Chất thải nguy hại này đã và đang là vấn đề nhức nhối của công tác quản lý chất thải nói chung và quản lý CTNH nói riêng, hơn nữa loại chất thải này rất khó xử lý và nó tồn đọng lâu dài
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên Môi trường, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Quản lý môi trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, khoa Tài nguyên Môi trường, Bộ môn Quản lý Môi trường; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu trên giảng đường đại học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS Đinh Thị Hải Vân và ThS Đỗ Duy Quỳnh chuyên viên của Chi cục Môi Trường – những người đã hướng dẫn, dành nhiều thời gian, tâm huyết, tạo điều kiện thuận lợi
và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến Chi cục Bảo vệ Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng đã cung cấp và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hường
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTNH Chất thải nguy hại
BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
EPA Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
CTRNH Chất thải rắn nguy hại
Quản lý chất thải nguy hại đang là vấn đề hết sức bức xúc đối với công tác bảo vệ môi trường tại các tỉnh, thành phố của nước ta
Trang 6Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn thành phố
đã được mở rộng và phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Mặt khác, các hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội này tạo ra một số lượng lớn chất thải rắn như: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng trong đó có một lượng không nhỏ chất thải nguy hại Chất thải nguy hại này
đã và đang là vấn đề nhức nhối của công tác quản lý chất thải nói chung và quản lý CTNH nói riêng, hơn nữa loại chất thải này rất khó xử lý và nó tồn đọng lâu dài trong môi trường, chúng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu tới sức khỏe, đời sống con người và chất lượng môi trường trên địa bàn thành phố
Do vậy, một trong những vấn đề cấp bách đặt ra đối với công tác bảo
vệ môi trường thành phố là quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại
Từ nhu cầu thực tiễn trên, đề tài: “đánh giá công tác quản lý chất thải nguy
hại tại thành phố Hải Phòng” đã được lựa chọn nghiên cứu với hi vọng góp
phần tham gia vào công tác quản lý chất thải nguy hại tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 7- Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý chất thải nguy hại có hiệu quả hơn và bảo vệ môi trường.
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra khối lượng CTNH phát sinh trên địa bàn thành phố
- Tìm hiểu hiện trạng quản lý CTNH trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Đánh giá các công tác quản lý CTNH trong khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế trong công tác quản
lý CTNH tại khu vực nghiên cứu
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 2.1.1 Định nghĩa chất thải nguy hại
Trang 8Khái niệm về thuật ngữ “chất thải nguy hại” ( Hazardous Waste ) [5]
lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỉ trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác Tùy thuộc vào trình độ phát triển khoa học kĩ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều các định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại được thể hiện trong Luật và các văn bản dưới luật về môi trường Điển hình như:
- Chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật ( định nghĩa của Philipine )
- Chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng
có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường, và những chất này yêu cầu các kĩ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó ( định nghĩa của Canada )
- Ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải ( dạng rắn, lỏng, bán rắn, và các bình chứa khí ) do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác ( theo UNEP, 1985 )
- Trong đạo luật RCRA (Resource Conservation anh Recovery Act – 1976: đạo luật thu hồi và bảo tồn tài nguyên) của Mỹ: chất thải (ở các dạng
rắn, lỏng, bán rắn, và các bình khí) có thể được coi là chất thải nguy hại khi:+ Nằm trong danh mục chất thải nguy hại do Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ (EPA) đưa ra (gồm 4 danh sách)
+ Có một trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy – nổ,
ăn mòn, phản ứng và độc tính Các phân tích để thử nghiệm này cũng do EPA quy định
+ Được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) tự công bố là chất thải nguy hại
Bên cạnh đó, chất thải nguy hại còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ Đối với các chất chưa có các chứng minh của nghiên
Trang 9cứu dịch tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tính của chúng lên con người.
Tại Việt Nam, xuất phát từ nguy cơ tiềm tàng của chất thải nguy hại từ quá trình công nghiệp hóa đất nước, ngày 16/07/1999, Thủ Tướng Chính Phủ đã
ký quyết định ban hành Quy Chế Quản Lý Chất Thải Nguy Hại số
155/1999/QĐ-TTg (thường được gọi tắt là quy chế 155), trong đó tại khoản 2,
điều 2 chất thải nguy hại được định nghĩa như sau: Chất thải nguy hại là chất
thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác chất với chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người Các chất thải nguy hại được liệt kê trong danh
mục (phụ lục 1 của quy chế 155) Danh mục do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp Trung Ương (Cục Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam – NEA) quy định
Qua các các định nghĩa được nêu ở trên cho thấy hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến đặc tính (cháy – nổ, ăn mòn, hoạt tính và độc tính) của chất thải nguy hại Có định nghĩa đề cập đến trạng thái của chất thải (rắn, lỏng, bán rắn, khí), gây tác hại cho bản thân chúng hay khi tương tác với các chất khác,
có định nghĩa thì không đề cập đến Nội dung của các định nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng phát triển khoa học – xã hội của mỗi nước Trong các định nghĩa nêu trên, định nghĩa về chất thải nguy hại của Mỹ được coi là rõ rang và có nội dung rộng nhất Do đó công tác quản lý chất thải nguy hại được dễ dàng hơn [5]
2.1.2 Phân loại chất thải nguy hại
Hiện nay có rất nhiều cách để phân loại chất thải nguy hại khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh, đặc tính, dạng tồn tại, danh sách theo luật, nhìn chung theo các cách sau:
2.1.2.1 Phân loại chất thải nguy hại theo đặc tính
Trang 10Hình 2.1: phân loại CTNH theo EPA
Tính cháy [4]:
- Chứa lượng alcohol < 24% hay có điểm chớp cháy nhỏ hơn 60o C
- Cháy do ma sát, hấp phụ độ ẩm, hay tự biến đổi hóa học, khi bắt lửa, cháy rất mãnh liệt và liên tục tạo ra chất nguy hại trong điều kiện nhiệt độ và
áp suất tiêu chuẩn
- Không ổn định và dễ thay đổi
- Phản ứng mãnh liệt với nước
Tính ăn
ứng
Tính phản ứng
Đặc tính độc
Đặc tính độc
Theo EPA
Trang 11- Dễ dàng nổ hoặc phân hủy (phân ly) nổ, hay phản ứng ở nhiệt độ và áp suất chuẩn.
- Chất nổ bị cấm theo Luật định
Đặc tính độc (toxicity)
- Xác định tính độc hại của chất thải dựa vào:
+ bảng liệt kê danh sách các chất độc hại
+ phương pháp xác định đặc tính độc hại bằng phương thức lò rỉ [4]
Phân Loại CTNH theo thông tư số 12/2011/BTNMT ngày 14/4/2011 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Hình 2.2: Phân loại CTNH theo TT12/2011/BTNMT
Dễ nổ (N) [15]:
Theo TT12/20 11/BTN MT
Theo TT12/20 11/BTN MT
Dễ lây nhiễm
Dễ lây nhiễm
Dễ nổ
Có độc tính sinh thái
Có độc tính sinh thái Có độc
tính
Có độc tính Oxy Oxy hóahóa
Ăn mòn
Ăn mòn
Dễ cháy
Dễ cháy
Trang 12Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hóa học (khi tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát) hoặc tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh.
Dễ cháy (C):
- Chất thải lỏng dễ cháy: các chất thải ở thể lỏng, hỗn hợp chất lỏng
hoặc chất lơ lửng, có nhiệt độ chớp cháy thấp theo QCVN 07: 2009/BTNMT
- Chất thải rắn dễ cháy: các chất thải rắn có khả năng tự bốc cháy hoặc
phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển
- Chất thải tạo ra các chất khí dễ cháy: các chất khi tiếp xúc với nước có khả năng tự cháy hoặc tạo ra khí dễ cháy
Oxy hóa (OH):
Các chất có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hóa tỏa nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó
Ăn mòn (AM):
Các chất thải thông qua phản ứng hóa học gây tổn thương nghiêm trọng các
mô sống hoặc phá hủy các loại vật liệu, hàng hóa và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh hoặc kiềm mạnh theo QCVN 07: 2009/BTNMT
Có độc tính (Đ):
- Gây kích ứng: các chất thải không ăn mòn có các thành phần nguy hại
gây sưng hoặc viêm khi tiếp xúc với da hoặc màng nhầy
- Gây hại: các chất thải có các thành phần nguy hại gây các rủi ro sức
khỏe ở mức độ thấp thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Gây độc cấp tính: các chất thải có các thành phần nguy hại gây ảnh
hưởng xấu cho xức khỏe một cách từ từ hoặc mãn tính thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Gây ung thư: các chất thải có các thành phần nguy hại có khả năng gây
ra hoặc tăng tỷ lệ mắc ung thư thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
Trang 13- Gây độc cho sinh sản: các chất thải có các thành phần nguy hại có khả
năng gây tổn thương hoặc suy giảm khả năng sinh sản của con người thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Gây đột biến gen: các chất thải có các thành phần nguy hại gây ra hoặc
tăng tỉ lệ tổn thương gen di truyền thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Sinh khí độc: các chất thải có các thành phần mà khi tiếp xúc với không
khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đối với người và sinh vật
Có độc tính sinh thái (ĐS):
Các chất thải có các thành phần nguy hại gây tác hại nhanh chóng hoặc từ
từ đối với môi trường và các hệ sinh vật thông qua tích lũy sinh học
Lây nhiễm (LN):
Các chất thải có vi sinh vật hoặc độc tố sinh học gây nhiễm trùng hoặc bệnh tật cho người và độc vật [15]
2.1.2.2 Phân loại chất thải nguy hại theo luật định
Ở Việt Nam, Quyết định số 23/2006/QĐ BTNMT ngày 26 tháng 12 năm
2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại được áp dụng để nhận biết, phân loại các chất thải nguy hại, làm căn
cứ cho việc quản lý chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật
Danh mục các chất thải nguy hại này cập nhật trên cơ sở danh mục CTNH trong Quyết định 155/1999/QĐ TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ và TCVN 6707 – 2000 [4]
Bảng 2.1: Phân loại chất thải nguy hại theo TCVN 6706 - 2000
STT Loại chất
thải
Mã số TCVN
6706 - 2000
Mô tả tính nguy hại
1 Chất
thải dễ
bắt lửa dễ
Chất thải lỏng dễ cháy
1.1 Chất thải lỏng có nhiệt độ bắt
cháy dưới 60o C
Trang 14Chất thải tạo ra khí dễ cháy
1.4 Chất thải khi gặp nước, tạo ra
phản ứng giải phóng khí dễ cháy hoặc tự cháy
2.2 Chất thải lỏng có thể ăn mòn
thép với tốc độ lớn hơn 6,35 mm/năm ở nhiệt độ 55o C
độ và áp suất thích hợp có thể gây nổ
4 chất
thải dễ bị
oxi hóa
Chất thải chứa các tác nhân oxy hóa
vô cơ
4.1 Chất thải có chứa clorat,
pecmanganat, peoxyt vô cơ, nitrat
và các chất oxy hóa khác khi tiếp xúc với không khí, tích lỹ oxy thì kích thích cháy các chất khác.Chất thải
chứa peoxyt
4.2 Chất thải hữu cơ có cấu trúc
phân tử - O – O – không bền với
Trang 15hữu cơ nhiệt nên có thể bị phân hủy và
tạo nhiệt nhanh
5.1 Chất thải có chứa chất độc có
thể gây tử vong hoặc tổn thương trầm trọng khi tiếp xúc qua đường tiêu hóa, hô hấp hoặc da với liều nhỏ
Chất thải gâyđộc chậm hoặc mãn tính
5.2 Chất thải có chứa các chất gây
ảnh hưởng chậm hoặc mãn tính, hoặc gây ung thư do tiếp xúc qua đường tiêu hóa, hô hấp hoặc da.Chất thải
sinh ra khí độc
5.3 Chất thải chứa các thành phần
mà khi tiếp xúc với không khí hoặc tiếp xúc với nước thì giải phóng ra khí độc đối với người và sinh vật
hệ sinh thái
6 Chất thải chứa thành phần mà
có thể gây ra tác động có hại nhanh hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích lỹ sinh học và/ hoặc gây ảnh hưởng đến các
7 Chất thải có chứa các vi sinh
vật sống hoặc độc tố của chúng, được biết hoặc nghi ngờ là có các mầm bệnh có thể gây bệnh cho người và cho gia súc
Trang 16- Theo đạo luật RCRA (Mỹ): liệt kê các chất thải nguy hại đặc trưng
theo phân nhóm khác nhau K, F, U, P [4]
Hình 2.3: Phân loại CTNH theo doanh mục luật định của EPA (Mỹ)
• Loại F – chất thải từ những nguồn không đặc trưng Ví dụ bùn thải từ
hệ thống xử lý nước thải của ngành luyện kim khi sử dụng cyanide (F012),…
• Loại K – chất thải từ các nguồn đặc trưng Ví dụ chất thải từ quá trình chưng cất trong sản xuất ethylene dichloride (K019),…
• Loại P – chất thải gây độc tức thời: các chất thải có thể gây tác hại cho con người ở liều lượng thấp hay có khả năng làm mất khả năng chống đỡ bệnh tật hay làm tăng them bệnh Các chất này thường là các hóa chất đặc biệt như Fluorine (P056), 3-phthalic anhydride (U190)
Không có trong danh mục
Chất thải nguy hại
Các đặc tính của CTNH
Chất thải không nguy hại
Trang 17• Chất thải phóng xạ là vấn đề đặt ra cho bất cứ quốc gia nào sử dụng năng lượng hay vũ khí hạt nhân.
• Tại US, chất thải phóng xạ được kiểm soát bởi Ủy ban Kiểm soát hạt nhân (Nuclear Regulatory Commission – NRC) và Sở năng lượng (Department of Energy – DOE)
• Vấn đề đặc biệt được đặt ra bởi chất thải hỗn hợp bao gồm cả chất thải phóng xạ và chất thải hóa học
- Theo quyết định 23/2006 QĐ – BTNMT về việc ban hành danh mục CTNH được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính gồm 19 nhóm như sau [8]:
1 Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
2 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hóa chất
vô cơ
3 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hóa chất hữu cơ
4 thải từ nhà máy nhiệt điện và các cơ sở đốt khác
5 Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại
6 Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh
7 Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các vật liệu khác
8 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thủy tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in
9 Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
10 Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm
11 Chất thải xây dựng và phá dỡ (bao gồm cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm)
12 Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý chất thải, nước thải và xử lý nước cấp
13 Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này)
14 Chất thải từ ngành nông nghiệp
Trang 1815 Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải
từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải
16 Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
17 Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy (propellant)
18 Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
19 Các loại chất thải khác
2.1.3 Nguồn phát sinh chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau do sự đa dạng của các loại hình công nghiệp, hoạt động thương mại tiêu dùng, các hoạt động trong cuộc sống Việc phát thải phụ thuộc vào bản chất của công nghệ, trình
độ dân trí nên việc thải chất thải có thể là vô tình hay cố ý Dựa vào nguồn gốc phát sinh có thể chia các nguồn phát sinh chất thải nguy hại thành 4 nguồn chính như sau [5]:
- Từ các hoạt động công nghiệp (ví dụ khi sản xuất thuốc kháng sinh sử dụng dung môi metyl colorua, xi mạ sử dụng xyanit, sản xuất thuốc trừ sâu sử dụng dung môi là loluen hay xylem…)
- Từ hoạt động nông nghiệp (ví dụ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật)
- Thương mại (quá trình nhập – xuất các hàng hóa có chứa các thành phần độc hại do không được kiểm định chính xác như Ắc quy chì đã qua sử dụng, các vỉ mạch điện tử…)
- Từ việc tiêu dùng trong dân dụng (như sử dụng pin, đèn huỳnh quang, hoạt động nghiên cứu khoa học ở các Phòng thí nghiệm, sử dụng dầu nhớt bôi trơn, ắc quy các loại…)
Trong các nguồn thải nêu trên thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất và khối lượng CTNH phát sinh phụ thuộc rất nhiều vào loại hình công nghiệp So với các nguồn phát thải khác, đây cũng là nguồn phát thải mang tính thường xuyên và ổn định nhất
Trang 19Các nguồn phát thải từ dân dụng hay từ thương mại không nhiều, lượng chất thải tương đối nhỏ, mang tính sự cố hoặc do trình độ nhận thức và dân trí của người dân Các nguồn thải từ các hoạt động nông nghiệp mang tính chất phát tán dạng rộng, đây là nguồn rất khó kiểm soát và thu gom, lượng thải này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức cũng như trình độ dân trí của người dân trong khu vực [5]
Tổng lượng chất thải nguy hại do Công ty Môi trường đô thị URENCO Hà Nội thu gom trong 1 tháng (của năm 2009) là khoảng 2.700 tấn/tháng, trong
đó số lượng chất thải nguy hại có nguồn gốc từ các hoạt động sản xuất công nghiệp (dầu thải, dung môi, bùn thải, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóa chất, giẻ dầu, pin, acquy, thùng phi…) đã là 2.100 tấn/tháng Điều đó chứng tỏ tỷ lệ chất thải nguy hại phát sinh từ sản xuất công nghiệp (các ngành điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp…) cao hơn so với các ngành lĩnh vực khác [12]
Bảng 2.2: Một số ngành công nghiệp và các loại chất thải
Sản xuất hóa chất - Dung môi thải và cặn chưng cất: white spirt,
kerosene, benzene, xylen, etul benzene, loluen, isopropanol, toluen disisoxyanat, etanol, axeton, metyl etyl keton, tetrahydrofuran, metylen clorua,
Trang 20- Các chất thải hoạt tính khác: sodium permanganate, organic peroxides, sodium perchlorate, potassium perchlotate, potassium permanganate, hypochloride, potassium sulfide, sodium sulfide.
- Phát thải từ xử lý bụi, bùn
- Xúc tác qua sử dụng
Xây dựng - Sơn thải cháy được: ethylene dichloride,
benzene, toluene, ethyl benzene, methyl isobutyl ketone, methyl ethyl ketone, chlorobenzene
- Các chất thải dễ cháy không theo danh nghĩa (otherwise specified)
- Dung môi thải: methyl chloride, carbon tetrachloride, trichlorotrifluorethane, toluene, xylene, kerosene, mineral spirits, acetone
- Chất thải acid/base mạnh: ammonium hydroxide, hydrobromic acid, hydrochloric acid, hydrofluoric acid, nitric acid, phosphoric aicd, potassium hydroxide sodium hydroxide, sulfuric acid
Sản xuất gia công
kim loại
- Dung môi thải và cặn chưng:
tetrachloroethylene, trichloroethylene,
Trang 21methylenechloride, 1,1,1 – trichloroethane, cacbontetrachloride, toluene, benzene, trichlorofluroethane, chloroform, trichlorofluoromethane, acetone, dichlorobenzene, xylene, kerosene, white sprits, butyl alcohol.
- Chất thải acid/base mạnh: ammonium hydroxide, hydrobromic acid, hydrochloric acid, hydrofluoric acid, nitric acid, phosphoric acid, nitrate, sodium hydroxide, potassium hydroxide, sulfuric acid, perchloric acid, acetic acid
- Chất thải xi mạ
- Bùn thải chứa kim loại nặng từ hệ thống xử lý nước thải
- Chất thải chứa cyanide
- Chất thải cháy được không theo danh nghĩa (otherwise specified)
- Chất thải hoạt tính khác: acetyl chloride, chromic acid, sulfide, hypochlorites, organic peroxides, perchlorate, permanganates
- Dầu nhớt qua sử dụng
Công nghiệp giấy - Dung môi hữu cơ chứa clo: carbon tetrachloride,
methylene, chloride, tetrachloroethulene, trichloroethylene, 1,1,1 – trichlorethane, các hỗn hợp dung môi thải chứa clo
- Chất thải ăn mòn: chất lỏng ăn mòn, chất rắn ăn mòn, ammonium hydroxide, hydrobromic acid, hydrochloric acid, hydrofluoric acid, nitric acid, phosphoric acid, potassium hydroxide, sodium
Trang 22hydroxide, sulfuric acid.
- Sơn thải: chất lỏng có thể cháy, chất lỏng dễ cháy, ethylene dichloride, chlorobenzene, methyl ethyl ketone, sơn thải có chứa kim loại nặng
- Dung môi: chưng cất dầu mỏ
(Nguồn: Davie H F Liu, Béla G Lipták “ Environmental Engineers’ Handbook” second edition, Lewis Publishers, 1997)
Phát sinh CTNH tăng đáng kể trong những năm gần đây Tại tỉnh Đồng Nai, ở thời điểm năm 1999, CTNH công nghiệp chỉ có 3.759 tấn/năm, năm
2000 là 5.300 tấn, năm 2001 tăng lên khoảng 6.500 tấn và đến năm 2009 là trên 20.000 tấn Tại tỉnh Quảng Ninh, xu hướng phát sinh CTNH tăng dần qua từng năm, đặc biệt tăng cao trong 3 năm từ 2007 đến 2009 Lượng phát sinh CTNH vào năm 2005 với 0,2 tấn/ngày và đến năm 2009 là 2,5 tấn/ngày (cao hơn 12 lần so với năm 2005) CTNH phát sinh lớn nhất là dầu thải, 2 đơn vị phát sinh dầu thải lớn nhất là công ty cổ phần Than Núi Béo và Xí nghiệp Than Khe Sim thuộc tổng công ty than Đông Bắc, chiếm đến 60% lượng CTNH phát sinh năm 2005 và 70% của 9 tháng đầu năm 2009 [10]
Bảng 2.3: Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số tỉnh, thành phố
CTR công nghiệp nguy hại
Trang 23Cần Thơ 136,25 27,25Tỉnh có đô thị
(Nguồn: cục quản lý chất thải và cải thiện môi trường, TCMT, 2011)
Theo số liệu điều tra của Cục Môi trường, riêng tổng lượng chất CTRNH phát sinh hàng năm chủ yếu tại 3 khu vực kinh tế trọng điểm chính là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh ở phía Bắc, thành phố Hồ Chí minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu ở phía Nam và Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi ở miền Trung Trong đó, CTRNH phát sinh ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 24khoảng 80.332 tấn/ năm, lớn gấp 3 lần khu vực phía Bắc và lớn gấp 20 lần lượng phát sinh ở khu vực miền Trung [16] Theo Thống kê của Cục Môi trường, tổng lượng CTRNH phát sinh hàng năm trên toàn quốc là 152.000 tấn, bao gồm chất thải của các ngành công nghiệp nhẹ (60.000 tấn), hóa chất (45.000 tấn), cơ khí luyện kim (26.000 tấn),
y tế (10.000 tấn), chất thải sinh hoạt đô thị (5.000 tấn) và chất thải chế biến thực phẩm, điện - điện tử có số lượng ít nhất trong số các ngành trên (2.000 tấn) nhưng lại chứa các chất hữu cơ khó phân hủy như PCB và kim loại nặng,
đó là các chất đặc biệt nguyhại tới sức khỏe con người và môi trường [9] Bên cạnh các chất thải của các ngành trên còn có chất thải từ thuốc bảo
vệ thực vật (BVTV) tồn lưu Theo số liệu của Cục Môi trường và các sở công nghiệp địa phương, chỉ trong 2 năm 2000 - 2001 , tổng lượng thuốc BVTV tổn lưu trên phạm vi 61 tỉnh/ thành phố là khoảng 300 tấn, trong đó thuốc BVTV dạng lỏng là 9.7.374 lít thuốc BVTV dạng bột là 109.145 kg; các bao
bì chứa thuốc BVTV 2.137.850 (bao gồm cả hộp, chai và lọ) [9] Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên phạm vi toàn quốc theo ước tính của Bộ Y tế năm 2001 là khoảng 12.500 tấn/ năm Theo số liệu điều tra của
Bộ Y tế cho thấy, hiện nay có khoảng 61 lò đốt chất thải y tế được lắp đặt trên toàn quốc, trong đó có 41 lò đã đăng ký thẩm định và có 20/41 lò đạt đủ các yêu cầu về mặt kỹ thuật Tính đến tháng 6 năm 2002, tổng công suất xử lý của các lò là 30 tấn/ ngày Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở y tế, CTRNH vẫn còn bị để lẫn với các chất thải khác tại khu vực chôn lấp và được chôn lấp tại các bãi rác sinh hoạt [9]
CTR ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom triệt để, nhiều làng nghề
xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước
và tác động xấu tới cảnh quan Thống kê năm 2008 của Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng, cho thấy, tổng lượng CTR nguy hại phát sinh từ các làng nghề trên toàn quốc vào
Trang 25khoảng 2.800 tấn/ngày Trong đó, các làng nghề tại miền Bắc phát sinh nhiều CTNH nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn CTR phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt, lượng phát sinh
khoảng 1 – 7 tấn/ngày (nguồn: Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008) [9] CTRNH sẽ phát sinh ngày càng tăng trên phạm vi toàn quốc đến năm
2010, phụ thuộc vào các yếu tố như; dân số đô thị, trình độ văn minh, phong tục tập quán cũng như thói quen sinh hoạt và tiêu dùng của từng vùng, nhịp
độ phát triển kinh tế và GDP bình quân đẩu người
Lượng CTR đô thị và khu công nghiệp ở nước ta sẽ tăng ở mức tối thiểu
là 0,9 kg/ người/ngày, cho tới năm 2010 và chỉ số này sẽ là 1,3 kg/ người/ ngày tới năm 2020
Số lượng CTRNH phát sinh ở Việt Nam được các chuyên gia xác định là chưa nhiều nên mức độ ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người và môi trường chưa lớn Tuy nhiên, trong tương lai, với sự gia tăng dân số và nhu cầu tiêu dùng cùng nhịp độ phát triển kinh tế lớn, số lượng CTRNH ở Việt Nam ước tính sẽ tăng lên gấp 5 lần, đạt 846.000 tấn vào năm 2010 và đạt 1.548.000 tấn vào năm 2020 (số liệu dự báo của Bộ Xây dựng) [16]
Nếu không được quản lý tốt, lượng CTRNH này sẽ tác động đến con người, môi trường và trở thành một gánh nặng kinh tế lớn [16]
2.1.4 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại
2.1.4.1 Ảnh hưởng đến môi trường
Những vấn đề tác động môi trường cơ bản liên quan đến việc chôn lấp các chất thải nguy hại không đúng qui cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm Tại Việt Nam những nguồn nước này thường
là nguồn cung cấp nước sinh hoạt gia đình, phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Do vậy, bất kỳ các tác động tiêu cực đối với các nguồn này đều có thể gây ảnh hưởng tiềm tàng về sức khoẻ đối với nhân dân hay gây ra các tác động môi trường nghiêm trọng Có không nhiều những tài liệu về
Trang 26những tai nạn do ô nhiễm gây ra do việc thực hiện tiêu huỷ chất thải nguy hại không hợp cách và có ít kết quả quan trắc để đánh giá tác động thực tế [2].Những chuyến khảo sát điều tra về chất thải nguy hại, xem xét những tài liệu đã công bố và thảo luận vơí những cơ quan Nhà nước khác nhau đã cho thấy rằng ở Việt Nam đang có nhiều mối quan tâm về ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do công nghiệp Không thể phân lập chất thải nguy hại đã làm trầm trọng hơn vấn đề quản lý chất thải rắn và nước thải vốn đã khá trầm trọng, đồng thời cũng làm cho việc quản lý chất thải rắn khó khăn hơn do thiếu những hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị [2].
Lĩnh vực quan tâm chính về chôn lấp chất thải nguy hại liên quan đến những vấn đề sau:
- Ô nhiễm nước ngầm là do việc lâu dài không được kiểm soát, chôn lấp tại chỗ, chôn lấp ở nơi chôn rác không có kĩ thuật cụ thể, hoặc sử dụng dùng để lấp các bãi đất trũng
- Khả năng ô nhiễm nước mặt do việc thải các chất lỏng độc hại không được xử lý triệt để hoặc do hậu quả của việc làm vệ sinh công nghiệp kém và việc thải vào khí quyển những hoá chất độc hại từ quá trình cháy, đốt các vật liệu nguy hại
- Bản chất ăn mòn tiềm tàng của các hoá chất độc hại có thể phá huỷ hệ thống cống cũng như làm ngộ độc môi trường tự nhiên [2]
a Ảnh hưởng đến môi trường đất
Trong cả ba khu vực nghiên cứu, miền Bắc, miền Nam và miền Trung Việt Nam, các chất thải rắn nguy hại bị trộn lẫn với các chất thải rắn trơ của nhà máy và nói chung được thu gom qua hợp đồng với công ty môi trường đô thị tương ứng Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở các đô thị khác trong cả nước ta, phần lớn các chất thải nguy hại dạng rắn đều bị trộn lẫn với các chất thải rắn khác và được thu gom bởi công ty môi trường đô thị Ơ vùng kinh tế miền nam rất nhiều chất thải nguy hai tương tự cũng được thu gom bởi
Trang 27công ty dịch vụ công cộng và một số người thu gom khác, và được đưa đến bãi rác Các chất thải bị trộn lẫn với các chất thải rắn công nghiệp không nguy hại, rất ít khi được phân tách tại nguồn [2].
Các chất thải công nghiệp, bao gồm cả chất thải nguy hại thu gom bởi các công ty dịch vụ đô thị tương ứng được đem chôn ở những bãi chôn rác kém chất lượng cùng với các chất thải đô thị Các bãi chôn rác hoặc các bãi thải nói chung đều không chôn rác được nữa, và kỹ thuật vận hành rất tồi, và hơn nữa, các bãi thải cơ bản liên quan đến việc lấp các vùng đất trũng Có thể thấy
là không có các thiết bị xử lý nước rác, thậm chí ở các bãi chôn rác mới được thi công Nước rác nói chung được thải trực tiếp vào các khu chứa xung quanh, mà những vùng này thường được dùng cho các mục đích nông nghiệp
và nuôi trồng thuỷ sản hoặc được cộng đồng địa phương dùng như các nguồn nước uống [2]
Ở một số công ty được tham quan trong quá trình khảo sát, các chất thải bị chôn lấp hoặc dồn đống tại chổ hoặc ở khu đất bên cạnh bởi vì không có một giải pháp nào phù hợp với các chất thải này, hoặc là được tích luỹ trước khi được chuyển đi Trong một số trường hợp, chất thải này được lưu giữ theo kiểu như vậy có thể tạo ra rủi ro đến môi trường và sức khoẻ cho khu vực xung quanh Việc lưu giữ chất thải và vệ sinh công nghiệp kém, và lượng rò rỉ lớn của các nguyên liệu độc, bao gồm cả cặn nhựa mang tính axit và dầu thải,
ở một số địa điểm Sự lưu giữ lâu dài một số chất thải không thể tái sử dụng lại trong dây chuyền, ví dụ như những mẻ sơn tồi khá phổ biến, nhưng nói chung những nơi chứa chất thải không được che, đậy kĩ và thấy rõ sự ăn mòn vật liệu bao bì đã xảy ra Khả năng rò rỉ vào lớp đất tầng dưới và gây nhiễm bẩn nước ngầm có thể được xem như một nguy cơ lâu dài [2]
b Ảnh hưởng đến môi trường nước
Địa hình của Việt Nam được đặc trưng bởi đồi núi che phủ hầu hết phía Bắc, Tây, và miền Trung của Việt Nam Diện tích còn lại là đồng bằng từ đất
Trang 28bồi và lưu vực với một mạng lưới khá dày đặc các sông ngòi Nước mặt bao gồm sông, hồ chứa, kênh, hồ ao được sử dụng rất nhiều ở Việt Nam như là một nguồn nước ăn uống, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và công nghiệp Chúng cũng được sử dụng như là nguồn nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt là ở khu vực đô thị, nơi chưa có đủ hệ thống xử lý nước thải đô thị [2].
Về chất lượng nước ngầm ở Việt Nam vẫn tốt trừ một số nơi bị nhiễm sắt, mangan cao và ở một số vùng ven biển bị nhiễm mặn Hiện nay, chỉ có khoảng 15% nước ngầm khai thác được cấp vào hệ thống cấp nước máy do nước mặt có sẵn và rẻ hơn Tuy nhiên, nhu cầu đang tăng lên ở những nơi thiếu nguồn nước mặt như Đồng Nai và đồng bằng sông Mêkông, và đã có những dấu hiệu nhiễm bẩn cục bộ do chôn chất thải hay nước mặt bị ô nhiễm [2]
Ở Việt Nam trừ các nhà máy nước ở thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt, đa
số các hệ thống thoát nước đô thị không đủ và cấp nước chất lượng kém Khoảng 30% nhu cầu nước đô thị được cấp bởi nước ngầm, lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, và Hải Phòng [2]
Nhiễm bẩn nước ngầm ở khu đô thị, đặc biệt là Hà Nội ngày càng nghiêm trọng, nơi màtoàn bộ dân cư phải dựa vào nước ngầm đối với nước ăn uống
và sinh hoạt
c Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Có những trường hợp ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng do quản lý chất thải nguy hại kém Dung môi, nói chung, được thải bằng cách cho bay hơi Một cơ sở sản xuất tấm lợp ximăng amiăng ở Đồng Nai đã thải một tấn bùn ngay trong cơ sở trong vòng một ngày mà không có một biện pháp kiểm soát nào Hàng ngàn tấn bùn đã được đổ trong nhà máy theo kiểu như vậy sẽ tạo ra nguy cơ đối với sức khoẻ của công nhân trong nhà máy Những ví dụ như vậy
sẽ có thể gặp nhiều nơi ở nước ta [2]
Trang 292.1.4.2 Tác động của CTNH đến sức khỏe con người
CTNH xâm nhập vào cơ thể qua: tiếp xúc qua da, do ăn uống, hít thở… Khi ở liều lượng nhất định cơ thể sẽ bị kích thích có các phản ứng bằng ngộ độc cấp tính, ngộ độc mãn tính, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hay cơ quan khác của con người như gan, thận [4]
- Độc mãn tính: do độc chất có thể tích lũy trong cơ thể sống nếu thường xuyên tiếp xúc nên ở một nồng độ nhất định (dướng ngưỡng), chưa gây chết hay những ảnh hưởng bất thường (như đối với nhiễm độc cấp) mà lâu dài sẽ gây những bệnh tật nguy hiểm, gây đột biến gen, ung thư, gây ảnh hưởng lên tính di truyền hay ảnh hưởng lên thai nhi Những chất độc mà có khả năng tích lũy dần trong cơ thể, có thể gây tác hại về lâu dài như trên là chất có độc tính mãn tính [4]
- Độc cấp tính: là tác động gây chết một nhóm sinh vật sau một thời gian tiếp xúc ngắn (24h – 96h) với một tác động chất độc thường xảy ra khi nồng
độ tác động độc hại cao nên số cá thể bị nhiễm độc không lớn [4]
Một số rủi ro, thảm họa môi trường do phát triển công nghiệp nói chung và CTNH nói riêng gây ra trên thế giới:
Ô nhiễm bùn than Tennessee
Vào ngày 22/12/2008, kho chứa bùn than rộng 80 mẫu của nhà máy Fossil Plant bị vỡ gây ô nhiễm một vùng rộng tới trên 300 mẫu, phá hủy ngay 15 gia đình, gây ô nhiễm thạch tín, thủy ngân và chì Sau 1 năm, sản phẩm phụ của nhà máy đã tung ra môi trường khoảng 18 tấn thạch tín, gần 20 tấn chì, 0,5 triệu cân barium, 40.000 kg crom và 600.000kg măng gan Các chất chất kim loại này đã gây lên một loại các loại bệnh như ung thư, gan và các biến chứng
về bệnh thần kinh và nhiều rủi ro khác về sức khỏe [18]
Ô nhiễm amiang ở Libby, Montana
Vụ ô nhiễm amiang tại nhà máy WR Grace ở Libby, Montanna, Mỹ được xem là thảm họa môi trường kinh hoàng Bụi ô nhiễm amiang đã phát tán vào
Trang 30không khí, làm cho 200 người bị thiệt mạng và trê 1.000 người khác bị mắc bệnh, phổ biến là các loại bệnh nan y như ung thư, tim mạch, khuyết tật bẩm sinh [18].
Nhiễm độc chì Picher
Vụ nhiễm độc chì Picher ở Oklahoma cả một vùng rộng lớn tới 25.000 mẫu
đã bị nhiễm độc chì nghiêm trọng, nguồn nước ở các vùng lân cận biến thành màu vàng, ngấm vào đất vào nguồn nước sinh hoạt, làm cho nhiều người bị mắc bệnh nghiêm trọng, nhất là trẻ em, người già [18]
Thảm họa Minamata, Nhật Bản, 1956
Năm 1956 và năm 1968, người ta phát hiện ra những người mắc bệnh ở Minamata với biểu hiện chân tay bị liệt hoặc run lẩy bẩy, tai điếc, mắt mờ, nói lắp bắp, rú lên vì đau đớn và trải qua những cơn co thắt,… 106 công nhân của Minamata đã chết trong thời gian 1 thập kỷ, và nhiều nạn nhân khác trở nên
mù, điếc hoặc mất trí…
Nguyên nhân của các căn bệnh này là do công ty Chisso gây ra, các nhà máy hóa chất trong công ty này đã thải ra quá nhiều lượng thủy ngân hữu cơ độc hại làm có cá bị nhiễm độc Khi ăn cá thủy ngân hữu cơ đã xâm nhập vào
cơ thể con người, chúng tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương gây nên các căn bệnh trên [19]
Trang 312.2 CÔNG CỤ PHÁP LUẬT VÀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN
LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
2.2.1 Công cụ pháp luật
2.2.1.1 Các văn bản quy phạm pháp luật
Trong những năm qua, nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quản lý về quản lý CTNH và các hóa chất Luật bảo vệ môi trường, tại chương VIII, Mục 2 về quản lý chất thải nguy hại có các điều luật như sau [13]:
Điều 70 Lập hồ sơ, đăng lý, cấp phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại.
Điều 71 Phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại.
Điều 72.5 Vận chuyển chất thải nguy hại.
Điều 73 Xử lý chất thải nguy hại.
Điều 74 Cơ sở xử lý chất thải nguy hại.
Điều 75 Khu chon lấp chất thải nguy hại
Điều 76 Quy hoạch về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 Dưới đây là một số nghị định, quyết định đã như sau:
- Nghị định số 80/2006/ NĐ – CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 1 số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường
- Nghị định số 21/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 của chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ
Trang 32- Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính Phủ về Quản lý chất thải rắn.
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các chất thải nguy hại
- Thông Tư số 12/2006/TT- BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ TNMT Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 43/2007/ QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Trưởng Y tế
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải Y tế
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng
2.2.1.2 Một số tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về quản lý chất thải nguy hại
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn về quản lý CTNH trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đưa ra một số tiêu chuẩn, quy chuẩn về mức độ, nồng độ cho phép xả thải các CTNH ra môi trường Dưới đây là mội số quy chuẩn Quy chuẩn Việt Nam:
- QCVN 19: 2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và một số chất vô cơ
- QCVN 20: 2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ.
- QCVN 03:2008/BTNMT - QCVN về Giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
- QCVN 02:2008/BTNMT - QCVN về Khí thải lò đốt chất thải rắn y tế
Trang 33- QCVN 07: 2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại.
- QCVN 06:2009/BTNMT - QCVN về một số chất độc hại trong không khí xung quanh
- TCVN 6705-2000: Chất thải không nguy hại
- TCVN 5507-2002: hoá chất nguy hiểm- quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển
Những công cụ kinh tế có tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất vào các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là các loại thuế, phí và lệ phí về tài nguyên và môi trường, như:
- Thuế tài nguyên: là loại thuế trực thu hay gián thu đối với việc khai thác,
sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên như: khoáng sản rắn, khoáng sản nhiên liệu, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước mặt, nước ngầm, đất đai v.v
Trang 34- Phí môi trường: là các loại phí được thu đối với việc xả thải vào môi trường xung quanh các chất thải rắn, lỏng, khí và các chất thải khác; phí sử dụng các hệ sinh thái nhạy cảm hoặc hệ sinh thái đặc thù.Phí môi trường được thu nhằm bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cải thiện các thành phần môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái và các chi phí khác về tổ chức và quản lý phục vụ cho vấn đề bảo vệ môi trường nói chung.Có nhiều phương pháp tính phí môi trường như tính phí môi trường dựa vào lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường, tính phí môi trường dựa vào mức tiêu thụ đầu vào các loại nguyên liệu, tính phí môi trường dựa vào mức sản xuất đầu ra, tính phí môi trường dựa vào lợi nhuận của doanh nghiệp Phương pháp tính phí môi trường dựa vào lượng chất thải
là cách tính theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Ngoài các loại thuế và phí nói trên, còn có một số công cụ kinh tế khác, như:
- Lệ phí hành chính
- Tạo lập thị trường ô nhiễm
- Giấy phép chuyển nhượng/ bán lượng xả thải chất ô nhiễm
- Các khoản trợ cấp, các khoản vay lãi suất thấp
- Hệ thống ký quỹ - hoàn trả
- Côta môi trường:
- Ký quỹ môi trường
-Hỗ trợ tài chính của Nhà nước
Tóm lại, sử dụng công cụ kinh tế trong việc quản lý chất thải nguy hại có một số ưu điểm như:
- Khuyến khích sử dụng các biện pháp chi phí - hiệu quả để đạt được các mức ô nhiễm có thể chấp nhận được
- Kích thích sự phát triển công nghệ và tri thức chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm môi trường
Trang 35- Cung cấp cho chính phủ một nguồn thu nhập để hỗ trợ cho các chương trình kiểm soát ô nhiễm môi trường.
- Cung cấp tính linh động cho việc kiểm soát ô nhiễm môi trường
- Xác định mức độ kiểm soát khả thi và thích hợp đối với mỗi nhà máy và sản phẩm [3]
2.3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI HIỆN NGAY TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng) IPCS (chương trình toàn cầu về
an toàn hoá chất) ,WHO (Tổ chức Y tế thế giới) xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin về an toàn hoá chất [3]
Tuỳ từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùngvới nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải củariêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường ápdụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý,sinh học, chôn lấp, rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thuỵ Sỹ (33%),trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý
vi sinh nhiều nhất (30%), Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (Băng Cốc -84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%) Dưới đây là những mô tả tổng quan về tình hình quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn nguy hại nói riêng tại một số nước trong khu vực và thế giới [3]
Trang 36Trung Quốc
Với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng lại một phần đáng kể chất thải nguyhại, còn lại chất thải được thải vào nước và đất Biện pháp xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở, tuy nhiên có một số hố chôn lấp hợp vệ sinh
Phần lớn chất thải nguy hại của các khu vực kinh tế, một số xí nghiệp có khả năng xử lý tại chỗ Trung Quốc cũng đã đề ra Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn do chất thải rắn (1995), trong đó quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký việc phát sinh chất thải, nước thải, đồng thời phải đăng
ký việc chứa đựng, xử lý và tiêu huỷ chất thải, liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất [3]
Hồng Kông
Cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung được xây dựng từ năm 1987 đến năm1993 Với hệ thống thu gom vận chuyển và thiết bị xử lý hiện đại, công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hoá/1ý đã xử lý được hầu hết lượng chất thải nguy hại tại Hồng Kông Tại đây người ta cũng đã tiến hành nghiên cứu
và đề xuất quy chế chung về sự tiêu huỷ chất thải, đặc biệt là chất thải hoá học Nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lấp, hệ thống kiểm soát việc chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển xử lý và tiêu huỷ100 chất thải, nhất là chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nói chung
và chất thải nguy hại nói riêng tại Hồng Kông [3]
Ấn Độ
Chất thải nguy hại chủ yếu được thải vào đất và nước, hoặc đổ tại chỗ tại bãi rác công cộng Hiện nay đã đầu tư xây dựng thiết bị xử lý bằng phương pháp chôn lấp với vốn vay từ WB/IFC và đẩy mạnh kêu gọi đầu tư từ thành phần kinh tế tư nhân.Inđônêxia Xử lý chất thải nguy hại bằng các cơ sở xử lý hoá phối hợp hữu cơ tập trung và đốt chất thải hữu cơ trong lò xi măng; chất
Trang 37thải vô cơ lỏng nói chung được thải vào nước Một số ít chất thải nguy hại được xử lý tại chỗ tại các cơ sở sản xuất [3].
Malaysia
Tại đây đã xây dựng cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung từ năm 1995 -
1996, đây là cơ sở xử lý với công nghệ hiện đại vận hành trên cơ sở thu hồi vốn hoàn toàn.Chất thải nguy hại được liệt kê và chứa giữ riêng trong những ngăn kín của hố chôn rác tại bãi chôn lấp chờ xử lý sau [3]
Philippin
Nói chung chất thải nguy hại được đổ vào nước hay đổ vào bãi rác công cộng.Hiện tại ở Philippin chưa có công trình xử lý chất thải nguy hại tập trung, một số ít chất thải được xử lý tại chỗ Hiện đang có một đề án nghiên cứu về xử lý chôn lấp chất thải nguy hại do EU tài trợ [3]
Singapore
Để giải quyết chất thải nguy hại đã có giải pháp công nghệ trình độ thấp để
xử lý hoá lý, thu hồi dung môi hữu cơ và lò đốt trong nhiều năm, chủ yếu dùng thiết bị cũ, hệ thống tiên tiến hiện đại đã được đề nghị nhưng chưa được thực hiện Hiện tại chất thải được phân loại, một phần được tái chế, phần còn lại được đưa vào 4 nhà máy thiêu huỷ Hiện tại đã xây dựng nhà máy thứ 5 với công suất 2.500 tấn/ngày để xử lý chất thải Hệ thống xử lý được MARPOL phê duyệt bao gồm cả lò đốt sẽ góp phần giải quyết chất thải nguy hại tại Singapore Nhiệt lượng trong quá trình thiêu huỷ được thu hồi để chạy máy phát điện Công nghệ thiêu huỷ chất thải đang được thay thế bằng các công nghệ hiện đại hơn, đảm bảo được các tiêu chuẩn về môi trường Dầu cặn, sơn thừa được tái chế sử dụng thì các nhà máy xí nghiệp phải chịu chi phí xử lý chúng.Việc thu gom chất thải hầu hết do các công ty tư nhân đảm nhận, nhà nước hỗ trợ tiền xây đựng nhà máy xử lý thiêu huỷ chất thải Các công ty thu gom chất thải đều chuyển sang hình thức cổ phần hoá, Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc Hàng
Trang 38tháng, người dân có nghĩa vụ đóng góp phí thu chất thải tuỳ theo diện tích sử dụng đất của từng hộ [3].
Srilanca
Hiện tại không có quy trình quản lý chất thải nguy hại chuyên dụng Thông thường chất thải nguy hại được đổ vào bãi rác không chống thấm Hiện nay đang xây dựng hố chôn rác vệ sinh cho các chất thải đô thị Một chiến lược quản lý chất thải nguy hại đang được dự thảo bởi ERM (do WB tài trợ) Nhìn chung, chất thải nguy hại tại Srilanca cũng chưa được quan tâm đúng mức [3]
Thái Lan
Chất thải nguy hại tại Thái Lan đã được đưa vào hệ thống xử lý trung tâm với công nghệ xử lý thấp, hệ thống xử lý này được vận hành từ năm 1998 và phương thức xử lý chủ yếu là xử lý hoá/lý ổn định và chôn lấp an toàn cùng với hệ thống phối trộn hữu cơ (cho đốt trong lò xi măng) Ngoài ra phương thức xử lý hoá/lý kết hợp với đốt cũng được áp dụng tại Thái Lan [3]
Pháp
Các chất thải nguy hại nói riêng và chất thải nói chung chỉ được thiêu huỷ khoảng 40%, số còn lại chưa được xử lý hợp vệ sinh Hiện tại hàng năm có tới khoảng 20 triệu tấn chất thải không được xử lý đã chất đống ở những nơi hoang vu và không người khai thác Ngoài ra do phí lưu giữ chất thải ở Pháp khá rẻ nên các nước láng giềng đã không do dự mang chất thải của quốc gia mình sang đổ ở các bãi chất thải tại Pháp Tại đây có khoảng hơn 20.000 bãi chất thải hoang và tình trạng đổ thải bừa bãi như vậy đang được Chính phủ Pháp tìm mọi cách chấm dứt [3]
Trang 39ngoài biển, nhưng từ năm 1990 trở lại đây, Hà Lan đã tập trung xử lý chất thải nguy hại tại 5 khu vực trên phạm vi toàn quốc, thường do các xí nghiệp tư nhân với sự tham gia của nhiều công ty tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan chuyên môn Hàng năm, Hà Lan có tới hơn 20 triệu tấn chất thải 60% trong số này được đổ ở các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào các lò thiêu huỷ hoặc tái chế Để bảo vệ môi trường, Chính phủ Hà Lan đã đề ra mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm để giảm chi phí xử lý Công nghệ xử lý chất thải nguy hại chủ yếu được áp đụng là thiêu huỷ, nhiệt năng do các lò thiêu huỷ sinh ra sẽ được hoà nhập vào mạng lưới năng lượng chung của đất nước Ngoài ra Hà Lan còn đạt được bước chuyển biến lớn trong việc mở rộng chương trình giáo dục trong trường học, trong các xí nghiệp công nghiệp
và những người nội trợ về những sự cần thiết phải đảm bảo môi trường sống được trong sạch ở nhiều nơi, các chất thải được phân loại ngay từ nguồn phát thải nhất là đối với chất thải nguy hại Việc thiêu huỷ chất thải nguy hại được tiến hành ở những lò đốt hiện đại với kỹ thuật mới nhất, hoặc việc tổ chức sản xuất được ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho công việc chế biến [3]
Cộng hoà liên bang Đức
đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thải nguy hại, xử lý
và tái sử dụng chúng Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy định về hành chính… với nội dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước… về thu thập, vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn Đó là những biện pháp xử lý bằng pháp luật rất nghiêm các trường hợp làm phát sinh các chất thải nguy hại mà chưa xử lý hoặc quá giới hạn cho phép, có thể áp dụng biện pháp phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động của nhà
Trang 40máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất đã vi phạm pháp luật, bắt bồi thường thiệt hại gây ra hoặc truy tố trước pháp luật (tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11, tháng 11/2002) [17].
Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà liên bang Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy hại Thêm vào
đó, Nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức được tác hại nguy hiểm của loại chất thải này và chính nhân dân sẽ là người giúp cho các
cơ quan nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại và nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết Sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước, các kỹ thuật gia, các nhà sinh học, hoá học trong lĩnh vực chất thải nguy hại đã đưa cộng hoà liên bang Đức trở thành một trong những quốc gia đứng hàng đầu về công nghệ bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại nói riêng [17]