1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực địa vườn quốc gia tràm chim

18 3,2K 34

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 416 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Em xin chân thành cảm ơn cô - trường đại học Đồng Tháp cùng với các cán bộ ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim đã tạo điều kiện cho sinh viên chúng em có được chuyến đi thực tế đầy bổ ích và lí th

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu: 2

Phần nội dung: 3

Chương 1: Tổng quan về vườn quốc gia Tràm Chim 3

1.1 Vị trí địa lý 3

1.2 Lịch sử 3

1.3 Chức năng 4

1.4 Điều kiện tự nhiên 4

Chương 2: Đa dang sinh học 6

2.1 Hệ sinh thái động vật 6

2.2 Hệ sinh thái thực vật 6

2.3 Tiềm năng du lịch .9

Chương 3: Những vấn đề đặt ra 10

3.1 Xung đột giữa bảo tồn và khai thác 10

3.2 Vấn đề quản lý nước 10

3.3 Vấn đề quản lý nguồn nước Sự xâm lấn của các loài ngoại lai 11 3.4 Cháy rừng 11

3.5 Bị "xẻ thịt" 12

3.6 Các tổ chức quốc tế hỗ trợ 12

Chương 4: Tổ chức quản lý 13

Phần Kết luận và kiến nghị 16

Tài liệu tham khảo 18

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

  

- Chuyến đi thực tế “Vườn Quốc Gia Tram Chim” môn Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học ngày 28/06/2011 thực sự đã để lại trong em cũng như các bạn sinh viên rất nhiều ấn tượng sâu sắc, giúp chúng em mở rộng tri thức, chứng kiến được sự đa dạng sinh học của vùng Em xin chân thành cảm ơn cô - trường đại học Đồng Tháp cùng với các cán bộ ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim đã tạo điều kiện cho sinh viên chúng em có được chuyến đi thực tế đầy bổ ích và lí thú này Sau đây là báo cáo và cảm nhận của em về chuyến đi

- Lịch trình của chuyến đi thực tế là:

+ Bắt đầu đi vào lúc 6h sáng

+ Đến nơi lúc 7h15

+ 8h bắt đầu đi khảo sát

+ Về lúc 11h25h

+ Về đến trường 12h15

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

  

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM.

1.1 Vị trí địa lý.

Vườn quốc gia Tràm Chim nằm

trong vùng Đồng Tháp Mười, thuộc

huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

Tọa độ địa lý 10°40′ – 10°47′ vĩ bắc,

105°26′ - 105°36′ Đông với tổng diện

tích 7.313 ha nằm trong địa giới của 5

xã (Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành

B, Phú Thọ, Tân Công Sinh) và Thị

trấn Tràm Chim, với số dân trong

vùng là 30.000 người

Bao gồm 6 phân khu:

- Phân khu A1, A2, A3 và A4: Khu bảo vệ nghiêm ngặt

- Phân khu A5: Khu vực phục hồi sinh thái

- Phân khu C: Hành chính dịch vụ

1.2 Lược sử.

- Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích là trồng tràm

và khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười

xa xưa

- Năm 1986, loài sếu đầu đỏ (chim hạc, sếu cổ trụi), được tái phát hiện ở Tràm Chim

- Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim cấp

tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii).

- Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia, theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ

Bản đồ Vườn Quốc gia Tràm Chim

Trang 4

kèm theo thông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha Vào tháng 9 năm 1998, diện tích của Vườn quốc gia Tràm Chim được điều chỉnh lại là 7.588 ha

- Năm 1998, nơi đây trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ

1.3 Chức năng.

Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, bảo vệ

khu vực di trú cho các loài chim di cư, đặc biệt là loài chim sếu (Grus antigone).,

bảo tồn các loài động-thực vật bản địa, các nguồn gen quý hiếm, và duy trì những điều kiện thích hợp cho việc nghiên cứu môi trường tự nhiên và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

1.4 Điều kiện tự nhiên.

1.4.1 Địa hình

- Nói chung là thấp trũng, nơi cao nhất là 2,3 m, nơi thấp nhất là 0,4 m (so với mực nước biển Tây Nam Bộ)

+ Những vùng đất trũng chiếm 152 ha

+ Những vùng gò cao chiếm 194 ha

+ Vùng phẳng chiếm 5858 ha

1.4.2 Khí hậu-Thủy văn

- Nhiệt độ: Nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động, nhiệt độ

trung bình hàng năm khoảng 27°C Nhiệt độ cao nhất là 37°C vào tháng tư và thấp nhất là khoảng 16°C

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 - 83% Độ ẩm cao

nhất có thể lên đến 100% và thấp nhất là 35-40%

- Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11 có gió hướng Tây–Nam, tốc độ gió trung

bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s

- Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.650

mm/năm Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 Tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất Số ngày mưa trung bình đo được tại Vườn quốc gia Tràm Chim khoảng 110-160 ngày/năm

- Chế độ nước: Vườn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng

châu thổ sông MeKong Vườn quốc gia Tràm Chim được chia thành 5 vùng quản lý

Trang 5

khác nhau (A1-A5), mỗi khu vực được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và đê với tổng chiều dài lên đến 59 km Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh

1.4.3 Địa chất

1.4.3.1 Trầm tích

- Trầm tích Pleistocen

+ Trầm tích biển gió (mvQiv2-3) trầm tích mang nhiều vật liệu thô (quartz) tạo

thành những gò cao trong vùng Đồng Tháp Mười

+ Trầm tích biển (mQ1 phần giữa) Chiếm diện tích khoảng 1.158 ha

- Trầm tích Holocen

+ Trầm tích đầm lầy-biển (bmQ22-3) chiếm 3.565 ha, chứa nhiều khoáng pyrit (FeS2), góp phần hình thành nên đất phèn tiềm tàng (sulfaquents).

+ Trầm tích lòng sông cổ (ab2Q22-3) chiếm khoảng 717 ha, hình thành từ những con sông chết và được bồi đấp bởi những vật liệu mới, chứa nhiều chất hữu cơ, thịt

và sét

+ Trầm tích proluvi (pQ22-3) chiếm 1.835 ha Chủ yếu là vật liệu lắng tụ từ xói mòn

1.4.3.2 Đất

- Nhóm đất cát cổ (aeric Tropaquults) được hình thành thông qua quá trình

phong hóa trầm tích Pleistocen chiếm diện tích khoảng 154 ha,

- Đất xám điển hình (Typic Tropaquults) khoảng 476 ha.

- Đất xám đọng mùn (humic Tropaquults) 274 ha.

- Các nhóm đất dốc tụ trên nền trầm tích Proluvi chiếm diện tích 1.559 ha

- Các nhóm đất phù sa có nên phèn: Trầm tích sông - biển (amQ22-3) chồng lên lớp trầm tích đầm lầy - biển (bmQ22-3) hình thành những vạt đất phù sa có tầng sinh

phèn (sulfidic) (sulfic Tropaquents, sulfic Tropaquepts, sulfic Hydraquents) và đất

phù sa có tầng phèn (sulfuric) chứa các khoáng jarosit

- Đất phèn hoạt động (Sulfaquepts), hình thành từ nền trầm tích đầm lầy biển

(bmQ22-3) với diện tích khoảng 355 ha, phân bố nhiều nhất tại khu A5 Độ chua của đất: pH chỉ khoảng từ 2,0 – 3,2

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐA DẠNG SINH HỌC

2.1 Hệ sinh thái động vật.

Vườn quốc gia Tràm Chim có trên 100

loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147

loài chim nước Trong đó, có 13 loài chim quý

hiếm của thế giới Đặc biệt quan trọng là quần

thể của phân loài sếu đầu đỏ hay sếu cổ trụi

(Grus antigone), thường xuyên di trú đến kiếm

ăn trong vườn vào mùa khô Từ năm 1989 đến

1999, số lượng sếu cổ trụi tại khu vực dao động

trong khoảng từ 187 đến 814 cá thể, trung bình hàng năm ghi nhận 496 cá thể (BirdLife International, 2001) Tuy nhiên năm 2001, số lượng sếu giảm xuống chỉ còn 50 cá thể Mùa khô năm 2002, số lượng sếu tại Tràm Chim lại tiếp tục giảm xuống chỉ còn 19 cá thể Từ năm 2007, sếu đầu đỏ bắt đầu quay về lại Tràm Chim Ngoài sế đầu đỏ, một số loài chim bị đe dọa tuyệt chủng trên thế giới cũng có mặt tại Vườn quốc gia Tràm Chim như: ô tác (Houbaropsis bengalensis), đing điểng (Anhinga melanogaster), già đẫy nhỏ (Leptoptilos javanicus), giang sen (Mycteria leucocephala) và rồng rộc vàng (Ploceus hypoxanthus) (Tordoff, 2002) Ngoài ra, còn có một số loài chim nước đáng chú ý khác như: le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), nhát hoa (Rostratula benghalensis) và gà lôi nước (Hydrophasianus chirurgus), cò lửa (Lxobrychus sinensis), cò lép (Egretta garzetta),

cò óc (Anastomus oscitans), cò bợ (Ardeola bacclus)

2.2 Hệ sinh thái thực vật

2.2.1 Hệ sinh thái rừng tràm

Rừng tràm (Melaleuca cajuputi) là thảm

thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất, diện tích

khoảng 1.826 ha Do tác động con người, hầu

hết những cánh rừng tràm nguyên sinh đã biến

mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng

tràm trồng, thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ

Myrtaceae), nhưng do được bảo tồn nhiều năm

nên có những cụm tràm phân bố theo kiểu tự

Sếu đang hạ cánh ở VQG

Tràm Chim

Tràm trên đất phèn ở VQG Tràm

Chim

Trang 7

nhiên Hai kiểu phân bố được ghi nhận: tập trung (khoảng 1.826 ha) và tràm phân tán Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài năng ống

(Eleocharis dulcis), cỏ mồm (Ischaemum rugosum và I indicum), hoàng đầu Ấn (Xyris indica), nhĩ cán vàng (Utricularia aurea

Những loài chim thường gặp: cò trắng (Egretta garzetta), cò bợ (Ardeola

bacclus), cò lửa (Ixobrychus sinensis), cò lép, vạc (Nycticorax nycticorax), …

2.2.2 Đồng ngập nước theo mùa

Đồng cỏ ngập nước theo mùa là

một trong những hệ sinh thái khá phổ

biến trong khu vực VQG Tràm Chim

Những loài thực vật phát triển với mật

độ cao đã thành những đồng cỏ đơn

thuần, trong khi đó có những loài cùng

phát triển chung với các loài thực vật

khác đã tạo nên những quần xã hoặc hội

đoàn thực vật tiêu biểu của vùng đất

ngập nước

2.2.3 Đồng cỏ năng

Đồng cỏ năng (Eleocharis sp.)

chiếm diện tích khoảng 2.968 ha, tạo

thành một trong những thảm cỏ rộng

lớn; bao gồm đồng cỏ năng kim

(Eleocharis atropurpurea khoảng

235 ha, năng ống (Eleocharis dulcis),

1.277 ha, và hợp với các loài khác tạo

thành các quần xã thực vật: năng kim

– năng ống (E atropurpurea – E.

dulcis), vài nơi xuất hiện của hoàng

đầu Ấn (Xyris indica); năng kim - cỏ ống (E atropurpurea – P repens… Những

nơi có địa hình thấp và ngập nước quanh năm thì xen lẫn trong quần xã năng là

những loài thực vật thủy sinh như nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), súng ma (Nymphaea indicum), rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum).

Hoàng đầu Ấn (Xyris indica) và cỏ năng kim (Eleocharis atropurpurea) ở VQG

Tràm Chim Đồng cỏ ngập nước theo mùa

Trang 8

Những loài chim thường gặp: sếu (Grus antigone), cò trắng (Egretta

garzetta), cò bợ (Ardeola bacclus), trích cồ, trích đất, vịt trời (Anas poecilorhyncha), …

2.2.4 Đồng cỏ mồm

Đồng cỏ mồm (Ischaemum spp.) chiếm diện tích khá nhỏ so với các cộng đồng

thực vật khác, khoảng 41,8 ha Bao gồm mồm đơn thuần và quần xã mồm - cỏ ống

(Ischaemum spp.- Panicum repens) Phân bố hiện diện chủ yếu trên những dải liếp,

bờ đất có địa hình cao cục bộ trong một vùng địa hình thấp

Những loài chim thường gặp: cồng cộc (Pharacrocoraxniger), chiền chiện (Prinia

flaviventris), cò bợ (Ardeola bacclus), cò lửa (Ixobrychus sinensis), …

2.2.5 Đồng cỏ ống

Đồng cỏ ống (Panicum repens) phân bố trên một diện rộng, chiếm diện tích

khoảng 958,4 ha, ở dạng đơn thuần với mật độ lên đến 98% hoặc cùng xuất hiện với

các loài thực vật thân thảo khác: cỏ ống - cỏ sả (Panicum repens - Cymbopogon

citratus), khoảng 23 ha, chủ yếu trên đất giồng cổ; cỏ ống – lúa ma (Panicum repens – Oryza rufipogon), khoảng 268 ha …

Những loài chim thường gặp: công đất (Houbaropsis bengalensis), chiền chiện (Prinia flaviventris), sơn ca (Alauda gulgula), sẻ bụi (Saxicola caprata), trảu đầu hung (Merops superciliosus,…

2.2.6 Đồng lúa ma

Đồng lúa ma (Oryza rufipogon) phân bố

khá rộng, chiếm diện tích khoảng 824 ha Tuy

nhiên, cánh đồng lúa ma (Oryza rufipogon)

đơn thuần có diện tích khá nhỏ, khoảng 33

ha, diện tích còn lại có sự hiện diện của lúa

ma là sự kết hợp với những loài thực vật khác

tạo thành những quần xã thực vật đặc trưng

cho vùng đất ngập nước: lúa ma - cỏ ống (O.

rufipogon – Panicum repens), khoảng 544 ha; lúa ma cỏ bắc (Oryza rufipogon -Leersia hexandra,….

Hầu như tất cả các loài chim trong Tràm Chim đều thích với đồng lúa ma, kể

cả sếu đầu đỏ (Grus antigone), sinh cảnh này đa dạng sinh học rất cao.

Lúa ma

Trang 9

2.2.7 Lác nước.

Lác nước (Cyperus malaccensis) phân bố rải rác dọc theo kinh đào và dọc theo

đường rạch cũ, diện tích tập trung chỉ khoảng 2 ha

2.2.8 Hệ sinh thái đầm lầy

Sen và nghễ trong vùng đầm lầy lòng sông cổ ở VQG Tràm Chim Nghễ

(Polygonum tomentosum) phân bố ở những nơi địa hình trũng thấp, khoảng 159 ha Hội đoàn sen – súng (Nelumbium nelumbo – Nymphaea spp.) chủ yếu trên các vùng

đầm lầy ngập nước quanh năm, dọc theo khu trũng thấp của dòng sông cổ, chiếm

diện tích khoảng 158 ha Những loài chim thường gặp: le hôi (Tachybaptus

raficollis), le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), vịt trời (Anas poecilorhyncha), …

2.3 Tiềm năng du lịch sinh thái.

Vườn quốc gia Tràm Chim từ lâu

đã nổi tiếng là “ốc đảo xanh” với cảnh

quan thiên nhiên quyến rũ, đặc trưng

cho vùng đất trũng Đồng Tháp Mười

Hằng năm có 5.000 - 6.000 du khách

đến tham quan Tràm Chim, trong đó

30% là khách quốc tế Năm 2007, có

26 đoàn quốc tế đến làm việc, chủ yếu

là các nhà khoa học môi trường và sinh

viên làm luận văn tốt nghiệp, đến để

nghiên cứu, tìm hiểu Du khách có thể đến Tràm Chim bằng đường thủy, ngồi du thuyền đi từ bến Bạch Đằng ở thành phố Hồ Chí Minh, ngược sông Vàm Cỏ Tây về hướng Tây Bắc qua tỉnh Long An, tới tỉnh Đồng Tháp rồi ngồi tắc ráng đến Tràm Chim

Khách du lịch đến đây sẽ được tổ chức đi tham quan quanh khu A1 của vườn bằng phương tiện thủy Đó là những chiếc xuồng có sức chở 15 người, tùy theo chiều dài của lộ trình và các điểm đến mà có mức giá khác nhau Tỉnh Đồng Tháp

đã đầu tư hàng chục tỷ VNĐ để làm hệ thống đường nhựa, cầu, cống cho xe du lịch

đi xung quanh bìa vườn khu A1 Đến Tràm Chim vào mùa nước nổi mới thấy hết

Du lịch bằng xuồng ở vườn quốc gia tràm

chim

Trang 10

được vẻ đẹp của vùng đất này Nếu muốn xem sếu đầu đỏ, khách phải đến vào mùa khô, tức khoảng tháng 2 đến tháng 5 dương lịch hằng năm

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT Ở VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM 3.1 Xung đột giữa bảo tồn và khai thác

Hiện nay, trong phạm vi Vườn quốc gia có khoảng 30.000 người sinh sống Đa

số họ đều là những nông dân nghèo, mưu sinh chủ yếu bằng việc khai thác nguồn lợi từ Vườn quốc gia Chế độ bảo vệ nghiêm ngặt trong nhiều năm qua đã dẫn tới xung đột gay gắt giữa Vườn quốc gia và cộng đồng cư dân Mặc dù vậy, Vườn quốc gia cũng đã không tránh được sự khai thác qúa mức của con người, dẫn đến sự suy kiệt tài nguyên (cá, củi, cỏ)

3.2 Vấn đề quản lý nguồn nước

Việc phát triển hệ thống kênh

đào rộng khắp đã làm biến đổi chế

độ thủy văn của vùng Đồng Tháp

Mười, kết hợp với những thay đổi

của sông Mekong, đã làm thu hẹp

diện tích đồng cỏ năng, ảnh hưởng

đến nguồn thức ăn của sếu đầu đỏ,

dẫn đến mật độ cá thể của loài

chim này bị giảm hàng năm Việc

quản lý mực nước trong vườn hiện

nay rất khó khăn; bởi lẽ: nếu giữ

mực nước thấp quá thì dễ dẫn đến cháy rừng; còn nếu giữ mực nước cao liên tục, rừng tràm khó cháy nhưng cây cỏ năng bị ngập nước sẽ không có củ để dẫn dụ đàn sếu

3.3 Vấn đề quản lý nguồn nước Sự xâm lấn của các loài ngoại lai.

Mật độ cá thể sếu (Grus antigone) thay đổi

qua từng năm ở VQG Tràm Chim (1986

-2006)

Trang 11

Hiện nay, Vườn quốc gia Tràm Chim

đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự xâm

lấn của cây mai dương (Mimosa pigra)

-một loài thực vật được Liên minh Quốc

tế Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN)

xếp trong 100 loài ngoại lai xâm hại

nguy hiểm nhất thế giới Đầu tháng

01-2006, loài cây này đã lan ra gần 2.000 ha,

gần bằng 1/3 tổng diện tích Vườn quốc gia Nếu không kiểm soát được, trong vòng

10 - 15 năm nữa, toàn bộ Vườn quốc gia sẽ bị loài này xâm lấn triệt để, sự đa dạng sinh học sẽ mất đi hoàn toàn

3.4 Cháy rừng.

Sáng ngày 25-04-2010, một trận cháy lớn bùng phát tại khu A1 của Vườn quốc gia Tràm Chim, thiêu rụi một phần khu rừng A1, rồi lan rộng sang các khu vực xung quanh Đến ngày 01-05-2010, ngọn lửa mới được dập tắt hoàn toàn Đây là đợt cháy nghiêm trọng và kéo dài nhất từ trước tới nay tại Vườn quốc gia này Trận cháy đã làm thiệt hại hơn 320 ha rừng tràm và đồng cỏ, trong đó có 70 ha rừng tràm lâu năm

3.5 Bị "xẻ thịt".

Lửa bốc cao ngùn ngụt ở rừng Tràm Chim, trong khi lực lượng chữa cháy chỉ có

phương tiện thô sơ như cành cây, xẻng, bơm nước để dập tắt

Mai dương xâm lấn Tràm Chim

Ngày đăng: 18/11/2015, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w