Hiện nay ở các thành phố lớn và các khu đô thị trên cả nước hàng ngàythải ra trên 9.100m3 chất thải, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm đến 74,5%, từtất cả các hoạt động hàng ngày của con
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề chung của nhân loại được cả thếgiới quan tâm Trong một vài năm gần đây do sự phát triển mạnh mẽ của nềnkinh tế làm cho môi trường Việt Nam bị đe dọa, gây nên mất cân bằng sinhthái, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
và sự phát triển của đất nước Một trong những nguyên nhân chính của vấn đề
là nhận thức và thái độ của con người đối với môi trường còn hạn chế
Hiện nay ở các thành phố lớn và các khu đô thị trên cả nước hàng ngàythải ra trên 9.100m3 chất thải, trong đó rác thải sinh hoạt chiếm đến 74,5%, từtất cả các hoạt động hàng ngày của con người.[21.8] Các hoạt động này đangảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước mặt, nước ngầm và đất Lượngchất thải trên nếu không được thu gom và xử lý một cách triệt để sẽ gâynhững ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người và sinh vật
Thành phố Hạ Long là một trung tâm kinh tế và chính trị của tỉnhQuảng Ninh, một cực của vùng động lực phát triển kinh tế phía bắc Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh Thành phố Hạ Long có nguồn tài nguyên phongphú như khoáng sản, thủy sản, rừng…Bên cạnh đó lợi thế là một vùng venbiển, có di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long nên ngành du lịch, dịch
vụ tại đây rất phát triển Cùng với lợi ích do du lịch thì bãi biển đang phảihứng chịu những tác động không tốt của môi trường do các hoạt động kinhdoanh du lịch mang lại Trong khi đó ở nơi đây rác chưa được thu gom xử lýmột cách triệt để Bãi chứa rác thải chưa đúng tiêu chuẩn, rác thải chưa đượcphân loại gây ra không ít khó khăn cho công tác xử lý Điều này không chỉảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người mà còn tác độngkhông nhỏ đến cảnh quan và môi trường sống của biển Chính vì vậy việcđánh giá hiện trạng rác thải là việc làm cần thiết
Trang 2Phường Bãi Cháy là địa điểm du lịch nổi tiếng của Quảng Ninh và cảnước Mỗi năm, khu du lịch Bãi Cháy đã thu hút hàng triệu lượt khách đếntham quan, nghỉ dưỡng Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc giatăng lượng du khách đến các điểm tham quan, du lịch, tăng cường phát triển
cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên Từ đó áp lựccủa phát triển du lịch đến môi trường ngày càng gia tăng, đặc biệt là vấn đềrác thải Hàng ngày, trên địa bàn, một lượng rác thải được phát sinh từ các hộgia đình, các khu vực kinh doanh, vui chơi giải trí là khá lớn, gây áp lực lêncông tác quản lý, thu gom của các công nhân viên ngành môi trường
Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý rác thải tại khu
du lịch biển phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”.
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm rác thải
Rác thải là bất kỳ loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ màkhông được tiếp tục sử dụng như ban đầu
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người
và động vật tạo ra Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít cóích do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người Rác thải có thể ởdạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giaiđoạn sản xuất trong tiêu dùng
Rác thải là các loại rác mà không ở dạng lỏng, không hòa tan được thải
ra từ hoạt đông sinh hoạt, công nghiệp Rác thải còn bao gồm cả bùn cặn, phếphẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…[11]
2.2 Nguồn gốc và phân loại rác thải
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh rác thải
- Từ các khu dân cư
- Từ các khu dịch vụ, các trung tâm thương mại
- Từ các cơ quan công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các hoạt động sản xuất công - nông nghiệp
- Từ các hoạt động xây dựng
- Từ các làng nghề, các trạm xử lý nước thải.[11]
2.2.2 Phân loại rác thải
Rác thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
Rác thải công nghiệp: Phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp vàthủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu
là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
Trang 4Rác thải xây dựng: Là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ,vôi vữa đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
Rác thải nông nghiệp: Sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồngtrọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch 11
2.3 Thành phần rác thải
2.3.1 Thành phần lý hoá học của rác thải sinh hoạt
Thành phần lý, hoá học của rác thải sinh hoạt rất khác nhau tuỳ thuộctừng địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện tự nhiên kinh tế và nhiềuyếu tố khác nữa Thành phần của rác thải sinh hoạt bao gồm: Chất thải thựcphẩm, giấy, cotton, chất dẻo, vải vụn, cao su, da vụn, sản phẩm vườn, gỗ,thuỷ tinh, kim loại, tro bụi,…
Bảng 2.1 Thành phần rác thải ở một số quốc gia trên thế giới
Nguồn :PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, Giáo trình công nghệ VSV trong xử
lý ô nhiễm môi trường NXB nông nghiệp,2004
2.3.2 Đặc điểm về thành phần rác thải Việt Nam
Trang 5CTR tại Việt Nam phần lớn phát sinh từ các đô thị Việt Nam có 679
đô thị (gấp 1,4 lần so với năm 1990) với số dân chỉ chiếm 24% nhưng lại phát
sinh khoảng hơn 6 triệu tấn rác thải mỗi năm (tương đương 50% lượng chấtCTR của cả nước) Ước tính mỗi người dân đô thị Việt Nam phát thải khoảngtrên 0,7 kg rác thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người của dân
cư nông thôn.[3]
Quá trình đô thị hoá làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thànhthị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và VSMT, hình thành các khu nhà ổ chuột
và khu nghèo đô thị Điều này làm phát sinh một lượng lớn rác thải sinh hoạt.Thông tin chung về lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn quốc, theobáo cáo quan trắc của Trung tâm Kỹ thuật môi trường - ĐH Xây dựng, mức giatăng về lượng CTR sinh hoạt trong vài năm gần đây (bảng 2.2) [21.1]
Bảng 2.2 Thông tin chung về chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (tấn/năm)
· Toàn quốc
· Các khu vực đô thị
· Các khu vực nông thôn
12.800.0006.400.0006.400.000
Tỷ lệ được thu gom % tổng lượng phát sinh
Số lượng bãi chôn lấp
Bãi rác và các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
741757
Nguồn: Trích dẫn từ báo cáo hiện trạng môi trường 2004
Bảng 2.3 Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng năm (tấn/năm)
Trang 6Năm
Khu vực
Khu vực nông thôn 5.800.000 6.400.000 7.360.000Tốc độ gia tăng so với năm
trước(%)
-Khu vưc đô thị
-Khu vực nông thôn
1,051,10
1,151,10
1,351,15
Nguồn: Trích dẫn từ báo cáo quan trắc phòng CTR, CEETIA 2004
Bảng 2.4 Thành phần chất thải rắn ở một số đô thị trong năm 2001 (%)
TT Thành phần Hà Nội Hải
Phòng
Hạ Long Đà Nẵng Tp HCM
1 Chất hữu cơ 50,10 50,58 40,1-44,7 31,50 41,25
3 Giấy, catton, vải 4,20 7,52 5,5-5,7 6,81 24,83
Nguồn: Số liệu quan trắc – CEETTA – QLCTR
Qua bảng thống kê cho thấy:
- Thành phần hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn nhất và thành phần này lớn nhấttại Hải Phòng là 50,58%, nhỏ nhất là Đà Nẵng là 31,5%
- Thành phần chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là kim loại chỉ dao động trongkhoảng 0,3-2,5%
- Độ ẩm chất thải nhỏ nhất ở TP HCM là 27,18% và lớn nhất tại HàNội là 47,7%
- Tỷ trọng CTR tại các khu vực trên dao động không lớn từ 0,65%
Trang 70,38 Theo số liệu thống kê từ các tỉnh thành phố trong cả nước, năm 2002cho thấy chất lượng CTR bình quân tăng lên khoảng 0,8-1,2 kg/người/ngày, ởcác đô thị lớn và các đô thị dao động từ 0,5-0,7 kg/người/ngày, tổng lượng rácthải sinh hoạt đô thị năm 2002 tăng từ 3-12% so với năm 2001.[1]
2.4 Tác hại của rác thải
2.4.1 Ảnh hưởng của rác thải đối với môi trường
2.4.1.1 Đối với môi trường đất
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vậtcạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và vănhóa của con người Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụngtài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cungcấp lương thực thực phẩm cho con người
Các loại rác thải khó phân huỷ sinh học, hoặc hoàn toàn không phânhuỷ tồn tại lâu dài dưới mặt đất dần dần chúng trộn lẫn vào đất làm thay đổi
thành phần đất, ảnh hưởng tới môi trường sống của các vi sinh vật… Những
điều kiện trên gây nên những biến đổi trong đất: đất bạc màu, khó canh tác
hoặc mất khả năng canh tác Còn các chất dễ phân huỷ sinh học thường phân
huỷ thành những chất có khả năng kết hợp với nhau tạo thành các chất độctheo nước ngấm dần xuống đất làm ô nhiễm môi trưòng đất.[13]
2.4.1.2 Đối với môi trường nước
Môi trường nước là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật và thực vậtthủy sinh có ích Nguồn nước ngầm phục vụ cho cuộc sống và mọi lợi ích củacon người Tuy thế ô nhiễm môi trường nước hiện nay là một vấn đề khánóng bỏng, chủ yếu nguyên nhân là do ý thức của con người
Rác thải sinh hoạt gây ô nhiễm ao hồ, sông suối do các chất dễ phânhuỷ, phân tán làm nước có màu và mùi khó chịu, còn những chất khó phânhuỷ thì trôi nổi hoặc tụ thành đống làm ảnh hương tới dòng chảy Các chấtđộc phân huỷ từ rác cũng theo đó đi vào môi trường nước gây độc cho sinh
Trang 8vật dưới nước Các bãi rác thải ngoài trời và các bãi chôn lấp không được xâydựng đúng tiêu chuẩn cũng là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng cho nguồn nướcmặt và nước ngầm.[13]
2.4.1.3 Đối với môi trường không khí
Không khí là một thành phần rất quan trọng, không thể thiếu đượctrong cuộc sống của con người và sinh vật Cùng với sự phát triển kinh tế vàquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây, tình trạng
ô nhiễm không khí đang gia tăng ở các đô thị ở Việt Nam Sự phát triển kèmtheo đó là sự phát sinh lượng rác khổng lồ Tại các trạm bãi trung chuyển rác,xen kẽ trong các khu dân cư ô nhiễm không khí do bụi, khói cuốn lên theoquá trình xúc rác, từ các xe thu gom, vận chuyển Rác thải trong quá trìnhphân huỷ tự nhiên thường có mùi hôi thối khó chịu và dễ dàng lan nhanhtrong không khí thông qua gió, mùi hôi thối phát tán rộng ảnh hưởng rất lớnđến đời sống người dân Trong quá trình đốt rác cũng gây ra ô nhiễm khôngkhí do các sản phẩm trong quá trình đốt rác chứa các chất khí độc hại nhưCO2, SO2, …khói, bụi.[13]
2.4.2 Ảnh hưởng của rác thải đối với con người
2.4.2.1 Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Các mối nguy cơ gây ô nhiễm không khí, nước, đất, nói trên cũng ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe con người đặc biệt là các khu dân cư quanh khuvực có chứa rác thải Môi trường bị ô nhiễm sẽ tác động đến sức khỏe conngười thông qua chuỗi thức ăn
Các bãi chôn lấp là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm: Tả, lị, thươnghàn…các loại côn trùng trung gian truyền bệnh như ruồi, muỗi gián, và các loạigậm nhấm như chuột cũng ưa thích sống ở các khu vực có chứa rác thải.[13]
2.4.2.2 Ảnh hưởng tới mỹ quan
Chất thải rắn, đặc biệt là rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom,vận chuyển đến nơi xử lý, hoặc quá trình thu gom xử lý làm rơi vãi dọc đường
Trang 9sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị
là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ralòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước
và ngập úng khi mưa
Hình 2.1 Tác động của việc xử lý không hợp lý rác thải đô thị 2
2.5 Thực trạng quản lý và xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Thực trạng quản lý và xử lý rác thải trên thế giới
2.5.1.1 Tình hình phát sinh rác thải trên thế giới
Ước tính hàng năm lượng rác thải phát sinh trên thế giới từ 2,5 đến 4 tỷtấn (ngoại trừ các lĩnh vực xây dựng và tháo dỡ, khai thác mỏ và nôngnghiệp) Năm 2004, tổng lượng rác thải được thu gom trên toàn thế giới ướctính là 1,2 tỷ tấn Con số này thực tế chỉ bao gồm các nước OECD và các khu
đô thị mới nổi và các nước đang phát triển
Bảng 2.5 Lượng phát sinh chất thải rắn tại một số nước
(1995 USD)
Dân số (% tổng số)
Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị
Tạo môi trường dịch bệnh
Tạo nếp sống kém văn minh giao thôngGây ùn tắc
Làm mất vẻ
đẹp đô thị
Hạn chế kết quả sản xuất kinh doanh
Tác động xấu đên ngành văn hóa,du lịch
Trang 102.5.1.2 Thực trạng quản lý và xử lý rác thải trên thế giới
Quản lý rác thải là công việc hết sức phức tạp bởi rác thải có biến độnglớn về thành phần và tính chất Nó phụ thuộc vào nhiều điều kiện: Khả năngkinh tế, thói quen, về khả năng công nghệ của khu vực… Tùy thuộc vào tínhchất của rác thải mà lựa chọn biện pháp thích hợp, đạt hiệu quả cao về kinh tế,
xã hội và môi trường Tại nhiều nước trên thế giới rác được phân loại tạinguồn dễ dàng cho việc thu gom, tái chế và xử lý
Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này cókhoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó, phần lớn là rác công nghiệp (397 triệutấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãichôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử
Trang 11lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Chi phí cho việc xử lýrác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên (khoảng 2.500USD) Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu không tái xử lý kịpthời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng.[13]
Nhận thức được vấn đề này, người Nhật rất coi trọng bảo vệ môitrường Trong nhiều năm qua, Nhật Bản đã ban hành 37 đạo luật về bảo vệmôi trường, trong đó, Luật "Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế" ban hành từnăm 1992 đã góp phần làm tăng các sản phẩm tái chế Sau đó, Luật "Xúc tiếnthu gom, phân loại, tái chế các loại bao bì" được thông qua năm 1997, đãnâng cao hiệu quả sử dụng những sản phẩm tái chế bằng cách xác định rõtrách nhiệm của các bên liên quan Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản,chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý nguồn phần rác thải khó phân hủy.Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phânhủy, được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost,góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón; loạirác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp , được đưa đến nhà máy phânloại để tái chế; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháyđược sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Các loại rác này đượcyêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đìnhphải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sựgiám sát của đại diện cụm dân cư Đối với những loại rác có kích thước lớnnhư tủ lạnh, máy điều hòa, ti vi, giường, bàn ghế thì phải đăng ký trước vàđúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môi trường đến chuyên chở
Nhật Bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ Các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất tại Nhật Bản phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải củamình theo quy định các luật về bảo vệ môi trường Ngoài ra, chính quyền tạicác địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến dịch “xanh, sạch, đẹp” tại các
Trang 12phố, phường, nhằm nâng cao nhận thức của người dân Chương trình này đãđược đưa vào trường học và đạt hiệu quả cao.
Ở Singapo khách du lịch dễ dàng thấy những dong chữ bằng tiếng anhtrên các thùng rác công cộng “Đừng vứt đi tương lai của bạn” kèm với biểutượng “RECYLE” Ở trường học, ngoài các trương trình chính khóa, học sinhcòn được tham gia các chuyến đi dã ngoại đến các khu bảo tồn thiên nhiên,các cơ sở tiêu hủy chất phế thải rắn, các nhà máy xử lí nước và các nhà máytái chế rác thải
Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ramôi trường Das Duele System Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều củanước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải vàcác nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụng công nghệ trên.Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạt động với tốc độ300.000 km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ Những ống hơi nén đượcđiều khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm vụ tách riêng từngloại vật liệu Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ và nấu chảy Quátrình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu thay thế dầu thô trong côngnghiệp hoặc làm chất phụ gia
Bên cạnh giải pháp trên, ở một số nước, người ra có thể áp dụng cácbiện pháp sinh học để xử lý rác thải sinh hoạt Phương pháp này đã mang lạinhững hiệu quả rất lớn và đang được nhân rộng Viện nghiêm cứu nôngnghiệp thực hiện Beltville (Mỹ) đã áp dụng phương pháp ủ thành đống có thổikhí lần đầu tiên Rác được ủ thành đống cao từ 2-2,5m phía dưới có đặt hệthống phân phối khí, nhờ hệ thồng phân phối khí mà quá trình chuyển hóa xảy
ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ được ổn định và phù hợp với sự phát triển củanhiều nhóm sinh vật Năm 1985, Feinstein đã tổng kết các biện pháp có thểthấy nếu ủ rác trong điều kiện hiếu khí có điều khiển bằng cách thổi khí để
Trang 13giữ nhiệt độ bể ủ và có bổ sung nước tạo độ chất ủ thì rút ngắn được thời gian
xử lý, tỷ lệ mùn cưa hữu cơ cũng như lượng mùn tạo thành cao.[13]
Hiện nay, ở hầu hết các nước Châu Âu, các giải pháp như chôn lấp, đốtrác ít được thực hiên và có xu hướng chấm dứt vì các lý do kinh tế cũng nhưmôi trường sau này Giải pháp chôn lấp chỉ được thực hiện đối với những chấtthải độc hại không thể xứ lý hoặc xử lý quá tốn kém (ví dụ như chất thải hạtnhân) Giải pháp đốt (nhiệt) cũng chỉ được thực hiện đối với các chất thải khóphân hủy sinh học, chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, hóa chất bảo vệthực vật…
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn tại Nhật Bản
Nguồn: ThS.Trần Nhật Nguyên, Kinh nghiệm Quản lý CTR tại Nhật Bản
2.5.2 Thực trạng quản lý và xử lý rác thải tại Việt Nam
2.5.2.1 Tình hình phát sinh rác thải ở Việt Nam
Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể vềphát triển kinh tế - xã hội Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớnnhỏ Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đôthị loại đặc biệt (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13
đô thị loại II (thành phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thịxã), 631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ) Trong những năm qua, tốc độ đô thịhóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế –
Bộ Môi trường
Sở quản lý chất
thải và tái chế
Phòng hoạch định chính sách
Đơn vị quản lý chất thải
Phòng quản lý chất thải công nghiệp
Trang 14xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đôthị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượngmôi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các
đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp [21.2]
Lượng CTRSH tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngàycàng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung
ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân
số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phốPhủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đềuhàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%)
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đôthị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cảnước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình,nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở,đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chấtthải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt
để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đôthị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ ChíMinh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từtất cả các đô thị (hình 2.1 và bảng 2.6).[21.2]
Trang 1510.66%
19.42%
đô thị loại đặc biệt đô thị loại I đô thị loại II
Đô thị loại III Đô thị loại IV
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phát sinh CTRSH tại các đô thị Việt Nam 2007 Bảng 2.6 : Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT Loại đô
thị
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị
phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đôthị vùng Đông Nam Bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trởlên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượngphát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thịkhu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ
có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng
Trang 16Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm3,68%) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh(5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị pháttriển du lịch như TP Hạ Long 1,38 kg/người/ngày; TP Hội An 1,08kg/người/ngày; TP Đà Lạt 1,06 kg/người/ngày; TP.Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu ngườithấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31 kg/người/ngày; Thị xãGia Nghĩa 0,35 kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35 kg/người/ngày; TP CaoBằng 0,38 kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tínhtrung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73 kg/người/ngày.[21.2]
Bảng 2.7 : Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người (kg/người /ngày)
Lượng CTRSH đô thị
phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Trang 175 Duyên Hải Nam Trung Bộ 0,85 1.640 598.600
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổnglượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệtương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượngphát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lênkhoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cảcác đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm).[21.2]
Trang 18Bảng 2.8: Thành phần của CTR sinh hoạt ở một số đô thị miền Bắc
2.5.2.2.Tình hình quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
2.5.2.2.1 Tình hình quản lý rác thải tại Việt Nam
Trang 19Quản lý rác thải bao gồm các hoạt động: Phòng ngừa và giảm thiểuphát sinh rác thải; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái
sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ Công tác quản lý rác thải ở Việt Nam hiệnnay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy môlớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R)
để giảm tỷ lệ rác thải phải chôn lấp Hoạt động giảm thiểu phát sinh rác thải,một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý rác thải,còn chưa được chú trọng Chưa có các hoạt động giảm thiểu RTSH Ở quy
mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000doanh nghiệp Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉmới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh Tỷ lệ thu gom rác thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở cácđiểm dân cư nông thôn xấp xỉ 40-55% Khoảng 60% khu vực ở nông thônchưa có dịch vụ thu gom rác thải, chủ yếu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồngđịa phương Tỷ lệ thu gom, vận chuyển rác thải tuy đã tăng dần song vẫn còn
ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khuvực nông thôn Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải tuy đã đượcphát triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thịlớn Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tớitình trạng tại một số đô thị đã thực hiện phân loại rác thải tại nguồn nhưng khithu gom, vận chuyển lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại.Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được thực hiện một cách phi chínhthức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng
bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát
Ở nước ta hiện nay, công tác thu gom rác thải chưa đáp ứng được vớiyêu cầu Tại các thành phố lớn, tỷ lệ thu gom RTSH tăng lên theo thời gian tuynhiên vẫn còn mức thấp Ở các thành phố lớn nhờ được đầu tư kinh phí, các
Trang 20trang thiết bị vận chuyển, có đội ngũ thu gom đông đảo nên tỷ lệ thu gom chấtthải cao hơn ở khu vực nông thôn tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 20% chủ yếu là cáckhu vực thị trấn, thị tứ và chợ Đối với các xã và các khu vực xa trung tâm thì
tỷ lệ thu gom còn thấp hơn thậm chí công tác thu gom còn chưa thực hiện
Theo chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2015, sẽ phấn đấu50% hộ gia đình, 70% các doanh nghiệp có dụng cụ phân loại rác thải tạinguồn, 80% khu dân cư có thùng rác tập trung và 80% các khu vực công cộng
có thùng thu gom rác, 90% RTSH được thu gom, vận chuyển.[17]
2.5.2.2.2 Tình hình xử lý rác thải tại Việt Nam
Xử lý rác thải là công đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường.Đây là công đoạn cần thiết góp phần phòng chống ô nhiễm môi trường khôngkhí, đất, nước mặt và nước ngầm Trong việc xử lý chất thải rắn nói chung vàchất thải sinh hoạt nói riêng, phải dựa trên những phân tích cụ thể của địaphương và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để lựa chọn công nghệ Tại Việt Namnhững biện pháp để xử lý rác thải thường là:
a.Phương pháp sinh học: gồm
Phương pháp ủ kỵ khí(Anaerobic Compsting)
Đây là quá trình phân giải các chất hữu cơ mà không cần sự có mặt củaoxy, sản phẩm cuối cùng là CH4, CO2, NH3, một lượng lớn các khí khác, cácaxit hữu cơ và sinh khối vi sinh vật
Bản chất của quá trình này là nhờ sự hoạt động của các vi sinh vật, cáchợp chất hữu cơ bền vững (xenluloza, hemixenluloza, lignin, tinh bột và cácchất hữu cơ cao phân tử khác) được chuyển thành các hợp chất đơn giản hơn
và các chất khí, trong đó CH4 chiếm tỷ lệ lớn
Nhược điểm của phương pháp xử lý này là không áp dụng cho mộtkhối lượng rác thải lớn, mất nhiều thời gian, khó tận thu được hết khí, gây ônhiễm môi trường Hơn nữa, mùn rác thải ở mức độ công nghiệp người ta sửdụng phương pháp hiếu khí
Trang 21Phương pháp ủ hiếu khí(Aerobic compasting)
Dựa vào phương thức cung cấp oxy vào bể ủ rác thải, có thể chia thành
2 phương pháp ủ hiếu khí: Lên men tự nhiên có đảo trộn và lên men có thổikhí cưỡng bức
Trong các biện pháp xử lý rác bằng vi sinh vật thì biện pháp ủ khí cókiểm soát khống chế nhiệt độ và bổ sung nước, tạo độ ẩm thích hợp là đạthiệu quả cao nhất.[9]
b Xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp
Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác Phương pháp
này có ưu điểm là chi phí thấp dễ áp dụng Rác thải được tập trung tại bãi
chôn lấp đã được xây dựng trước, xe ủi san bằng , đầm nén trên bề mặt và đổlên một lớp đất Hàng ngày phun thuốc diệt ruồi, rắc vôi bột… để khử trùng.Theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tíchbãi rác thải giảm xuống.[9]
c Xử lý rác thải bằng phương pháp nhiệt (đốt)
Đây là phương pháp đốt làm giảm đến mức tối thiểu chất thải cho khâu
xử lý cuối cùng Nếu sử dụng công nghệ tiên tiến thì quá trình đốt rác khônggây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí Tuy nhiên,phương pháp này rất tốn kém so với phương pháp chôn lấp.[8]
d Phương pháp xử lý rác thải bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải thu gomvào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tảinhằm thu hồi các loại rác thải như kim loại, nilon, giấy, thủy tinh… để tái chế.Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyển qua hệ thống ép nén rác bằngthủy lực với mục đích làm giảm tối thiểu thể tích khối rác và tạo thành cáckiện ép với tỷ số nén rất cao.[8]
e.Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ SERAPHIN ở Việt Nam
Trang 22Công nghệ này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm rác thải của Việt Nam
là chưa được phân loại từ nguồn Với công suất 80-150 tấn/ngày, công nghệseraphin có thể xử lý triệt để tới 90% khối lượng rác để tái chế thành phânhữu cơ và nguyên liệu làm vật liệu xây dựng.[8]
2.5.2.2.3 Những hạn chế trong công tác quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam
Công nghệ tái chế rác thải tại các làng nghề hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ
sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môitrường nghiêm trọng ở một số nơi Một số làng nghề tái chế hiện nay đanggặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như Chỉ Đạo (Hưng Yên), Minh Khai(Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Bắc Ninh)… Một số côngnghệ đã được nghiên cứu áp dụng như trong đó chủ yếu tái chế chất thải hữu
cơ thành phân vi sinh (SERAPHIN, ASC, Tâm Sinh Nghĩa) hay viên nhiênliệu (Thủy lực máy - Hà Nam) song kết quả áp dụng trên thực tế chưa thật khảquan Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý mộtcách có hệ thống, có định hướng mà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiệnmột cách tự phát.[21.10]
Mặc dù những năm gần đây, hoạt động thu gom, xử lý của nhiều công
ty môi trường đô thị tại các địa phương đã có những tiến bộ đáng kể, phươngthức tiêu huỷ chất thải sinh hoạt đã được cải tiến, nhưng rác thải vẫn là mốihiểm hoạ đối với sức khoẻ và môi trường
Từ trước tới nay, phần lớn rác thải sinh hoạt ở nước ta không được tiêuhuỷ một cách an toàn Hình thức tiêu huỷ rác thải phổ biến vẫn là đổ ở bãi rác
lộ thiên Trong số 91 điểm tiêu huỷ rác thải trong cả nước, chỉ có 17 điểmđược đánh giá là hợp vệ sinh Còn lại, các bãi rác chôn lấp được vận hànhkhông đúng kỹ thuật và bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường chodân cư quanh vùng, như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nướcngầm, gây ô nhiễm không khí, là ổ phát sinh ruồi, muỗi, chuột, bọ…
Trang 23Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng nước ta còn thiếu các hệ thống xử lý chấtthải công nghiệp nguy hại và các cơ chế khuyến khích việc thực hiện nhữngbiện pháp tiêu hủy an toàn Hiện tại, tổng mức đầu tư cho việc trang bị các lòđốt rác thải đã có thể tiêu huỷ khoảng 50% tổng lượng chất thải y tế nguy hạicủa cả nước Do thiếu kinh nghiệm vận hành, bảo dưỡng lò đốt dẫn tới tìnhtrạng không vận hành lò đúng theo quy trình kỹ thuật, làm tăng các loại khíđộc hại hoặc thực hiện tiêu hủy giống như các rác thải thông thường khác.
Như vậy, nếu xét theo năng lực hiện có và mức độ phát triển các đô thị
và khu công nghiệp, nhu cầu về quản lý rác thải ở nước ta là rất lớn Việc hạnchế lượng rác thải phát sinh từ nguồn đã khó, việc quản lý và xử lý rác thảikhi đã phát sinh càng khó hơn.[21.7]
Trang 24PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Rác thải tại khu du lịch biển phường Bãi Cháy
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu du lịch biển phường Bãi Cháy – TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh:Gồm các khu phố: từ khu phố 1 đến khu phố 6 (theo UBND phường Bãi Cháy)
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường Bãi Cháy, TP Hạ Long.
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý
Điều kiện khí hậu
Hiện trạng sử dụng đất
3.2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Điều kiện kinh tế
Điều kiện xã hội
3.2.2 Điều tra hiện trạng rác thải khu du lịch phường Bãi Cháy, TP Hạ Long.
3.2.2.1 Đặc điểm rác thải tại khu vực nghiên cứu
3.2.2.2.Tình hình thu gom, phân loại rác thải và ý thức của người dân
3.2.2.3 Tình hình quản lý và xử lý rác thải ở khu du lịch phường Bãi Cháy, TP
Hạ Long
3.2.2.4 Đánh giá tình hình thu gom, phân loại rác thải
3.2.3 Dự tính khối lượng rác thải trong tương lai.
3.2.4 Đề xuất biện pháp quản lý và xử lý rác thải
Trang 253.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
- Thu thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra nông hộ
- Thu thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra công nhân thu gom rác
- Thập số liệu, thông tin bằng phiếu điều tra các nhà hàng, khách sạn,
hộ kinh doanh
- Điều tra lượng và loại rác tại các hộ gia đình
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu và số liệu từ Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh QuảngNinh, UBND phường Bãi Cháy và công ty CP Môi trường đô thị INDEVCO
- Thu thập tài liệu liên quan ở sách, báo và internet
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.
Trang 26PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của phường Bãi Cháy
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Phường Bãi Cháy được thành lập ngày 10/9/1981 trên cơ sở thị trấn BãiCháy (cũ) Phường Bãi Cháy nằm ở phía Tây thành phố Hạ Long với tổngdiện tích tự nhiên 1713,14 ha (2010), dân số 23.290 người (2010)
Phía Tây: giáp phường Hùng Thắng, Giếng Đáy
Phía Bắc: giáp sông Trới - huyện Hoành Bồ
Phía Đông, Nam: giáp Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới 2 lầnđược UNESCO công nhận
Trang 27 Lượng mưa và chế độ mưa
Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2mùa Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80 - 85% tổng lượngmưa cả năm Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 3500mm.Mùa đông là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ đạtkhoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa ít nhất là tháng 12 vàtháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40 mm
Trang 28 Bão
Mùa bão ở Việt Nam kéo dài từ tháng 7 đến tháng 11 Những trận bãođầu mùa thường đổ bộ vào đất liền ở miền Bắc, tuy nhiên thì cũng có nhữngnăm rất thất thường Phường Bãi Cháy nằm trong vịnh Hạ Long, là một vùngbiển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhấttrong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10 Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11
4.1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên trên đại bàn phường tính đến thời điểmkiểm kê đất đai năm 2010 là 1713,14 ha được phân bố cụ thể như sau:
Bảng 4.1 : Các loại hình sử dụng đất của phường
2.4 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 538,60
Nguồn: UBND phường Bãi Cháy
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Công nghiệp
Trang 29Bên cạnh du lịch, Bãi Cháy còn là khu vực tập trung phát triển củanhiều ngành kinh tế quan trọng, trong đó cảng nước sâu Cái Lân có khả năngđón tàu từ 3-5 vạn tấn, các nhà máy đóng tàu có khả năng đóng mới tàu trên 5vạn tấn Đặc biệt khu công nghiệp Cái Lân, sản xuất các mặt hàng tiêu dùngthiết yếu như thực phẩm, dầu ăn Lợi thế nằm cạnh cảng nước sâu nên rấtthuận tiện cho việc nhập nguyên liệu và vận chuyển hàng hóa
Nông nghiệp
Là một trong những phường ở trung tâm TP Hạ Long, là một trung tâm
du lịch của tỉnh nên ngành nghề chăn nuôi tại đây không phát triển Chỉ một
bộ phận nhỏ nuôi trồng thủy sản hay nuôi cấy ngọc trai nhằm phục vụ chophát triển du lịch
Thương mại, dịch vụ
Với lợi thế nằm bên bờ vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới 2 lầnđược UNESCO công nhận, Bãi Cháy đóng vai trò là trung tâm lưu trú và cácdịch vụ ven bờ, phát triển với quy mô quốc tế Cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch
vụ ngành du lịch được đầu tư, khai thác hiệu quả đáp ứng được nhu cầu đadạng của khách du lịch trong và ngoài nước Trên địa bàn phường hiện có 322
cơ sở lưu trú du lịch với 6.888 phòng, 12.478 giường; trong đó: 11 cơ sở đạttiêu chuẩn 4 sao, 15 cơ sở đạt tiêu chuẩn 3 sao, 23 cơ sở đạt tiêu chuẩn 2 sao,
17 cơ sở đạt tiêu chuẩn 1 sao với 4.012 phòng được xếp hạng và trên 400 tàu
du lịch Bên cạnh đó, một số dự án khách sạn 5 sao đang được triển khai thựchiện và đưa vào hoạt động trong thời gian tới Hàng năm, khách du lịch đếnBãi Cháy đạt trên 2,3 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt trên 1,5triệu lượt, đón tiếp hàng chục đoàn các nguyên thủ quốc gia, quốc tế đến thamquan, làm việc, nghỉ ngơi và tổ chức hội nghị lớn trong nước và quốc tế nhưAPEC 13, ASEM 5, thi vật lý Olimpic quốc tế… Có 3 trung tâm thương mạilớn như: Trung tâm thương mại Bãi Cháy, khu chợ đêm, chợ Cái Dăm và 10
dự án lớn đang thi công
Trang 30Với những đặc điểm đó, Bãi Cháy rất thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế thương mại, văn hóa xã hội
Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã và đang đầu tư mở rộngsản xuất kinh doanh tại Bãi Cháy như các Ngân hàng Thương mại cổ phần,các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, bảo hiểm, thươngmại, du lịch, xây dựng, đóng tàu, sản xuất vật liệu, chế biến thực phẩm cùngvới các doanh nghiệp của địa phương tạo ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụcho sản xuất, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Hiện nay, trên địa bàn phườngBãi Cháy có 496 doanh nghiệp và trên 2.000 hộ kinh doanh cá thể hoạt độngkinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề, trong đó: 15 doanh nghiệp Nhànước, 11 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 14 doanh nghiệp liên doanh,
163 công ty TNHH, 165 công ty cổ phần, 119 doanh nghiệp tư nhân
4.1.2.2 Điều kiện xã hội
Dân cư lao động
Hiện tại, phường Bãi Cháy có 10 khu phố với 93 tổ dân với dân số là5.987 hộ với 23.290 nhân khẩu và trên 10 ngàn nhân khẩu tạm trú Trên địabàn phường Bãi Cháy có hai tuyến đường chạy qua đó là đường Hạ Long vàđường Cái Lân Hàng ngày có trên 15 ngàn lượt phương tiện qua lại
Trang 31Bảng 4.2 Dân cư các khu phố phường Bãi Cháy
Trên địa bàn phường có đền Cái Lân, nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linhcủa nhân dân trên địa bàn phường và Thành phố
Từ năm 2007 cho đến nay, mỗi năm một lần vào cuối tháng 4, đầutháng 5, Bãi Cháy lại tưng bừng với lễ hội Carnaval Hạ Long thu hút hàngngàn du khách trong và ngoài nước tới tham dự Carnaval Hạ Long đã trở
Trang 32thành ngày hội văn hóa – du lịch của tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hạ Longnói chung và Bãi Cháy nói riêng.
Y tế
Trạm Y tế phường đã được đầu tư xây dựng mới (hoàn thành trong năm2010) đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sứckhoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn
Giáo dục
Trên địa bàn phường hiện có 3 trường mẫu giáo và 12 điểm mầm non
tư thục, 01 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở, 01 trường phổ thông
cơ sở và 01 trường PTTH Các trường học trên địa bàn đều đã được đầu tưxây dựng cao tầng hoá với quy mô hiện đại, nhiều trường đạt chuẩn Quốc gia
4.2 Điều tra hiện trạng rác thải khu du lịch phường Bãi Cháy
4.2.1 Đặc điểm rác thải khu du lịch phường Bãi Cháy
4.2.1.1 Nguồn gốc
Hiện nay phát triển du lịch và du lịch biển đã trở thành một hướng ưutiên trong phát triển kinh tế đến năm 2020 của Việt Nam Khu trung tâm dulịch của tỉnh Quảng Ninh cũng không nằm ngoài định hướng phát triển đó Dophường Bãi Cháy có vị trí là một khu du lịch nên rác thải ở phường chủ yếu làrác thải phát sinh do quá trình sinh hoạt của con người từ các khu dân cư,trường học, cơ quan công sở, khu vui chơi giải trí và các khu vực dịch vụ
thương mại Mỗi nguồn thải khác nhau, rác thải có các đặc điểm thành phần,
khối lượng khác nhau
- Khu dân cư (hộ gia đình): Hiện tại, khu du lịch biển phường Bãi Cháy nằm trên 6 khu phố với dân số là 13.716 nhân khẩu Với mật độ dân
cư cao, mặc dù hệ thống hoàn chỉnh nhưng đôi khi vấn đề thu gom vẫn chưa
triệt để Vì vậy, rác thải từ nguồn này có thể gây sức ép lên môi trường Trong
quá trình điều tra rác thải khu dân cư, đã điều tra tổng số 60 phiếu, mỗi khu
phố điều tra ngẫu nhiên 10 phiếu tại 10 hộ gia đình
Trang 33- Trường học, cơ quan, công sở: Trên địa bàn phường hiện có 3 trườngmẫu giáo và 12 điểm mầm non tư thục, 01 trường tiểu học, 01 trường trunghọc cơ sở, 01 trường phổ thông cơ sở và 01 trường PTTH Đây là nguồn phátsinh rác thải sinh hoạt không nhỏ của khu vực.
- Từ các chợ và các trung tâm thương mại: Hiện tại trên địa bàn nghiêncứu có 1 khu chợ và trung tâm thương mại nằm liền kề nhau đó là khu trungtâm thương mại Vườn Đào Lượng rác thải ra hàng ngày từ đó chủ yếu là cáchàng ăn, buôn bán rau, củ, quả nên chủ yếu là rác hữu cơ
- Nguồn dịch vụ và nhà hàng, khách sạn: Với 1 lượng khách du lịchkhổng lồ hàng năm đến thăm vịnh Hạ Long thì lượng rác thải ra là rất lớn
- Từ các hoạt động vận chuyển khách du lịch: Bến cảng, bến ô tô
- Từ các công trình công cộng phục vụ trong khu du lịch: Công viên, bãibiển
- Rác đường phố: Lượng rác thải ở đây chủ yếu do những người thamgia giao thông, các khách du lịch và các hộ ở mặt đường tạo ra
Nguồn: công ty môi trường đô thị INDEVCO
Qua bảng trên ta thấy lượng rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ khá cao 51,7%
Trang 34Do chủ yếu ở đây là rác thải sinh hoạt nên phát sinh rác thải trong ăn uống,sinh hoạt như thức ăn thừa, gốc rau, vỏ hoa quả, cành lá cây, chủ yếu phátsinh từ các hộ gia đình và các hộ kinh doanh Bên cạnh đó thì một lượng rácnữa cũng khá lớn đó là vỏ sò, ốc, hến, chiếm 19,5% Do đặc thù là ngành dulịch biển nên các sản phẩm từ biển cũng dồi dào để phục vụ du khách, vì thếlượng vỏ sò, vỏ hến thải ra cũng tương đối lớn.
Thông qua phiếu điều tra và cân, phân loại rác tại các hộ gia đình trênđịa bàn ta có bảng thành phần rác thải tại khu du lịch như sau:
Bảng 4.4 Thành phần điển hình của rác thải khu du lịch biển Bãi Cháy
Trang 35Vỏ sò
ốc hến
Đất đácát
Nhựa
da caosu
Thànhphầnkhác
Khu du lịch Phường Bãi Cháy
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ so sánh thành phần rác thải của 2 vùng
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy
- Khối lượng rác thải hữu cơ chủ yếu là lá cây, thực phẩm, xác độngthực vật chiếm 48,9% Lượng rác hữu cơ còn thấp hơn lượng rác hữu cơ toànphường Đây là điều kiện tốt để chế biến thành phân hữu cơ phục vụ cho cáckhu vực nông thôn xung quanh thành phố
- Thành phần vỏ sò, ốc, hến chiếm 26,5% tổng các loại rác Nguyênnhân lượng rác này lớn là do đặc điểm đây là khu du lịch nổi tiếng nên tậptrung chủ yếu ở đây là các quán ăn nhà hàng, các khách sạn với nhiều loạihình giải trí khác nhau vì thế nhu cầu ăn uống cũng tăng đồng nghĩa với lượngrác thải ra môi trường cũng lớn
- Thành phần chiếm tỷ lệ tương đối là giấy, vải, nilon từ mọi hoạt độngcủa cuộc sống
Trang 36- Bên cạnh các thành phần trên còn có các thành phần như kim loại, cao
su, da, vải vụn, là những phần có khả năng gây ô nhiễm môi trường chiếmmột tỉ lệ nhỏ và không đáng kể
- Ngoài ra trong thành phần của rác thải sinh hoạt còn lẫn các chất thảinguy hại Theo kết quả điều tra thành phần xen lẫn này chiếm 0,4% chủ yếu
là các loại như bóng đèn huỳnh quang hỏng, pin, ắc quy, sơn thải chứa kimloại nặng, xăng dầu, các chất tẩy rửa mạnh, các loại thuốc bông quá hạn sửdụng, mỹ phẩm…Đây là loại chất thải nguy hại chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng rấtnguy hiểm đối với môi trường, cần có biện pháp xử lý theo quy định của nhànước
4.2.1.3 Khối lượng rác thải
Khối lượng RTSH phát sinh hàng ngày phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốnhư dân số, mức sống của người dân, tình hình kinh tế và khả năng phát triểncủa từng khu vực
Theo thống kê của công ty Môi trường đô thị INDEVCO khối lượngrác thải trung bình mà người dân thành phố thải ra trong một ngày là khoảng0,5 – 0,8 kg/người/ngày
Qua điều tra và cân rác tại các hộ gia đình ta có kết quả sau:
Bảng 4.5 : Khối lượng rác tại các hộ gia đình Khu
phố
Dân số (người)
Khối lượng rác trung bình (kg/người/ngày)
Trang 37Qua bảng 4.5 ta thấy khối lượng rác trung bình của 1 người trong mộtngày là khoảng 0,81 kg/người/ngày, lớn hơn lượng rác trung bình của 1 ngườitrong 1 ngày theo thống kê trên toàn thành phố (0,5 – 0,8 kg/người/ngày).Cũng là điều dễ hiểu khi khu vực này là khu vực có nền kinh tế phát triển củathành phố, tập trung nhiều các ngành nghề kinh doanh Trung bình 1 ngàylượng rác hữu cơ mà 1 người thải ra là 0,57 kg/người/ngày, chiếm tới 67%tổng lượng rác, trong khi đó lượng rác phi hữu cơ là 0,24 kg/người/ngày, chỉchiếm 33% Lượng rác hữu cơ lớn là do xuất phát từ nhu cầu của cuộc sốngcon người (chủ yếu là thực phẩm thừa) Từ thực tế đó dẫn đến ý tưởng chocác nhà quản lý xây dựng các khu vực ủ phân cung cấp sản phẩm cho nôngnghiệp
Kết quả điều tra khối lượng rác thải các nhà hàng, khách sạn, hộ kinhdoanh
Lựa chọn ngẫu nhiên mỗi khu phố 2 nhà hàng/khách sạn, và điều travới tần suất lặp lại vào tháng 3 và tháng 4 Từ đó ta có bảng 4.6
Bảng 4.6: Khối lượng rác tại các nhà hàng khách sạn, hộ kinh doanh
Trang 38Biểu đồ 4.2: Khối lượng rác trung bình ở các khu vực kinh doanh.
Qua đồ thị trên ta nhận thấy khối lượng rác tại các nhà hàng khách sạnthải ra có biến động theo thời gian, cụ thể là theo từng tháng Đặc thù đây làmột khu du lịch biển nên lượng rác thải vào tháng 3 sẽ ít hơn tháng 4, dotháng 3 thời tiết còn lạnh, lượng khách du lịch chưa đông bằng tháng 4 Mặtkhác, tháng 4 tập trung nhiều ngày nghỉ lễ, đặc biệt có lễ hội du lịch vào trungtuần của tháng nên thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, nhất lànhững du khách nước ngoài có nhu cầu nghỉ dài ngày Khu phố 1, 2 , 3 tậptrung nhiều khách sạn nhà hàng lớn như khách sạn 4 sao Hạ Long Plaza,khách sạn Vân Hải…một ngày đón từ 150 – 200 lượt khách, ước tính lượngrác trung bình thải ra từ 140 – 200 kg/ngày Đặc biệt khu 2 và khu 3 có bãibiển trải dài, dọc đó là các hộ kinh doanh các dịch vụ du lịch và bãi tắm nênlượng rác phát sinh rất lớn Các khu phố 4, 5, 6, rải rác trong đó là các nhànghỉ nằm xen kẽ giữa các khu dân cư nên lượng rác phát sinh đồng đều theo