TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG PHẠM THỊ BÍCH LOAN KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG KHỔ QUA GHÉP TRÊN GỐC BẦU VỚI HAI KIỂU KHÁC NHAU,... TRƯỜ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHẠM THỊ BÍCH LOAN
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG KHỔ QUA GHÉP TRÊN GỐC BẦU VỚI HAI KIỂU KHÁC NHAU,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG NGHIỆP SẠCH
Tên đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG KHỔ QUA GHÉP TRÊN GỐC BẦU VỚI HAI KIỂU KHÁC NHAU,
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
-
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch, với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG KHỔ QUA GHÉP TRÊN GỐC BẦU VỚI HAI KIỂU KHÁC NHAU,
VỤ THU ĐÔNG, 2011
Do sinh viên Phạm Thị Bích Loan thực hiện
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bích Loan
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT CỦA HAI GIỐNG KHỔ QUA GHÉP TRÊN GỐC BẦU VỚI HAI KIỂU KHÁC NHAU, VỤ THU ĐÔNG, 2011 Do sinh viên Phạm Thị Bích Loan thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I Lý lịch sơ lược
Nơi sinh: xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
Con ông: Phạm Văn Bé
Trường: Tiểu học Bình Trạnh Trung 1
Địa chỉ: xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Chuyên ngành: Nông Nghiệp Sạch (Khóa 35)
Ngày….tháng….năm 2012
Phạm Thị Bích Loan
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS.TS Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý
và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt
luận văn này
- KS Bùi Văn Tùng, ThS Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn chỉnh luận văn
- Cố vấn học tập Châu Minh Khôi đã quan tâm và dìu dắt tôi hoàn thành tốt khóa học
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học
Xin chân thành cảm ơn!
- Chị Trần Thị Hồng Thơi và anh Võ Duy Hoàng đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chỉnh sửa luận văn
- Anh Hạc, anh Duy, anh Lộc, anh Thức cùng các bạn Sang, Trang, Trâm, Như, Khánh và các bạn lớp Nông Nghiệp Sạch khóa 35 đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông Nghiệp Sạch khóa 35 những lời chúc sức khỏe và thành
đạt trong tương lai
Trang 8PHẠM THỊ BÍCH LOAN 2012 “Khảo sát sự sinh trưởng, năng suất của hai giống khổ qua ghép trên gốc bầu với hai kiểu khác nhau, vụ Thu Đông, 2011”
Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành Nông Nghiệp Sạch, Khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Ba và ThS
Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng từ tháng 07-10/2011 nhằm tìm ra kiểu ghép phù hợp với giống khổ qua trên gốc bầu, để tăng khả năng sinh trưởng và năng suất của khổ qua sau ghép Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp lại: (1) Giống khổ qua 099 với kiểu ghép ghim trên gốc bầu, (2) Giống khổ qua 099 với kiểu ghép chẻ trên gốc bầu, (3) Giống khổ qua 0242 với kiểu ghép ghim trên gốc bầu, (4) Giống khổ qua 0242 với kiểu ghép chẻ trên gốc bầu Diện tích thí nghiệm 95 m2
Kết quả cho thấy có sự tương thích tốt giữa gốc và ngọn ghép với tỷ lệ sống sau ghép rất cao (100%) Khi trồng ra đồng, cây con ở tất cả nghiệm thức phát triển bình thường nhưng đến giai đoạn 12 ngày sau khi trồng gốc bầu có hiện tượng nứt, đến khoảng 30 ngày sau khi trồng toàn bộ gốc bầu đều bị rễ khổ qua đâm xuống đất, nhưng cây khổ qua vẫn phát triển bình thường và cho năng suất Khổ qua giống 099 với kiểu ghép chẻ cho năng suất cao nhất (34,84 tấn/ha), khác biệt có ý nghĩa thống
kê với giống 099 với kiểu ghép ghim (15,51 tấn/ha), giống 0242 với kiểu ghép ghim (14,56 tấn/ha), giống 0242 với kiểu ghép chẻ (16,34 tấn/ha)
Trang 9MỤC LỤC
TÓM LƯỢC vii
MỤC LỤC viii
DANH SÁCH BẢNG x
DANH SÁCH HÌNH xi
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 2
1.1 NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ TÌNH HÌNH SẢN SUẤT KHỔ QUA 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng 2
1.1.3 Tình hình sản xuất khổ qua 2
1.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY KHỔ QUA 3 1.2.1 Đặc tính sinh học 3
1.2.2 Điều kiện ngoại cảnh 4
1.3 GIỐNG KHỔ QUA 5
1.3.1 Vai trò của giống trong sản xuất 5
1.3.2 Một số giống khổ qua 5
1.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY GHÉP, KỸ THUẬT GHÉP, NGUYÊN LÝ GHÉP 7
1.4.1 Lịch sử quá trình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép 7
1.4.2 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây 8
1.4.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép 8
1.4.4 Phương pháp ghép rau 9
1.4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng, bệnh hại và năng suất của ngọn ghép 10
CHƯƠNG 2 12
2.1 PHƯƠNG TIỆN 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian 12
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 12
Trang 102.1.3 Vật liệu thí nghiệm 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 13
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 18
2.2.4 Phân tích số liệu 19
CHƯƠNG 3 20
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 20
3.2 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG 20
3.2.1 Chiều dài thân chính 20
3.2.2 Số lá trên thân chính 22
3.2.3 Đường kính ngọn ghép 24
3.2.4 Chiều cao gốc ghép 24
3.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 25
3.3.1 Kích thước trái 25
3.3.2 Trọng lượng trung bình trái và số trái trên cây 26
3.3.3 Trọng lượng trái trên cây (kg/cây) và sinh khối (kg/cây) 27
3.3.4 Năng suất tổng 28
CHƯƠNG 4 30
4.1 KẾT LUẬN 30
4.2 ĐỀ NGHỊ 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân (kg/ha) của khổ qua, tại trại Thực
nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
18
3.1 Số lá trên thân chính (lá/thân) của khổ qua ghép qua các thời điểm
khảo sát tại trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT
(07-10/2011)
22
3.2 Tốc độ tăng trưởng số lá trên thân chính (lá/ngày) của khổ qua ghép
qua các thời điểm khảo sát tại trại Thực nghiệm, khoa NN &
SHƯD, trường ĐHCT (07-10/2011)
23
3.3 Đường kính ngọn ghép (cm) của khổ qua ghép qua các thời điểm
khảo sát tại trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT
(07-10/2011)
24
3.4 Chiều cao gốc chép (cm) của khổ qua ghép qua các thời điểm khảo
sát tại trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT
(07-10/2011)
25
3.5 Kích thước trái (cm) của khổ qua ghép tại trại Thực nghiệm, khoa
NN & SHƯD, trường ĐHCT (07-10/2011)
26
3.6 Số trái trên cây, trọng lượng TB trái của khổ qua ghép tại trại Thực
nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (07-10/2011)
27
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
2.1 Tình hình khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm
(07-10/2011) tại TP Cần Thơ (Đài khí tượng Thủy văn Thành phố
Cần Thơ, 2011)
12
2.2 Các nghiệm thức ở giai đoạn chuẩn bị trồng ra đồng, tại trại
Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
14
2.3 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép chẻ, tại trại Thực
nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
16
2.4 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép ghim, tại trại Thực
nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
17
3.1 Chiều dài thân chính (m) của khổ qua ghép qua các thời điểm
khảo sát tại trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường
ĐHCT (07-10/2011)
21
3.2 Trọng lượng trái/cây (kg/cây) và sinh khối (kg/cây) của khổ qua
ghép tại trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT
(07-10/2011)
28
3.3 Năng suất tổng của khổ qua ghép tại trại Thực nghiệm, khoa
NN & SHƯD, trường ĐHCT (07-10/2011)
29
Trang 13Ở nước ta, khổ qua là cây có giá trị hàng hoá nên đang dần được người nông dân trồng với diện tích lớn và cho thu nhập cao Nhưng việc canh tác khổ qua còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là các bệnh từ đất cho năng suất thấp và chất lượng kém Việc chọn giống tốt thích hợp với điều kiện tự nhiên giúp thu được năng suất cao, ổn định phẩm chất trái tốt Mỗi giống có đặc tính chống chịu khác nhau với các điều kiện bất thuận và sâu bệnh Ghép là một biện pháp kỹ thuật được
sử dụng phổ biến, ở các nước tiên tiến trên thế giới nhằm giúp cây ghép sinh trưởng mạnh sau khi trồng ra đồng cho năng suất cao Nhưng việc chọn kiểu ghép để phù
hợp với giống khổ qua là một vấn đề tương đối mới, chính vì vậy đề tài: “Khảo sát
sự sinh trưởng, năng suất của hai giống khổ qua ghép trên gốc bầu với hai kiểu khác nhau, vụ Thu Đông, 2011” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra kiểu ghép
thích hợp với ngọn của giống khổ qua trên gốc bầu, tăng khả năng sinh trưởng và
năng suất của cây khổ qua sau ghép
Trang 14
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ TÌNH HÌNH SẢN SUẤT
KHỔ QUA 1.1.1 Nguồn gốc
Khổ qua (Bitter gourd) có tên khoa học là Momordica charantia L., thuộc họ
bầu bí dưa Cucurbitaceae Khổ qua có nguồn gốc vùng châu Á nhiệt đới, có thể là Đông Ấn và Nam Trung Quốc, được sử dụng như là loại rau ăn quả giàu chất sắt, vitamin C, vị thuốc Khổ qua canh tác được quanh năm ở vùng nhiệt đới và bán
nhiệt đới (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001)
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng
Theo Diệp Dân Hùng (1996), khổ qua là một loại rau ăn quả có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và kinh tế, được nhân dân ưa chuộng dùng làm cây thực phẩm và cây thuốc nam để chữa bệnh Thành phần dinh dưỡng trong 100 g khổ qua có: 16 cal; 3 g Glucid; 0,9 g Protid; 22 g vitamin C; 0,07 mg vitamin B1; 0,3 g PP; 0,04 g
vitamin B2; 18 mg Ca; 29 mg P; 0,6 mg Fe (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)
Ngoài ra, trong lá và quả khổ qua có chứa polyphenol và flavonoit, hàm lượng polyphenol và flavonoit trong quả cao hơn trong lá: polyphenol chiếm 3,85% trong quả và 3,09% trong lá già, flavonoit chiếm 1,34% trong quả và 1,12% trong lá già Các chất quan trọng trong trái khổ qua như: charantin có tác dụng làm hạ đường huyết, momordicin có tác dụng diệt vi khuẩn hỗ trợ cho cơ thể chống lại các tế bào ung thư đang phát triển
1.1.3 Tình hình sản xuất khổ qua
Khổ qua được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới như Nhật Bản, Thái Lan, Triều Tiên, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam,… (Trần Thị Ba, 2000) Riêng ở Việt Nam, hiện nay khổ qua được đưa vào sản xuất trái vụ trên đất lúa giúp tăng thu nhập cho người dân điển hình là ở Hòa Châu II (Nguyễn Thị Nguyệt, 2001) Theo Lim (1998) sản lượng khổ qua được trồng hàng năm của Philippines 18.000
Trang 15tấn/năm (1882), Trung Quốc 35.000 tấn/năm (1993), Malaysia 19.000 tấn/năm (1994) và Thái Lan 17.749 tấn/năm (1994)
1.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY KHỔ
QUA 1.2.1 Đặc tính sinh học
Bộ rễ: Cây khổ qua có bộ rễ phát triển sâu và rộng Rễ chính có thể ăn sâu từ 1,5-2 m và có nhiều rễ phụ Rễ phụ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt 25-30 cm (Nguyễn Mạnh Chinh, 2008)
Thân: Theo Tạ Thu Cúc (2005), nếu để cây khổ qua bò lan tự nhiên, chiều dài
thân có thể đạt tối đa 20 m khả năng sinh trưởng của thân thay đổi theo thời gian và
kỹ thuật trồng Thời kỳ cây con có 1-2 lá đến 4-5 lá thật thân khổ qua phát triển chậm, đốt ngắn, thân mảnh Thời kỳ ra hoa thân phát triển mạnh nhất, tốc độ sinh trưởng nhanh, lóng dài Đến khi cây già thì độ dài thân đạt tối đa Giai đoạn cây trổ hoa rộ và cho trái, ở giai đoạn này chất dinh dưỡng ngoài việc nuôi thân, lá còn phải nuôi trái nên sinh trưởng chậm (Phạm Thị Minh Tâm, 2000) Theo Nguyễn Văn
Thắng và ctv., (1999) cây khổ qua có tính sinh nhánh lớn, có thể sinh nhánh cấp 4,
cấp 5
Lá: Tốc độ ra lá và tăng kích thước lá khổ qua ở thời kỳ cây con phát triển rất
chậm, đặc biệt là khi nhiệt độ thấp Lá thật là lá đơn, cuống dài và rỗng Trên thân lá khổ qua mọc so le, dài 5-10 cm Phiến lá chia 5-7 thùy, hình trứng, mép lá có răng cưa đều Mặt dưới lá màu nhạt hơn mặt trên, trên gân lá có lông ngắn (Đường Hồng Dật, 2003) Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thiên Thư (2003) cho rằng giai đoạn thu hoạch thân lá bị héo và khô
Hoa: Theo Đường Hồng Dật (2003), hoa khổ qua mọc đơn độc ở kế lá Hoa
khổ qua thuộc loại đơn tính đồng chu hoa đực, hoa cái cùng gốc Hoa có cuống dài, cánh hoa vàng nhạt, đường kính hoa khoảng 2 cm Vì hoa khổ qua đơn tính và thụ phấn khác hoa nên hoa thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng Theo Nguyễn Văn Thắng và
ctv., (1999) tỷ lệ giữa hoa đực và hoa cái không cân đối, hoa cái ít hơn hoa đực tới
Trang 1615-20 lần Trong thực tế sản xuất cần tỉa bỏ số hoa đực không cần thiết để tập trung dinh dưỡng nuôi trái, khi thời tiết không có lợi cho ong bướm hoạt động cần thực hiện thụ phấn bổ sung, trung bình 1 hoa đực thụ phấn cho 2-3 hoa cái (Tạ Thu Cúc, 2005)
Trái: Trái khổ qua thuộc loại phì quả, có 3 tâm bì Kích thước và màu sắc
trái thay đổi tùy giống Quả hình thoi dài, đầu nhọn, dài trung bình 15-20 cm, rộng 3-5 cm, vỏ trái u lồi sần sùi (Nguyễn Mạnh Chinh, 2008)
Hạt: Hạt phần lớn có hình dẹp hơi dài 0,7-0,8 cm, một đầu nhọn và một đầu
tròn quanh hạt có màu đỏ máu như màu gấc (Đường Hồng Dật, 2003) Hạt chứa nhiều chất béo nên dễ mất sức nẩy mầm, hạt chứa cucurbitacin có tác dụng xổ lãi
tốt (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
1.2.2 Điều kiện ngoại cảnh
Về ngoại cảnh khổ qua chịu được những thay đổi của môi trường (Lim, 1998) Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cây khổ qua là 20-300C, nhiệt độ cao hơn sẽ làm cây ngừng sinh trưởng và nếu kéo dài nhiệt độ 35-400C cây sẽ chết Khổ qua ưa ánh sáng ngày ngắn, cây thích hợp cho sinh trưởng và phát dục ở độ dài chiếu sáng 10-12 giờ/ngày, cường độ ánh sáng trong phạm vi 15.000-17.000 lux (Mai Văn Quyền, 2003) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) khổ qua dễ dàng ra hoa, trái quanh năm
Yêu cầu về ẩm độ đất của khổ qua rất lớn 85-90%, nhất là thời kỳ mang trái (Cantwell, 1996; trích dẫn bởi Trần Quang Vũ, 2010) Khổ qua ở thời kỳ sinh trưởng khác nhau thì yêu cầu về lượng nước khác nhau, hạt nảy mầm yêu cầu lượng nước 50% trọng lượng hạt, thời kỳ cây con thân, lá và rễ phát triển chậm lượng nước tiêu hao ít nên yêu cầu nước thấp, thời kỳ ra hoa đến thu quả yêu cầu nước rất lớn Theo Liao và Lin (1994); trích dẫn bởi Trần Quang Vũ (2010) khổ qua không chịu được ngập nước, năng suất thay đổi có ý nghĩa nếu bị ngập 4 ngày
Theo Larcom (1991) cây khổ qua nếu được trồng đất màu mỡ và đầy đủ chất hữu cơ thì không cần cung cấp nhiều dinh dưỡng Khổ qua phát triển tốt nhất trên đất thịt pha cát, giàu chất hữu cơ nhưng vẫn có thể chịu được nhiều loại đất
Trang 17Khoảng pH tối ưu cho cây khổ qua là 6-6,7 (Desai và ctv., 1998) Tuy nhiên, theo
công ty trang nông (1999), cây khổ qua có thể phát triển trên đất ít phèn (độ pH < 5)
và không quá kiềm (độ pH >7) Cây khổ qua có thời gian sinh trưởng và thu hoạch kéo dài khoảng 90-100 ngày, thay đổi tùy giống, trung bình 50 ngày cho thu hoạch lứa đầu, năng suất khoảng 12-15 tấn/ha (Trần Thị Ba, 1997)
1.3 GIỐNG KHỔ QUA 1.3.1 Vai trò của giống trong sản xuất
Giống có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việc chọn giống tốt thích hợp với điều kiện tự nhiên giúp thu được năng suất cao, ổn định phẩm chất trái tốt, từ đó tăng hiệu quả kinh tế (Trần Thượng Tuấn, 1992) Ngoài ra, việc sản xuất hạt giống đã giúp tăng nhanh số lượng hạt giống cho nhu cầu ngày càng tăng của nông dân (Vũ Văn Liết, 2007) Giống tốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh hơn hàm lượng chất xám trong nông dân (Nguyễn Văn Luật, 2007)
Theo Lê Tiến Dũng (2008), mỗi giống có đặc tính chống chịu khác nhau với các điều kiện bất thuận và sâu bệnh Sử dụng các giống mới trong sản xuất với các khả năng thích ứng khác nhau không chỉ làm tăng năng suất, chất lượng nông sản ở những vùng có điều kiện thâm canh, mà còn khai thác tốt các vùng đất, các điều kiện sinh thái, khí hậu khác nhau làm tăng sản lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp
1.3.2 Một số giống khổ qua
Giống sao số 1: Sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt, thích nghi rộng, dễ đậu trái, trồng được quanh năm Thu trái 37-38 ngày sau khi gieo Thời gian thu kéo dài 1-2 tháng Trái dài 17-18cm Gai lớn, da bóng, đường gai liền, màu xanh trung bình, thịt quả dày, cứng, chịu vận chuyển xa và bảo quản lâu Năng suất trung bình 30- 35 tấn/ha (Báo khoa học Việt Nam, 2008)
Giống sao số 2: Sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt, thích nghi rộng, dễ đậu trái, phân nhánh ngang nhiều, sai trái, trồng được quanh năm Thu trái 37-38
Trang 18ngày sau khi gieo Thời gian thu hoạch kéo dài 1-2 tháng Trái dài 20-22 cm Gai
nở, màu xanh trung bình, thịt quả dày, cứng, chịu vận chuyển xa và bảo quản lâu Năng suất trung bình 30-35 tấn/ha (Báo khoa học Việt Nam, 2008)
Giống sao số 3: Sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt, thích nghi rộng, dễ đậu trái, phân nhánh ngang nhiều, sai trái, trồng được quanh năm Thu trái sớm, 35-
36 ngày sau khi gieo Thời gian thu hoạch kéo dài 1-2 tháng Trái dài 20-22cm Gai
nở, da bóng, đường gai liền, màu xanh trung bình, thịt quả dày, cứng, chịu vận chuyển xa và bảo quản lâu Năng suất trung bình 30-35 tấn/ha (Báo khoa học Việt Nam, 2008)
Giống 099: Sinh trưởng mạnh, trái dài, suông đẹp, đầu đuôi trái hơi nhọn, gai
nở to xanh bóng, dài 19-22 cm và nặng 120-140 g, năng suất cao, cho thu hoạch
35-38 ngày sau khi trồng (NSKT), thích hợp trồng quanh năm (Công ty giống cây trồng Trang Nông, 2010)
Giống 0242: Sinh trưởng tốt, màu xanh sáng, rất bóng, gai lớn, chiều dài trái 18-20 cm, cho thu hoạch 38-40 ngày sau khi trồng (NSKT), thích hợp trồng quanh năm (Công ty Hai Mũi tên Đỏ, 2010)
Giống Big 14: Sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt, trái dài 18-20 cm Gai lớn,
da bóng, đường gai liền, xanh trung bình, thịt dày, cứng, chịu được vận chuyển Thu trái sau 38 ngày saukhi trồng, năng suất 35-40 tấn/ha (Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam, 2010)
Giống Big 49: Sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt, trái dài 16-18 cm, nặng
160-165 g Gai lớn, da bóng, đường gai liền, xanh trung bình, thịt dày, cứng, chịu được vận chuyển Thu trái sau 36 ngày sau khi trồng, năng suất 35-40 tấn/ha (Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam, 2010)
Giống CN0244: Sinh trưởng tốt, ít nhiễm sâu bệnh, sản lượng cao và khả năng cho nhiều lứa, nhiều quả hơn nhiều so với các loại giống khác Là giống ngắn ngày 70-75 ngày, có thể trồng quanh năm nhưng hiệu quả nhất ở 2 hai vụ chính là
Vụ Xuân và vụ Hè (Công ty giống cây trồng Mosanto - Việt Nam, 2011)
Trang 191.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY GHÉP, KỸ THUẬT GHÉP, NGUYÊN LÝ GHÉP 1.4.1 Lịch sử quá trình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép
* Trên thế giới: Ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời với cây ăn trái Ở
Châu Âu nó được ghi nhận vào những năm 327-287 trước công nguyên, còn ở Trung Quốc sử dụng biện pháp này cách đây 3.000 năm (Lê Thị Thủy, 2000) Tuy nhiên, ghép lại chưa được chú trọng trên rau cho đến năm 1972, khi nền sản xuất rau bị gây hại nặng nề bởi các bệnh héo vi khuẩn, nấm và tuyến trùng Người dân Nhật Bản và Hàn Quốc, đã sử dụng phương pháp ghép, để tránh bệnh héo trên dưa
hấu do nấm Fusarium Phương pháp này đã mở ra một hướng mới để phòng trừ các
bệnh từ đất đối với cây rau, bởi 68% các trường hợp bị bệnh của rau là các bệnh bắt nguồn từ đất (Takahashi, 1984; Trích dẫn bởi Đỗ Thị Huỳnh Lam, 2006) Ghép một chồi ngọn vào một gốc kháng bệnh có thể cung cấp một cây trồng tính kháng bệnh, ghép còn giúp cây trồng chống lại những tác nhân gây bệnh mới và trong thời gian
ngắn Bệnh héo Fusarium của cây khổ qua do nấm Fusarium oxysporum f sp
Momordicae gây ra, có thể kiểm soát bệnh này bằng cách ghép ngọn khổ qua trên
cây mướp (Yi-Sheng Lin, 2004) Theo Konishi và ctv (1994), ở Nhật Bản mục đích của việc ghép trên dưa chuột để tăng cường tính chống chịu với bệnh héo Fusarium, gốc bí ngô Cucurbita moschata được sử dụng đầu tiên, sau này dưa chuột còn được ghép trên gốc bầu Cucurbita ficiflolia để chống chịu với lạnh, theo đó dưa chuột ghép trên gốc bí Cucurbita không chỉ chống chịu được với bệnh héo Fusarium mà còn chống chịu được với bệnh thối rễ do Phytopthora, chịu được cả nóng và lạnh
Công nghệ ghép còn được ứng dụng rộng trên cà tím vào những năm đầu thế kỷ 50,
cây cà chua ghép trên gốc cà tím được phổ biến vào những năm 1970
* Ở Việt Nam: Kỹ thuật ghép cà chua đã bắt đầu nghiên cứu năm 1999 tại
Viện nghiên cứu Rau Trái Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 2000-2003 (Trần Thị Ba, 2010) Nông dân các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang đã ghép dưa hấu để phòng chống bệnh chết héo
rũ do nấm Fusarium Oxysporium gây ra (Ngô Quang Vinh và ctv., 2006) Người
Trang 20dân tỉnh Sóc Trăng (xã Mỹ Tâm, huyện Mỹ Tú) đã ứng dụng dưa hấu ghép trong
sản xuất đại trà hơn 20 năm (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
1.4.2 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây
Ghép là phương pháp nhân giống theo đó người ta lấy từ 1 hoặc nhiều cây
mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, những đoạn cành, mầm ngủ chồi ngọn hay đỉnh sinh trưởng,… rồi nhanh chóng lắp vào vị trí thích hợp trên cây khác, gọi là gốc ghép; sau đó chăm sóc để cho phần ghép và gốc ghép liền lại với nhau tạo ra cây mới Trong đó gốc ghép thông qua bộ rễ, có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm
(Vũ Khắc Nhượng và ctv., 2007)
Ghép tức là áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép (hay cành ghép, phiến mầm ghép) với nhau (Phạm Văn Côn, 2007) Theo Trần Thế Tục (2000), trong quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà gốc ghép và ngọn ghép gắn liền nhau Sau khi được gắn liền các mô mềm chỗ tiếp xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép lưu thông nhau được
1.4.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép
Theo Phạm Văn Côn (2007) thì mối quan hệ giữa cành ghép và gốc ghép được thể hiện ở sức tiếp hợp giữa gốc ghép và ngọn ghép Thông thường sức tiếp hợp giữa ngọn ghép và gốc ghép được đánh giá bằng tỷ số tiếp hợp:
Đường kính gốc ghép
T = Đường kính ngọn ghép
T = 1: Cây ghép sinh trưởng phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của ngọn ghép tương đương thế sinh trưởng của gốc ghép, vị trí ghép cân đối, nhiều khi không nhận rõ vị trí giáp ranh giữa gốc ghép và ngọn ghép
T > 1: Cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn
Trang 21sinh trưởng bình thường, tuy nhiên T càng gần 1 thì càng tốt hơn là T càng xa 1
T càng xa 1, thế sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi cằn cỗi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều hơn ngọn ghép
T < 1: Cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân) Thế sinh trưởng của ngọn ghép mạnh hơn gốc ghép Phần ngọn ghép bị nứt vỏ nhiều và phình to hơn phần gốc ghép Cây ghép thường sinh trưởng phát triển kém dần, tuổi thọ ngắn
1.4.4 Phương pháp ghép rau
Trước khi ghép 1-2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt; chọn cành, mắt ghép tốt; cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân (Phạm Văn Côn, 2007)
* Phục hồi sau ghép: Cây ghép cần chuyển ngay vào phòng bảo quản và điều
chỉnh điều kiện phòng ở nhiệt độ 27-290C, độ ẩm không khí 90% (sao cho không có nước đọng trên lá, cường độ ánh sáng yếu) Thời gian bảo quản là 7-10 ngày Trong điều kiện phòng bảo quản đơn giản: gồm vòm che bằng ni lông trắng, lưới đen phía trên (3-5 lớp) giảm cường độ ánh sáng, nền phòng được trải ni lông để đựng nước tạo độ ẩm, giá đặt cây cần cao hơn mặt nước Sau khi cây đã liền vết ghép thì đưa ra điều kiện ngoài trời khoảng 2-3 ngày để cây thích nghi và đem đi trồng ra ruộng sản xuất Khi trồng cần chú ý không vun đất quá cao giáp với vết ghép (Phạm Văn Côn, 2007)
* Chăm sóc cây ghép: Sau khi ghép, tất cả các khâu kỹ thuật từ mở dây sau khi ghép, xử lý ngọn ghép, tỉa mầm dại, tưới nước làm cỏ, bón phân, tạo hình cây ghép cho tới công tác phòng trừ sâu bệnh hại cần được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật (Phạm Văn Côn, 2007)
Trang 221.4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng, bệnh hại và năng suất của ngọn ghép
Sử dụng phương pháp ghép sẽ tránh được những bệnh từ đất, chống lại những bất thuận của môi trường và cải thiện chất lượng sản phẩm (Lê Thị Thủy, 2000) Kết quả nghiên cứu tại trường ĐHCT cho thấy tỉ lệ sống của cây con dưa hấu ghép trên gốc bầu khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương đương nhau
ở 3 loại gốc ghép bầu Nhật và bầu Địa Phương (85-87%) (Trần Thị Ba, 2010) Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Phương Quyên (2008), sử dụng gốc ghép bầu Địa Phương, bầu Nhật 1 và Nhật 2 trên dưa hấu Thành Long cho năng suất và thành phần năng suất cao hơn so với đối chứng không ghép (năng suất trái đối chứng không ghép 9,28 tấn/ha thấp hơn so với 3 gốc ghép (10,63-12,92 tấn/ha)
Theo Nguyễn Minh Phú (2007) cho thấy tỉ lệ sống ở giai đoạn 10 ngày sau khi ghép của dưa hấu Thành Long với các gốc ghép bầu Nhật 1, Nhật 3, bầu địa phương và bí Nhật dao động từ 79,83-94%
Dưa hấu ghép trên các loại gốc bầu đều có tỷ lệ héo rũ thấp hơn so với đối chứng không ghép (Trần Thị Hồng Thơi, 2007)
Theo Phạm Trung Hiếu (2008) dưa lê Kim Cô Nương ghép trên gốc bầu Nhật
có năng suất 7,36 tấn/ha (cao hơn 40% so với Seminis), sức sinh trưởng mạnh (giai đoạn 30 NSKT, chiều dài thân cao gấp 1,11-1,33 lần và số lá gấp 1,17-1,5 lần so với Seminis và Kim Cúc), ít bệnh (tỷ lệ 16,66%)
Ở dưa lê, theo kết trái nghiên cứu của Đỗ Thị Huỳnh Lam (2006) thì gốc bầu Nhật 2 có sức sinh trưởng mạnh, tỷ lệ sống của cây sau ghép 84,3%, tăng trưởng chiều dài và số lá trên thân, trọng lượng trái 0,86 kg/trái và năng suất 11,20 tấn/ha cao nhất, ít bị bệnh chết cây 5,21% Gốc ghép địa phương, sinh trưởng mạnh về thân lá, tỷ lệ cây sống sau ghép cao 88%, trọng lượng trái trung bình 31% so với gốc bầu Nhất, tỷ lệ bệnh chết cây khá cao (17,54%)
Năng suất của dưa lê Kim Cô Nương ghép trên bầu Nhật 1 và bầu Nhật 3 đều thấp hơn so với không ghép là do sinh trưởng về chiều dài, số lá của cây dưa lê
Trang 23ghép bầu luôn thấp hơn dưa lê không ghép, đồng thời sự tương thích không tốt (tỷ
số tiếp hợp lớn hơn 1) giữa gốc bầu Nhật và ngọn dưa lê Kim Cô Nương là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sinh trưởng kém về thân lá, trái sau đậu có kích thước nhỏ ở nghiệm thức dưa lê ghép gốc bầu Nhật 1 và 3 (Vương Quý Khang, 2008)
Trang 24CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian
Địa điểm: Tại trại thực nghiệm, khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường ĐHCT Thời gian: Từ tháng 07-10/2011
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn
Nhiệt độ trung bình từ tháng 07-10/2011 là 27,40C, ẩm độ không khí trung bình là 84,25% Lượng mưa cao nhất vào tháng 07/2011 (384,5 mm) và thấp nhất là tháng 10/2011 (101,3 mm) (Hình 2.1)
Hình 2.1 Tình hình khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm (07-10/2011) tại TP
Cần Thơ (Đài khí tượng Thủy văn Thành phố Cần Thơ, 2011)
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm
* Ngọn ghép: Hai giống khổ qua 099, 0242
Trang 25- Giống khổ qua 099: Do công ty giống cây trồng Trang Nông phân phối có sức sinh trưởng mạnh, trái dài, suông đẹp, đầu đuôi trái hơi nhọn, gai nở to xanh bóng, dài 19-22 cm và nặng 120-140 g, năng suất cao, cho thu hoạch 35-38 ngày sau khi trồng (NSKT), thích hợp trồng quanh năm
- Giống khổ qua 0242: Do công ty Hai Mũi tên Đỏ phân phối, cây sinh trưởng tốt ở mọi thời vụ, màu xanh sáng, rất bóng, gai lớn, chiều dài trái 18-20 cm, cho thu hoạch 38-40 ngày sau khi trồng (NSKT)
* Gốc ghép: Gốc bầu địa phương có thân lá phát triển mạnh và sinh nhánh lớn, bộ rễ rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt
* Vật liệu khác
- Phân bón: Phân NPK (20-20-15), KCl, phân hữu cơ và vôi bột, chế phẩm sinh học Tricho, phân bón lá
- Thuốc trừ sâu: Basudin 10 H, Anvado 100 WP, Regent 5 SC, Cofidor 100
SL, dầu khoáng DS 98.8 EC,…
- Thuốc trừ bệnh: Alliett 800 WG, Daconil 75 WP, Coc 85 WP, Curzate 872
WP, kết hợp chất bám dính,…
- Màng phủ nông nghiệp, dây làm giàn, kẹp nhựa ghép cây con, cồn 900,…
- Dụng cụ đo: Thước dây, thước kẹp, cân đồng hồ,…
2.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 4 lần lặp lại và 4 nghiệm thức là 2 giống khổ qua và 2 kiểu ghép trên gốc bầu (Hình 2.2)
1/ Giống khổ qua 099-ghép ghim (099-ghép ghim)
2/ Giống khổ qua 099-ghép chẻ (099-ghép chẻ)
3/ Giống khổ qua 0242-ghép ghim (0242-ghép ghim)
4/ Giống khổ qua 0242-ghép chẻ (024-ghép chẻ)
Trang 26Hình 2.2 Các nghiệm thức ở giai đoạn chuẩn bị trồng ra đồng, tại trại Thực nghiệm,
khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
2.2.2 Kỹ thuật canh tác
* Chuẩn bị đất: Đất được cuốc, xới và lên liếp đơn, chiều rộng 1 m, cao 0,5
m Liếp được dọn sạch sẽ, xử lý đất bằng vôi bột 500 kg/ha, rải tro phủ mặt liếp, bón lót bằng phân hóa học, tưới trico, tưới nước trên mặt liếp thật đẫm và đậy màng phủ
* Chuẩn bị cây con
- Hạt bầu được ngâm trong nước ấm 3 sôi + 2 lạnh sau 2 giờ, đem ủ cho đến khi nhú rễ thì đem gieo vào ly đất được chuẩn bị trước (gồm đất, xơ dừa và phân dơi), đặt nơi có nhiều ánh sáng để cây sinh trưởng tốt Khi cây có hai lá mầm vừa
Trang 27xòe (5 ngày sau khi gieo) thì chuẩn bị ngọn ghép Sau 12 ngày sau khi ủ cây bầu có
lá thật đầu tiên
- Hạt khổ qua được ngâm trong nước ấm 2 giờ, ủ 20 giờ là hạt sẽ nảy mầm Dùng xơ dừa sạch rải lên rổ nhựa (có lót một miếng lưới) một lớp dày 3 cm (sao cho mặt xơ dừa bằng phẳng), phun nước cho đủ ẩm Sau đó rải đều hạt khổ qua đã ngâm ủ lên bề mặt xơ dừa và dùng xơ dừa lấp hạt khổ qua lại Bắt đầu ghép khi cây bầu có lá thật đầu tiên và khi cây khổ qua vừa rơi vỏ hạt (khoảng 4 ngày sau khi ngâm ủ hạt)
* Phương pháp ghép: 2 phương pháp
- Ghép chẻ (Hình 2.3)
+ Dùng lưỡi lam cắt bỏ 2 lá thật đầu tiên của cây bầu chừa hai lá mầm
+ Dùng lưỡi lam chẻ đỉnh bầu làm hai độ sâu khoảng 1-1,5 cm, sau đó vạc cho có hình chữ V
+ Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân khổ qua thành hình chữ V dưới lá mầm khoảng 1,5-2 cm
+ Đặt ngay ngọn khổ qua lên gốc ghép sao cho mặt cắt khít với mặt ghim
+ Dùng kẹp chuyên dùng cố định vết ghép
Trang 28a) Ngọn bầu được cắt ngang
Hình 2.3 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép chẻ, tại trại Thực nghiệm, khoa
NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
- Ghép ghim (Hình 2.4)
+ Dùng lưỡi lam cắt bỏ 2 lá thật đầu tiên của cây bầu chừa hai lá mầm
+ Dùng que lược sừng ghim xéo vào đỉnh bầu gần lá mầm xéo gốc khoảng
450 giữ que ghim
+ Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân khổ qua góc khoảng 450 dưới lá mầm khoảng 1,5-2 cm
+ Rút que ghim trên ngọn bầu, đặt ngay ngọn khổ qua lên gốc ghép sao cho mặt cắt khít với mặt ghim
Trang 29a) Gốc ghép, ngọn ghép và dụng cụ ghép
b) Ngọn bầu được cắt ngang
c) Ghim xéo que lược sừng vào đỉnh bầu
d) Cắt ngọn khổ qua
e) Ghim ngọn khổ qua vào gốc bầu
f) Cây sau khi ghép
Hình 2.4 Các bước thực hiện trong kỹ thuật ghép ghim, tại trại Thực nghiệm, khoa
NN & SHƯD, trường ĐHCT (7-10/2011)
Chú ý: Thao tác phải nhanh và chính xác
*Chăm sóc sau ghép: Để cây ghép vào chỗ mát và kín gió 3 ngày, dùng bình phun sương để ngọn ghép không bị héo Vào ngày thứ 4 cho cây ra nắng nhẹ 25 phút và 2 giờ trong ngày thứ 5, 6, đến ngày thứ 7 thì cho ra nắng hoàn toàn Khi cây ghép có lá thật thì đem trồng
* Trồng cây: Cây con được trồng lúc chiều mát Đào hốc sâu khoảng 5-7 cm,
rộng khoảng 10 cm, cây cách cây 50 cm, đặt cây khổ qua nghiêng một góc 450hướng vào giàn Sau khi trồng tưới nước ngay và rải Basudin 10H quanh gốc cây ngừa sâu, kiến,… hại rễ Trồng dặm 5-7 ngày sau khi trồng Mỗi cây khổ qua ghép
được buộc vào một thanh tre để tránh ngọn ghép bị gãy do gió
Trang 30* Làm giàn: Dùng tràm làm trụ để căng dây, khoảng cách 2,5 m một cây, dây được cột vào thanh tràm, mỗi dây cách nhau 20 cm
* Tưới nước: Tưới 2-3 lần/ngày giai đoạn sau khi trồng đến giai đoạn 7 ngày sau khi trồng tưới 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều Giai đoạn cây ra hoa và đậu trái cần cung cấp đủ nước
* Phân bón: Loại, lượng và thời kỳ bón phân được trình bày ở Bảng 2.1 Bảng 2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân của cây khổ qua ghép trên gốc bầu, tại
trại Thực nghiệm, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (tháng 7-10/2011)
ĐVT: kg/ha
phân
Bón lót
Trang 31- Chiều cao gốc ghép (cm): Đo từ gốc ghép (nơi tiếp xúc mặt đất) đến vết ghép bằng thước dây
- Số lá trên thân chính (lá/thân): Đếm từ lá thứ nhất (lá nhám) đến lá ngọn (chỉ tính khi phiến lá dài hơn 2 cm) trên thân chính Sau đó tính tốc độ tăng trưởng
số lá (lá/ngày)
- Đường kính ngọn ghép (cm): Đo bằng thước kẹp 2 cạnh thẳng góc tại phần gốc thân cách 2 cm bên trên tử diệp
* Thành phần năng suất và năng suất
- Kích thước trái (cm): Đo chiều cao và bề hoành lớn nhất của trái ở các lần thu hoạch
- Số trái/cây: Đếm toàn bộ trái trên mỗi cây ở lần thu hoạch rồi tổng chung tất
cả các lần thu hoạch Sau đó lấy trung bình
- Trọng lượng trái/cây (kg/cây): Cân toàn bộ trái trên cây ở mỗi lần thu hoạch rồi cộng chung tất cả các lần thu hoạch lại
- Trọng lượng trung bình trái: Cân trọng lượng trung bình của trái trên từng cây Sau đó lấy trung bình trái (g/trái)
- Sinh khối: Cân toàn bộ cây (rễ, dây, lá và trái) trên từng cây
- Năng suất tổng (tấn/ha): Cân trọng lượng của tất cả các trái trên toàn bộ lô, quy ra tấn/ha
2.2.4 Phân tích số liệu
Nhập số liệu bằng chương trình Excel
Dùng chương trình SPSS 18.0 để phân tích thống kê số liệu
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Trong giai đoạn ra hoa và phát triển trái khổ qua có mưa to kéo dài, lượng mưa cao nhất vào tháng 7 (384,5 mm) và thấp nhất là tháng 10 (101,3 mm) nên ảnh hưởng đến năng suất lúc thu hoạch Mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh khảm, đốm phấn…, gây hại ở giai đoạn khổ qua mang trái non, hệ thống rảnh thoát nước không kịp nên ứ đọng Sau khi trồng, gốc bầu phát triển mạnh, ra lá và nhiều chồi non nên phải tỉa thường xuyên
Tỷ lệ sống sau ghép đạt tối đa 100% ở cả 2 phương pháp ghép trên 2 giống khổ qua Khi trồng ra đồng, cây con phát triển bình thường nhưng đến giai đoạn 12 ngày sau khi trồng gốc bầu có hiện tượng nứt, giai đoạn 30 ngày sau khi trồng toàn
bộ gốc bầu đều bị rễ khổ qua đâm xuống đất, điều này có thể chưa tương thích giữa ngọn và gốc ghép
3.2 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG 3.2.1 Chiều dài thân chính
Kết quả trình bày ở Hình 3.1 và Phụ chương 2 cho thấy chiều dài thân chính của các nghiệm thức có khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê qua các giai đoạn khảo sát, trừ giai đoạn 15 NSKT Giai đoạn 30 NSKT, khổ qua tăng trưởng mạnh, cao nhất là hai giống 099 và 0242 ghép chẻ trên gốc bầu (1,69-1,56 m), hai giống
099 và 0242 ghép ghim trên gốc bầu có chiều dài thân chính tương đương nhau (1,14-1,01 m) Ở giai đoạn 45 NSKT, cao nhất là hai giống 099 và 0242 ghép chẻ trên gốc bầu (3,11-2,75 m), không khác biệt với giống 0242 ghép ghim trên gốc bầu (2,50 m), thấp nhất là giống 099 ghép ghim trên gốc bầu (2,29 m) Giai đoạn 60 NSKT, cao nhất là giống 099 ghép chẻ trên gốc bầu và giống 099 ghép ghim trên gốc bầu (4,31-4,11m), không khác biệt với giống 0242 ghép chẻ trên gốc bầu (3,67 m), thấp nhất là giống 0242 ghép ghim trên gốc bầu (3,30 m) Giai đoạn 83 NSKT, cao nhất là hai giống 099 và 0242 ghép chẻ trên gốc bầu (5,35-4,74 m), không khác