1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Nguồn Nhân Lực Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Trong Thời Kì Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa

30 575 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 258 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế trong thời kì Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa...6 1.. Để thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá cần phải huy động mọi nguồn lực cầnt

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 4

I Một số khái niệm 4

1 Nguồn nhân lực 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực 5

2 Nguồn nhân lực chất lượng cao 5

II Vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế trong thời kì Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa 6

1 Vai trò nguồn nhân lực 6

1.1 Nguồn nhân lực với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế (ở tầm vĩ mô) 6

1.1.1 Nguồn nhân lực là động lực của sự phát triển 6

1.1.2 Nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển 7

1.2 Nguồn nhân lực với sự phát triển của doanh nghiệp (ở tầm vi mô) 7

2 Sự cần thiết của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với nền kinh tế hiện nay 7

Trang 2

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 9

I Khái quát tình hình nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta 9

II Thực trạng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng ở Việt Nam 11

1 Thực trạng nguồn nhân lực 11

1.1 Nguồn nhân lực từ nông dân 11

1.2 Nguồn nhân lực từ công nhân 12

1.3 Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức 13

2 Thực trạng nguồn lao động chất lượng cao ở Việt Nam 14

3 Những yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa 18

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 21

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằm phát triểnkinh tế xã hội Để thực hiện công nghiệp hoá , hiện đại hoá cần phải huy động mọi nguồn lực cầnthiết (trong nước và từ nước ngoài), bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lựccông nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …).Trong các nguồn lực này thì nguồn nhân lực là quan trọng , quyết định các nguồn lực khác và ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế hiện đạivới xu hướng hội nhập và phát triển hiện nay Chính vì thế việc tìm hiểu quá trình phát triển, vaitrò, nhiệm vụ cũng như thực trạng nguồn nhân lực qua đề tài: “Nguồn nhân lực đối với sự pháttriển kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn thực tế hơn

về nguồn nhân lực ở Việt Nam Và từ đó đề ra những biện pháp khắc phục hiệu quả, nâng caochất lượng nguồn nhân lực trong tương lai không xa để đưa nước ta trở thành một nước côngnghiệp hiện đại, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới

Đồng thời, thông qua đề tài này chúng ta sẽ hiểu rõ hơn vai trò của mỗi cá nhân đối với sựphát triển kinh tế của một quốc gia, vì bản thân mỗi chúng ta chính là một nguồn lực của đấtnước Nếu mỗi cá nhân đều có ý thức tự rèn luyện và hoàn thiện bản thân, sống có mục đích vàluôn mong muốn đóng góp cho sự phồn vinh của đất nước thì đây thực sự sẽ là nguồn lực đầytiềm năng và triển vọng cho sự phát triển của chính quốc gia mình

Bài viết này gồm ba phần, trong đó phần hai bao gồm ba chương là phần quan trọng nhất,nói lên những vấn đề cốt lõi và nội dung chính của đề tài

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA.

Ở góc độ vĩ mô, chúng ta có nguồn nhân lực xã hội:

- Theo nghĩa rộng đựợc hiểu là nguồn nhân lực con người của 1 quốc gia, vùng lãnh thổ,

là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lí để tham gia vào quá trình pháttriển kinh tế xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính Nguồn nhân lực còn có thể hiểu

là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể cácyếu tố về thể chất và tinh thần đựợc huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này, nguồnnhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên (ở Việt Nam quy định làtròn 15 tuổi)

- Theo nghĩa hẹp nguồn lao động là khả năng lao động của xã hội, bao gồm nhóm dân cưtrong độ tuổi lao động và có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đươngvới nguồn lao động Ở Việt Nam, Bộ Luật Lao Động 1994 quy định: "Nguồn lao động bao gồm

số người trong độ tuổi lao động từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổiđối với nữ"

Ở giác độ vi mô, chúng ta có nguồn nhân lực trong một tổ chức Theo đó nguồn nhân lựctrong một tổ chức là lực lượng lao động của từng đơn vị, tổ chức, cơ quan Hay nói cách khác, đó

là tổng số người (bao gồm cán bộ lãnh đạo và quản lí, công chức chuyên môn, nhân viên phụcvụ ) có trong danh sách của tổ chức, hoạt động theo các nhiệm vụ do tổ chức phân công và được

Trang 5

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nguồn nhân lực trong 1 tổ chức nằm trong nguồn nhân lực xãhội, là một bộ phận của nguồn lực xã hội Sự dụng tốt nguồn nhân lực xã hội và nguồn nhân lựctrong một tổ chức sẽ tạo ra hiệu quả chung cho toàn xã hội

1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xem xét trên 2 giác độ: số lượng và chất lượng Số lượng nguồnnhân lực là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển Kinh tế

- Xã hội Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăngnguồn nhân lực Các chỉ tiêu này có mối quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân

số Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhânlực càng lớn và ngược lại Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự phát triểnKinh tế - Xã hội Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển Kinh tế - Xã hội thì sẽ làmảnh hưởng đến sự phát triển đó Chất lượng nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng nhấttrong nguồn nhân lực con người Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: hàmlượng trí tuệ, trình độ tay nghề, năng lực phẩm chất, sức khỏe, văn hóa lao động trong đó yếu tốtrí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là 1 nguồn lực đặc biệt, thể hiện ở các điểm sau đây:

- Nguồn nhân lực là 1 nguồn lực sống: giá trị của con nguời đối với xã hội chủ yếu thểhiện ở khả năng lao động của con người Trong đó, năng lực lao động không thể tồn tại độc lậpngoài 1 cơ thể khỏe mạnh Nguồn nhân lực còn là một nguồn lực có ý thức, có quan niệm giá trị

- Nguồn nhân lực là 1 nguồn lực vô tận: Nhà tương lai học người Mỹ Alvintoffiler đãkhẳng định "Mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị cạn kiệt, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi trithức có tính chất không bao giờ hết" Như vậy, sự phát triển của tri thức là vô hạn và việc khaithác nguồn nhân lực cũng là vô hạn

Khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển và năng lực học tập của con người cũng khôngngừng được nâng cao Tính chất đặc biệt của nguồn nhân lực cũng chính là sự khác biệt cơ bảncủa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác

2 Nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụthể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêuthức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, laođộng kỹ thuật lành nghề) Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao cómối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượngnguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhânlực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượngnhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể

Trang 6

vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao lànguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong

và ngoài nước) Đó là: có kiến thức (chuyên môn, kinh tế, tin học…); có kỹ năng (kỹ thuật, tìm

và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác…); có thái độ, tác phong làm việc tốt, tráchnhiệm với công việc

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực

và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trongsáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thựcchất

II Vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế trong thời kì Công

nghiệp hóa, Hiện đại hóa.

1 Vai trò nguồn nhân lực.

Vai trò của nguồn nhân lực được xem xét trên hai giác độ là: vi mô và vĩ mô

1.1 Nguồn nhân lực với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế (ở tầm vĩ

mô)

1.1.1 Nguồn nhân lực là động lực của sự phát triển

Phát triển kinh tế - xã hội của 1 quốc gia phải dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực,tài lực Song yếu tố chính vẫn là nguồn nhân lực Vai trò của con người và nguồn nhân lực conngười được khẳng định như là 1 yếu tố cơ bản của sự phát triển Trong tổng hợp các nguồn lực:vốn, tài nguyên, vị trí địa lí, nguồn nhân lực nước ngoài và nguồn nhân lực con người, các nguồnnhân lực khác chỉ là tiềm năng, vai trò, tác động sức mạnh của chúng có mạnh đến đâu cũng đềuthông qua và phụ thuộc vào hoạt động của con người, bởi con người là nguồn nhân lực duy nhấtbiết tư duy, có tri thức và ý chí Chỉ có con người mới có thể gắn kết các nguồn lực khác để cùngtạo thành sức mạnh tổng hợp cho một môi trường nhất định, các nguồn lực khác chỉ là các kháchthể thực sự cải tạo, khai thác và đều nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người.Như vậy, những nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng thì phải thông qua nguồn lực con người.Nguồn lực con người chính là động lực của mọi sự phát triển

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực tốt, chất lượng cao là tiền đề vững chắc và là nhân tố quyếtđịnh đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tăng năng suất lao động Nguồn nhân lực tốt, đặc biệt

là nguồn nhân lực có trình độ cao sẽ đảm bảo chắc chắn trong việc đưa ra những quyết định sángsuốt, đúng đắn với đường lối và chủ trương, chính sách, phương thức thực hiện các quyết sách vềphát triển và hưng thịnh quốc gia Ngoài ra, nguồn nhân lực có trình độ cao còn là nền tảng vữngchắc đảm bảo cho việc chuẩn bị tốt và thực hiện thành công quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và

Trang 7

hợp tác quốc tế Với tư cách là động lực của sự phát triển, nguồn nhân lực phải là nguồn lực điđầu, là tiền đề của các nguồn lực khác hiện có Nguồn nhân lực chính là nội lực của đất nước

1.1.2 Nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển

Xét cho cùng thì phát triển kinh tế xã hội cũng chính là nhằm mục tiêu phục vụ conngười, thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của con người và làm cho cuộc sống của con ngườingày càng tốt đẹp và hoàn thiện hơn, hạnh phúc và ấm no hơn Hay nói cách khác nguồn nhânlực chính là đối tượng mà sự phát triển kinh tế xã hội phải hướng tới phục vụ, được hưởng thụthành quả của sự phát triển và chính sự hưởng thụ đó lại tiếp tục tạo ra sự kích thích, tạo ra độnglực cho sự phát triển của chính bản thân nguồn lực và sự phát triển chung

Vậy nguồn nhân lực vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển

1.2. Nguồn nhân lực với sự phát triển của doanh nghiệp (ở tầm vi mô).

Những con người có cơ thể khỏe mạnh, có năng lực nghề nghiệp, có tinh thần chủ độnglàm việc và ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trường tổ chức và văn hóacủa doanh nghiệpchính là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp Bởi vì trước hết, nguồnnhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong khi đó, mục tiêu mà bất kìmột doanh nghiệp nào cũng theo đuổi là tối đa hóa lợi nhuận giữa giá trị hàng hóa và giá trị dịchchuyển Phần giá trị này về cơ bản là do lao động sáng tạo ra Cho nên nguồn nhân lực chính lànguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuậncủa doanh nghiệp càng lớn, mà muốn có giá trị gia tăng cao thì phải dựa vào chất lượng và giá trịnguồn nhân lực

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực còn là một nguồn lực mang tính chiến lược, quyết định tới

sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp Cùng với sự hình thành của kinh tế tri thức,

sự phát triển kinh tế - xã hội khiến cho vai trò về tri thức của con người ngày càng tăng Do đó,nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có tri thức, chuyên môn, hiểu biết các khoa học kĩthuật ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng nhất, có ý nghĩa chiến lược Đây cũng luôn luôn

là nguồn lực tích cực nhất, năng động nhất Một doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và vận hànhhiệu quả nếu thiếu đi 1 đội ngũ cán bộ có tầm nhìn và một đội ngũ công nhân được trang bị đầy

đủ kiến thức chuyên môn, giàu kinh nghiệm

2. Sự cần thiết của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với nền kinh tế

hiện nay

Lý thuyết và thực tiễn phát triển ở tất cả các nước trên thế giới cho thấy, nguồn nhân lựcđóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong giaiđoạn đầu của quá trình phát triển, mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tích lũy vốn vậtchất Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn sau sẽ chủ yếu dựatrên cải tiến công nghệ và phát triển vốn con người hay vốn nhân lực, đặc biệt là nhân lực cho

Trang 8

phát triển khoa học và công nghệ Không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế,nguồn nhân lực cho phát triển khoa học và công nghệ có chất lượng cao còn có ý nghĩa trong việcgiải quyết các vấn đề xã hội như : bất bình đẳng, đói nghèo, các vấn đề về môi trường và sự tiến

bộ về mọi mặt của xã hội

Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ vàthông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới Sự rađời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy Tìnhhình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâusắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó, khuvực Châu Á-Thái Bình Dương đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất với sự cạnh tranhdiễn ra ngày càng gay gắt thì nguồn nhân lực chính là một trong những yếu tố chủ chốt thúc đẩytăng trưởng kinh tế nhanh chóng

Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức vàtrong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lựcchất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định cũng như là sự cần thiết của nó đối với sựphát triển

- Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việckhai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Giữa nguồn lực con người, vốn, tàinguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả vớinhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu

là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và

sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ pháthuy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với

tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trungtâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội

- Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sựthành công của sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàndiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ, phương tiện và phươngpháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quátrình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa rút ngắn, tiếpcận nền kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nângcao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự

Trang 9

nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phảilấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững.

- Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nướcnhằm phát triển bền vững

- Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhânlực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn Vì vậy việc phát triểnnguồn nhân lực một cách nhanh và mạnh sẽ giúp nước ta đứng vững hơn trong quá trình hội nhập

và phát triển

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

I. Khái quát tình hình nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta.

Xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu, Việt nam đang nỗ lực cố gắng trở thành một nướccông nghiệp phát triển trên thế giới Tuy nhiên hiện nay, mặc dù Việt nam đã có nhiều thành tựu,

đã có nhiều đổi mới và tiến lên trở thành nước đang phát triển đứng thứ 59/131 so với nền kinh tếthế giới nhưng lực lượng sản xuất vẫn còn ở trình độ thấp, nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam

là khái niệm hoàn toàn mới mẻ Do vậy, có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Namhiện nay quá xa và không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong Công nghiệp hóa,Hiện đại hóa để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển Tuy nhiên, kinh tế tri thứckhông chỉ bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành truyềnthống được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao Do đó không nên chờ cho đến khi sự nghiệpCông nghiệp hóa, Hiện đại hóa kết thúc mới tiến hành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay tronggiai đoạn này, để phát triển và theo kịp các nước trên thế giới, chúng ta phải đồng thời quan tâmtới những lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận

Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ dàng chúng ta không thể xây dựng vàphát triển nền kinh tế tri thức như các nước công nghiệp phát triển Thực ra đó là sự tiếp tục quátrình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của conngười Mặt khác do xuất phát điểm của lực lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức

ở Việt Nam thì phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình Do

đó việc xác định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa,chuẩn bị các điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan

Trang 10

trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch định chiến lược Trong việc chuẩn

bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quantrọng và cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay

Khi tiến hành sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước thì đòi hỏi phải cónguồn nhân lực, vốn và tài nguyên Đối với Việt Nam, cả hai nguồn lực tài chính và tài nguyênthiên nhiên đều rất hạn chế nên nguồn lực con người đương nhiên đóng vai trò quyết định So vớicác nước láng giềng chúng ta có lợi thế đông dân, tuy nhiên nếu không được qua đào tạo thì dânđông sẽ là gánh nặng dân số còn nếu được qua đào tạo chu đáo thì đó sẽ là nguồn nhân lực lànhnghề, có tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia Một đội ngũ nhân lực lànhnghề và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ViệtNam Đặc biệt, trong bối cảnh khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới mức trần, ViệtNam đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ vànhờ cậy vào tài nguyên, môi trường, sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huynguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, nắm vững khoa học và công nghệ Và theonhư kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao động đông và rẻ thì không thể tiếnhành Công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao.Chính nhờ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nước Nics (cácnước công nghiệp mới) vận hành có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiềumặt hàng có sức cạnh tranh cao với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới Các nước muốnphát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là phát triểngiáo dục và đào tạo, đặc biệt là đầu tư phát triển nhân tài

Thực tế cho thấy, Việt Nam trong những năm đầu hội nhập nền kinh tế quốc tế, nhữngđiểm mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam như lực lượng dồi dào, tỷ lệ lao động ở nhóm trẻ cao,giá nhân công rẻ, đức tính cần cù ham học hỏi đã có tác động rất tích cực đối với nền kinh tế.Việt Nam luôn được đánh giá là điểm đầu tư hấp dẫn với lợi thế về lao động, thị trường, tàinguyên thiên nhiên Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự phát triển, nguồn nhân lực Việt Nam

đã và đang bộc lộ những bất cập lớn ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế Đó là,

số lượng người bước vào độ tuổi lao động tăng quá nhanh, gây sức ép về giải quyết việc làm vàảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động Hàng năm, nước ta có hơn một triệu người

bổ sung vào lực lượng lao động Lao động phân bố không đều theo ngành, vùng: giữa nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữa thành thị và nông thôn; các vùng đồng bằng và miền núi;lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của nguồnnhân lực còn thấp, chậm thay đổi theo hướng tăng lên Năm 2000, tỷ lệ lao động qua đào tạochiếm 20% tổng số lao động, năm 2005, tỷ lệ này chỉ đạt 25% Chất lượng giáo dục và đào tạo,hiệu quả của các trường dạy nghề, đại học và trung học chuyên nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu củathời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa Nguồn nhân lực phân bổ theo loại hình, thànhphần kinh tế với tính chất đan xen phức tạp Năng suất lao động xã hội còn thấp, mức độ “thịtrường hoá” lao động còn hạn chế; kỷ luật lao động không cao Nguồn nhân lực chưa được sựquan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, còn đào tạo thì nửa vời, nhiều

Trang 11

người chưa được qua đào tạo Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫngiữa lượng và chất Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, tríthức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xâydựng và bảo vệ đất nước Chất lượng của nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa khi đất nước tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu hoá vừa thiếu, vừa yếu,

cơ cấu không hợp lý, xuất phát từ thực trạng của nền giáo dục làm cho dân trí, nhân lực và nhântài đều xuống cấp nghiêm trọng

Những bất cập và tồn tại đó đang là lực cản lớn của quá trình phát triển kinh tế đất nước

II. Thực trạng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng ở Việt Nam

1 Thực trạng nguồn nhân lực

1.1 Nguồn nhân lực từ nông dân

Tính đến nay, dân số Việt Nam là hơn 85 triệu người là nước đông dân thứ ba ở Ðông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thếgiới Trong đó, nông dân chiếm khoảng 73% dân số của cả nước Số liệu này phản ánh một thực

-tế là nông dân nước ta chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã hội Theo các nguồn số liệu đượcthống kê, hiện nay, cả nước có khoảng 113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp,thủy sản; có 217 làng nghề và 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩuđến hơn 100 nước Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tíchcực

Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác, chưa được

tổ chức, vẫn bị bỏ mặc và từ bỏ mặc đã dẫn đến sản xuất tự phát, manh mún Người nông dânkhông được dạy nghề trồng lúa cho nên họ đều tự làm, đến lượt con cháu họ cũng tự làm Cóngười nói rằng, nghề trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được

Ở các nước phát triển, họ không nghĩ như vậy Mọi người dân trong làng đều được hướng dẫn tỷ

mỉ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng Nhìn chung, hiện có tới 90% lao động nông, lâm,ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo Điều này phản ánh chất lượngnguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém Sự yếu kém này đã dẫn đến tình trạng sản xuấtnông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểutruyền thống, hiệu quả sản xuất thấp Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học,nhà doanh nghiệp) chỉ là hình thức

Tình trạng đất nông nghiệp thì ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động ở nôngthôn dôi ra, không có việc làm Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi năm nhà nước thu hồi khoảng

72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị và rơi vào túi những

Trang 12

người có chức, có quyền ở địa phương, gây nên bất hợp lý trong chính sách đối với người nôngdân

Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn không được khai thác, đào tạo, nên một bộ phậnngười dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công nghiệp, công trường Trong khi cácdoanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay nghề cao thì lực lượng lao động ở nông thôn lại

dư thừa rất nhiều Vấn đề lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam đang rất đáng lo ngại.Nông dân ở những nơi bị thu hồi đất thì thiếu việc làm, không có đất để canh tác; chất lượng laođộng thấp nên không làm được những công việc mang tính yêu cầu cao và cho đến nay tìnhtrạng này vẫn còn tồn tại Mặc dù đã có một bộ phận không nhỏ những người nông dân di cư đếnnhững thành phố lớn để tìm kiếm việc làm nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề, đôi khi cònlàm nảy sinh những vấn đề khác như đô thị hóa, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường gia tăng nhiềuhơn…

Nhìn nhận vấn đề này ta thấy rằng tỉ lệ thất nghiệp ở nông thôn chủ yếu là do thất nghiệpchu kì gây ra và do các chính sách đối với nông dân, nông thôn và nông nghiệp chưa rõ ràng Vìvậy cần phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện các doanh nghiệp đầu tư (mỗi vùngmiền đều có một thế mạnh kinh tế riêng) Ví dụ như ở Ninh Thuận thì có thế mạnh về nho vàmuối, nếu được quan tâm đầu tư cho hai thế mạnh này thì sẽ tạo được việc làm cho người nôngdân làm muối và trồng nho Ngoài ra còn kéo theo việc làm cho những ngành nghề khác như:muối được khai thác lên thì phải qua quá trình chế biến, đóng gói… làm hình thành các cơ sở chếbiến muối, tạo việc làm cho những lao động nhàn rỗi, đặc biệt là ngư dân đánh bắt gần bờ không

có việc làm trong lúc sóng to, biển động Việc hình thành các cơ sở chế biến muối lại kéo theo sựphát triển về giao thông vì muốn vận chuyển được muối thì phải xây dựng lại những tuyến đườnggần biển (ở gần biển đường chỉ có cát nên gây khó khăn cho việc vận chuyển đến những vùngkhác, trong khi đó Ninh Thuận lại là vùng có khả năng khai thác muối lớn nhất nước) và lại tạonên việc làm cho những người lao động khác như thợ hồ, nông dân làm thời vụ,… Có thêm việclàm sẽ giúp người dân có thêm thu nhập và góp phần làm cho cuộc sống ổn định hơn

1.2 Nguồn nhân lực từ công nhân

Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 6% dân số của cả nước Trong đó,công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ thấp, khoảng gần 2 triệu người, bằngkhoảng 40% so với lực lượng công nhân nói chung của cả nước; lực lượng công nhân của khuvực ngoài nhà nước có khoảng 2,70 triệu, chiếm khoảng 60% Xu hướng chung là lực lượng côngnhân trong các doanh nghiệp nhà nước ngày càng ít đi, trong khi đó, lực lượng công nhân củakhu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng lên Công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ rất thấp sovới đội ngũ công nhân nói chung Trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ thuật của công nhân còn thấp

Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người, chiếmkhoảng 3,3% so với đội ngũ công nhân nói chung ở Việt Nam Số công nhân xuất khẩu lao độngtiếp tục tăng, tuy gần đây có chững lại Từ năm 2001 đến năm 2006, Việt Nam đã đưa được gần

375 nghìn người lao động đi làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngànhnghề, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ 1996-2000 (95 nghìn người)

Trang 13

Vì đồng lương rẻ mạt, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phải kiêm thêmnghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làm nghề thủ công, buôn bán thêm,cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người vừa là công nhân, vừa không phải là công nhân Trongcác ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệpnhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40% Sự già đi và ít đi của đội ngũ côngnhân Việt Nam đã thấy xuất hiện Với tình hình này, công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếutrong sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước Về mặt chính trị, thực chất, công nhânViệt Nam chưa có địa vị bằng trí thức, công chức, viên chức nên rất khó vươn lên vị trí chủ đạotrong đời sống xã hội và trong sản xuất, kinh doanh Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sựquan tâm chưa đầy đủ và chưa có chính sách có hiệu quả trong việc xây dựng giai cấp công nhân.

1.3 Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức

Nếu tính sinh viên đại học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thứcViệt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh Riêng sinh viên đại học và cao đẳng phát triểnnhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002: 1.020,7 nghìn người; năm 2003:1.131 nghìn người; năm 2004: 1.319,8 nghìn người Năm 2005: 1,387,1 nghìn người; năm 2006(mới tính sơ bộ: prel): 1,666, 2 nghìn người,… Cả nước đến nay có 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩkhoa học; 1.131 giáo sư; 5.253 phó giáo sư; 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộhoạt động khoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có 49% của số47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 11.200 giáoviên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông; gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, thì cókhoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30% thực sự làm chuyên môn Đội ngũ trí thức Việt Nam ởnước ngoài, hiện có khoảng 300 nghìn người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó cókhoảng 200 giáo sư, tiến sĩ đang giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới Số trường đạihọc tăng nhanh Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có 143 trường đại học, 178 trường cao đẳng,

285 trường trung cấp chuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề Cả nước hiện có 74 trường vàkhối trung học phổ thông chuyên với tổng số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương và 7 trường đại học chuyên Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông chuyên so vớitổng dân số của cả nước đạt 0,05%, còn chiếm rất thấp so với thế giới Cả nước có 1.568/3.645học sinh đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia trung học phổ thông năm học 2007-2008

Đầu năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã trình lên Thủ tướng Chính phủ ViệtNam dự án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-2020 ở cả trong nước và ngoài nước.Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là 76.200 tỷ đồng, chiếm20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với thực hiện năm 2007 Bên cạnh nguồn nhânlực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức, viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) côngtác tại các ngành của đất nước cũng tăng nhanh:

Trang 14

- Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn người làm việctại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương 12)

- Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàng nghìn cán

bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí Và hàng chục nghìn người khác

là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành,làm việc tại 687 cơ quan báo chí, hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình

- Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39 nghìn người;ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là 13.536 người Tính đến tháng 6-

2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách pháp luật của các cơ quan trung ương là

824 người, trong đó có 43 tiến sĩ luật (chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩluật (chiếm 10,08%), 43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223 đạihọc khác (chiếm 27,06%), 64 người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa chuyên môn khác(chiếm 7,77%),… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật sư trên 24 nghìn người dân) Tríthức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơ quan trung ương và địa phươngcũng tăng nhanh Tổng nhân lực các hội, liên hiệp hội, viện, trung tâm NGO (Non GovernmentalOrganization _ tổ chức phi chính phủ) hiện có 52,893 người

Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức đã dẫn ra trênđây, chúng ta thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ trí thức, công chức,viên chức còn quá yếu Có người tính rằng, hiện vẫn còn khoảng 80% số công chức, viên chứclàm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viênchức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, ảnh hưởng nhiều đến chất lượngcông việc Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm, không ít đơn vị nhậnngười vào làm, phải mất 1-2 năm đào tạo lại Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng khôngđáp ứng được công việc Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động quốc tếthừa nhận Năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là 161.411 Theo ước tính, mỗi tấm bằngđại học, người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng Như vậy, với

tỷ lệ 63% số sinh viên ra trường chưa có việc làm, cho thấy kinh phí đầu tư của sinh viên thấtnghiệp (161.411 sinh viên x 63% x 70 triệu), ít nhất thất thoát 7.117 tỷ đồng (trong đó, 4.067 tỷđồng của dân và 3.050 tỷ đồng của nhà nước)

Nói tóm lại, nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức (trong đó có công chức, viênchức) ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiều bất cập Sự bất cập này đã ảnh hưởng trực tiếp đến pháttriển kinh tế Trong những năm đổi mới, kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so vớikinh tế thế giới thì còn kém xa Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàn tài chínhquốc tế (IFC), công bố ngày 26-9-2007, kinh tế Việt Nam xếp thứ 91/178 nước được khảo sát

2 Thực trạng nguồn lao động chất lượng cao ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nguồn lao động dồi dào và có khoảng hơn 50% số người trong

độ tuổi lao động và nhóm tuổi từ 15 đến 34 chiếm hơn 45% tổng số lực lượng lao động Với tốc

Trang 15

độ tăng dân số khá cao, hàng năm có khoảng 1,5 tới 1,7 triệu lao động trẻ tham gia thị trường laođộng Do vậy, nói chung cung lao động trên thị trường lao động Việt Nam rất dồi dào và lớn hơncầu về lao động Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này là lao động phổ thông Mặc dù tỷ

lệ người lao động không biết chữ là rất thấp, khoảng dưới 3,5%, nhưng tỷ lệ lao động chưa quađào tạo lại cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng Cụ thể, có đến gần 77%người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế

về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành thị cao hơn so với ở khu vựcnông thôn

Về mặt cung, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay chủ yếu được phân bố trong khuvực nông nghiệp, nơi kỹ năng, tay nghề, và trình độ của người lao động thường không cần cao.Lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp chỉ chiếm 20% và trong khu vựcdịch vụ chỉ chiếm khoảng 26% Điều này phần nào phản ánh cầu lao động giản đơn, phổ thông ởViệt Nam vẫn còn khá lớn Đồng thời phần lớn lao động ở Việt Nam hiện nay đang làm việc ởkhu vực ngoài quốc doanh (Bảng 1)

Bảng 1: Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo ngành và khu vực kinh tế

Tỷ lệ lực lượng lao động (%)Phân theo ngành:

- Nông nghiệp

- Công nghiệp

- Dịch vụ

53,920,026,1Phân theo khu vực kinh tế:

- Ngoài nhà nước

- Nhà nước

- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

87,59,03,5

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007

Tuy nhiên so với trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự pháttriển của các doanh nghiệp mới nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao của cácngành dịch vụ và công nghiệp ví dụ như marketing, tài chính, bảo hiểm, quản trị doanh nghiệp,công nghệ thông tin, điện, điện tử và hóa chất ngày càng tăng lên Trong những năm vừa qua, doViệt Nam đẩy mạnh cải cách hành chính, làn sóng đầu tư trong nước cũng như nước ngoài ngàycàng tăng lên Các doanh nghiệp trong nước được thành lập mới ngày càng nhiều đã tạo ra một

Ngày đăng: 18/11/2015, 19:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo ngành và khu vực kinh tế - Tiểu Luận Nguồn Nhân Lực Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Trong Thời Kì Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Bảng 1 Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo ngành và khu vực kinh tế (Trang 15)
Bảng 2: Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật theo khu vực (%) - Tiểu Luận Nguồn Nhân Lực Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Trong Thời Kì Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Bảng 2 Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật theo khu vực (%) (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w