Kết quả nghiên cứu chính được xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát quy mô nhỏ với phụ nữ lao động di cư và một số cơ quan chính quyền/đoàn thể tại TP uông bí Quảng Ninh, quận Dương Kinh H
Trang 1PHỤ NỮ DI CƯ TRONG NƯỚC
HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM KIẾM CƠ HỘI
Trang 2PHỤ NỮ DI CƯ TRONG NƯỚC
HÀNH TRÌNH GIAN NAN
TÌM KIẾM CƠ HỘI
Trang 3MỤC LỤC
DaNH mỤC CáC bảNG 3
DaNH mỤC CáC bIểu đồ 4
DaNH mỤC CáC HộP 4
DaNH mỤC CáC Từ vIếT TắT 5
LờI GIỚI THIệu 6
LờI Cảm ơN 7
Tóm TắT .9
CHưƠNG 1: TổNG quAN về NGHIêN Cứu 13
1.1 Khái quát về di cư trong nước ở việt Nam 15
1.2 mục tiêu, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu 17
1.2.1 mục tiêu của nghiên cứu 17
1.2.2 Phạm vi của nghiên cứu 18
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
CHưƠNG 2:LAo đỘNG Nữ DI Cư TạI vIệT NAM: Họ LÀ AI? 21
2.1 độ tuổi của lao động di cư nữ 23
2.2 Hoàn cảnh hôn nhân và gia đình 24
2.2.1 Tình trạng hôn nhân 24
2.2.2 Số con trong gia đình 25
2.3 Trình độ học vấn 26
2.4 đặc điểm về nơi xuất cư 28
2.5 đặc điểm về nghề nghiệp 29
CHưƠNG 3:LAo đỘNG Nữ DI Cư: LựC đẩy vÀ LựC HúT 31
3.1 Yếu tố lực đẩy với phụ nữ di cư 33
3.1.1 Lực đẩy từ thị trường lao động nơi xuất cư 33
3.1.2 Lực đẩy từ hoàn cảnh gia đình 35
3.1.3 Lực đẩy từ các khía cạnh khác 37
3.2 Yếu tố lực hút 38
3.2.1 Cơ hội việc làm tại nơi đến 38
3.2.2 Thu nhập tại điểm đến cao hơn nơi xuất cư 40
3.2.3 Lực hút từ vốn xã hội: bạn bè/người thân 41
3.3 Các yếu tố khác 43
Nội dung: actionaid Quốc tế tại việt nam và Công ty Tư vấn đông Dương IRC
Biên tập: actionaid Quốc tế tại việt Nam
Ảnh: aav, Nguyễn Hoài Nam, đặng mai Thanh, Lưu Trọng Quang
Trang 4DaNH mỤC CáC bảNG
bảng 2 1 Phụ nữ di cư theo nhóm tuổi so với kết quả điều tra di cư 2004 (%) 16
bảng 2 2 độ tuổi nữ lao động di cư theo nghề nghiệp nơi đến 17
bảng 2 3 Tình trạng hôn nhân của nữ lao động di cư (%) 18
bảng 2 4 Số con tại thời điểm di cư lần đầu và hiện nay (người) 19
bảng 2 5 Cấp học cao nhất của lao động nữ di cư (%) 20
bảng 2 6 Cấp học cao nhất theo nghề nghiệp (%) 21
bảng 2 7 Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên và nghề nghiệp hiện nay (%) 23
bảng 2 8 Nghề nghiệp tại nơi đến trong lần di cư đầu tiên và hiện nay(%) 23
bảng 3 1 Tìm việc trong thời gian nông nhàn (%) 25
bảng 3 2 đào tạo nghề chưa phù hợp tại nơi xuất cư (%) 27
bảng 3 3 Lực đẩy do kiện tự nhiên khắc nghiệt và cơ sở hạ tầng yếu kém (%) 28
bảng 3 4 Dễ tìm việc làm tại nơi đến (%) 30
bảng 3 5 Thu nhập cao hơn tại nơi đến (%) 32
bảng 4 1 Ký kết hợp đồng lao động (%) 39
bảng 4 2 Thời hạn ký hợp đồng lao động theo địa bàn nghiên cứu 39
bảng 4 3 Thời gian làm việc ngày thường và ngày cuối tuần (giờ) 41
bảng 4 4 Các hình thức phân biệt đối xử hoặc xúc phạm nhân phẩm 44
bảng 4 5 Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có bHXH 45
bảng 4 6 Tỷ lệ phụ nữ lao động di cư có bHYT 47
bảng 4 7 Loại hình nhà ở của phụ nữ lao động nhập cư (%) 50
CHưƠNG 4: TíNH Dễ Bị TổN THưƠNG CủA PHỤ Nữ DI Cư 47
4.1 Tính dễ bị tổn thương trong công việc 49
4.1.1 Hợp đồng lao động 49
4.1.2 Công việc không ổn định, cường độ làm việc cao 50
4.1.3 Chế độ đãi ngộ còn nhiều bất cập 53
4.1.4 đối xử ngược đãi tại nơi làm việc 54
4.2 Tính dễ bị tổn thương trong tiếp cận dịch vụ công cộng 55
4.2.1 Tiếp cận với chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 56
4.2.2 Tiếp cận với dịch vụ giáo dục và y tế 58
4.3 Tính dễ bị tổn thương trong đời sống sinh hoạt 59
4.3.1 điều kiện sinh hoạt: nhà ở, sử dụng điện, sử dụng nước 59
4.3.2 Hạn chế trong hòa nhập cộng đồng 61
CHưƠNG 5: CHíNH sáCH đốI vớI PHỤ Nữ DI Cư: THựC TRạNG vÀ MỘT số đề XuấT 63
5.1 Khung pháp lý và chính sách với lao động nữ di cư 65
5.2 một số khuyến nghị 67
TÀI LIệu THAM KHẢo 71
Trang 5DaNH mỤC CáC Từ vIếT TắT
aav Tổ chức actionaid Quốc tế tại việt Nam
bộ LđTb&XH bộ Lao động Thương binh và Xã Hội
bộ NN&PTNN bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn CEDaW Công ước Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ CPRGS Chiến lược Toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ILO Tổ Chức Lao động Quốc Tế
IRC Công Ty Nghiên Cứu và Tư vấn đông Dương
mSHGđ mức Sống Hộ Gia đình
DaNH mỤC CáC bIểu đồ
biểu đồ 1 1 Tốc độ tăng dân số nông thôn và thành thị, 1990-2009 12
biểu đồ 2 1 Tỷ lệ phần trăm về số con tại thời điểm hiện nay (%) 19
biểu đồ 2 2 Cấp học của nữ nhập cư chia theo địa điểm khảo sát (%) 20
biểu đồ 2 3 Cấp học của phụ nữ nhập cư chia theo địa điểm khảo sát (%) 21
biểu đồ 2 4 Nơi xuất cư của phụ nữ nhập cư trong mẫu khảo sát (%) 22
biểu đồ 3 1 Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn 32
biểu đồ 3 2 Có người thân quen ở nơi đến (%) 33
biểu đồ 4 1 mức độ tham gia các quan hệ xã hội cộng đồng (%) 51
DaNH mỤC CáC HộP Hộp 3 1 Nông nhàn, không có việc làm và sự chán nản 26
Hộp 3 2 Các khó khăn của gia đình thúc đẩy phụ nữ di cư 28
Hộp 3 3 Cú sốc do thiên tai và sự bấp bênh của nghề nông 29
Hộp 3 4 Dễ tìm việc làm tại điểm đến 31
Hộp 3 5 Di cư vì thu nhập ở nơi đến cao hơn 33
Hộp 3 6 Di cư vì người thân, và họ hàng giới thiệu 34
Hộp 3 7 Di cư vì muốn thay đổi môi trường sống 35
Hộp 4 1 Tính không ổn định trong công việc của nữ công nhân nhập cư 40
Hộp 4 2 Tính không ổn định trong công việc của nữ lao động tự do 41
Hộp 4 3 một số bất cập trong chế độ tiền lương 42
Hộp 4 4 Khó khăn và trừ tiền ngày nghỉ phép 43
Hộp 4 5 Thực hiện chính sách thai sản với nữ công nhân di cư 46
Hộp 4 6 Khó khăn trong tiếp cận giáo dục với con cái của phụ nữ di cư 48
Hộp 4 7 Phụ nữ di cư gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở 50
Hộp 4 8 Nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh 50
Hộp 4 9 Các yếu tố cản trở hòa nhập cộng đồng 52
Trang 6Nghiên cứu này được thực hiện với sự hỗ
trợ của tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AVV) Chúng tôi bày tỏ sự cảm ơn đối với các cán bộ của ActionAid Quốc tế tại Việt Nam đã giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Quản lý Chương trình Phát triển và các đối tác khác của AAV tại các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi xin gửi tới các cán bộ Ban Quản lý dự án tại các tỉnh lời cảm ơn chân thành
Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới các cán
bộ lãnh đạo Liên đoàn Lao động; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Hội Phụ nữ; và các cấp chính quyền quận/phường tại các địa bàn khảo sát ở Hải Phòng, Quảng Ninh và TP Hồ Chí Minh,
về sự hợp tác tích cực và có hiệu quả trong thời gian làm việc tại hiện trường
Đặc biệt, nghiên cứu này nhận được sự hợp tác của phụ nữ di cư tại ba địa bàn nói trên Nếu không có sự nhiệt tình của họ thì nhóm tư vấn không thể hoàn thành nhiệm vụ Vì lẽ đó, chúng tôi dành lời cảm ơn đặc biệt đến những phụ nữ di
cư - những người vì những lý do khác nhau phải
xa quê hương theo một hành trình gian nan để tìm kiếm sinh kế - đã dành thời gian sau những
ngày làm việc vất vả để trao đổi cùng với nhóm nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và các nguồn lực, những kết quả phân tích của báo cáo được rút ra từ một đợt khảo sát quy mô nhỏ, vì vậy
có thể còn nhiều hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ độc giả1
Công ty Cổ phần Nghiên cứu và Tư vấn
Đông Dương (IRC) Nhóm tư vấn Nguyễn Trung Kiên, Hoàng Thị Thanh Hoa, Hoàng Bá Thịnh, Lê Thái Thị Băng Tâm Giang Thanh Long, Phạm Thị Bích Ngọc
và Phạm Thái Hưng
1 Nghiên cứu này là tài sản của AAV và có sự đóng góp của nhiều tổ chức và cá nhân Các quan điểm, ý kiến, kết luận và đề xuất trình bày trong nghiên cứu không nhất thiết là quan điểm của AAV hay của các tổ chức, cá nhân được khảo sát trong nghiên cứu này Các ý kiến đóng góp xin gửi về Hoàng Thị Thanh Hoa, Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương (IRC) (hoahoang@irc.com.vn) và/hoặc Đỗ Hạnh Chi, Cán bộ AAV (chi.dohanh@actionaid.org)
LỜI CẢM ƠN
Di cư là kết quả tất yếu của công cuộc phát
triển Những đánh giá gần đây nhìn chung
xác định một số đặc điểm quan trọng của
di cư ở Việt Nam: Mức di cư trong nước đang
tăng lên, chủ yếu là di cư nông thôn ra thành thị
và là di cư tạm thời Trong dòng người di cư đó,
phụ nữ chiếm tỉ lệ ngày càng cao
Đã có nhiều nghiên cứu về di cư, đa dạng về
chủ đề và phạm vi Kết quả của các nghiên cứu
này cho thấy di cư mang lại nhiều giá trị kinh tế
cho người di cư, nhưng bên cạnh những lợi ích
đó là những khó khăn, thách thức mà người di
cư phải đối mặt, đặc biệt là đối với phụ nữ di
cư Bên cạnh những chính sách đảm bảo quyền
con người, đặc biệt là quyền của người lao động
được Chính phủ Việt Nam cam kết thực hiện,
nhiều báo cáo trong nước và nước ngoài cho
thấy sự quan tâm của Chính phủ chưa đủ mạnh
để các quyền đó được thực thi và bảo vệ, đặc
biệt là quyền của những nữ lao động nhập cư, là
đối tượng dễ bị tổn thương hơn
Trong bối cảnh đó, tổ chức ActionAid Quốc tế tại
Việt Nam (AAV) đã thực hiện nghiên cứu “Di cư
trong nước – Phụ nữ và Hành trình Gian nan tìm
cơ hội” Nghiên cứu này là một phần trong các
hoạt động của dự án “Thúc đẩy bình đẳng giới và
trao quyền cho phụ nữ nghèo đô thị tại Việt Nam”
do Cơ quan Viện trợ Ailen tài trợ năm 2011 Đây
là một nỗ lực của AAV nhằm tìm kiếm các thông
Thay mặt tổ chức ActionAid Quốc tế tại
Việt Nam (AAV)
Hoàng Phương Thảo Trưởng Đại Diện ActionAid Quốc Tế tại Việt Nam
LỜI GIỚI THIỆU
Trang 7Tóm TắT
Di cư trong nước đã trở thành một vấn đề phát
triển, có ý nghĩa kinh tế-xã hội quan trọng đối với cả nông thôn và thành thị trong những năm gần đây ở việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào phân tích các lý do thúc đẩy và thu hút lao động
nữ di cư, và tính dễ bị tổn thương của họ và khả năng tiếp cận các quyền cơ bản tại nơi đến Kết quả nghiên cứu chính được xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát quy mô nhỏ với phụ nữ lao động di cư và một số cơ quan chính quyền/đoàn thể tại TP uông
bí (Quảng Ninh), quận Dương Kinh (Hải Phòng),
và quận Gò vấp (TP HCm) Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận giới và cách tiếp cận dựa trên quyền
là phương pháp tiếp cận để phân tích Nghiên cứu đưa ra một số kết quả chính sau đây
Lao động nữ di cư: họ là ai?
Lao động nữ di cư ở việt Nam có độ tuổi khá trẻ với hơn 60% phụ nữ lao động di cư có độ tuổi từ
15 đến 29; và 1/3 phụ nữ di cư lần đầu tiên khi còn ở độ tuổi 15-19 mặc dù vậy, hơn một nửa phụ nữ lao động di cư đã có gia đình, chủ yếu
là tại nơi xuất cư Chính vì vậy, có đến 62% phụ
nữ lao động di cư đã có con cái và khoảng 40%
đang sống cùng với con cái của họ tại điểm đến
đáng chú ý là phụ nữ lao động di cư hầu như chưa được qua đào tạo nghề hay chuyên môn nghiệp vụ gì; chỉ có dưới 10% được đào tạo ở bậc trung cấp,
lao động phổ thông, lao động nữ di cư chủ yếu làm các công việc chân tay, không yêu cầu tay nghề cao hay chuyên môn nghiệp vụ gì đáng kể một số lao động nữ di cư có được đào tạo tay nghề ngắn hạn tại nơi làm việc nhưng cũng là những hình thức đào tạo rất đơn giản
Lao động nữ di cư: lực đẩy và lực hút
Quyết định di cư là kết quả của một quá trình ra quyết định với tương tác của các yếu tố lực đẩy
và thu hút
Khó khăn tại thị trường lao động nông thôn là yếu tố lực đẩy cơ bản việc làm trong nông nghiệp dù tiếp tục là công việc chính lực lượng lao động nông thôn nhưng tầm quan trọng tương đối đã giảm dần Thay vào đó, xu hướng tìm việc làm phi nông nghiệp, có thu nhập cao hơn ngày càng phổ biến Tuy nhiên, nhiều phụ nữ gặp khó khăn trong tìm việc làm ở nông thôn, một số rất lớn không có công việc tạo ra thu nhập trong giai đoạn ‘nông nhàn’, gây áp lực lên xu hướng di cư ra các đô thị để tìm việc làm
Hoàn cảnh gia đình khó khăn do thu nhập từ hoạt động nông nghiệp thấp, do có người đau
ốm, thu nhập của hộ gia đình không đáp ứng được yêu cầu chi tiêu là những yếu tố ở cấp
hộ gia đình thúc đẩy quyết định di cư Ngoài ra, hoạt động sinh kế nông nghiệp khó khăn do biến đổi khí hậu, và điều kiện cơ sở hạ tầng nông
Trang 8di cư gặp nhiều khó khăn do chi phí cao (trong đó
có nguyên nhân quan trọng là không có hộ khẩu thường trú)
Gần 80% phụ nữ lao động di cư thuê nhà ở trọ trong nhà tạm, nhà cấp 4 có điều kiện sinh hoạt,
vệ sinh tồi tàn Gần 2/3 số phụ nữ lao động di cư
ở trọ nhưng hoàn toàn không có hợp đồng thuê trọ mà chỉ có thỏa thuận miệng Các chi phí cho
sử dụng nước, sử dụng điện đều cao hơn so với mức thông thường Chất lượng nước sinh hoạt
là vấn đề đáng lo ngại
việc chuyển đến một nơi ở mới tạo ra những thách thức cho những người phụ nữ nhập cư trong việc hòa nhập vào môi trường xã hội và cộng đồng xa lạ đối với họ Nhưng mức độ hòa nhập của phụ nữ với cộng đồng tại nơi cư trú là rất hạn chế Phụ nữ lao động di cư hầu như không tham gia vào sinh hoạt
tổ dân phố, sinh hoạt hội phụ nữ, đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn
Chính sách đối với lao động nữ di cư: thực trạng
Trừ một khung pháp lý chặt chẽ bảo vệ các quyền của người lao động di cư (tương tự như quyền của bất kỳ công dân nào khác), việt Nam chưa có bất kỳ chính sách đáng kể gì mang tính đặc thù đối với đối tượng di cư trong nước vai trò của di cư trong nước như thế nào trong phát triển kinh tế-xã hội còn là một vấn đề đang tiếp tục được xem xét đến thời điểm hiện nay, các văn kiện có ý nghĩa chiến lược của quốc gia hoặc
là đề cập đến di cư nông thôn-thành thị như một hiện tượng cần kiểm soát, hoặc là không nêu rõ quan điểm về vấn đề di cư
Hệ thống chính sách do các bộ/ngành liên quan cũng ít có những trọng tâm cụ thể vào vấn đề di
cư từ nông thôn ra thành thị điều đó cũng một phần xuất phát từ thực tế là đối tượng di cư trong nước gần như không thuộc phạm vi quản lý nhà nước của một bộ/ngành cụ thể nào Chỉ có một
số ít địa phương – là các thành phố thu hút lượng
di cư lớn có một số chính sách để hỗ trợ (và quản lý) lao động nhập cư
Luật Cư trú 2007 đã có một số bước đổi mới về chế
độ hộ khẩu nhưng hộ khẩu vẫn là một loại giấy tờ cần thiết khi thực hiện các thủ tục hành chính, tiếp cận dịch vụ công, thụ hưởng các chương trình/chính sách hỗ trợ và rất nhiều thủ tục khác điều này đặt ra khó khăn lớn với phụ nữ di cư vì họ thường không
có hộ khẩu thường trú và vì vậy gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công
Chính sách đối với lao động nữ di cư: một số đề xuất
mặc dù di cư kéo theo những hệ quả xã hội nhất định nhưng di cư rõ ràng là một vấn đề phát triển trong điều kiện hiện nay ở việt Nam vì vậy, di cư trong nước cần phải được công nhận là một vấn đề phát triển (chứ không phải là một hiện tượng cần kiểm soát) vấn đề này cần được ghi nhận trong các văn kiện chiến lược quốc gia
Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn hay được coi là ‘phi chính thức’, làm việc trong khu vực
‘phi chính thức’ và không chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan chức năng cụ thể nào Ở góc độ này, quản lý nhà nước về lao động di cư cần phải là một chức năng chính thức của một bộ/ngành (phù hợp nhất hiện nay là bộ LđTb&XH)
Chính quyền các cấp cần quán triệt quan điểm lao động di cư là một luồng lao động bổ sung cho địa phương; di cư là một vấn đề phát triển chứ không phải là một ‘vấn đề xã hội’ hay thậm chí là
‘vấn đề dẫn đến tệ nạn’ đây là một điều kiện cơ bản để các cấp chính quyền địa phương có thể đưa ra những quyết định chính sách theo hướng
‘vì người lao động di cư’
Sự tồn tại của hạn chế do quy định về hộ khẩu gây ra cho người di cư là kết quả của cách thức quản lý hành chính với một hiện tượng kinh tế việc hạn chế di cư bằng các biện pháp hành chính sẽ không giảm được di cư mà chỉ làm tăng tính dễ bị tổn thương của đối tượng đặc biệt này
vì vậy, cần có sự cải cách triệt để hơn trong hệ thống đăng ký hộ khẩu để chế độ hộ khẩu chỉ là một công cụ quản lý hành chính về biến động dân
số, hỗ trợ cho tính toán và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội
vai trò của chính quyền địa phương cũng rất quan trọng vì họ là cấp có quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến lao động nhập cư Hỗ trợ đào tạo tay nghề, hỗ trợ và tư vấn về thông tin việc làm,
hỗ trợ trong chính sách về chỗ ở là những vấn
đề chính quyền địa phương có thể cân nhắc thực hiện để hỗ trợ cho lao động nhập cư đồng thời, vai trò của các đoàn thể cũng rất quan trọng để đảm bảo tăng tính hòa nhập cộng đồng và bảo
vệ quyền lợi chính đáng cho lao động nhập cư
thôn kém phát triển cũng là những yếu tố đóng
vai trò là lực đẩy nhiều phụ nữ từ nông thôn ra
thành thị tìm việc làm
Trong khi nhiều vùng nông thôn ‘dư thừa’ lao động
thì nguồn lao động phổ thông này lại rất cần ở các
khu vực đô thị: có 88% phụ nữ di cư cho rằng dễ
tìm việc làm tại nơi đến là yếu tố thu hút họ di cư;
80% cho rằng thu nhập tại nơi đến cao hơn so với
nơi xuất cư Kết quả khảo sát thu nhập phổ biến
của lao động nữ nhập cư là khoảng 2 đến 2,5 triệu
đồng/tháng đây là mức thu nhập cao hơn đáng kể
so với thu nhập ở vùng nông thôn
vốn xã hội là một lực hút quan trọng với lao động nữ
di cư Chỉ có chưa đến ¼ lao động nữ di cư không
có họ hàng, bạn bè, hay người quen tại điểm đến Ở
khía cạnh này, quan hệ họ hàng, quan hệ gia đình
có ý nghĩa rất quan trọng Hơn ½ phụ nữ di cư có họ
hàng và cha mẹ tại điểm đến
Ngoài những yếu tố lực đẩy và lực hút, một số lao
động nữ di cư còn cân nhắc đến một số yếu tố khác
mong muốn được thay đổi môi trường sống, mong
muốn được phát triển các mối quan hệ xã hội (và
thậm chí là tìm kiếm bạn đời) cũng là những yếu tố
mà phụ nữ di cư cân nhắc mong muốn được học
hỏi và tìm kiếm cơ hội phát triển bản thân cũng là một
động lực để phụ nữ quyết định di cư
Tính dễ bị tổn thương của lao động nữ di cư
Phụ nữ di cư mang theo họ những kỳ vọng cải
thiện thu nhập, cải thiện cuộc sống Nhưng hành
trình tìm kiếm cơ hội, như phát hiện trong báo
cáo này, là một hành trình gian nan Phụ nữ lao
động di cư là đối tượng dễ bị tổn thương tại nơi
đến Lý do của tính dễ bị tổn thương là do các
quyền của họ không được đảm bảo
Hợp đồng lao động mới được đảm bảo cho dưới
2/3 lao động nữ, số còn lại hoặc không có hợp đồng,
hoặc là hợp đồng ngắn hạn Trong khi đó, công việc
của phụ nữ lao động di cư có cường độ cao, và
thường thiếu ổn định Thời gian làm việc trung bình
là 9,6 tiếng/ngày, và hầu như không có ngày nghỉ
Trong khi đó, chế độ đãi ngộ còn nhiều bất cập Tình
trạng chậm trả lương, giữ lại lương, phạt tiền lương
khá phổ biến đáng lo ngại là gần ½ số phụ nữ lao
động di cư bị mắng chửi tại nơi làm việc, gần 38%
bị buộc làm thêm ngoài giờ
Gần 60% phụ nữ lao động di cư có bHXH và
½ trong số họ có bHYT Số còn lại không tham
gia bảo hiểm theo quy định vì nhiều lý do: cả do
người sử dụng lao động không chấp hành đầy đủ
quy định và do người lao động không nhận thức
đầy đủ về quyền lợi nên không tham gia bảo hiểm
(nhất là với lao động thời vụ) Tiếp cận với dịch vụ
giáo dục và y tế cho con cái của phụ nữ lao động
Trang 9Phần I:
TổNG quAN
về NGHIêN Cứu
Trang 10TỔNG QuaN vỀ NGHIÊN CỨu
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Biểu đồ 1 1 Tốc độ tăng dân số nông thôn và thành thị, 1990-2009
Nguồn: Tổng hợp từ các Niên giám Thống kê 2010, 2000, và1996
Cùng với tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa
nhanh chóng, di cư đang trở thành một vấn đề phát triển có ý nghĩa ngày càng quan trọng Theo kết quả Tổng điều tra Dân số
và Nhà ở năm 2009, trong giai đoạn mười năm
từ 1999 đến 2009 dân di cư giữa các tỉnh tăng
từ 2 triệu người lên 3,4 triệu người, trong đó di
cư nữ chiếm hơn một nửa số dân di cư Ở góc
độ tích cực, di cư là một nguồn lao động bổ sung quan trọng cho nhiều khu vực đô thị; góp phần cải thiện đời sống của nhiều hộ gia đình ở nông thôn Nhưng di cư cũng đang là một vấn đề xã hội lớn vì tình trạng ‘trắng’ về chính sách đối với lao động di cư; mức độ ‘quá tải’ của cơ sở hạ tầng và dịch vụ công ở những đô thị tập trung nhiều dân di cư; làm cho tính dễ bị tổn thương của người di cư nhiều hơn, đặc biệt là lao động
nữ di cư
đã có một số nghiên cứu gần đây về tình hình
di cư ở việt Nam đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau Khái quát về xu hướng di cư được
đề cập trong một số nghiên cứu như uN việt Nam (2010a); TCTK (2010) Các khía cạnh về đời sống của người di cư như GSO và uNFPa (2005), Desingkar và cộng sự (2006), Niimi và cộng sự (2009) Nhiều thảo luận chính sách liên quan đến di cư được tóm tắt trong uNDP việt Nam (2010b) Trong những nghiên cứu trước đây
về di cư, các khía cạnh liên quan đến di cư nữ mới chủ yếu được đề cập thông qua một số phân tích về yếu tố giới trong di cư Nghiên cứu “phụ
nữ và di cư trong nước – hành trình gian nan tìm kiếm cơ hội” này đề cập đến đối tượng lao động
nữ di cư trong nước với trọng tâm tập trung vào
các yếu tố tác động đến di cư (cả yếu tố thúc đẩy
và yếu tố thu hút), tính dễ bị tổn thương, và tiếp cận về một số quyền cơ bản của phụ nữ di cư Nghiên cứu được xây dựng dựa chủ yếu vào kết quả khảo sát tại địa bàn của 3 tỉnh/thành phố lớn
ở việt Nam là Hải Phòng, Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí minh Nội dung của chương này sẽ khái quát một số kết quả nghiên cứu trước đây
về tình hình di cư trong nước và mô tả vắn tắt về phương pháp tiếp cận của báo cáo này
1.1 Khái quát về di cư trong nước ở việt Nam
Do số liệu thống kê về di cư ở việt Nam chưa có
hệ thống nên kết quả từ Tổng điều tra về Dân
số và Nhà ở (thực hiện 10 năm một lần) có thể coi là nguồn dữ liệu có tính đại diện cao nhất
về tình hình di cư trong nước Theo kết quả của các cuộc Tổng điều tra trong thời gian gần đây, hiện có khoảng 6,6 triệu người (tương đương với khoảng 7,7% dân số) từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi
cư trú tới địa điểm khác trong thời gian từ năm 2004-2009 Con số này tăng hơn so với con số 2,1 triệu người di cư ghi nhận trong Tổng điều tra năm 1999 Nếu tách đối tượng thay đổi nơi
cư trú trong phạm vi một tỉnh (có thể là thay đổi vì nhiều lý do phi kinh tế), thì số lượng di cư từ tỉnh này sang tỉnh/thành phố khác cũng tăng lên rất đáng kể Theo số liệu Tổng điều tra, di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người từ năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên 3,4 triệu người năm
2009 Tỷ trọng dân di cư này trong tổng dân số tăng từ 2,5% năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và lên 4,3% năm 2009; và theo dự báo có thể lên đến 6,4% dân số vào năm 2019
Trang 112004, cuộc điều tra quy mô nhỏ trên 917 lao động
nữ tại Hà Nội, đà Nẵng, và TP HCm do viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (2004) thực hiện cho thấy người di cư không khó khăn để tìm được việc làm tại đô thị (với tỷ lệ hoạt động kinh tế rất cao là gần 97%) Tuy nhiên, tính chất công việc chủ yếu
ở khu vực tư nhân, không chính thức, việc làm
có thu nhập thấp và không ổn định Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng nguồn trợ giúp chính thức
từ chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể quần chúng là rất hạn chế Thay vào đó, mạng lưới hỗ trợ không chính thức đối với lao động di
cư thông qua bạn bè, họ hàng, người thân là rất quan trọng
Khảo sát quy mô nhỏ trong nghiên cứu của Nguyễn (2003) tại địa bàn Hà Nội về lao động nhập cư cho thấy về cơ bản, lao động di cư là nam và nữ tại Hà Nội làm những nghề tương tự nhau, chủ yếu là lao động phổ thông nhưng lại có những khác biệt nhất định về cách thức thực hiện Lao động di cư
là nam thường chọn những công việc nặng nhọc, phải đi xa do sức khỏe tốt hơn; trong khi đó nữ giới thường chọn những việc nhẹ nhàng hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người lao động di cư thường phải làm việc trong điều kiện cường độ cao, thời gian lao động trong ngày trung bình từ 9-10 giờ
Trong khi đó, những khó khăn như ế hàng, bị quỵt tiền, trả công thấp, bị bắt làm thêm giờ là những khó khăn phổ biến nhất với đối tượng di cư trong nghiên cứu
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác dựa trên các cuộc điều tra quy mô nhỏ như đào (2009) điều tra về đối tượng lao động giúp việc; CGFED (2007) về vấn đề sức khỏe sinh sản, sức khỏe
tình dục của người di cư; bùi (2009) về các vấn
đề sinh hoạt gia đình của nhóm công nhân tại Hà Nội Dù có phạm vi và trọng tâm khảo sát là khác nhau nhưng đặc điểm chung của những nghiên cứu này là đều chỉ ra những bất lợi mà người lao động di cư gặp phải trong công việc và trong sinh hoạt tại nơi đến Trên khía cạnh chính sách, các nghiên cứu này đều nhấn mạnh thực trạng ‘trắng’
về chính sách đối với người di cư tại các khu vực
đô thị Chính vì vậy, hầu hết người di cư đều phải dựa vào bạn bè, người thân, và họ hàng như là
‘lưới an toàn’ duy nhất để đối mặt với những khó khăn sau quyết định di cư
1.2 mục tiêu, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu của nghiên cứu
Trong bối cảnh chung về di cư ở việt Nam, nghiên cứu này có mục tiêu tổng thể là xác định hiện trạng di cư trong nước của phụ nữ tại một số địa bàn thu hút nhiều lao động nữ di cư; đề xuất khuyến nghị về chính sách và can thiệp nhằm cải thiện điều kiện sống, việc làm và tăng cơ hội tiếp cận chính sách và dịch vụ công và hòa nhập cộng đồng của phụ nữ di cư tại nơi đến
Các mục tiêu cụ thể của báo cáo được xác định gồm:
• Tìm hiểu thực trạng di dân của phụ nữ
trong đó xác định rõ “lực đẩy” – những yếu tố thúc đẩy phụ nữ đi di cư và “lực hút” – những yếu tố lôi kéo, thu hút phụ
nữ di cư;
Trong dòng di cư có xu hướng tăng nhanh ở việt
Nam trong hai thập kỷ gần đây, di cư từ nông
thôn ra thành thị chiếm một tỷ trọng ngày càng
lớn Dựa trên việc phân tích những số liệu của
điều tra nghèo thành thị của uNDP, một báo cáo
của IRC (2010a) đã chỉ ra rằng một phần năm
tổng dân số của thành phố Hồ Chí minh hiện nay
là người nhập cư trong khi con số này ở Hà Nội
là gần 12% Dù không có số thống kê chính thức
nhưng tốc độ gia tăng của di cư từ nông thôn
ra thành thị có thể được ước tính qua xem xét
tốc độ thay đổi dân số ở thành thị và nông thôn
trong thời gian qua Hình 1.1 cho thấy, tốc độ
tăng trưởng của dân số việt Nam có xu hướng
giảm liên tục và dần đều đây là kết quả của hai
xu hướng trái ngược Trong khi dân số khu vực
thành thị tăng với tốc độ cao thì tốc độ tăng dân
số nông thôn giảm mạnh và gần như không thay
đổi trong vài năm gần đây Rõ ràng, di cư từ nông
thôn ra thành thị là một yếu tố quan trọng của hai
xu hướng trái ngược này với tốc độ tăng trưởng
kinh tế và đô thị hóa ở việt Nam như thời gian
qua, di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ tiếp tục
tăng mạnh trong thời gian tới
đáng lưu ý là phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn trong dòng
di cư Theo số liệu từ Tổng điều tra Dân số và
Nhà ở 2009, tỷ lệ nữ đều cao hơn 50% đối với hầu
hết các nhóm di cư phân theo phân loại của Tổng
điều tra (gồm di cư giữa các tỉnh, di cư giữa các
huyện, và di cư trong phạm vi huyện) Tính riêng di
cư giữa các tỉnh, tỷ lệ phụ nữ di cư chiếm khoảng
42% năm 1989 lên đến 50% năm 1999, và gần
đây nhất là 54% năm 2009 Xét về độ tuổi, phụ nữ
di cư chủ yếu trong nhóm tuổi từ 15 đến 29, trong
đó độ tuổi từ 20 đến 24 là phổ biến nhất đáng lưu
ý rằng trong số lao động di cư ở độ tuổi từ 15 đến
29 này thì tỷ lệ di cư là nữ cao hơn hẳn so với di
cư là nam giới (TCTK, 2010) đặc biệt, phụ nữ di
cư có xu hướng ‘trẻ hóa’ theo thời gian So sánh kết của các cuộc Tổng điều tra từ 1989, 1999, và
2009, độ tuổi phổ biến nhất của phụ nữ di cư giảm tương ứng từ 25 tuổi, xuống 24 tuổi, và gần đây nhất là 23 tuổi
Trong khi các cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà
ở đưa ra con số khái quát về di cư, điều tra Di
cư năm 2004 do TCTK thực hiện là cuộc điều tra quy mô lớn đầu tiên về di cư Nhiều nghiên cứu
sử dụng kết quả của điều tra Di cư 2004 đã đưa
ra một bức tranh khá rõ nét về việc làm và đời sống của người di cư (xem Desingkar và cộng sự
2006, Niimi và cộng sự 2009) Xét về lý do di cư, kết quả điều tra cho thấy cơ hội việc làm và thu nhập là hai yếu tố có sức hút chính đối với quyết định di cư Trong số đối tượng di cư khảo sát, hầu hết đều có việc làm (gần 90%) nhưng gần ½ đang làm các công việc lao động giản đơn trong khu vực kinh tế phi chính thức đặc biệt, người di
cư được điều tra cho thấy họ gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống như khó khăn về nhà cửa, tiếp cận nước sinh hoạt, sử dụng điện, và các tiếp cận với dịch vụ công cộng khác đáng lưu ý là trên khía cạnh chính sách, người di cư gần như không phải là đối tượng của bất kỳ một chương trình, chính sách hỗ trợ đáng kể nào Hình thức hỗ trợ duy nhất
mà người di cư nhận được là từ họ hàng, bạn bè –
là những người cung cấp hỗ trợ về chỗ ở và tìm việc làm (là những yếu tố khó khăn chính đối với người di
cư khi bắt đầu đến địa điểm cư trú mới)
bên cạnh điều tra Di cư 2004, còn có một số khảo sát ở quy mô nhỏ về di cư đến các đô thị lớn Tương tự như kết quả của điều tra Di cư
Trang 12Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người
và bình đẳng giới là hai phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu này Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người khẳng định các quyền và lợi ích chính đáng của nữ lao động nhập cư gắn kết với nhau và không thể tách rời đảm bảo các quyền cho phụ nữ lao động nhập cư là trách nhiệm của chính quyền, các
tổ chức chính trị xã hội, của người sử dụng lao động, của cộng đồng, và của chính người nhập
cư với cách tiếp cận đó, báo cáo không chỉ thu thập các thông tin từ phụ nữ lao động nhập cư
mà còn từ chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội liên quan báo cáo cũng sử dụng phương pháp tiếp cận về bình đẳng giới để phân tích và làm rõ sự khác biệt trong việc tiếp cận các
cơ hội việc làm, điều kiện sống và làm việc của
nữ lao động nhập cư so với đối tượng tương tự
là nam giới
với các phương pháp tiếp cận đề cập ở trên, nghiên cứu này thu thập thông tin cả định tính
và định lượng bên cạnh những chỉ số cụ thể về từng vấn đề nghiên cứu, thông tin định tính giúp cung cấp cái nhìn có chiều sâu về một số vấn đề
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các công cụ thu thập thông tin được sử dụng gồm: nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu cá nhân, thảo luận nhóm tập trung, nghiên cứu trường hợp, quan sát và phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc
địa bàn và mẫu khảo sát
Cuộc khảo sát trong nghiên cứu này (sau đây gọi thống nhất là “điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011”) được tiến hành tại 03 tỉnh/thành phố là Hải Phòng, thành phố uông bí tại Quảng Ninh và thành phố Hồ Chí minh.3 Tại mỗi tỉnh/
thành phố, một quận/phường được lựa chọn làm địa bàn khảo sát Cụ thể, tại Quảng Ninh, khảo
3 Đây là những địa bàn thu hút nhiều lao động nhập cư Bên cạnh đó, việc lựa chọn 3 tỉnh/thành phố nói trên cũng do Tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AAV) – đơn vị tài trợ cho Báo cáo này – đang phối hợp với các đối tác để thực hiện một số can thiệp liên quan đến đảm bảo về quyền cho phụ nữ lao động
di cư ở những địa bàn nghiên cứu.
sát được thực hiện tại các phường Quang Trung, Yên Thanh, Trưng vương, Thanh Sơn, bắc Sơn của thành phố uông bí; tại Hải Phòng, thông tin thu thập từ phường Hải Thành, anh Dũng và Hưng đạo của quận Dương Kinh; tại TP HCm, mẫu khảo sát được chọn từ phường 14, quận
Gò vấp
mẫu khảo sát gồm ba đối tượng chính là cán bộ chính quyền, đại diện một số đoàn thể; và nhóm phụ nữ di cư việc chọn mẫu được thực hiện với
sự hỗ trợ của các cơ quan đối tác của aav tại địa bàn khảo sát với đối tượng cán bộ, 28 cán bộ được phỏng vấn gồm đại diện uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh (ubND tỉnh), Sở Lao động, Thương binh
và Xã hội (Sở LđTb & XH), Liên đoàn Lao động
và Hội Phụ nữ với đối tượng là lao động nữ di
cư, mẫu khảo sát gồm 345 nữ lao động di cư, trong đó có 203 nữ di cư là công nhân và 142 nữ
di cư lao động tự do
Trước khi đi sâu vào những kết quả phân tích, một số hạn chế về mẫu khảo sát cần được nhấn mạnh Trước hết, nghiên cứu này dựa trên khảo sát quy mô nhỏ, những phát hiện được trình bày
ở trong các chương sau vì vậy có ý nghĩa tham khảo như là một thực tế tại địa bàn khảo sát nhưng có thể chưa mang tính đại diện quốc gia bên cạnh đó, tiếp cận thông tin về nữ di cư lao động tự do còn hạn chế cả về khả năng tiếp cận
và thời gian tiếp cận.4 với đối tượng nữ di cư là công nhân, do hầu hết là lao động theo ca và làm việc toàn thời gian vào ban ngày nên việc tiếp cận cũng gặp nhiều khó khăn Trong thực tế, các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm chủ yếu thực hiện vào buổi tối.Ngoài ra, địa bàn xuất cư của lao động nữ di cư trong nghiên cứu này không được đưa vào diện khảo sát nên các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa người di cư và hộ gia đình/cộng đồng tại nơi xuất cư không được đề cập trong báo cáo
4 Tại địa bàn khảo sát, phụ nữ di cư lao động
tự do chủ yếu làm các công việc tự do như buôn bán hàng rong, làm thuê, phụ hồ, nhặt ve chai… nên đều
di chuyển liên tục, khó có thể tiếp cận được đầy đủ.
• Xác định các ảnh hưởng tích cực và tiêu
cực của việc di cư đối với phụ nữ tại nơi
đi và nơi đến đặc biệt là tìm hiểu tính dễ
bị tổn thương của phụ nữ trong quá trình
di cư cũng như các vấn đề bạo lực trên
cơ sở giới và bất bình đẳng giới;
• Khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm,
các dịch vụ y tế, giáo dục và các chương
trình, chính sách hỗ trợ đối với lao động
di cư của phụ nữ di cư;
• đưa ra những khuyến nghị nhằm bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ lao động nhập cư
tốt hơn và góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống cho nhóm phụ nữ di cư
1.2.2 Phạm vi của nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng quan niệm rộng trong đó
di cư được hiểu là một hình thái di chuyển không
gian từ một đơn vị hành chính này đến một đơn vị
hành chính khác, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
thường xuyên của con người Tuy nhiên, phạm vi
của ‘thay đổi nơi cư trú thường xuyên’ trong báo
cáo này được giới hạn bởi di chuyển trong nước;
‘con người’ trong báo cáo tập trung vào đối tượng di
cư là phụ nữ Cũng cần nhấn mạnh rằng, đối tượng
chính của báo cáo này được xác định là di cư tự
do, nghĩa là di cư không có tổ chức, không theo kế
hoạch, mang tính tự phát của người di cư.2
một khái niệm khác sử dụng trong báo cáo này
là việc làm phi chính thức của lao động di cư
Phân định giữa việc làm chính thức và việc làm
phi chính thức là một vấn đề phức tạp Theo cách
hiểu thông dụng của ILO thì tất cả các hoạt động
kinh tế của người lao động và các đơn vị kinh tế
mà không theo luật hoặc thông lệ, không được tổ
chức một cách chính thức được coi là các hoạt
động kinh tế phi chính thức Tuy nhiên, việc xác
định ranh giới ở các khía cạnh có hay không tuân
thủ theo luật hoặc thông lệ trong thực tế là vấn
đề khó Thay vì cách đi sâu vào phân định sự
khác biệt giữa lao động chính thức và lao động
phi chính thức, nghiên cứu này đưa ra một cách
tiếp cận đơn giản, trong đó những lao động di cư
làm việc cho các nhà máy, xí nghiệp, đơn vị cung
cấp dịch vụ có đăng ký kinh doanh được gọi là ‘nữ
di cư lao động chính thức’ (gọi tắt là ‘công nhân’)
Ngoài ra, những phụ nữ di cư lao động dưới các
hình thức khác được gọi tắt là ‘nữ di cư lao động
phi chính thức’ (ngắn gọn là ‘di cư lao động tự do’)
2 Để phân biệt với đối tượng di cư theo kế
hoạch từng phổ biến ở Việt Nam trong thập kỷ 80 trong
khuôn khổ các chương trình kinh tế mới (xem thêm chi
tiết trong UN Việt Nam, 2010a)
Trang 13Phần 2:
LAo đỘNG Nữ
DI Cư TạI vIệT NAM:
Họ LÀ AI?
Trang 14Trong chương này, báo cáo sẽ tập trung đi
sâu phân tích một số đặc điểm của đối tượng
nữ lao động di cư dựa trên kết quả khảo sát thực tế một số đặc điểm chính được đề cập gồm đặc điểm về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nơi xuất cư và nghề nghiệp của nữ lao động di cư tại nơi đến Những phân tích này góp phần xây dựng ra một bức tranh toàn cảnh về đối tượng nghiên cứu, phục vụ cho những phân tích sâu hơn ở những chương sau về nguyên nhân di
cư, các yếu tố lực đẩy và lực hút ảnh hưởng đến quyết định di cư, tính dễ bị tổn thương mà nữ lao động di cư đang phải đối mặt, để từ đó giúp đưa
ra những giải pháp, khuyến nghị phù hợp Trong chương này, các kết quả điều tra của nghiên cứu
sẽ được so sánh với những số liệu sẵn có (khi có thể) từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009 và điều tra Di cư 2004
2.1 độ tuổi của lao động di cư nữ
Nhìn chung nữ lao động di cư trong nghiên cứu này đang ở trong độ tuổi từ 20 đến 29, nhóm phụ
nữ di cư trong khoảng 20 đến 24 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất, ở mức 30,4%, tiếp theo đó là nhóm phụ
nữ di cư từ 25 đến 29 tuổi (chiếm hơn 22% số phụ nữ lao động di cư được khảo sát) Kết quả này cũng tương đồng với dữ liệu của điều tra Di
cư việt Nam năm 2004 với hơn 33,5% nữ di cư trong độ tuổi 20-24 và 20% từ 25 đến 29 tuổi (tóm tắt trong cột cuối cùng của bảng 2.1) Ngoài ra, kết quả gần 60% phụ nữ di cư ở độ tuổi từ 15 đến
29 như chỉ ra trong khảo sát này cũng tương tự như kết quả của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở
2009 (xem thêm TCTK, 2010)
một đặc điểm đáng lưu ý là có sự khác biệt đáng
kể giữa độ tuổi hiện nay của nữ lao động di cư với độ tuổi của nữ lao động trong lần di cư đầu tiên Gần 29% phụ nữ được khảo sát cho biết họ
đã di cư lần đầu trong độ tuổi 15-19; nhiều người trong số họ đã di cư trong một khoảng thời gian dài Tại thời điểm khảo sát, tỷ lệ phụ nữ di cư lao động đang ở độ tuổi 15-19 chỉ là gần 7% bảng 2.2 minh hoạ rõ hơn cơ cấu về độ tuổi của phụ
nữ di cư được khảo sát giữa lần di cư đầu tiên và
độ tuổi hiện nay Theo đó, độ tuổi trung bình của
nữ lao động di cư hiện nay cao hơn độ tuổi trung bình trong lần di cư đầu tiên là 6 tuổi (29,4 so với 23,6) đây là một tín hiệu khá tích cực vì tính trung
LaO độNG NỮ DI CƯ TẠI vIệT Nam: HỌ LÀ aI?
độ tuổi Tuổi hiện nay Tuổi trong lần di cư đầu
tiên Kết quả điều tra di cư việt Nam 2004 (Gso)
Nhỏ hơn 15 0,00 6,08 0,00 15-19 7,18 29,28 13,3 20-24 30,39 31,49 33,5 25-29 22,10 14,92 20,0 30-34 12,71 8,29 12,8 35-39 14,36 3,87 7,3 40-44 7,73 3,31 6,5 45-49 0,55 1,10 3,9 50-54 3,87 1,10 1,4 55-59 0,55 0,55 1,3 Lớn hơn 59 0,55 0,00 0,00
Bảng 2 1 Phụ nữ di cư theo nhóm tuổi so với kết quả điều tra di cư 2004 (%)
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011 cho số liệu ở các cột ‘Tuổi hiện nay’ và ‘Tuổi trong lần di cư đầu tiên’; Kết quả Điều tra di cư Việt Nam 2004 trong cột cuối cùng.
Trang 15cái của phụ nữ di cư là rất đáng kể đây sẽ là một thách thức lớn về chính sách trong điều kiện các trường ở bậc giáo dục cơ bản sử dụng hộ khẩu
là tiêu chuẩn để phân định học sinh ‘đúng tuyến’
và ‘trái tuyến’ Như đã chỉ ra trong Desingkar
và cộng sự (2006), hầu hết đối tượng di cư đều không đăng ký, hoặc chỉ đăng ký tạm trú nên khả năng tiếp cận của họ với các dịch vụ công bị hạn chế và tốn kém chi phí hơn mức bình thường
vấn đề tương tự cũng được đặt ra trong nghiên cứu của uN việt Nam (2010a) Ngoài ra, kết quả khảo sát cũng gợi ý rằng hơn một nửa phụ nữ
di cư có thể có những yêu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục điều này cũng đặt ra một thách thức lớn về khả năng đáp ứng của các cơ sở y tế tại nơi đến, và quan trọng hơn
là khả năng tiếp cận của phụ nữ với những dịch
vụ cơ bản này (sẽ được phân tích kỹ hơn trong chương 4)
có 1-2 con trong lần đầu di cư tăng từ 32,5% lên
48,1% tại thời điểm hiện nay Số phụ nữ có 3 con trở lên cũng tăng nhẹ khoảng 5 điểm phần trăm (từ 7,7% lên 12,9%) Số con trung bình tại thời điểm di cư lần đầu là chưa đến 1 con, trong khi
số con trong thời điểm hiện tại là hơn 1 con
Ở khía cạnh này, có sự khác biệt đáng kể về mặt địa lý giữa ba tỉnh/thành phố thực hiện khảo sát (xem biểu đồ 2.1) Trong thời điểm lần đầu tiên di cư, lao động nữ được khảo sát ở Quảng Ninh chưa có con chiếm tỷ lệ cao nhất so với Hải Phòng và thành phố Hồ Chí minh (70% so với 52,5 và 45%) Tuy vậy, đến thời điểm hiện nay, tỷ
lệ phụ nữ chưa có con cao nhất là ở Hải Phòng với 37,7%, trong khi Quảng Ninh và thành phố
Hồ Chí minh lần lượt là 31,7 và 30% Như vậy,
sự thay đổi giữa trạng thái ‘chưa có con’ và ‘có
từ 1 con trở lên’ ở Quảng Ninh là lớn nhất (chênh lệch gần 38 điểm %), sau đó là Hải Phòng, và cuối cùng là TP HCm
Kết quả khảo sát ở cả ba tỉnh/thành phố cho thấy thực tế là có 40% phụ nữ di cư đang sống cùng với con cái của họ tại điểm di cư đến điều này đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét Trước hết, như đã nói ở trên, kết quả khảo sát cho thấy hệ quả đa chiều của di cư Di cư không chỉ là sự di chuyển của lao động mà đi kèm với nó là sự di chuyển của trẻ em phụ thuộc vào người di cư
Ở khía cạnh này, hệ thống giáo dục cơ bản của
bình, phụ nữ lao động di cư trong mẫu khảo sát đã
có quãng thời gian khá dài (6 năm) di cư để tìm việc
làm.5 Như vậy, những phát hiện đề cập trong báo
cáo này là dựa trên cơ sở thông tin của nhiều phụ
nữ đã có quá trình di cư trung bình khá dài nên cảm
nhận của họ về các vấn đề liên quan có thể có tính
tin cậy cao Lưu ý rằng, tuổi trung bình của lao động
tự do (ở cả lần di cư đầu tiên và hiện nay) đều cao
hơn so với phụ nữ di cư là công nhân điều này có
thể là do hai nguyên nhân Thứ nhất, rất nhiều công
việc đơn giản mà phụ nữ di cư hay được tuyển
dụng là những công việc đòi hỏi sức khỏe và phụ
nữ ở độ tuổi chưa có gia đình (thuận lợi hơn cho
việc làm thêm, làm ca đêm) Thứ hai, các công việc
lao động tự do đòi hỏi phụ nữ phải có sự trải nghiệm
nhất định để tự bươn trải kiếm sống tại nơi đến
Kết quả khảo sát cũng cho thấy độ tuổi thấp nhất
của phụ nữ lần đầu di cư chỉ là 9 tuổi; trong khi
đó độ tuổi cao nhất là 59 tuổi Thực tế tại địa
bàn khảo sát cho thấy hầu hết đối tượng di cư ở
tuổi rất trẻ hoặc tuổi đã trên 30 là di cư làm các
công việc giúp việc gia đình hoặc có người nhà
đã di cư đến nơi đến và kéo theo quyết định di cư
của những người ở độ tuổi này độ tuổi thấp nhất
trong lần di cư đầu tiên phản ảnh một thực trang
đáng lo ngại vì quãng tuổi dưới 15 là độ tuổi đi
học trung học cơ sở Như vậy, trong khi rất nhiều
bạn bè đồng trang lứa đang ngồi trên ghế nhà
trường, thì một số ít các em gái nhỏ đã phải di cư
kiếm sống Rất có thể, đây là nhóm đối tượng dễ
bị tổn thương nhất do hạn chế về sức lao động,
khả năng nhận thức cũng như trình độ học vấn
Họ có nguy cơ trở thành nạn nhân của bóc lột
sức lao động trẻ em và những nguy cơ khác như
lạm dụng tình dục, bạo lực trẻ em Kết quả khảo
2.2 Hoàn cảnh hôn nhân và gia đình
2.2.1 Tình trạng hôn nhân
Theo phân tích ở trên, phần lớn nữ lao động di
cư đang nằm trong độ tuổi hôn nhân (20 đến 29 tuổi) Kết quả trong bảng 2.3 cho thấy hơn 54%
số phụ nữ lao động di cư đã có gia đình, 34%
hiện đang sống độc thân, chỉ có một tỷ lệ tương đối thập (hơn 11%) ở tình trạng ly thân, ly hôn hoặc góa chồng một kết quả đáng quan tâm là
sự thay đổi trong tình trạng hôn nhân kể từ lần di
cư đầu tiên so với thời điểm hiện nay Thứ nhất, hơn 20% số phụ nữ được khảo sát cho thấy họ chuyển từ tình trạng ‘độc thân’ sang ‘đã lập gia đình’ giữa lần di cư đầu tiên và thời điểm hiện tại
Kết quả này cũng tương đồng với điều tra Di cư
2004, trong đó hơn một nửa phụ nữ di cư đã lập gia đình Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết số phụ nữ di cư lập gia đình với người chồng tại nơi xuất cư và tiếp tục ra thành phố lao động sau khi lập gia đình, chỉ có một số ít có chồng di cư từ điểm xuất cư khác Thứ hai, tỷ lệ phụ nữ di cư rơi vào tình trạng ly thân, ly hôn có xu hướng tăng trong giai đoạn di cư đây cũng có thể là một hệ quả của việc di cư do gia đình không có thời gian đoàn tụ
điểm quan trọng nhất về mặt chính sách có thể rút ra từ bảng 2.3 ở trên, đó là hệ quả về tiếp cận giáo dục và chăm sóc y tế với đặc thù hơn một nửa phụ nữ lao động di cư đã có gia đình, phần nhiều trong số họ có con cái Kết quả khảo sát cho thấy hơn 40% nữ lao động di cư trong khảo sát này đang sống cùng với con tại nơi đến Như vậy, nhu cầu tiếp cận giáo dục các cấp cho con
Bảng 2 2 độ tuổi nữ lao động di cư theo nghề nghiệp nơi đến
Hiện nay Lần đầu di cư Hiện nay Lần đầu di cư Hiện nay Lần đầu di cư
Chưa lập gia đình 55,80 34,25 40,2
đã lập gia đình 38,67 54,14 55,8
Ly thân, ly hôn, góa 5,52 11,60 4,00
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011; Điều tra di cư Việt Nam 2004 của Tổng Cục Thống Kê
Bảng 2 4 số con tại thời điểm di cư lần đầu và hiện nay (người)
Di cư lần đầu Hiện nay
Chưa có con 59,8 38 1-2 con 32,5 48,1
3 con trở lên 7,7 12,9
Số con trung bình chung 0,7 1,3
Số con trung bình của công nhân 1,5 1,7
Số con trung bình của lao động
tự do 1,7 2,1
Số con lớn nhất 4 6
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011
Trang 16ở mức trung học phổ thông Trong khi các tỉ lệ này ở Hải Phòng là 50,8%, 36,1% và ở Quảng Ninh là 35% và 45% Như vậy, nếu so sánh giữa
ba tỉnh/thành phố thuộc diện khảo sát thì phụ nữ
di cư tại TP HCm có trình độ học vấn trung bình thấp nhất Kết quả khảo sát định tính không cung cấp một câu trả lời rõ ràng cho thực trạng này
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng sự khác biệt đó
có nguồn gốc từ tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng (là nơi xuất cư của rất nhiều phụ nữ di cư đến Hải Phòng và Quảng Ninh) trong thực tế cao hơn mặt bằng chung ở
các tỉnh đồng bằng Sông mê-Kông (là nơi xuất
cư của nhiều phụ nữ di cư đến TP HCm)
biểu 2.3 dưới đây sử dụng kết quả về trình độ học vấn của nữ lao động di cư được khảo sát trong điều tra Di cư 2004 của TCTK về cơ bản, kết quả từ điều tra Di cư 2004 cũng tương đồng với kết quả khảo sát thực hiện trong nghiên cứu này Theo đó, trình độ tiểu học và trung học cơ
sở chiếm tỉ lệ lớn nhất, ở mức trên 60% trên cả nước và ở hai khu vực kinh tế lớn là thành phố
Hồ Chí minh và khu vực kinh tế đông bắc (bao
việt Nam đang tạo ra những bất lợi (về tiếp cận
và chi phí) đối với con em của đối tượng di cư
Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với dịch vụ
y tế Thứ hai, kết quả khảo sát cũng cho thấy
có đến 60% phụ nữ di cư phải sống xa con cái
của họ để lao động tạo thu nhập Có nhiều lý do
của tình trạng này một lý do khá phổ biến là do
nhiều phụ nữ di cư xác định đi làm trong thời
gian ngắn hạn để kiếm thêm thu nhập cho gia
đình Nhưng phổ biến nhất vẫn là do họ không
đủ khả năng trang trải chi phí sinh hoạt và chi
phí tiếp cận các dịch vụ cho con cái của họ (gồm
chi phí chỗ ở, chi phí sinh hoạt và đặc biệt là chi
phí học tập, y tế) Kết quả là số phụ nữ này buộc
phải chấp nhận sống xa con cái vì lý do sinh kế
2.3 Trình độ học vấn
Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy hầu hết
lao động di cư đều là lao động phổ thông, không
đòi hỏi tay nghề và trình độ học vấn cao Kết quả
đó cũng được phát hiện trong địa bàn khảo sát
của nghiên cứu này bảng 2.5 tóm tắt về trình độ
học vấn của lao động nữ nhập cư (được đánh giá
trên cơ sở trình độ học vấn cao nhất đạt được)
theo bốn nhóm: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12), trung cấp trở lên (gồm trung cấp, cao đẳng và đại học) Kết quả cho thấy cấp học trung học cơ sở là cấp học phổ biến nhất trong nhóm mẫu được khảo sát, chiếm khoảng 47,5% Tiếp đến là tỷ lệ nữ lao động nhập cư học tới cấp trung học phổ thông, ở mức hơn 33% Như vậy, phụ nữ di cư hầu hết là biết đọc biết viết nhưng tỷ lệ phụ nữ di cư có tay nghề (được hiểu là có đào tạo từ trung cấp trở lên) là rất thấp với trình độ trung bình như vậy, một lựa chọn phổ biến nhất (và có lẽ là duy nhất sẵn có cho họ) là những công việc lao động chân tay, không đòi hỏi đào tạo nhiều như trong các cơ
sở gia công may mặc, giầy dép (xem thêm phân tích trong phần 2.5)
biểu 2.2 minh họa khác biệt giữa trình độ học vấn trung bình của ba tỉnh/thành phố trong diện khảo sát Quảng Ninh có tỉ lệ phụ nữ di cư tốt nghiệp trung cấp trở lên cao nhất, đạt 15% so với 8,3%
và 4,9% ở TP HCm và Hải Phòng Trong khi đó,
TP HCm là địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở cao nhất với hơn 56,6%, và hơn 18%
Biểu đồ 2 1 Tỷ lệ phần trăm về số con tại thời điểm hiện nay (%)
Lần đầu
Hiện nay
Chưa có con 1 đến 2 con 3 con trở lên
Lần đầu Hiện nay Lần đầu Hiện nay0%
50%
100%
13.134.4
11.550.8
525
18.350
35
45 15
56.7
18.3 8.3
THPTKhông biết đọc, biết viết
Nguồn: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004, Tổng Cục Thống Kê
Trang 17gần 10% là di cư từ các thành phố Xét trên khía cạnh địa lý, tỷ lệ phụ nữ lao động di cư xuất cư
từ nông thôn chiếm đông nhất là Hải Phòng (hơn 81%), trong khi Quảng Ninh và TP HCm xấp xỉ nhau với lần lượt là 65% và 67,8%
điểm đáng lưu ý từ kết quả khảo sát này đó là thách thức đặt ra với phụ nữ nông thôn khi di cư đến các đô thị Rõ ràng, phụ nữ nông thôn di cư
ra thành thị sẽ phải trải qua một quá trình điều chỉnh, thích nghi để hòa nhập với tác phong làm việc công nghiệp và cuộc sống với tốc độ nhanh tại nơi đến là các thành phố, trung tâm kinh tế lớn với trình độ học vấn ở mức trung bình và thấp (như trên), quá trình điều chỉnh này không phải là dễ dàng Trong điều kiện đó, đáng lo ngại
là hầu hết đối tượng phụ nữ di cư đều không có chuẩn bị gì đáng kể để đối phó với sự thay đổi này Kết quả khảo sát định tính cho thấy có rất
ít phụ nữ di cư có tìm hiểu về thông tin (từ các nguồn khác nhau, kể cả từ bạn bè và người thân) trước khi quyết định di cư Trong khi đó, phụ nữ
di cư, cũng như các đối tượng lao động di cư khác, không hề được tiếp cận với bất kỳ sự trợ giúp chính thức đáng kể nào từ các cấp chính quyền điều này làm tăng gánh nặng về tinh thần cho đối tượng này khi họ hoàn toàn thiếu hụt về
kỹ năng để hòa nhập Quan trọng hơn, như đã đề cập ở trên, vì thị trường lao động ở các thành phố lớn có đòi hỏi ngày càng cao đối với lao động phổ thông, những người phụ nữ có xuất thân từ nông thôn có thể sẽ khó tiếp cận hơn với các cơ hội việc làm thuộc khu vực chính thức nếu họ không chuẩn bị đầy đủ cho mình trước khi di cư
2.5 đặc điểm về nghề nghiệp
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ lao động nữ di cư
là công nhân chiếm khoảng 58% mẫu khảo sát, trong khi đó 42% còn lại là lao động nữ di cư làm các công việc tự do Lao động nữ di cư là công nhân chủ yếu làm việc trong các xí nghiệp gia công may mặc và giày dép; trong khi phụ nữ di
cư lao động tự do chủ yếu là buôn bán nhỏ (buôn bán quần áo, giày dép, hoa quả, bán hàng rong), làm thuê trong các cơ sở dịch vụ (cắt tóc, gội đầu) Có hai xu hướng rõ rệt xuất hiện khi xem xét đến nghề nghiệp của công nhân và lao động
tự do trước lần di cư đầu tiên so với công việc hiện nay và công việc đầu tiên tại nơi đến Thứ nhất, có đến gần 80% nữ công nhân di cư trước khi di cư đang đi học tại quê nhà hoặc làm nông (theo bảng 2.7, hai tỉ lệ này hiện nay đều xấp xỉ ở mức 40%) Trong khi đó, tỷ lệ nữ di cư lao động
tự do đi học trước khi thực hiện di cư lần đầu chỉ
là 20% (bằng gần ½ so với đối tượng phụ nữ di
cư là công nhân) Thứ hai, phần lớn nữ lao động
tự do hiện nay có xuất thân từ nông dân hoặc lao động tự do, với hơn 44% lao động tự do hiện nay
đã từng làm nông nghiệp trước khi di cư lần đầu tiên và gần 30% đã từng làm nghề tự do trước khi di cư điều này cũng phản ánh thực tế về trình độ học vấn trung bình của hai đối tượng này (như đã phân tích trong mục 2.3)
một câu hỏi quan trọng đặt ra là với thời gian trung bình từ lần đầu di cư so với thời điểm hiện nay là khá dài (trung bình là 6 năm – như phân tích ở trên), liệu có sự thay đổi gì đáng kể trong nghề nghiệp của phụ nữ di cư hay không? với
gồm Quảng Ninh và Hải Phòng) Trong khi đó,
phụ nữ di cư có trình độ trên trung cấp chiếm tỉ
lệ rất nhỏ (dưới 6% - so với mức trung bình trong
nghiên cứu này là 9,4%)
Kết quả điều tra cho thấy có sự khác biệt đáng kể
giữa trình độ học vấn trung bình của phụ nữ di cư
là công nhân và nhóm phụ nữ di cư là lao động tự
do bảng 2.6 cho thấy tỉ lệ nữ công nhân có trình
độ trên trung cấp cao 1,5 lần so với tỉ lệ này ở nữ
lao động tự do (9,68% so với 5,59%) và tỉ lệ nữ
công nhân tốt nghiệp THPT cao gần gấp đôi so
với lao động tự do (43,01% so với 23,81%) điều
này cũng phù hợp với kết quả quan sát thực tế tại
địa bàn khảo sát khi hầu hết đối tượng di cư tự do
làm các công việc như buôn bán nhỏ, đồng nát
Quan trọng hơn, kết quả này gợi ý rằng học vấn,
dù không phải là yếu tố quan trọng nhất quyết
định đến di cư, nhưng vẫn có ý nghĩa nhất định
Phụ nữ di cư có trình độ học vấn cao hơn thường
dễ tìm việc làm hơn Trong khi đó, phụ nữ di cư
lao động tự do là đối tượng có học vấn thấp nhất,
và vì vậy có thể là đối tượng dễ bị tổn thương hơn
so với phụ nữ di cư lao động là công nhân
Trong phạm vi của khảo sát này, chúng tôi có tìm
hiểu về khả năng lao động di cư nữ được học hỏi
để nâng cao trình độ học vấn và tay nghề trong
công việc Tuy nhiên, kết quả khảo sát là rất hạn
chế Gần như không có bất kỳ một trường hợp
phụ nữ di cư nào cho biết họ có cơ hội được nâng
cao trình độ học vấn tại nơi đến điều này cũng
dễ hiểu vì lý do chính của di cư không phải là
để đi học mà là để đi làm kiếm thêm thu nhập
Kết quả mà nhóm khảo sát kỳ vọng là phụ nữ lao động di cư được đào tạo thêm về tay nghề tại nơi làm việc Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngay cả việc đào tạo thêm về tay nghề cũng rất hạn chế Lý
do chính là công việc của phụ nữ di cư là công nhân, chỉ đòi hỏi lao động phổ thông với một số
kỹ năng rất đơn giản vì vậy, số ít phụ nữ có cơ hội đào tạo tay nghề cũng chỉ là những đào tạo rất đơn giản Phần lớn phụ nữ cải thiện về tay nghề của họ thông qua giai đoạn đầu tiên làm phụ việc trong các dây chuyền sản xuất đơn giản
2.4 đặc điểm về nơi xuất cư
Như đã phân tích trong chương 1, di cư từ nông thôn đến thành thị có tốc độ tăng nhanh và đang trở thành một dạng di cư có ý nghĩa phát triển quan trọng nhất ở việt Nam Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng phần lớn lao động di cư
ở các thành phố và các tỉnh có công nghiệp, dịch
vụ phát triển đều có xuất thân từ nông thôn, điều này phản ánh xu hướng của làn sóng di cư ngày càng mạnh mẽ từ nông thôn lên thành thị trong quá trình đô thị hóa tại việt Nam Kết quả khảo sát phụ nữ di cư trong nghiên cứu này cũng chỉ
ra xu hướng tương tự biểu đồ 2.4 cho thấy có đến 71,3% phụ nữ di cư xuất cư từ nông thôn, tiếp đó là 18,5% ra đi từ thị xã, thị trấn, và chỉ có
Bảng 2 6 Cấp học cao nhất theo nghề nghiệp (%)
Nghề nghiệp hiện tại Tiểu học THCs Cấp học cao nhất THPT Trên trung
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011
Bảng 2 7 Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên và nghề nghiệp hiện nay (%)
Hiện nay Nghề nghiệp trước lần di cư đầu tiên
đi học Làm nông Công nhân Tự do Chưa làm gì Tổng
Công nhân 40,7 39,6 11 7,7 1,1 100 Lao động tự do 20 44,4 3,3 28,9 3,3 100
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011
Bảng 2 8 Nghề nghiệp tại nơi đến trong lần di cư đầu tiên và hiện nay(%)
Hiện nay Nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên*
Công nhân Tự do đi học Tổng
Công nhân 89 9,9 1,1 100 Lao động tự do 4,4 94,4 1,1 100
Nguồn: Điều tra Phụ nữ và Di cư trong nước 2011 Ghi chú: *Nghề nghiệp tại nơi đến đầu tiên được nghiên cứu định nghĩa là nghề nghiệp trong thời gian dài nhất của
nữ lao động di cư tại nơi đến, bất kể họ đã thay đổi loại hình nghề nghiệp bao nhiêu lần tại nơi đến đầu tiên.
Trang 18Phần 3:
LAo đỘNG Nữ DI Cư: LựC đẩy vÀ LựC HúT
đặc thù lao động tự do dễ bị tổn thương hơn làm
công nhân thì có nhiều phụ nữ lao động di cư
sau một thời gian bươn trải có thể tìm được công
việc trong các cơ sở sản xuất hay không? bảng
2.8 dưới đây đưa ra kết quả khảo sát cho những
câu hỏi này
Kết quả khảo sát cho thấy câu trả lời tiêu cực cho
những câu hỏi ở trên Nếu so sánh giữa nghề
nghiệp trong lần di cư đầu tiên và nghề nghiệp
hiện nay của phụ nữ di cư thì gần như không có
sự thay đổi đáng kể nào Cụ thể, theo bảng 2.8,
có hơn 94% nữ lao động tự do hiện nay đã từng
làm nghề tự do và 89% nữ công nhân hiện nay
đã từng làm công nhân tại nơi đến đầu tiên Chỉ
có một tỉ lệ rất nhỏ nữ lao động chuyển từ công
nhân sang lao động tự do và ngược lại có thể
vì sở thích và những lí do cá nhân thay vì biểu
hiện thành một xu hướng rõ rệt điều này có thể
xuất phát từ hạn chế về cơ hội học hỏi trong thời
gian di cư (như đã nhắc đến ở trên) bên cạnh
đó, kết quả khảo sát cũng gợi ý rằng phụ nữ di
cư gần như phải tự bươn trải kiếm sống, chỉ dựa
vào bản thân họ mà rất ít có cơ hội phát triển, cải
thiện tài sản con người
Trang 19Chương 3 tập trung vào các kết quả về động
cơ di cư để bao quát các yếu tố tác động tới quyết định di cư của phụ nữ, báo cáo
sẽ tập trung phân tích hai nhóm chính gồm (i) yếu
tố lực đẩy – bắt nguồn từ nơi xuất cư và cá nhân người phụ nữ; và (ii) yếu tố lực hút – liên quan đến điều kiện kinh tế-xã hội của nơi đến Trong thực tế, quyết định di cư của lao động nữ là tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau Phần lớn phụ
nữ di cư vì mục đích kinh tế, nhưng ngay cả vì mục đích này thì cũng có sự tương tác giữa yếu
tố đẩy (ví dụ như do hạn chế về cơ hội việc làm, thu nhập thấp ở nơi xuất cư) và yếu tố kéo (ví dụ như do cầu lao động phổ thông tại nơi đến, cơ hội có thu nhập cao hơn mức trung bình ở nông thôn) vì vậy, việc phân tách giữa nhóm yếu tố đẩy và yếu tố kéo trong chương này chỉ để thuận tiện cho phân tích
3.1 Yếu tố lực đẩy với phụ nữ di cư
Các nghiên cứu về di cư trước đây không đưa ra một cách phân loại thống nhất nào về nhóm yếu tố
‘lực đẩy’ Trong báo cáo này, việc xác định nhóm
‘lực đẩy’ gồm những yếu tố nào xuất phát từ kết quả khảo sát thực tế Theo đó, các yếu tố ‘lực đẩy’ tác động đến quyết định di cư của phụ nữ gồm các yếu
tố liên quan đến (i) thị trường lao động nơi xuất cư;
và (ii) hoàn cảnh gia đình của nữ lao động di cư
3.1.1 Lực đẩy từ thị trường lao động nơi xuất cư
Như đã phân tích trong Chương 2, đối tượng phụ nữ lao động di cư ở địa bàn khảo sát chủ yếu đến từ các vùng nông thôn Kết quả khảo sát cho thấy những hạn chế của thị trường lao động nông thôn nơi xuất cư là một yếu tố lực đẩy cơ bản với những phụ nữ di cư thuộc dạng này.6
Hầu hết các nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở việt Nam đều thừa nhận vai trò quan trọng của nông nghiệp trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Phạm và cộng sự (2009) chỉ rõ vai trò của nông nghiệp đối với tạo việc làm cho lực lượng lao động trẻ, tăng trưởng nhanh của việt Nam Tuy nhiên, cũng như trong báo cáo của van de Walle
và Cratty (2003) hay Wb (2006), Phạm và cộng sự (2009) chỉ ra vai trò ngày càng giảm của khu vực nông nghiệp đối với tạo việc làm Sử dụng số liệu tổng hợp từ các cuộc điều tra mSHGđ trong giai đoạn 1993-2008, kết quả tính toán cho thấy vào đầu thập kỷ 1990, nông nghiệp tạo ra khoảng 80% lượng
6 Kết quả phân tích trong mục 3.1.1 này chủ yếu áp dụng cho đối tượng phụ nữ di cư từ nông thôn đến thành thị (chiềm 71,3% mẫu khảo sát) Ở một góc
độ nhất định, những phân tích này cũng đúng đối với đối tượng phụ nữ di cư từ thị xã/thị trấn ra các thành phổ trong điện khảo sát (chiếm 18,5% mẫu khảo sát).
LaO độNG NỮ DI CƯ:
LỰC đẨY vÀ LỰC HÚT
Bảng 3 1 Tìm việc trong thời gian nông nhàn (%)
% đồng ý Trung bình 56,4 địa điểm
Hải Phòng 58,9 Quảng Ninh 56,6