1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp giải bài tập trắc nghiệm hoá học về kim loại và oxit kim loại

22 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học là vấn đề hết sức quan trọngđối với học sinh THPT nhất là học sinh ôn thi và các trường Đại học và Cao đẳng, đây là một mảng kiến thức mà tôi đã ph

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NGA SƠN

Trang 2

ĐỀ TÀI:

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM HOÁ HỌC VỀ KIM LOẠI

VÀ OXIT KIM LOẠI

Họ tên: Nguyễn Tiến Dũng Chức vụ: Phó Hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường THPT Nga Sơn

SKKN thuộc môn: Hoá học

Trang 3

MỤC LỤC

II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3

Trang 4

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LỜI NÓI ĐẦU

Hóa học là một trong những môn khoa học tự nhiên được đưa vàogiảng dạy rất sớm trong giáo dục phổ thông (Từ lớp 8 bậc THCS trởlên) Việc giảng dạy Hóa học trong trường phổ thông phải thực hiệnđược 3 nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nhiệm vụ trí dục phổ thông: Cung cấp một nền học vấn Hóa họcphổ thông nhất, hiện đại, là cơ sở để hiểu về nền sản xuất công nghiệphiện đại, hiểu được vai trò của Hóa học đối với đời sống và thực tiễncủa xã hội xã hội

Trang 5

- Nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức: Từ những kiến thức và kỹnăng trong bộ môn Hóa học mà học sinh có phương pháp nhận thứcHóa học và phát triển trí tuệ, biết kết hợp tư duy hình tượng và tư duytrừu tượng, các lập luận chặt chẽ và logic hơn

- Nhiệm vụ đạo đức: Hình thành thế giới quan khoa học, thái độđúng đắn với thiên nhiên với con người

Giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học là vấn đề hết sức quan trọngđối với học sinh THPT nhất là học sinh ôn thi và các trường Đại học

và Cao đẳng, đây là một mảng kiến thức mà tôi đã phát hiện và đúc kếtđược trong quá trình giảng dạy

Đứng trước sự chuyển mình của nền giáo dục nước nhà nhằmđưa chất lượng giáo dục ngày càng tiến cao hơn, xa hơn, thì thay đổiphương pháp dạy và học là một trong những yếu tố quan trọng quyếtđịnh tới chất lượng giáo dục Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, họcsinh chủ động lĩnh hội tri thức Để thực hiện được như vậy, trong thờilượng bài viết này tôi xin đề xuất một phương pháp giải loại bài tậpnày Đây là một trong số rất nhiều phương pháp, nhưng tôi vẫn cho

Trang 6

rằng đây là phương pháp quan trọng, chủ đạo gọi là “ Đổi mới phương

pháp giải bài tập trắc nghiệm hoá học”

Bài viết này dựa trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm đãtích lũy được trong quá trình học tật và công tác Qua đây tôi xin chânthành cảm ơn tới các thày cô giáo, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoànthành bài viết này Rất mong được sự phê bình, đánh giá đóng góp củacác thày cô giáo, các bạn đồng nghiệp

Trước hết chúng ta nói tới nhân tố quan trọng, trực tiếp ảnh hưởngtới chất lượng giáo dục chính là bản thân đội ngũ giáo viên Chất

Trang 7

lượng đội ngũ giáo viên cả về kiến thức và phương pháp chưa đượcđồng đều Về mặt kiến thức thì học sinh được tiếp cận với rất nhiềukênh thông tin mà giáo viên không chịu đọc sách, tìm hiểu thì sẽ tụthậu Kinh nghiệm sẽ một phần giúp cho giáo viên có khả năng kháiquát, tổng hợp, chắt lọc những kiến thức, phương pháp hay để truyềnthụ cho từng đối tượng học sinh cho phù hợp Có rất nhiều phươngpháp giải bài tập hay nhưng không phải ai cũng biết Không một giáoviên nào giám khẳng định tôi có và giỏi ở tất cả các phương pháp.Trong số những phương pháp giải đó phương pháp nào là trọng tâmcần đưa ra cho học sinh v v Về phương pháp truyền thụ đa phần đều

có ý thức thay đổi phương pháp cho phù hợp với cách học mới, nhưngvẫn còn một bộ phận chưa kịp chuyển mình cùng với thời cuộc, vẫncòn nhiều phương pháp truyền thống “thầy đọc – trò chép”, bài tập

“thầy ra – lại thầy chữa” v v các phương pháp áp dụng chỉ mang tínhchất đói phó

Với vai trò là nhân tố trung tâm thì học sinh là người chủ động, tíchcực ,tự lực chiếm lĩnh tri thức Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, trọng

Trang 8

tài khoa học Như vậy nếu học sinh không tự giác học tập thì đó là mộthậu quả khó lường Có rất nhiều học sinh đưa ra một bài tập cơ bảnnhưng không biết giải quyết bài toán bằng cách nào, thậm chí họcxong 3 năm học còn trả lời: Em không được học một phương pháp giảibài tập nào Trên thực tế lượng bài tập ở sách giáo khoa, sách bài tập

và tham khảo khá nhiều Các bài tập giải theo “ cách trình bày như mộtbài tự luận để đưa đến kết quả” còn chiếm hầu hết ở đa số học sinh

Qua kết quả khảo sát đầu năm của học sinh khối 12

Số lượng HS

Số học HS giải nhanh theo công

thức

Số học HS giải theo phương pháp thông

Trang 9

2 Kết quả

“Đổi mới phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học”

là một vấn đề hết sức quan trọng Không nắm được phương pháp nàyhọc sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi giải một lượng lớn các bài tập

và còn tiết kiệm thời gian trong quá trình làm bài Để học sinh có thêmcác phương pháp hay trong kho tàng kiến thức của mình, trong thờilượng có hạn tôi xin đưa ra một số phương pháp để giải nhanh bài tậptrắc nghiệm hoá học hi vọng sẽ giúp ích phần nào cho các em trongqúa trình giải quyết các bài tập

Trang 10

pháp từ các định luật cơ bản, rút ra công thức cho các dạng bài toán ”

là một phương pháp quan trọng, chủ đạo Có những bài tập chỉ sửdụng phương pháp này mới có thể giải quyết được Trình bày cho họcsinh là bắt buộc, nhưng tùy vào đối tượng học sinh, từng ban học màtrình bày nội dung phương pháp như thế nào cho phù hợp ?

1 Về phương pháp

- Giáo viên đưa ra phương pháp

- Đưa ra ví dụ, giáo viên hướng dẫn học sinh làm từng bước để cảlớp nắm được phương pháp chung

- Cho HS thêm một số VD khác để HS tự giải

2 Về áp dụng

- Với các ban học khác nhau: Với học sinh học ban khoa học tựnhiên hoặc ban cơ bản A nên hướng dẫn học sinh các dạng bài tập ởtừng cấp độ khác nhau Với các học sinh học ban khoa học xã hội hoặcban cơ bản C nên tranh thủ thời lượng ở các giờ luyện tập hoặc thựchành để hướng dẫn cho các em 2 tiết

Trang 11

- Với các lớp học sinh có trình độ khác nhau nên cho số lượng vàmức độ khó, dễ khác nhau cho phù hợp.

II Các biện pháp tổ chức thực hiện

Tôi đã tiến hành tổ chức truyền đạt 2 buổi ôn thi Đại học về phươngpháp này tới các học sinh của 2 lớp 12G, 12A ở Trường THPT NgaSơn như sau:

VD: Khi cho m gam hỗn hợp X gồm Fe và oxít của nó qua HNO 3

loảng dư, thu được dung dịch A và V lít khí Y(Sản phẩm khử duy nhất của Nitơ) Tính khối lượng muối có trong dung dịch A.

1 Phương pháp.

a Phương pháp thông thường

Học sinh có thể sử dụng định luật bảo toàn e là sẽ đi đến kết quả vàphải lưu ý được Fe và hỗn hợp oxít của nó gồm có 2 thành phần Fe vàOxi

VD: Cho 11,36g một hồn hợp X gồm Fe,FeO,Fe2O3,Fe3O4.Cho X vào dung dịch HNO3 dư thì thu được 1,344 lít khí NO (duy nhất ở đktc) Tính m muối [thi ĐH -khối A 2008- Mã đề 263]

Trang 12

Lời giải: Coi hh chỉ gồm Fe(x mol),O(y mol) => 56x + 16y = 11,36(1)

b Phương pháp đổi mới:

VD: Cho m gam một hồn hợp X gồm Fe,FeO,Fe2O3,Fe3O4.Cho X vàodung dịch HNO3 dư thì thu được V lít khí NO (duy nhất ở đktc) Tính

m muối

Cũng từ VD trên ta có thể suy ra công thức tổng quát cho các dạng cụthể như sau:

Trang 13

) 1 ( 16

56

NO

n y x

mhh y

Trong các trường hợp không phải tạo khí NO mà tạo các khíkhác như NO2, N2O, N2 hoặc NH4NO3, thậm chí cả hỗn hợp khí thì ta

Trang 14

mmuối = ( 64 )

80

242

2O N

n NH NO n NH NO

Sản phẩm là hỗn hợp khí N2O và NO, ta có: (2N+5 + 8e → N2+1, N+5 +3e → N+2)

và 8,96 lít khí N2O (đktc) Tính m (Theo Hoá học và Ứng dụng)

Trang 15

Lời giải: Áp dụng các công thức trên, ta có:

Sản phẩm là hỗn hợp khí NO, NO2 và N2O: (N+5 + 3e → N+2,N+5 + 1e

96 , 8 64 4 , 22

48 , 4 8 4 , 22

24 , 2 24

Bài tập 1: Để m gam bột Fe ngoài không khí sau một thời gian

thu được 12 gam hỗn hợp A gồm Fe và các oxit Fe Cho hỗn hợp tan hoàn toàn trong HNO3 thu được 2,24 l NO (sản phẩm khử duy nhất đktc) Giá trị m là:

A 10,02 gam B 10,04 gam C 10,06 gam D

10,08 gam

Bài tập 2: Cho m gam hỗn hợp gồm FeO, Fe2O3 và Fe3O4 hoà

Trang 16

tan vừa đủ trong H2SO4 đặc nóng thu được 12 gam muối và 1,12 lít khí SO2 (sản phẩm khử duy nhất) Giá trị m là:

A 2 gam B 4 gam C 6 gam D 8

gam Bài tập 3: Đem nung hỗn hợp A gồm x mol Fe và

0,15 mol Cu trong không khí thu được 63,2 gam hỗn hợp B gồm 2 kimloại và hỗn hợp các oxit của chúng Đem hoà tan hết lượng hỗn hợp B bằng dung dịch H2SO4 đặc nóng dư thu được 0,3 mol SO2 Giá trị của

x là:

A 0,6 gam B 0,7 gam C 0,8 gam D 0,9

gam

Bài tập 4[Đề thi ĐH -khối A 2010- Mã đề 516]: Cho hỗn hợp

gồm 6,72 gam Mg và 0,8 gam MgO tác dụng hết với lượng dư dung dịch HNO3 Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 0,896 lít một khí X (đktc) và dung dịch Y Làm bay hơi dung dịch Y thu

được 46 gam muối khan Khí X là:

A NO2 B N2O C NO

D N2

Trang 17

Bài tập 5: Hoà tan hoàn toàn m gam FexOy bằng dung dịch

H2SO4 đặc nóng thu được khí A và dung dịch B Cho khí A hấp thụhoàn toàn bởi dung dịch NaOH dư tạo ra 12,6 gam muối Mặt khác, côcạn dung dịch B thì thu được 40 gam muối khan Công thức của sắtoxit FexOy là:

Bài tập 6: Dung dịch HNO3 loãng tác dụng với hỗn hợp Zn và

ZnO tạo ra dung dịch có chứa 8g NH4NO3 và 113,4g Zn(NO3)2 Khốilượng ZnO trong hỗn hợp là:

Bài tập 7: Cho m gam hỗn hợp X gồm Al , Fe2O3, Fe3O4 , FeO

tác dụng với dung dịch HCl dư thu được dung dịch Y, trong đó khốilượng của FeCl2 là 31,75 gam và 8,064 lít khí H2 ( đktc) cô cạn dungdịch Y thu được 151,54 gam muối khan

Nếu cho m gam hỗn hợp X tác dụng với dung dịch HNO3 loãng dưthu được dung dịch Z và khí NO ( sản phẩm khử duy nhất,đktc) Côcạn dung dịch Z khối lượng muối khan thu được là:

Trang 18

A 242,3 gam B 189,6 gam C 268,4 gam D 254,9 gam Bài tập 8: Cho 11,36 gam hỗn hợp gồm Fe,FeO,Fe2O3,Fe3O4

phản ứng hoàn toàn với dung dịch HNO3 loãng dư thu được 1,344 lítkhí NO ( sản phẩm khử duy nhất đo ở đktc) và dung dịch X

Dung dịch X có thể hoà tan tối đa 12,88 gam Fe Số mol HNO3 cótrong dung dịch đầu là:

A 0,88 mol B 0,64 mol C 1,04 mol D 0,94 mol Bài tập 9: Cho luồng khí H2 đi qua 14,4gam MO (M là kim loại)

nung nóng thu được 12,8gam hỗn hợp rắn X Cho hỗn hợp X tan hếttrong dung dịch HNO3 dư, sản phẩm khử thu được là 4,48 lít (ở đktc)hỗn hợp khí Y(gồm NO và NO2) Tỉ khối của Y so với H2 là 19 Côngthức phân tử của MO là:

A CuO B ZnO C FeO

D MgO

Bài tập 10: Đốt cháy m gam hỗn hợp hai kim loại Mg,Fe trong

không khí thu được (m+0,8) gam hỗn hợp chất rắn X Hoà tan hết X

Trang 19

bằng dung HNO3 loãng dư thu được 8,96 lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất,đktc) Giá trị m là:

A 3,64 gam B 6,34 gam C 4,36 gam D 3,46 gam

C KẾT LUẬN

I KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

“Đổi mới phương pháp giải bài tập trắc nghiệm” là một phương tiệnchủ đạo giúp học sinh giải quyết được nhiều bài tập

Một kết quả đầu tiên tôi nhận thấy đó là học sinh có thể giải quyếtđược những bài toán cùng một phương pháp trên, hoặc khi giáo viênhướng dẫn cũng có cơ sở về phương pháp

Trang 20

Tôi đã làm một phép thăm dò để kiểm nghiệm các em học sinh của 2lớp: 12A (Ban cơ bản A), 12G (Ban cơ bản A), đánh giá vai trò củacác phương pháp, thì được kết quả như sau:

Tổng số HS

của 4 lớp

Phương pháp ápdụng công thức

Phương phápthông thường

Lớp Sĩ số Điểm: 0  2SL % Điểm: 3  4SL % Điểm: 5  7 Điểm: 8  10SL % SL %

II KIẾN NGHỊ

Trang 21

“Đổi mới phương pháp giải bài tập trắc nghiệm Hoá học về kim

loại và oxít kim loại” là một loại bài tập lớn trong hóa học Vô cơ Vì

vậy cung cấp các phương pháp để giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hoáhọc cho học sinh là tất yếu Tuy nhiên cung các phương pháp và tùythuộc vào đối tượng học sinh mà áp dụng cho phù hợp

- Phương pháp này nên cung cấp ngay sau khi kết thúc chương trìnhHoá học Vô cơ

- Đối với các lớp ban tự nhiên hoặc cơ bản A nên trình bày trongthời lượng 2 buổi, ta cần luyện nhiều bài tập dạng này

- Đối với chất lượng học sinh từng lớp khác nhau chúng ta có thểcho lượng, cũng như mức độ khó, dễ khác nhau

Thiết nghĩ không ai giám khẳng định rằng mình dạy giỏi nhất,chỗ nào cũng đã hoàn hảo Mà mỗi người có thể phát hiện ra một ýhay để cùng đóng góp, học hỏi lẫn nhau Mỗi sáng kiến kinh nghiệm(SKKN) là kết quả của quá trình lao động, tích lũy và chải nghiệm lâudài của mỗi cán bộ , giáo viên đã được áp dụng cho bản thân và cóhiệu quả Tôi tha thiết mong rằng Sở Giáo dục – Đào tạo Thanh Hóa

Trang 22

sẽ có nhiều biện pháp tích cực để động viên cán bộ giáo viên nhiệttình, tích cực viết SKKN và đưa các SKKN có chất lượng tốt tới phổbiến sâu rộng tới các trường phổ thông, các trung tâm GDTX để anhchị em học hỏi, rút kinh nghiệm và áp dụng

Xin chân thành cảm ơn!

Nga Sơn, tháng 05 năm 2011

Người viết

Nguyễn Tiến Dũng

Ngày đăng: 18/11/2015, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w