Sự thay đổi nhiệt độ của nước trong các thủy vực gắn liền với cường độ chiếu sáng của mặt trời trong ngày
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH BẢNG 2
DANH SÁCH HÌNH 2
LỜI CẢM ƠN 3
Chương I: GIỚI THIỆU 4
Chương II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1 Vật liệu 5
2 Phương pháp thu và phân tích mẫu 5
2.1 Địa điểm và thời gian thu mẫu 5
2.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu 6
2.2.1 Các yếu tố thủy lý 6
2.2.2 Các yếu tố thủy hóa 6
Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 7
3.1 Sự biến động của các yếu tố thủy lý 7
3.1.1 Nhiệt độ 7
3.1.2 pH 9
3.1.3.Độ mặn 10
3.1.4.Độ trong 10
3.2 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa 12
3.2.1 Độ cứng 12
3.2.2 Độ kiềm 13
3.2.3 DO 15
3.2.4 COD 16
3.2.5 NO2- 17
3.2.6 NO3- 19
3.2.7 TAN (NH3, NH4+) 20
3.2.8 H2S 22
3.2.9 PO43- 23
3.2.10 Fe tổng 24
Chương IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27
PHỤ LỤC 28
Trang
Trang 2DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Địa điểm và thời gian thu mẫu 5
Bảng 2 Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy lý 6
Bảng 3 Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy hóa 6
Bảng 4 Các yếu tố thủy lý 7
Bảng 5 Các yếu tố thủy hóa 12
DANH SÁCH HÌNH Hình 1 Sự biến động nhiệt độ ở các thủy vực 7
Hình 2 Sự biến động pH ở các thủy vực 9
Hình 3 Sự biến động độ mặn của các thủy vực 10
Hình 4 Sự biến động độ trong của các thủy vực 11
Hình 5 Sự biến động độ cứng ở các thủy vực 13
Hình 6 Sự biến động độ kiềm ở các thủy vực 14
Hình 7 Sự biến động DO của các thủy vực 15
Hình 8 Sự biến động COD ở các thủy vực 16
Hình 9 Sự biến động NO2- ở các thủy vực 18
Hình 10 Sự biến động NO3- ở các thủy vực 19
Hình 11 Sự biến động TAN ở các thủy vực 20
Hình 12 Sự biến động NH3 ở các thủy vực 21
Hình 13 Sự biến động H2S ở các thủy vực 22
Hình 14 Sự biến động PO43- ở các thủy vực 23
Hình 15 Sự biến động Fe tổng ở các thủy vực 25
Trang
Trang 3lý các số liệu và chỉnh sửa bài báo cáo được hoàn chỉnh.
Tuy rất cố gắng nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi đi thực tế, thu, phân tíchmẫu, xử lý số liệu và viết báo cáo nên không thể tránh khỏi sai sót Mong quý thầy cô,anh chị, các bạn đóng góp thêm để chuyên đề của chúng tôi được hoàn thiện hơn
Nhóm thực hiện chuyên đề.
Chân thành cảm ơn!
Trang 4Chương IGIỚI THIỆU
- Ngày nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành một nghề phổ biến, đã và đang đượcphát triển rộng rải trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, với nhiều mô hình vàmật độ nuôi khác nhau Được nhiều ưu đãi của thiên nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long
-có khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp với điều kiện sống của nhiều loài thủy sinhvật,cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt, phong phú và đa dạng về giống loài rất thíchhợp cho nuôi trồng thủy sản
Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường nước đóng vai trò quan trọng, do nước làyếu tố không thể thiếu đối với đời sống thủy sinh vật Chất lượng nước bao gồm tất cảcác yếu tố vật lý, hóa học và sinh học ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh sản, sinh trưởngcủa vât nuôi Do đó người nuôi cần phải biết cách quản lý chất lượng môi trường nướctrong ao nuôi để đạt năng suất cao hơn Vì thế mà chúng tôi thực hiện chuyên đề
“Khảo sát biến động các yếu tố thủy lý - hóa của các thủy vực nước lợ - mặn (Hà
Tiên - Kiên Giang) và nước ngọt (Cần Thơ)” với mục đích: Khảo sát sự ảnh hưởng
của các yếu tố thủy lý-hóa tác động lên môi trường nước và thủy sinh vật, từ đó mà cóbiện pháp khắc phục và cải tạo môi trường theo hướng có lợi cho người nuôi
Trang 5Chương IIVẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu:
Nhiệt kế thủy ngân (00C – 1000C)
Đĩa secchi (đường kính 20cm, có sơn hai màu đen trắng xen kẽ nhau)
Bình tam giác, bình định mức, cal nhựa một lít
Chai nút mài nâu và trắng
Hóa chất cố định mẫu
Thùng nước đá để trử lạnh mẫu
Các hóa chất phân tích: độ kiềm, độ cứng, độ trong, nhiệt độ, DO, COD, , Fe2+,TAN, PO43-, NO2-
Máy so màu quang phổ
Sổ ghi chép, bút lông dầu
Bọc nylon và dây thun
2 Phương pháp thu và phân tích mẫu:
2.1 Địa điểm và thời gian thu mẫu.
Bảng 1 Địa điểm và thời gian thu mẫu:
2 Bãi triều Bình An 9h20 ngày 25-5-2010
4 Bãi triều Mũi Nai 9h30 ngày 26-5-2010
Trang 62.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu:
2.2.1 Các yếu tố thủy lý:
Bảng 2 Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy lý.
Chỉ tiêu Dụng cụ Phương pháp thu
(cm) Đĩa secchi Đo trực tiếp tại hiệntrường
Nhúng đĩa secchi xuống nướcđến khi không còn phân biệtđược 2 màu đen trắng thì ghinhận kết quả
Độ mặn
(ppt) Khúc xạ kế
Đo trực tiếp tại hiện
2.2.2 Các yếu tố thủy hóa:
Bảng 3 Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy hóa.
Chỉ tiêu Dụng cụ và Phương pháp bảo quản Phương pháp phân tích
Độ cứng Cal nhựa 1 lít Trữ lạnh 40C Chuẩn độ Complexon
Độ kiềm Cal nhựa 1 lít Trữ lạnh 40C Chuẩn độ acid
DO Chai nút mài nâu 125ml 1 ml MnSO4 và 1
COD Chai nút mài trắng 125ml 2 ml H2SO4 4M Công phá kín
H2S Chai nút mài nâu 125ml Trữ lạnh 40C PP Methylene Blue
Fe tổng Chai nút mài nâu 125ml 1 ml HNO3 đđ PP so màu Orthro-phenanthroline
PO4 3- Cal nhựa 1 lít Trữ lạnh 40C PP SnCl2
Trang 7CHƯƠNG IIIKẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN3.1 Sự biến động của các yếu tố thủy lý.
Kênh rau muống
Ao cá Mú Moso
Bãi triều Bình An
Ao tôm
sú Pháo Đài
Bãi Triều Mũi Nai
Ao cá Mú đen
Bến Tô Châu
Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 1 Sự biến động nhiệt độ ở các thủy vực
0C
Trang 8Sự thay đổi nhiệt độ của nước trong các thủy vực gắn liền với cường độ chiếusáng của mặt trời trong ngày Thông thường nhiệt độ của nước trong các thủy vực thấpnhất vào lúc buổi sáng lúc 2-5 giờ, cao nhất vào buổi chiều lúc 14-16 giờ, lúc 10 giờnhiệt độ của nước gần tới nhiệt độ trung bình ngày đêm Biên độ dao động nhiệt độtrong ngày đêm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tính chất của thủy vực: các thủy vực nhỏ vànông có biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn hơn các thủy vực lớn và sâu.
Qua kết quả khảo sát, dựa vào hình 1 cho thấy nhiệt độ ở các thủy vực nướcngọt (Ao Cá Chép và Kênh Rau Muống) dao động từ 30 – 320C Nhiệt độ các thủy vựcnước lợ - mặn (Hà Tiên – Kiên Giang) dao động từ 28 – 310C
Ở các thủy vực nước ngọt nhiệt độ khá cao, cụ thể là ao cá chép 300C và kênhrau muống 320C Nguyên nhân là do thời điểm hiện tại là mùa hè nên cường độ chiếusáng của mặt trời tương đối cao, dẫn đến nhiệt độ nước cũng bị ảnh hưởng theo Nhiệt
độ kênh rau muống cao hơn ao cá chép là bởi vì độ trong ở ao cá chép rất thấp(0.7cm), ao ít được thay nước, vật chất hữu cơ lơ lững trong nước (thức ăn, chất thảicủa sinh vật, xác động thực vật phân hủy) quá nhiều khiến cho khả năng xuyên quatầng nước của ánh sáng mặt trời giảm Ngược lại kênh rau muống dù thực vật (raumuống, lục bình) phát triển nhiều nhưng độ trong lại cao (53cm), là do dinh dưỡngtrong nước đã được thực vật hấp thu, làm giảm lượng vật chất hữu cơ lơ lững và làmtăng độ trong của nước nên nhiệt độ cao
Đối với các thủy vực nước lợ - mặn, nhiệt độ ở ao cá Mú Moso và ao tôm Sú(Pháo Đài) là thấp nhất (280C) Bởi vì khi thu mẫu ở 2 thủy vực trên thời tiết khá mát
mẻ, ít nắng, ở ao cá Mú Moso lại vừa mới có mưa nên nhiệt độ thấp Ở 4 thủy vực cònlại nhiệt độ đều khá cao (30 – 310C), nguyên nhân chủ yếu là do thời gian khi thu mẫu
ở các thủy này đều gần trưa, làm ảnh hưởng đến nhiệt độ nước, chưa kể một vài thủyvực nắng khá gắt
Mặc dù độ trong ở bến Tô Châu cao hơn kênh rau muống nhưng do bến TôChâu có nhiều sóng (do tàu bè qua lại) phần nào làm khuếch tán và làm giảm nhiệt độ
ở đây Còn kênh rau muống mặt nước khá yên tĩnh nên ánh sáng xâm nhập tốt hơnkhiến cho nhiệt độ ở đây cao nhất Nhìn chung, biên độ dao động nhiệt độ giữa cácthủy vực nước ngọt và lợ - mặn là không cao do thời điểm thu mẫu là gần tương đươngnhau
Theo Trương Quốc Phú (2006) thì nhiệt độ thích hợp cho các loài thủy sảnvùng nhiệt đới là trong khoảng 25 – 320C Nhìn chung nhiệt độ của các thủy vực trênvẫn thích hợp cho thủy sản phát triển
Trang 93.1.2 pH:
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếpđối với đời sống thủy sinh vật Độ pH của nước phản ánh nồng độ ion H+ của thủyvực, có giá trị từ 1 – 14 Theo Swingle (1969) thì pH thích hợp cho tất cả thủy sinh vậtnằm trong khoảng 6.5 – 9.0 Do đó, pH môi trường cao hay thấp đều không thuận lợicho quá trình phát triển của thủy sinh vật
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 2 Sự biến động pH ở các thủy vực
Qua hình 2 cho thấy pH ở 2 thủy vực nước ngọt tương đương nhau (từ 8.3 –8.4), sự dao động này không đáng kể do nước trong ao cá chép được lấy trực tiếp từnước kênh rau muống, nên pH tương đương nhau Ngoài ra kênh rau muống có nhiềuthực vật (rau muống và lục bình) phát triển và vào thời điểm thu mẫu ở thủy vực nàytrời có nắng khiến quá trình quang hợp của thực vật xảy ra mạnh dẫn đến CO2 giảm,còn ở ao cá chép do có tác động của con người (bón vôi xử lý nước do nước bị nhiễmbẩn) nên làm pH nước ở 2 thủy vực này tăng cao
Ở các thủy vực nước lợ - mặn, pH dao động từ 7 – 9.5 Trong đó ao tôm sú(Pháo Đài) có pH cao nhất (9.5) còn bãi triều Mũi Nai có pH thấp nhất (7) Do ao tôm
Sú (Pháo Đài) là ao mới cải tạo, bón nhiều vôi trước khi thả nuôi nên nồng độ pH tăngcao Ngoài ra ao còn bón phân kích thích tảo phát triển (69280 cá thể/L), cộng với thờiđiểm thu mẫu trời có nắng làm tảo quang hợp nhiều cũng làm tăng pH Cho nên ao có
pH lên đến 9.5 Còn ở bãi triều Mũi Nai có pH thấp (pH = 7) do ít thực vật thủy sinhphát triển (59497 cá thể/L) nên quang hợp ít dẫn đến CO2 cao, từ đó làm giảm pH.pH
Trang 10Nhìn chung pH ở các thủy vực trên đều thích hợp cho nuôi trồng thủy sản chỉtrừ ao tôm Sú (Pháo Đài) có pH khá cao do ao mới bón vôi.
Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 3 Sự biến động độ mặn của các thủy vực
Qua kêt quả ở hình 3 cho thấy độ mặn các thủy vực dao động từ 15 - 38‰,trong đó bến Tô Châu có độ mặn thấp nhất (15‰) còn ao tôm Sú (Pháo Đài) có độmặn cao nhất (38‰) Nguyên nhân là do bến Tô Châu là vùng cửa sông đổ ra biển nênlượng nước sông hòa vào nước biển làm độ mặn giảm, mặt khác đây là khu đông dân
cư do lượng nước thải sinh hoạt cũng làm giảm độ mặn, còn ở ao tôm sú có độ mặncao là do thời gian thu mẫu có nhiều nắng cộng với thời điểm hiện tại là mùa khô, aotôm là thủy vực nông nên nước dễ bốc hơi dẫn đến độ mặn cao
Nhìn chung độ mặn ở các thủy vực trên tương đối phù hợp cho nuôi trồng thủysản
3.1.4 Độ trong:
Độ trong của nước là khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nước Độ trongphụ thuộc vào lượng keo khoáng, vật chất hữu cơ lơ lững, sự phát triển của các vi tảo,sóng gió thủy triều Độ trong thích hợp cho các ao nuôi cá là 20 – 30 cm, ao nuôi tôm
là 30 – 45 cm (Trương Quốc Phú, 2006)
0/00
Trang 11Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 4 Sự biến động độ trong của các thủy vực
Qua hình 4 cho thấy ở các thủy vực nước ngọt độ trong dao động từ 7 – 53 cm.
Kênh rau muống có độ trong cao (53 cm) là do lượng chất hữu cơ lơ lững đã bị thựcvật sống trên mặt kênh hấp thu các chất dinh dưỡng và những loài thực vật này cũnglàm hạn chế tảo phát triển (do chúng phát triển làm thu hẹp diện tích mặt nước làm hạnchế sự xâm nhập của ánh sáng vào nước, tảo không đủ ánh sáng để quang hợp nênkém phát triển) Còn ở ao cá chép có độ trong thấp (7 cm) là do lượng vật chất hữu cơ
và chất vẫn trong ao quá nhiều Nguyên nhân có thể do thức ăn dư thừa, bài tiết củathủy sinh vật, xác sinh vật phân hủy Mặt khác ao nuôi cá bố mẹ (các loài cá chép, cátrôi, tai tượng, mè vinh, mè trắng) có tập tính ăn đáy nên xáo trộn bùn đáy Thêm vào
đó, vài ngày trước khi thu mẫu ở đây có mưa lớn đã rữa trôi đất từ trên bờ xuống dưới
ao Từ đó làm tăng lượng vật chất trong ao và làm giảm độ trong của nước
Độ trong ở các thủy vực nước lợ - mặn dao động trong khoảng 20 – 57 cm.Trong đó bến Tô Châu có độ trong cao nhất (57 cm) do lượng thực vật phù du ở đâythấp và nền đáy là cát sỏi nên ít xáo trộn và khả năng lắng tụ nhanh, còn thấp nhất là ởbãi triều Bình An (20 cm) do ở đây có nhiều chất hữu cơ lơ lững, nền đáy là bùn cátnên dễ bị xáo trộn khi có thủy triều
cm
Trang 123.2 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa.
Bảng 5 Các yếu tố thủy hóa
Thủy vực
Chỉ tiêu
Ao cá chép
Kênh rau muống
Ao cá Mú Moso
Bãi triều Bình An
Ao tôm
Sú Pháo Đài
Bãi triều Mũi Nai
Ao cá
Mú đen
Bến Tô Châu
Trang 13Kênh rau muống
Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 5 Sự biến động độ cứng của các thủy vực Qua hình 5 cho thấy ở thủy vực nước ngọt có độ cứng dao động từ 42.5 - 115.5
mgCaCO3/L Kênh rau muống có độ cứng thấp do có thực vật thủy sinh phát triểnnhiều đã hấp thụ các ion trong nước do Mg2+ quan trọng đối với thực vật vì nó là thànhphần tạo chất diệp lục, Ca2+ là chất cơ bản trong cấu tạo nâng đỡ thực vật thủy sinh vàgiải phóng CO2 cung cấp cho quang hợp, nên làm độ cứng giảm Còn ao cá chép có độcứng trung bình (115.5 mgCaCO3/L) do hàng tháng đều có bón vôi để duy trì xử lýnước nên độ cứng trong nước cũng dao động không nhiều
Ở các thủy vực nước lợ - mặn độ cứng dao động từ 2375 – 5450 mgCaCO3/L
Độ cứng cao nhất là ở ao tôm Sú (Pháo Đài) (5450 mgCaCO3/L) bởi vì ao được bónrất nhiều vôi dùng để cải tạo ao trước mùa vụ nuôi Còn độ cứng thấp nhất là ở bến TôChâu (2375 mgCaCO3/L) do hàm lượng chất hữu cơ cao và ion PO43- trong nước caotạo kết tủa với ion Ca2+ , Mg2+ làm giảm độ cứng
Độ cứng của các thủy vực nước lợ - mặn cao hơn rất nhiều lần so với thủy vựcnước ngọt vì các thủy vực nước lợ - mặn thuộc vùng có nhiều núi đá vôi nên chất đấtcũng bị ảnh hưởng bởi lượng ion có trong đá vôi, từ đó các ion này hòa vào trong nướcnên làm độ cứng tăng cao
3.2.2 Độ kiềm.
Độ kiềm tổng cộng là tổng hàm lượng ion bicarbonate (HCO3- ), carbonate(CO32-), Hydroxyt (OH-) và các muối axít yếu Ở nhiệt độ nhất định độ kiềm phụ thuộcmgCaCO3/L
Trang 14kiềm giảm là do: độ mặn thấp, phèn, thay nước ít, phiêu sinh thực vật phát triển quádầy Độ kiềm đóng vai trò là chất đệm và là nguồn cung cấp CO2 cho quá trình quangtổng hợp trong ao nuôi độ kiềm nằm trong khoảng từ 50-120 ppm là thích hợp chophiêu sinh vật cũng như tôm cá.
Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 6 Sự biến động độ kiềm ở các thủy vực.
Qua hình 6 cho thấy ở thủy vực nước ngọt độ kiềm dao động trong khoảng(144,5 - 84,5mg CaCO3/L) Cao nhất là ở ao cá Chép tới 144,5mg CaCO3/L do đây làthủy vực nhân tạo được cải tạo trước khi thả cá nuôi Trong quá trình cải tạo được bónvôi làm cho pH cao (pH=8.3) đã sinh ra nhiều ion HCO3-, CO3- làm cho độ kiềm cao.Kênh rau muống độ kiềm thấp (84.5mg CaCO3/L) do đây là thủy vực tự nhiên nên ítđược bón vôi, ít có sự trao đôi nước với bên ngoài Mặt khác, khi có mưa nhiều làmtrôi đi những lớp phèn trên bờ ao làm cho PH giảm dẫn đến độ kiềm thấp
Ở thủy vực nước mặn độ kiềm dao động trong khoảng (37.5 - 96 mgCaCO3/L)cao nhất ở bãi triều Bình An ( 96 mg CaCO3/L ) và thấp nhất ở Bến Tô Châu (37.5 mgCaCO3/L) Ở bãi triều Bình An cao do đây là vùng có nhiều hòn đảo đá vôi nên trongquá trình xói mòn có một lượng lớn đá vôi hòa tan vào trong nước vì thế độ kiềm ởđây cao Thấp nhất ở bến Tô Châu do nơi đây chịu ảnh hưởng lớn của nguồn nướcsinh hoạt của con người và đây cũng là vùng nước chảy nên hàm lượng vật chất hữu
cơ được phân tán theo dòng nước nên hàm lượng CO2 thấp dẫn đến độ kiềm thấp.Ngoài ra, pH ở đây thấp (7.1) và độ mặn cũng thấp chỉ có 150/00 nên độ kiềm cũngthấp
mgCaCO3/L
Trang 153.2.3 DO (Oxy hòa tan):
Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường
nước Nó rất cần thiết đối với đời sống thủy sinh vật Theo Swingle (1969) thì nồng độoxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là trên 5 mg/L Hàm lượng DO ở các thủyvực thay đổi phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, thời tiết, ngày đêm, độ sâu, nhiệt độ,
độ mặn và các chất dinh dưỡng trong thủy vực
Ao cá Mú Moso
Ao tôm Sú Pháo Đài
Ao cá Mú đen
Bãi triều Bình An
Bãi triều Mũi Nai
Bến Tô Châu
Hình 7 Sự biến động DO ở các thủy vực
Qua hình 7 cho thấy ở các thủy vực nước ngọt, DO dao động trong khoảng1.52 – 2.88 mgO2/L, ao cá Chép có DO là 2.88 mgO2/L do ao thông thoáng và có ítthực vật thủy sinh, tạo điều kiện oxy từ không khí dễ khếch tán vào thủy vực, mặt kháckhi thu mẫu trời có nắng nên quá trình quang hợp xảy ra mạnh và ao có tạo mưa nhântạo nên cũng góp phần tạo oxy nhiều cho thủy vực Còn ở kênh rau muống có DO thấphơn là do ở đây có nhiều thực vật che phủ mặt kênh, cản trở sự khếch tán của oxy vàonước, mặt khác còn ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt
mgO2/L