.6 Diễn biến thông số TSS 63

4.3.7 Diễn biến thông số Coliform 64

4.3.8 Diễn biến thông số kim loại nặng 65

4.4 Đánh giá chất lượng nước theo WQI trên sông Bằng Giang đoạn chảy qua thành phố Cao Bằng 2013 66

4.4.1 Vị trí và số liệu tính toán WQI………66

4.4.2 Kết quả tính toán WQI……….67

Trang 6

4.4.3 Phân vùng chất lượng nước sông Bằng Giang đoạn chảy qua

thành phố Cao Bằng theo chỉ số chất lượng nước (WQI)……… 70

4.5 Thực trạng công tác quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu

……… 75

4.5.1 Những việc đã làm được…… ……… 75

4.5.2 Tồn tại và thách thức……… ……….76

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 78

5.1 Kết luận……… 78

5.2 Kiến nghị……….….79

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 80

PHỤ LỤC……… 82

Trang 7

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

UBLVS : Ủy ban lưu vực sông

UBBVMTLVS : Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Ký hiệu

BOD5 : Nhu cầu oxi sinh hóa

COD : Nhu cầu oxi hóa học

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế thành phố Cao Bằng (giai đoạn 2005 –

2012)……… 47

Bảng 4.2 Gia tăng dân số và phân bố dân cư của thành phố Cao Bằng 48

Bảng 4.3 Tải lượng ô nhiễm trung bình trên đầu người theo WHO 52

Bảng 4.4 Ước tính tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt của các khu dân cư ven sông Bằng Giang 53

Bảng 4.5 Định mức tải lượng ô nhiễm trồng trọt theo WHO 56

Bảng 4.6 Ước tính tải lượng ô nhiễm từ trồng lúa đông xuân năm 2013 56

Bảng 4.7 Diễn biến hàm lượng kim loại nặng giai đoạn 2008 – 2013 65

Bảng 4.8 Vị trí quan trắc trên các nhánh sông suối đổ trực tiếp vào sông và trên sông Bằng Giang 66

Bảng 4.9 Kết quả tính toán WQI cho các vị trí quan trắc 68

Bảng 4.10 Kết quả tính toán chỉ số WQI và mức đánh giá chất lượng nước sông Bằng Giang tại khu vực thành phố Cao Bằng 70

Bảng 4.11 Kết quả phân loại chất lượng nước trên sông Bằng Giang 71

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Hàm lượng TSS tại các sông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng năm 2009………14Hình 2.2 Diễn biến dầu mỡ dọc sông Cầu……… 16Hình 2.1 Hàm lượng Fe trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên năm 2011………17Hình 2.4 Hàm lượng NH4+ đoạn qua Thái Nguyên năm 2007 – 2011……… 17Hình 2.5 Diễn biến hàm lượng BOD5 tại sông Cầu đoạn chảy qua Bắc Ninh, Bắc Giang năm 2007 – 2011……… 18Hình 2.6 Diễn biến hàm lượng COD trên sông Ngũ Huyện Khê năm 2007 – 2011………19Hình 2.7 Hàm lượng BOD5 tại một số sông trong nội thành Hà Nội………….20Hình 2.8 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội)…… 21Hình 2.9 Hàm lượng N-NH4+ trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009……… 21Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD5 trên sông Nhuệ năm 2007 – 2011…….22Hình 2.11 Diễn biến hàm lượng COD dọc sông Đáy giai đoạn 2007 – 20011……… 23Hình 2.12 Diễn biễn COD theo các năm (giá trị trung bình năm) của sông Đáy tại Hà Nam (trung lưu) và Nam Định (hạ lưu)……… 23Hình 2.13 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông: Nhuệ, Đáy, Châu Giang)……… 24Hình 2.14 Diễn biến hàm lượng BOD5 trên sông Đồng nai từ sau cửa đập Trị

An đến cầu Hóa An năm 2007 – 2011………25Hình 2.15 Diễn biến hàm lượng BOD5 trên phụ lưu sông Đồng Nai năm 2007 – 2001 26Hình 2.16 Diễn biến hàm lượng BOD5 trên sông Đồng Nai đoạn qua thành phố Biên Hòa năm 2007 – 2011 26

Trang 10

Hình 2.17 Diễn biến hàm lượng N - NH4+ tại khu vực trung lưu sông Đồng nai

năm 2007 – 2011 27

Hình 2.18 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm Phú Cường và Hóa An 29

Hình 2.19 Diễn biến giá trị BOD5 trên sông Sài Gòn năm 2007 – 2011 29

Hình 2.20 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm Phú Cường và Hóa An 30

Hình 2.21 Diễn biến dầu mỡ qua các năm tại một số trạm trên sông Sài Gòn 30

Hình 2.22 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng 3/2009 32

Hình 2.23 Sơ đồ quản lý LVS từ Trung ương đến địa phương……… 35

Hình 2.24 Tỷ lệ ước tính về tổng đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường lưu vực sông trên tổng diện tích của 3 LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai 39

Hình 2.25 Nguồn gây ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt 51

Hình 4.1 Vị trí các điểm quan trắc trong khu vực nghiên cứu 57

Hình 4.2 Diễn biến DO trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 58

Hình 4.3 Diễn biến COD trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 59

Hình 4.4 Diễn biến BOD5 trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 60

Hình 4.5 Diễn biến NH4+ trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 61

Hình 4.6 Diễn biến PO43- trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 62

Hình 4.7 Diễn biến TSS trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 63

Hình 4.8 Diễn biến coliform trên sông Bằng Giang giai đoạn 2008 – 2013 64

Hình 4.9 Bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Bằng Giang đoạn chảy qua thành phố Cao Bằng năm 2013 73

Trang 11

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước có vai trò không thể thay thế trong toàn bộ sự sống và các quá trình xảy ra trên Trái Đất Nước góp phần tạo thành bề mặt đất, hình thành đất thổ nhưỡng, thảm thực vật, tạo thời tiết, điều hoà khí hậu, gây hiệu ứng nhà kính, phân phối lại nhiệt ẩm Nước là môi trường cho các phản ứng hóa sinh tạo chất mới, giúp chuyển dịch nhiều loại vật chất Môi trường nước là cái nôi phát sinh

và phát triển các cá thể sống đầu tiên Nước là môi trường bảo đảm dẫn chất, trao đổi chất, thải chất và giúp điều hoà thân nhiệt cho nhiều loại sinh vật Hiện nay nguồn tài nguyên nước gần như bị cạn kiệt và bị ô nhiễm bởi nhiều lý do, một trong những lý do quan trọng nhất là do hoạt động của con người

Việt Nam đang trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, cùng với sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên thiên nhiên Nước thải, chất thải từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, làng nghề… phần lớn đều không qua xử lý, đổ trực tiếp vào các hệ thống ao hồ, kênh mương thủy lợi làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước mặt

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội Cao Bằng trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên cũng tác động không nhỏ đến môi trường Các quá trình gia tăng dân số, công nghiệp hóa, hiện đại hóa dẫn đến khai thác tài nguyên một cách quá mức, đáng báo động là các cánh rừng đầu nguồn các con sông chính, nạn khai thác vàng sa khoáng trái phép trên sông, khai thác triệt để nguồn tài nguyên cát cuội sỏi vốn rất nghèo trên sông Bằng Giang, sông Hiến, sông Khuây Sơn, sông Gâm

Hiện nay, tỉnh Cao Bằng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp của con người Những thách thức này nếu không được giải quyết tốt có thể gây ra những thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, hậu quả

Trang 12

cuối cùng là tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe người dân hiện tại

và tương lai Nhận định được tầm quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, tỉnh Cao Bằng hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, do đó vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng được chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý có liên quan và người dân quan tâm

Nguồn tài nguyên nước ở sông Bằng Giang, thuộc thành phố Cao Bằng cũng đang là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm khi việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến việc ô nhiễm trầm trọng, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân

Để có thể thấy rõ được những tác động của phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trong những năm gần đây tới chất lượng nước sông Bằng Giang như thế nào và cần có những biện pháp quản lý gì để cải thiện chất lượng nước sông

trong thời gian tới, tôi xin tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Bằng Giang đoạn chảy qua thành phố Cao Bằng giai đoạn

2008 – 2013” nhằm mô tả diễn biến chất lượng nước trên đoạn sông Bằng

Giang chảy qua thành phố Cao Bằng trong những năm gần đây Từ đó tạo cơ sở cho các nhà quản lý môi trường có những biện pháp quản lý chất lượng nước sông hiệu quả hơn trong tương lai

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt sông Bằng Giang đoạn chảy qua thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2008 – 2013

Trang 13

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Hiện trạng chất lượng nước tại một số lưu vực sông ở Việt Nam

2.1.1 Lưu vực sông Kỳ Cùng – Bằng Giang, Ka Long.

Các năm gần đây chất lượng nước sông Kỳ Cùng bị giảm sút đáng kể

Trên các sông Hoá, sông Trung và đầu nguồn sông Thương, các kết quả phân tích chất lượng nước sông đều nằm trong giới hạn cho phép, nhưng nồng

độ các chất ô nhiễm tăng lên dần về hạ lưu nơi tập trung đông dân cư và các cơ

sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Mặt khác, tại các đoạn sông chảy qua thị

xã và các khu vực có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trong những năm gần đây, các chỉ tiêu TSS, BOD5 đều tăng, chất lượng nước sông đã bị suy giảm Sông Hiến, sông Bằng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho thị

xã Cao Bằng và một số huyện lân cận có hàm lượng TSS vượt QCVN loại B1

từ 2 - 3 lần, ở các sông nhánh khác xung quanh vượt từ 6 - 7 lần [3].

Hình 2.1 Hàm lượng TSS tại các sông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng năm

2009 [3]

Sông Ka Long hiện đang bị ô nhiễm do các hoạt động giao thông vận tải

và nước thải sinh hoạt Đoạn sông Ka Long đi qua thị xã Móng Cái đang có xu hướng gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm gây suy giảm chất lượng nước

Trang 14

Hoạt động giao thông vận tải và sinh hoạt đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường chính trên sông Ka Long Mỗi ngày có hàng trăm lượt thuyền đò các loại

ra vào các cảng Thọ Xuân, Hương Hải, Quang Phát và khu vực cửa khẩu tiểu ngạch, cùng với đó là một lượng lớn nước thải chứa dầu mỡ, chất thải rắn thải ra môi trường nước Kết quả quan trắc cho thấy, hàm lượng dầu mỡ và chất lơ lửng trong nước sông Ka Long tại các khu vực nói trên vượt QCVN 08:2008/BTNMT trên 7 lần

Nước thải sinh hoạt hỗn hợp từ các khu dân cư, các nhà hàng khách sạn, các nhà máy… cũng đổ thải trực tiếp vào sông Ka Long, gây ô nhiễm môi trường nước Giá trị của các thông số COD, BOD5, TSS, NH4+, Coliform… vượt ngưỡng QCVN 08:2008/BTNMT loại A2 từ 3 - 4 lần

2.1.2 Lưu vực sông Cầu

LVS Cầu khá giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên rừng đa dạng, tài nguyên nước tương đối dồi dào, tài nguyên khoáng sản phong phú… LVS Cầu tiếp nhận một phần chất thải (nước thải và chất thải rắn) của 6 tỉnh thuộc lưu vực (Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương) và một phần của Hà Nội (huyện Sóc Sơn, Đông Anh)

Nhìn chung chất lượng nước sông Cầu thời gian qua đã bị suy giảm, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề, thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Do đặc thù chịu ảnh hưởng của hoạt động phát triển các ngành công nghiệp nên trên LVS Cầu có nhiều đoạn bị ô nhiễm nặng bởi các chất gây ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng (SS) và có những đoạn có dấu hiệu ô

nhiễm dầu mỡ Mức độ ô nhiễm tăng dần về phía hạ nguồn [1].

Trang 15

Hình 2.2 Diễn biến dầu mỡ dọc sông Cầu [1]

Đoạn thượng nguồn sông Cầu (chảy qua Bắc Kạn) nước sông còn giữ được tính tự nhiên vốn có do chảy qua vùng dân cư thưa thớt và các hoạt động công nghiệp chưa phát triển mạnh Nhìn chung, chưa có dấu hiệu ô nhiễm đáng kể Hầu hết các thông số không vượt QCVN 08:2008 cột A2 trừ một số đoạn sông suối phụ lưu cấp 1, 2 chảy qua các khu khai thác mỏ, khu tuyển quặng, đào đãi

khoáng sản tự do,…[3]

Đoạn sông chảy qua thành phố Thái Nguyên bắt đầu tiếp nhận nước thải của các nhà máy (nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, nhiệt điện Cao Ngạn, khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên…); các bệnh viện; khu dân cư đô thị… Hàm lượng Fe trong nước sông có xu hướng tăng cao hơn so với đoạn thượng nguồn, vượt QCVN 08:2008 cột A2 Giá trị trung bình năm Fe cao nhất tại điểm Sơn Cầm (1,96 mg/l) vượt QCVN 08:2008 cột B1 khoảng 1,31 lần

Trang 16

Hình 2.3 Hàm lượng Fe trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên

năm 2011 [3]

Tại nhiều nơi, vào những tháng mùa kiệt, khi nước ở thượng nguồn ít, có nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, các loài thủy sinh gần như không sinh sống được Nhìn chung, hầu hết các thông số quan trắc của đoạn sông này đều không đạt QCVN A1, một số điểm như Cầu Trà Vườn, giá trị thông số NH4+ còn vượt quá QCVN B1, tuy nhiên, hàm lượng các thông số có xu hướng giảm qua các năm

Hình 2.4 Hàm lượng NH 4 + đoạn qua Thái Nguyên năm 2007 – 2011 [3]

Càng về cuối nguồn, chất lượng nước sông càng có những dấu hiệu suy giảm đáng kể do phải tiếp nhận nước thải từ rất nhiều nguồn thải, đặc biệt là đoạn sông chảy qua Bắc Ninh – tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống và các khu

Trang 17

công nghiệp phân bố dọc hai bên bờ sông Cầu Bên cạnh đó, đoạn sông này còn chịu ảnh hưởng do tiếp nhận nước của sông Cà Lồ tại Bắc Giang và sông Ngũ Huyện Khê tại Bắc Ninh

Hình 2.5 Diễn biến hàm lượng BOD 5 tại sông Cầu đoạn chảy qua Bắc

Ninh, Bắc Giang năm 2007 – 2011 [3]

Chất lượng nước sông tại vùng hạ lưu của sông Cầu đã bị ô nhiễm hữu cơ Các thông số COD, BOD5 đã vượt QCVN 08:2008 cột A2 Tại điểm Hòa Long, giá trị trung bình năm của COD và BOD5 cao nhất lần lượt là 22,0 mg/l và 6,4 mg/l Nguyên nhân làm nhóm các thông số hữu cơ tăng cao do Hoạt động sản xuất của các làng nghề đã thải ra sông Cầu một lượng lớn nước thải chưa qua xử

lý Theo thống kê, trên lưu vực sông Cầu có hơn 200 làng nghề như làng nghề sản xuất giấy, nấu rượu, mạ kim loại, tái chế phế thải, sản xuất đồ gốm Các làng nghề này tập trung chủ yếu ở Bắc Ninh và một số ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang Lưu lượng nước thải làng nghề lớn, mức độ ô nhiễm cao, không được xử lý và thải trực tiếp xuống các nguồn nước mặt, cùng với các hoạt động phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng là nguyên nhân gây ô

nhiễm nguồn nước mặt vùng hạ lưu này [20].

Sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ô nhiễm nghiêm trọng của LVS Cầu do hoạt động của các làng nghề trải suốt dọc sông từ Đông Anh -

Hà Nội cho đến Vạn An - Bắc Ninh [3] Dọc con sông là sự phân bố của các cơ

Trang 18

sở sản xuất công nghiệp và làng nghề, điển hình là làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Đồng Quang - Từ Sơn), tái chế sắt Đa Hội (Châu Khê - Từ Sơn); tái chế giấy (Phú Lâm - Tiên Du); cô đúc nhôm (Văn Môn - Yên Phong); tái chế giấy (Phong Khê - thành phố Bắc Ninh) Đây là những điểm “nóng” ở Bắc Ninh tác động lớn tới chất lượng nước sông.

Nhìn chung, nước sông Ngũ Huyện Khê bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ và các chất lơ lửng cao hơn QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 hàng chục đến hàng

trăm lần tùy từng thời điểm [3].

Hình 2.6 Diễn biến hàm lượng COD trên sông Ngũ Huyện Khê năm

2007 – 2011 [3]

2.1.3 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy

LVS Nhuệ - Đáy là một trong những LVS lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng, nhất là 5 địa phương gồm: Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định Vai trò của hai dòng sông trên vừa là hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp, vừa đảm nhiệm thoát nước đô thị Tuy nhiên, chất lượng môi trường nước lưu vực hai con sông này đang ngày càng suy thoái do sự phát triển nhanh chóng của các làng nghề, khu công nghiệp của các địa phương trong lưu vực

Trang 19

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy ngày càng trở nên nghiêm trọng: Nước sông chịu tác động rất lớn của nước thải công nghiệp, sinh hoạt,… Hàm lượng chất hữu cơ trong nước cao, nồng độ COD vượt quá giới hạn cho phép chất lượng nước mặt loại A từ 2 – 3 lần trong khi nồng độ BOD5 vượt quá giới hạn này từ 4 – 6 lần, hàm lượng DO rất thấp, chỉ đạt 2,89 mg/l Ước tính lượng nước thải từ sinh hoạt và công nghiệp đổ vào trung bình khoảng 5,4m3/s, điều này đồng nghĩa với việc để hàm lượng ô nhiễm BOD không vượt quá tiêu chuẩn thì cống Liên Mạc sẽ phải mở với công suất tối đa 60m3/s [7]

Với tổng lượng nước thải công nghiệp khoảng 100.000m3/ngày đêm, Hà Nội đang đứng đầu danh sách 6 tỉnh về lượng nước thải đổ ra sông Nhuệ - Đáy Mặt nước ở các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng, các đoạn sông Nhuệ nhận nước từ sông Tô Lịch cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm Các giá trị COD, BOD5 vượt quá tiêu chuẩn từ 3 - 5 lần Nước sông màu đen, có váng, cặn lắng

và có mùi tanh [14] Đặc biệt, vào mùa khô, mức độ ô nhiễm càng trở nên trầm

trọng hơn Kết quả các đợt quan trắc cuối năm 2005 cho thấy giá trị DO đạt rất thấp Giá trị COD vượt 7 - 8 lần, BOD5 vượt 7 lần Giá trị Coliform cao hơn

TCVN 5942 - 1995 (loại B) [1].

Hình 2.7 Hàm lượng BOD 5 tại một số sông trong nội thành Hà Nội [1]

Trang 20

Hình 2.8 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội)

Nước sông Nhuệ đang bị ô nhiễm nặng, hàm lượng ôxy hòa tan trong mẫu nước lấy tại cầu Hà Đông, cầu Tó, Cự Đà… đặc biệt là sau khi nhận nước từ sông Tô Lịch rất thấp, trong khi lượng coliform, thông số COD, BOD5, NH4 +… vượt tiêu chuẩn nhiều lần

Theo kết quả giám định của Viện Quy hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, tại cầu Tó - nơi nhận nước thải lớn nhất tại sông

Tô Lịch - hàm lượng các chất hóa học đều vượt giới hạn B của TCVN 5942 -

1995 nhiều lần Lượng NO2 có lúc đạt 0,508 mg/l (vượt giới hạn B 10 lần); lượng NH4+ là 2,005 mg/l (gấp đôi giới hạn B); lượng Coliform từ 110.000 -

330.000 MPN/100 ml (vượt quá giới hạn B 33 lần) [14].

Hình 2.9 Hàm lượng N-NH 4 + trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 [2]

Trang 21

Nước sông ở đầu nguồn hầu như không bị ô nhiễm Nhưng từ đoạn sông chảy qua khu vực Hà Đông (Phúc La) tới trước khi nhận nước sông Tô Lịch thì nước sông đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm Sau khi tiếp nhận nước thải của sông

Tô Lịch, nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm nặng Có thể thấy nước thải sông Tô Lịch (nơi tiếp nhận nước thải chính của toàn bộ các quận nội thành Hà Nội) là

nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho nước sông Nhuệ [2].

Dọc theo dòng chảy sau khi nhận nước sông Tô Lịch cho tới cuối nguồn mức độ ô nhiễm của nước sông Nhuệ giảm dần do ít chịu tác động trực tiếp của các nguồn thải công nghiệp, đồng thời khả năng tự làm sạch của dòng sông cũng được tăng lên nhờ dòng chảy mạnh và lưu lượng nước lớn vào mùa mưa Chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy từng lúc khác nhau do phụ thuộc vào thời

gian mở cống Liên Mạc và mực nước của sông Hồng [16] Việc chuyển nước từ

sông Tô Lịch ra hệ thống hồ điều hòa Yên Sở trong những tháng mùa khô đổ vào pha loãng nước sông Nhuệ đã giảm bớt ô nhiễm lên sông Nhuệ trong khoảng thời gian này

Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên sông Nhuệ năm

2007 – 2011 [3]

Chât lượng nước lưu vực sông Đáy bị ô nhiễm ở mức nhẹ hơn sông Nhuệ

và ô nhiễm mang tính cục bộ, thay đổi thất thường, phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước thải từ hai bên bờ sông Đáy trên suốt chiều dài của sông Một số nơi

Trang 22

chỉ chịu ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt, nhưng một số nơi khác lại chịu thêm cả ảnh hưởng của nước thải công nghiệp của thành phố Phủ Lý dồn xuống Một số khu vực như khu vực nhận nước thải của Hà Đông (cầu Mai Lĩnh) và hợp lưu với sông Nhuệ (cầu Hồng Phú), nước sông Đáy bị ô nhiễm đáng kể, các thông số đều không đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại A1.

Hình 2.11 Diễn biến hàm lượng COD dọc sông Đáy giai đoạn 2007 –

2011 [3]

Hình 2.12 Diễn biễn COD theo các năm (giá trị trung bình năm) của

sông Đáy tại Hà Nam (trung lưu) và Nam Định (hạ lưu) [10]

Trong đó, nặng nề nhất là đoạn cầu Hồng Phú (Phủ Lý, Hà Nam - hợp lưu của sông Nhuệ, Đáy và sông Châu Giang) Tại đây, nước sông bị ô nhiễm hữu

Trang 23

cơ cao Các thông số như BOD5, COD, các hợp chất Nitơ và Coliform đều không đạt tiêu chuẩn cho phép

Hình 2.13 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông:

Nhuệ, Đáy, Châu Giang) [1]

Tình trạng này diễn ra tương tự tại đoạn hợp lưu của sông Hoàng Long đổ vào sông Đáy (cầu Gián Khẩu - Gia Viễn - Ninh Bình) và xu hướng ô nhiễm ngày một gia tăng theo từng năm Phần hạ lưu sông Đáy (từ Kim Sơn – Ninh Bình ra cửa Đáy), do nguồn thải ở thượng nguồn dồn về đã được pha loãng cộng với quá trình tự làm sạch của dòng sông nên chất lượng nước ở hạ lưu

sông Đáy được cải thiện so với các đoạn trên [3].

Hàm lượng các thống số ô nhiễm trên các sông khác trong lưu vực sông

Nhuệ - Đáy vẫn đáp ứng yêu cầu QCVN 08:2008/BTNMT loại A2 và B1 [2].

2.1.4 Lưu vực sông Đồng Nai

LVS Đồng Nai trải rộng trên địa bàn của nhiều tỉnh, chịu nhiều áp lực hoạt động phát triển của các ngành công nghiệp đã khiến cho LVS Đồng Nai đang chết dần chết mòn vì tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng gia tăng Ô nhiễm nước mặt tập trung chủ yếu dọc các đoạn sông chảy qua các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm

Khu vực thượng nguồn: nước khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng còn tương đối tốt Tuy nhiên theo kết quả quan trắc

Trang 24

của Sở TN&MT Lâm Đồng, khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai và các phụ lưu như sông Đạ Huoai, sông La Ngà, tại một số vị trí khảo sát các thông số đã vượt loại A2 theo QCVN 08:2008 do ảnh hưởng bởi các nguồn thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.

Khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai tuy ít bị tác động từ các nguồn thải công nghiệp nhưng đã xảy ra hiện tượng rửa trôi phù sa vào mùa mưa làm chất lượng nước thay đổi

Sông Đồng Nai từ sau cửa đập Trị An đến cầu Hóa An và phụ lưu có chất lượng nước sông khá tốt Tuy chưa có tác động xấu từ các nguồn thải lớn nhưng cần quan tâm vì đoạn sông này tiếp nhận nước từ sông Bé (nguồn thải từ tỉnh

Bình Dương) [3].

Hình 2.14 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên sông Đồng nai từ sau cửa

đập Trị An đến cầu Hóa An năm 2007 – 2011 [3]

Các phụ lưu trên sông Đồng Nai thuộc khu vực trên như sông Bé, La Ngà

có chất lượng nước khá tốt, hầu hết đều nằm dưới loại A2 theo QCVN 08:2008

Trang 25

Hình 2.15 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên phụ lưu sông Đồng Nai

năm 2007 – 20011 [3]

Sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa chịu tác động nặng nhất trên toàn tuyến sông Đồng Nai Hàng ngàn nhà máy, cơ sở sản xuất đang ngày đêm đổ nước thải và nhiều chất độc hại khác ra môi trường; nước thải bệnh viện, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất nuôi trồng thủy sản chưa có hệ thống xử lý nước thải; nước thải sinh hoạt của người dân trong khu vực tính ra khoảng 2,7 triệu m3/ngày đêm chảy ra sông cùng với hàng chục loại xe lén lút đổ nhiều loại

chất thải khác nhau [20].

Hình 2.16 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên sông Đồng Nai đoạn qua

thành phố Biên Hòa năm 2007 – 2011 [3]

Trang 26

Nồng độ NH4+ tại tất cả các điểm quan trắc đều vượt giá trị giới hạn theo QCVN 08:2008, loại A1, đặc biệt tại vị trí Cầu Ông Buông, giá trị luôn ở mức cao trong nhiều năm Ngoài ô nhiễm các chất dinh dưỡng trong nước thải sinh hoạt, nguyên nhân chủ yếu của sự tăng cao hàm lượng NH4+ khu vực này là do nước rửa trôi từ các khu vực sản xuất nông nghiệp có sử dụng các loại phân bón hóa học.

Hình 2.17 Diễn biến hàm lượng N - NH 4 + tại khu vực trung lưu sông

Đồng Nai năm 2007 – 2011 [3]

Mức độ ô nhiễm vi sinh vật tăng dần từ khu vực trung lưu cho đến gần cuối hạ lưu sông Đồng Nai Hàm lượng Coliform khu vực từ trạm bơm nhà máy nước Thiện Tân cho đến bến đò Hãng Da đều vượt QCVN 08:2008 loại A1, thậm chí một số đoạn vượt QCVN 08:2008 loại B1 nhiều lần Trong đó mức độ ô nhiễm vi sinh cao nhất tại vị trí Bến đò Lợi Hòa, bến đò Hãng Da do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nước thải sinh hoạt và các khu công nghiệp Hố Nai, Biên Hòa 1

Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm (Bộ TN&MT), nhiều chỉ tiêu về môi trường

ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai đã vượt tiêu chuẩn cho phép ở mức độ báo động, trong đó nghiêm trọng nhất là ô nhiễm hữu cơ, vi sinh, kim loại nặng và

Trang 27

dầu mỡ Đặc biệt, vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm trọng, nước sông ở khu vực này không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu Một trong những phụ lưu lớn của sông Đồng Nai là sông Sài Gòn Chất lượng nước sông Sài Gòn đoạn thượng lưu còn khá tốt, khu vực hạ lưu đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt khu vực thành phố Hồ Chí Minh (cầu Sài Gòn đến cầu chữ Y) Giá trị BOD5, COD, vi sinh đều không đạt quy chuẩn QCVN 08:2008 loại A2, tại nhiều điểm còn vượt B1 Tại khu vực thượng nguồn, chất lượng nước không có sự biến động lớn, tuy nhiên tại vị trí cầu Bến Súc giá trị BOD5 khá cao Đây là vị trí trực tiếp nhận nước thải và chất thải từ thị xã Thủ Dầu Một và các khu dân cư, khu đô thị ven sông Sài Gòn đồng thời

bị tác động bởi hoạt động của các khu công nghiệp tập trung và các cơ sở công nghiệp phân tán thuộc khu vực Nam Bình Dương và huyện Củ Chi (thành phố

Hồ Chí Minh) [3].

Trong những năm gần đây, chất lượng nước sông Sài Gòn có chiều hướng suy giảm và mức độ ô nhiễm trên sông mở rộng hơn về phía thượng lưu so với năm trước đó Một số vị trí, các thông số ô nhiễm luôn ở mức cao như cầu An Lộc, cầu An Hạ, cầu chữ Y

Kết quả quan trắc ở các trạm Phú Cường (phía trên nhà máy nước Tân Hiệp) và Hoá An (nguồn nước thô để dẫn về nhà máy nước Thủ Đức) cho thấy nồng độ DO trong nước sông giảm liên tục từ năm 1998 đến nay và giảm xuống thấp hơn tiêu chuẩn cho phép TCVN 5942 - 1995, loại A (6 mg/l) từ năm 2000 Đến giai đoạn 2005 - 2007, nồng độ DO ở hai trạm này luôn nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 3 lần chứng tỏ chất lượng nguồn nước đã bị suy giảm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào nguồn nước cấp thành phố

Trang 28

Hình 2.18 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm

Phú Cường và Hóa An [8]

Hình 2.19 Diễn biến giá trị BOD 5 trên sông Sài Gòn năm 2007 – 2011 [3]

Giá trị Coliform trên sông Sài Gòn hầu như luôn vượt QCVN 08:2008 loại B2, do phải chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất từ các khu dân cư và các cơ sở công nghiệp phân tán của thành phố Hồ Chí Minh

Trang 29

Hình 2.40 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm

Phú Cường và Hóa An [8]

Hàm lượng dầu mỡ đo tại các trạm Phú Cường, Bình Phước, Phú An dao động khoảng 0,03mg/l, trong khi tiêu chuẩn quy định không cho phép dầu hiện diện trong nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt (Hình 2.21)

Hình 2.21 Diễn biến dầu mỡ qua các năm tại một số trạm trên sông Sài

Gòn [12]

Theo Tổng cục Môi trường năm 2010, kết quả quan trắc cho thấy hiện trạng mặt nước sông Sài Gòn về chất N-NH4+ có chỉ số luôn vượt ngưỡng tiêu chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT ở mức B1 nhiều lần; còn chỉ số BOD5 nhiều khu vực tăng mạnh Điều đáng nói là N-NH4+ ở tất cả cửa sông đều vượt QCVN loại nước A1 như phà Bình Khánh, đập Tam Thôn Hiệp, sông Soài

Rạp [17].

Trang 30

Chất lượng nước của một số sông nhánh trong lưu vực như sông Bé, Đa Nhim - Đa Dung… phần hạ lưu cũng đang diễn biến theo chiều hướng xấu đi Ô nhiễm nhất trong lưu vực là sông Thị Vải có một đoạn sông "chết" dài trên 10

km Dòng sông đã và đang bị ô nhiễm nặng bởi ngày đêm phải hứng chịu hàng chục ngàn khối nước thải trực tiếp từ các nhà máy, khu công nghiệp đổ vào, trong đó chủ yếu là nước thải từ công ty Vedan Việt Nam

Tại đây, nước bị ô nhiễm hữu cơ trầm trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối cả ngày lẫn đêm, cả khi thủy triều Kết quả giám sát chất lượng nước tại khu vực Vedan thuộc dự án hạ lưu sông Đồng Nai do Trung tâm Chất lượng nước và Môi trường thực hiện từ 1999 – 2004 cho thấy sau năm 2000, nước sông Thị Vải đã rất xấu, DO thường rất thấp, hiếm khi cao hơn 1 mg/l Tình trạng ô nhiễm sông đã kéo dài liên tục và ngày càng trở nên trầm trọng cho tới

khi đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện ra vụ Vedan [11].

Theo kết quả khảo sát của Bộ TN&MT, giá trị DO thường xuyên dưới 0,5 mg/l (giá trị thấp nhất tại khu vực cảng Vedan (0,04 mg/l) Với giá trị DO gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống Thông số N-NH4+ cũng vượt quá TCVN 5942 - 1995 (loại B) từ 3 - 15 lần, giá trị Coliform

vượt TCVN (loại B) từ vài chục đến hàng trăm lần [1] Tuy nhiên, hiện nay, với

nỗ lực của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ các biện pháp kiểm soát ô nhiễm nên chất lượng nước đã cải thiện phần nào Đoạn ô nhiễm trên sông Thị Vải đã được cải thiện, hàm lượng oxy hòa tan trong nước tăng lên đáng kể từ đầu năm 2009

Trang 31

Hình 2.22 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng

3/2009 [2]

Tuy nhiên trong những năm gần đấy, các nỗ lực ngăn ngừa ô nhiễm đã cho một số kết quả tích cực, thể hiện qua một số khu vực ô nhiễm nặng nay đã phục hồi Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng nước đạt mức A2 trong QCVN 08:2008/BTNMT, mặc dù vậy vẫn còn một số điểm ô nhiễm mang tính cục bộ

nhưng đang được khắc phục triệt để [3].

2.2 Tình hình quản lý chất lượng nước ở các lưu vực sông

Quản lý LVS là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các LVS Điều 58 của Luật Tài nguyên nước đã giao nhiệm vụ quản lý nước thuộc trách nhiệm của bộ máy hành chính các cấp từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, để phát triển bền vững thì nước cũng cần thiết phải được quản lý theo LVS Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này, điều 64 của Luật Tài nguyên nước đã thể chế hoá về quản lý LVS bằng việc quy định nội dung quản lý quy hoạch LVS và việc thành lập cơ quan quản lý quy hoạch LVS đối với các LVS lớn ở nước ta

Trang 32

Tuy đã có hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành, song hiệu quả quản lý tại các LVS chưa cao do hệ thống chính sách, văn bản pháp quy liên quan đến bảo vệ chất lượng nước ở LVS còn thiếu và chưa đồng bộ.

2.2.1 Tổ chức quản lý lưu vực sông.

Tháng 8/2002, Quốc hội đã quyết định thành lập Bộ TN&MT Việc giao chức năng quản lý tài nguyên nước từ Bộ NN&PTNT sang Bộ TN&MT đã tách quản lý Nhà nước về tài nguyên nước ra khỏi quản lý theo mục đích sử dụng

[1] Như vậy, Bộ TN&MT là cơ quan Chính phủ thực hiện chức năng quản lý

nhà nước trên các LVS trong phạm vi cả nước

Các Bộ liên quan có trách nhiệm trong quản lý chất lượng nước trong các LVS gồm Bộ NN&PTNT, Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính…

Sau khi được giao chức năng và thẩm quyền quản lý lưu vực sông, Bộ TN&MT đã tham mưu cho Chính phủ thành lập các UBBVMTLVS

Mười năm sau khi Luật Tài nguyên nước được ban hành, mặc dù đã có các

tổ chức quản lý tài nguyên nước theo LVS ra đời và hoạt động như BQLQHLVS hay UBBVMTLVS, nhưng tính hiệu quả của các cơ cấu này không đáp ứng được yêu cầu quản lý tài nguyên nước trước những thánh thức mới Vì thế, tháng 12/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định 120/2008/NĐ-CP

về Quản lý LVS như là mốc quan trọng nhất trong việc chuyển hướng triệt để

và kiên quyết từ cách quản lý tài nguyên nước truyền thống sang cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS

Để thiết lập lại trật tự trên LVS bằng tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước, UBLVS được thành lập theo Nghị định 120/2008/NĐ-CP

UBLVS lớn gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan, đại diện lãnh đạo UBND cấp tỉnh của một số tỉnh có lãnh thổ nằm trong LVS, đại diện một số đơn vị quản lý công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước có quy mô lớn (nếu có) do một Thứ trưởng Bộ TN&MT làm Chủ tịch Ủy ban” (điểm a, khoản

2, Điều 30) Các UBLVS lớn do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập

Trang 33

theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ TN&MT Với các UBLVS liên tỉnh cũng có

thành phần đại diện các bên liên quan như UBLVS lớn (nhưng không quy định

đại diện phải là cấp lãnh đạo), tuy nhiên Chủ tịch Uỷ ban lại là (một) lãnh đạo

UBND tỉnh của tỉnh có lãnh thổ nằm trong lưu vực và giao theo chế độ luân

phiên nhiệm kỳ hai năm Thẩm quyền thành lập UBLVS liên tỉnh thuộc về Bộ

trưởng Bộ TN&MT theo đề nghị của lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước chuyên

ngành về tài nguyên nước (hiện tại là Cục quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ

TN&MT) [6].

UBLVS có chức năng giám sát, điều phối hoạt động của các Bộ, ngành,

địa phương liên quan trong việc thực hiện quy hoạch LVS; đề xuất ban hành các

chính sách, kiến nghị các giải pháp về bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử

dụng và phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước

gây ra trên LVS

Điều 42 quy định có 4 nguồn kinh phí hoạt động được bố trí từ:

(i) ngân sách nhà nước theo dự toán chi hàng năm của Bộ TN&MT và

các cơ quan liên quan;

(ii) đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân;

(iii) tài trợ của các tổ chức quốc tế, nước ngoài;

(iv) các nguồn khác theo quy định của pháp luật

Trong khi nguồn đóng góp tự nguyện dường như không khả thi cả về khía

cạnh pháp luật và tính sẵn sàng, thì sự kỳ vọng lâu dài sẽ có các “nguồn khác”

ngoài ngân sách nhà nước và tài trợ quốc tế sẽ không giúp giải quyết các vấn đề

cấp bách quản lý tài nguyên nước LVS mà Việt Nam cần phải giải quyết Rõ

ràng, nghị định này chưa vận dụng triệt để xu thế nước hay dịch vụ môi trường

nước chính là hàng hoá mà các bên sử dụng phải chi trả để bù đắp chi phí bảo

vệ, phát triển tài nguyên nước trên lưu vực [9].

- Phó chủ tịch:

+ Thứ trưởng Bộ TN&MT+Thứ trưởng Bộ NN&PTNT

- Các Ủy viên:

+ Lãnh đạo UBND các tỉnh,

thành phố trên LVS+ Các lãnh đạo Bộ, ngành có

liên quan

Các nhà tài trợ trong và ngoài nước

Các chuyên gia đa ngành

Các phòng ban của Bộ/

ngành có liên quan

Văn phòng UBBVMT LVS (thuộc Cục Môi

Sở TN&MT, các Sở/ ngành khác

Trang 34

Quan hệ quản lý trực tiếpTham gia hỗ trợ

Hình 2.23 Sơ đồ quản lý LVS từ Trung ương đến địa phương [12]

Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan Bộ, ngành và địa phương để giải quyết các vấn đề về LVS còn yếu Giữa các địa phương trong cùng lưu vực chưa tìm được tiếng nói chung, chưa thống nhất và hợp tác chặt chẽ trong công tác quản lý môi trường lưu vực

2.2.2 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép xả nước thải ở lưu vực sông

Trong những năm qua, công tác ĐTM ở Việt Nam đã được triển khai một cách có hệ thống từ Trung Ương đến địa phương, đều khắp ở mọi ngành trong

cả nước và ngày càng mạnh mẽ Tuy nhiên, tỷ lệ báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được thẩm định và phê duyệt trên tổng số các dự án

Trang 35

và cơ sở thuộc diện phải lập báo cáo ĐTM còn thấp; số báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được phê duyệt giữa các tỉnh/thành cũng không đồng đều; hoạt động sau thẩm định báo cáo ĐTM còn rất yếu…

Tại các địa phương thuộc LVS, nhiều nơi đã thực hiện việc thống kê các

cơ sở xả thải thuộc diện phải xin cấp phép, nhưng cho đến nay trên LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai, số lượng giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cấp được còn rất ít so với số lượng các đối tượng phải xin cấp phép Tính đến cuối tháng 6/2006, mới có rất ít giấy phép được cấp trong tổng số khoảng hàng trăm các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc diện phải xin cấp phép xả nước thải, cho thấy công tác này mới chỉ được bắt đầu và cần triển khai mạnh mẽ trong thời

gian tới [1].

2.2.3 Áp dụng các công cụ kinh tế

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước thực hiện chức năng tài trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước mà không vì mục đích lợi nhuận Trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay,

đã có 13 dự án được quyết định cho vay với lãi suất ưu đãi trong đó có 6 dự án

về xây dựng các trạm xử lý nước thải ở các khu công nghiệp và nhà máy Mặc

dù số dự án lập hồ sơ vay vốn và số dự án được chấp thuận cho vay vốn tại các tỉnh, thành phố thuộc các LVS là rất ít song đây là dấu hiệu rất đáng mừng, tạo

đà cho việc phát triển và áp dụng các công cụ kinh tế khác trong bảo vệ môi trường LVS

Một công cụ kinh tế hữu hiệu trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là LVS là phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Cùng với Nghị quyết số 41/NQ – TW của Bộ Chính trị, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010

và định hướng đến năm 2020, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được quy định theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003, nay được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/11/2007 và Nghị định 26/2010/ NĐ-CP ngày 22/3/2010 của Chính phủ Việc áp dụng mức phí này đã góp phần bảo vệ môi trường nước LVS bởi các

Trang 36

hoạt động xả thải, đồng thời có thêm nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo

vệ môi trường,tạo đà quan trọng cho việc mở rộng áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường nước LVS Theo báo cáo năm 2005 của các Sở TN&MT thuộc LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai, các tỉnh này đã thu được hơn 132,1 tỷ đồng; trong đó, phí nước thải công nghiệp là hơn 13,4 tỷ đồng (chiếm khoảng 10,2%) và phí nước thải sinh hoạt đạt hơn 118,7 tỷ đồng (chiếm khoảng

89,8%) [1].

2.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra

Kiểm tra, thanh tra về hoạt động bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp có nước thải công nghiệp gây nguy cơ

ô nhiễm nước sông là việc làm hết sức cấp thiết nhằm bảo vệ môi trường các LVS

Để tăng cường công tác bảo vệ môi trường, năm 2006 đã thành lập lược lực lượng Cảnh sát môi trường, Thanh tra Tổng cục Môi trường năm 2009 Trong những năm qua, hàng loạt các vụ việc liên quan đến vi phạm môi trường, đặc biệt là các vụ liên quan đến chất lượng nước LVS đã được các cơ quan này phát hiện và xử phạt theo quy định của pháp luật Tiêu biểu nhất là vụ Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải - vụ gây ô nhiễm môi trường được Cục Cảnh sát môi trường - Bộ Công an Việt Nam phối hợp với Bộ TN&MT Việt Nam phát hiện

ngày 13/9/2008 tại Công ty Vedan Việt Nam [18].

Mặc dù số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu công nghiệp và làng nghề đã tiến hành kiểm tra là chưa đầy đủ so với tổng số các cơ sở và khu công nghiệp đang hoạt động trên các lưu vực sông nói trên, nhưng qua đó thể hiện sự

nỗ lực vượt bậc và quyết tâm cao của các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ môi trường lưu vực sông trong khi nguồn lực cán bộ và tài chính cho hoạt động này còn hạn chế

2.2.5 Thực hiện quy hoạch lưu vực sông

Trong các hoạt động quy hoạch và quản lý lưu vực sông, trước hết cần phải

kể đến quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Ngày 13/02/2006, Bộ TN&MT

Trang 37

đã có các Quyết định phê duyệt đề cương và tổng dự toán dự án Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai, Vùng cực Nam Trung Bộ và Vùng kinh tế

trọng điểm Bắc Bộ [1].

Bộ NN&PTNT đã thành lập và đang quản lý 8 Ban Quản lý quy hoạch LVS, cụ thể Ban Quản lý quy hoạch LVS Hồng – Thái Bình, Cầu, Nhuệ - Đáy,

Cả, Vũ Gia – Thu Bồn, Đồng Nai, Serepok và Cửu Long

Kể từ năm 2002, Chính phủ đã giao chức năng quản lý tài nguyên nước cho Bộ TN&MT Bộ này đã tham mưu Chính phủ thành lập 3 Uỷ ban Bảo vệ Môi trường là UBBVMTLVS Cầu, Đồng Nai và Nhuệ - Đáy

Đến năm 2008, Chính phủ đã giao cho Bộ TN&MT thống nhất quản lý tài nguyên nước và LVS thông qua các tổ chức UBLVS sẽ được thành lập trong tương lai Nhiệm vụ này đã được quy định bởi Nghị định 120/2008/NĐ-CP của

Chính phủ về Quản lý LVS [21].

Như vậy có thể thấy cùng trên một LVS song lại có nhiều cơ quan quản lý, với tên gọi khác nhau, nhưng chất lượng các dòng sông thì xấu đi từng ngày Chính vì thế mô hình quản lý LVS hiện nay hết sức chồng chéo Đến nay các

mô hình này đều được đánh giá là không hiệu quả, chưa khai thác được tiềm năng của các LVS, đồng thời chưa bảo vệ được môi trường các LVS

2.2.6 Xây dựng nguồn lực

a) Đội ngũ cán bộ

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường LVS nói riêng giữa các tỉnh cũng không đồng đều Lực lượng cán bộ đang rất thiếu hụt về số lượng và còn nhiều hạn chế về năng lực

Theo tính toán sơ bộ, trong tổng số khoảng 1.200 cán bộ quản lý môi trường ở Việt Nam thì chỉ có gần 150 cán bộ quản lý môi trường LVS Chỉ số năng lực ước tính theo số lượng nhân sự cho thấy các chỉ số năng lực về bảo vệ môi trường LVS của Việt Nam rất thấp, chỉ đạt khoảng 1,8 cán bộ/ 1 triệu dân Các cán bộ hiện tại đang làm việc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sông phần lớn đều không được đào tạo chuyên ngành về môi trường và tài nguyên nước,

Trang 38

lại phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên kiến thức về bảo vệ môi trường LVS

thường không sâu [1].

b) Đầu tư tài chính

Nguồn chi cho quản lý và bảo vệ môi trường LVS từ ngân sách nhà nước không được phân bổ thành mục chi riêng.Tổng kinh phí đầu tư cho bảo vệ môi trường nói chung không ngừng tăng Tuy nhiên, đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường LVS còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu

Hình 2.24 Tỷ lệ ước tính về tổng đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường

lưu vực sông trên tổng diện tích của 3 LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai [1]

Nhằm nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường LVS trong giai đoạn hiện nay, năm 2011, chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường vừa được Quốc hội thông qua xác định kinh phí 10.100 tỷ đồng dành cho 3 LVS đến năm 2015 là nội dung đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương trên lưu vực Trong đó ngân sách Trung ương là 2.500 tỷ, ngân sách địa phương và vốn ODA (viết tắt của cụm từ Official Development Assistance -

Hỗ trợ phát triển chính thức) là 7.600 tỷ Khoản tiền này chưa phải là đủ, nhưng rất quan trọng đối với công tác ngăn ngừa ô nhiễm, cải thiện cho cả 3 LVS

[20].

c) Quan trắc và thông tin môi trường

Trang 39

Trong những năm gần đây, nhiều chương trình quan trắc chất lượng nước mặt phục vụ cho các mục tiêu khác nhau đã được thực hiện, việc quan trắc chất lượng nước mặt ngày càng được tổ chức một cách hệ thống hơn, thu được nhiều

số liệu quan trọng theo không gian và thời gian đối với từng lưu vực

Từ năm 2005, Chương trình quan trắc tổng thể 3 LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai đã được Cục Bảo vệ môi trường phê duyệt và hoạt động quan trắc trong các LVS này cũng đã bắt đầu được tiến hành bởi Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia Tuy nhiên, do giới hạn về kinh phí, hoạt động quan trắc chưa được tiến hành với đầy đủ số điểm quan trắc và tần suất như thiết kế trong chương trình

Ngoài các trạm quan trắc môi trường quốc gia, nhiều tỉnh/thành trong các LVS cũng đã thành lập Trung tâm Quan trắc môi trường nhằm theo dõi, giám sát diễn biết chất lượng môi trường nói chung, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường của địa phương Hoạt động quan trắc môi trường nước LVS của các địa phương ngày càng được tăng cường, số điểm quan trắc, tần suất và thông số

quan trắc cũng ngày càng tăng [1].

Thực trạng tại các LVS chưa có hệ thống dữ liệu thông tin nhằm phục vụ quản lý chất lượng nước khu vực Trên thực tế, dữ liệu về LVS còn rời rạc, chưa được hệ thống hóa dẫn tới việc tìm kiếm thông tin cần thiết trong núi dữ liệu chậm, khai thác dữ liệu khó khăn, báo cáo môi trường tốn nhiều thời gian Từ

đó công tác theo dõi biến động và dự báo chưa được đầy đủ và khoa học nên việc đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại các LVS còn gặp nhiều khó khăn

Trong những năm gần đây, mặc dù Việt Nam đã có những đề tài, dự án nghiên cứu môi trường LVS, tuy nhiên, chưa thực sự phục vụ đắc lực cho yêu cầu lâu dài của công tác quản lý Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tại các LVS, đòi hỏi phải quản lý một khối lượng lớn các dữ liệu

Một số địa phương trên các LVS đã tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường tại địa phương mình Tuy nhiên, chưa có các cơ sở dữ liệu ở cấp lưu vực

Trang 40

hoặc tiểu lưu vực Việc trao đổi, chia sẻ số liệu, thông tin môi trường giữa các

tỉnh trong lưu vực và giữa các lưu vực với nhau cũng còn nhiều hạn chế [1].

Hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin đã cho ra đời những mô hình quản lý và xử lý dữ liệu không gian mới có nhiều ưu việt hơn chẳng hạn như bản đồ số, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa trong công tác quản lý các LVS Là nguồn cung cấp nước chính, đồng thời lại là nơi tiếp nhận hầu hết các nguồn thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong vùng, các LVS đang đứng trước những thách thức lớn trong duy trì và cải thiện chất lượng nước Vì vậy, việc ứng dụng hệ thống thông tin môi trường hỗ trợ và phục vụ công tác quản lý chất lượng nước LVS của các cơ quan quản lý nhà

nước là một điều hết sức cần thiết [22].

2.2.7 Sự tham gia của cộng đồng

Vai trò của cộng đồng rất quan trọng, không có thể thay thế được trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Thực tế những năm qua cho thấy, thành công của các hoạt động BVMT phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của cộng đồng

Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường LVS hiện vẫn còn nhiều hạn chế: sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình

ra quyết định, hoạch định chính sách và các hoạt động quản lý môi trường vẫn còn nhiều hạn chế, nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường LVS và tuân

thủ pháp luật của các doanh nghiệp và cộng đồng chưa cao… [1] Điều này còn

gây nhiều khó khăn cho hoạt động quản lý chất lượng nước các LVS của nước ta

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 19/11/2015, 05:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 Diễn biến dầu mỡ dọc sông Cầu [1] - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.2 Diễn biến dầu mỡ dọc sông Cầu [1] (Trang 15)
Hình 2.3 Hàm lượng Fe trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.3 Hàm lượng Fe trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên (Trang 16)
Hình 2.4 Hàm lượng NH 4 +  đoạn qua Thái Nguyên năm 2007 – 2011 [3] - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.4 Hàm lượng NH 4 + đoạn qua Thái Nguyên năm 2007 – 2011 [3] (Trang 16)
Hình 2.7 Hàm lượng BOD 5  tại một số sông trong nội thành Hà Nội [1] - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.7 Hàm lượng BOD 5 tại một số sông trong nội thành Hà Nội [1] (Trang 19)
Hình 2.8 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.8 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) (Trang 20)
Hình 2.9 Hàm lượng N-NH +  trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 [2] - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.9 Hàm lượng N-NH + trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 [2] (Trang 20)
Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD 5  trên sông Nhuệ năm - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên sông Nhuệ năm (Trang 21)
Hình 2.13 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông: - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.13 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông: (Trang 23)
Hình 2.15 Diễn biến hàm lượng BOD 5  trên phụ lưu sông Đồng Nai - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.15 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên phụ lưu sông Đồng Nai (Trang 25)
Hình 2.16 Diễn biến hàm lượng BOD 5  trên sông Đồng Nai đoạn qua - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.16 Diễn biến hàm lượng BOD 5 trên sông Đồng Nai đoạn qua (Trang 25)
Hình 2.18 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.18 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm (Trang 28)
Hình 2.40 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.40 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm (Trang 29)
Hình 2.22 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 2.22 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng (Trang 31)
Hình 4.1 Vị trí các điểm quan trắc trong khu vực nghiên cứu - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 4.1 Vị trí các điểm quan trắc trong khu vực nghiên cứu (Trang 56)
Hình 4.9 Bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Bằng Giang đoạn - Khóa luận: “ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BẰNG GIANG ĐOẠN CHẢY QUA THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2008  2013”
Hình 4.9 Bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Bằng Giang đoạn (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w