Mục tiêu chủ yếu củaGEF/SGP trong các năm thử nghiệm tại Việt Nam là thiết lập một chương trình phân cấp về tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ địa phương NGO và các tổ chức cộng đồngC
Trang 1Quỹ Môi trường toàn cầuChương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam
(UNDP/GEF - SGP)
Báo cáo đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
N h ó m đ á n h g i á:Trần Đình ĐànNguyễn Khánh Xuân
Vũ Hữu TuynhNguyễn Thị Kim Anh
Tháng 1/2002
Trang 2Mục lục Trang
P h ầ n I : Đ á n h g i á t h ự c h i ệ n G E F / S G P t ạ i c ấ p q u ố c g i a
9
1 Chiến lược quốc gia GEF/SGP
2 Thực hiện kinh phí đã phân bổ
3 Phổ biến thông tin về GEF/SGP
4 Xây dựng năng lực cho các đối tác GEF/SGP
5 Xây dựng quan hệ cộng tác với các đối tượng tham gia và thụ hưởng của
GEF/SGP
6 Theo dõi và đánh giá GEF/SGP
7 Cơ chế hoạt động của GEF/SGP
P h ầ n I I Đ á n h g i á t h ự c h i ệ n G E F / S G P t ạ i c ấ p d ự á n
21
1 Xây dựng dự án GEF/SGP
2 Thực hiện dự án GEF/SGP
3 Theo dõi, giám sát và đánh giá dự án GEF/SGP
Phụ lục
Phụ lục 1: Phiếu đánh giá GEF/SGP
Phụ lục 2: Điều khoản giao việc chuyên gia đánh giá GEF/SGP
Phụ lục 3: Danh sách các dự án viếng thăm trong quá trình đánh giá
GEF/SGP
Phụ lục 4: Danh sách các dự án GEF/SGP
Phụ lục 5: Danh sách các dự án được GEF/SGP cấp kinh phí xây dựng dự án
Trang 3Chương 1: Tổng quan về GEF/SGP tại Việt Nam
I Giới thiệu về chương trình GEF/SGP
Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) là một cơ chế tài chính được xây dựng nhằm cung cấpviện trợ cho các nước đang phát triển và những nước đang trong giai đoạn chuyển đổikinh tế để xây dựng và thực hiện các dự án và hoạt động nhằm bảo vệ môi trường toàncầu Nhận thức được vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc tham gia bảo tồn đadạng sinh học, hạn chế khả năng thay đổi theo hướng bất lợi của khí hậu và bảo vệ cácvùng nước quốc tế, đã dẫn đến sự phát động của Chương trình Phát triển của Liên HợpQuốc (UNDP) về Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu(GEF/SGP) năm 1992 GEF/SGP tài trợ các dự án với mức tối đa là 50.000 USD và cungcấp các hình thức hỗ trợ khác cho các tổ chức hoạt động xã hội ở cộng đồng và các tổchức phi chính phủ địa phương để giải quyết những vấn đề của địa phương liên quan tớicác lĩnh vực trọng tâm của GEF: sự đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu, ô nhiễm cácvùng nước quốc tế, và sự huỷ hoại của tầng ôzôn
Hiện nay GEF/SGP đang hoạt động tại 60 quốc gia trên toàn thế giới, bao gồm các quốcgia ở châu Phi, Trung Đông, châu á và Thái Bình Dương, châu Âu và châu Mỹ La Tinh.Chương trình đã tài trợ cho hơn 2.300 dự án ở các quốc gia tham gia vào chương trình chocác hoạt động của cộng đồng và địa phương trong các lĩnh vực trọng tâm của GEF
II Tổng quan về chương trình GEF/ SGP tại Việt Nam
UNDP phát động GEF/ SGP tại Việt Nam vào tháng 11 năm 1998 Mục tiêu chủ yếu củaGEF/SGP trong các năm thử nghiệm tại Việt Nam là thiết lập một chương trình phân cấp
về tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ địa phương (NGO) và các tổ chức cộng đồng(CBO) để thực hiện các dự án và hoạt động có liên quan trong các lĩnh vực trọng tâm củaGEF Để triển khai GEF/SGP tại Việt Nam, văn phòng GEF/SGP được thành lập với sựtuyển dụng một điều phối viên cấp quốc gia và thư ký, thành lập Ban Chỉ Đạo Quốc Gia(BCĐQG), xây dựng chiến lược quốc gia và cơ chế thực hiện phù hợp với những quy địnhchung của GEF/SGP toàn cầu và điều kiện thực tiễn cụ thể của Việt Nam
1 Thiết lập văn phòng và bố trí nhân sự GEF/SGP
Văn phòng GEF/SGP tại Việt Nam được đặt tại Văn phòng UNDP Việt Nam UNDP ViệtNam hỗ trợ triển khai thực hiện GEF/SGP, hỗ trợ thiết lập và phát triển các mối quan hệvới các cơ quan tổ chức có liên quan của chính phủ cũng như thiết lập mối quan hệ côngtác với các cơ quan hành chính và tài chính khác trong nước để phục vụ cho chương trìnhGEF/SGP UNDP tại Việt Nam hỗ trợ theo dõi và đánh giá thực hiện GEF/SGP Đại diệnthường trú UNDP ký Thư thoả thuận với các tổ chức tiếp nhận viện trợ của GEF/SGP Đạidiện UNDP tham gia BCĐQG GEF/SGP Văn phòng UNDP tạo điều kiện cho việc thựchiện các khoản chi trả của dự án
GEF/SGP tuyển dụng một điều phối viên cấp quốc gia và một thư ký Điều phối viên quốcgia đóng vai trò chủ trì trong việc quản lý thực hiện chương trình quốc gia Mỗi điều phốiviên chịu trách nhiệm quản lý việc thực hiện chương trình quốc gia của mình Nhiệm vụchính của điều phối viên quốc gia bao gồm nâng cao nhận thức về các mục tiêu và quytrình hoạt động của chương trình GEF/SGP cho những đối tượng thực hiện chủ chốt, hỗtrợ các NGO địa phương và CBO lập đề nghị xin dự án, khảo sát sơ bộ đề nghị xin dự án,
Trang 4tạo điều kiện cho hoạt động của Ban chỉ đạo quốc gia, cũng như cho các NGO địa phương
và CBO tiếp cận với dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, đảm bảo thực hiện tốt công tác kiểm tra giámsát, đánh giá thực hiện chương trình và đặt nền móng cho sự bền vững của chương trình
Điều phối viên quốc gia là đầu mối liên lạc chủ yếu với chính phủ, đôi khi còn được hỗtrợ bởi đại diện cơ quan chính phủ trong Ban Chỉ đạo quốc gia Điều phối viên quốc gia
có trách nhiệm báo cáo về tình hình triển khai GEF/SGP tại Việt Nam với ban điều phốiGEF/SGP (CPMT) và Văn phòng các dịch vụ của Liên hiệp quốc (UNOPS) tại New York
2 Thành lập Ban Chỉ Đạo Quốc Gia GEF/SGP
Ban chỉ đạo quốc gia (BCĐQG) có nhiệm vụ đưa ra hướng dẫn và chỉ thị về chiến lượccho chương trình cũng như khảo sát và chọn lọc dự án để cấp kinh phí Ban này chỉ đạoviệc xây dựng một chiến lược quốc gia và thiết lập các tiêu chí lựa chọn dự án phù hợp vớiquốc gia trong khuôn khổ hướng dẫn chung của GEF Các thành viên của Ban Chỉ đạotham gia trên cơ sở tự nguyện và bao gồm đại diện của các tổ chức NGO địa phương vàquốc tế, đại diện các cơ quan có liên quan của chính phủ, các cơ quan nghiên cứu khoahọc kỹ thuật, và đại diện của UNDP Việt Nam Quy trình làm việc và chức năng nhiệm vụcủa BCĐQG đã được soạn thảo Các thành viên của BCĐQG tham gia theo nhiệm kỳ 2năm Đã có hai nhiệm kỳ của BCĐQG: nhiệm kỳ thứ nhất cho giai đoạn 1999 - 2000 vànhiệm kỳ thứ hai cho giai đoạn 2001 - 2003 BCĐQG làm việc qua các cuộc họp định kỳ
tổ chức hàng qúy, thư từ, điện thoại, fax và email
3 Xây dựng chiến lược quốc gia GEF/SGP trong giai đọan 1999 - 2001
Một hoạt động chủ yếu đã triển khai trong thời gian đầu thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam
là việc xây dựng chiến lược quốc gia GEF/SGP trong giai đọan 1999 - 2001 Chiến lượcquốc gia GEF/SGP đã xác định các mục tiêu chính, các kết quả dự kiến, và các địnhhướng ưu tiên cho việc phân bổ kinh phí tài trợ theo các tiêu chí chung của GEF/SGPtrong những năm đầu thí điểm GEF/SGP tại Việt Nam Chiến lược được xây dựng căn cứvào các điều kiện cụ thể về các vấn đề môi trường ưu tiên của Việt Nam trong các lĩnhvực trọng tâm của GEF/SGP, các chính sách, chương trình kế hoạch về môi trường củachính phủ Chiến lược quốc gia cũng đã xác định phương pháp tiếp cận của GEF/SGP làphát huy vai trò cộng đồng tham gia giải quyết các vấn đề môi trường ưu tiên trong cáclĩnh vực trọng tâm của GEF
4 Bối cảnh môi trường tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và điềukiện môi trường thuận lợi Việt Nam có tính đa dạng cao về các hệ sinh thái tự nhiên vànguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị lớn về kinh tế và môi trường
Việt Nam đã và đang trải qua quá trình tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa nhanhchóng trong các thập kỷ qua Tuy nhiên, sự tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế đanglàm nảy sinh một mối đe dọa lớn đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên của ViệtNam Trong số những vấn đề nghiêm trọng nhất trong quản lý môi trường và tài nguyênthiên nhiên ở Việt Nam là nạn phá rừng, tình trạng suy thoái đất đai, việc sử dụng khôngbền vững dẫn đến sự cạn kiệt và suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các hệsinh thái và thất thoát các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, và tình trạng ô nhiễm môitrường ngày càng tăng
Trang 5Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý môi trường và tài nguyên thiênnhiên đối với sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của đất nước, chính phủ Việt Nam đãrất cam kết và tiến hành những nổ lực lớn để quản lý tốt hơn môi trường và tài nguyênthiên nhiên, với sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng quốc tế, bao gồm các tổ chức đa phương
và song phương, các tổ chức phi chính phủ quốc tế Các chiến lược và kế hoạch quốc gia
đã được triển khai thực hiện trong phạm vi một khung pháp lý và pháp chế được điềuchỉnh, tăng cường nhằm giải quyết các vấn đề môi trường và hỗ trợ thực hiện các công
ước mà Việt Nam đã tham gia ký kết, ví dụ như công ước về đa dạng sinh học (CBD),công ước kung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), và công ước hạn chếsản xuất và sử dụng các hoá chất hữu cơ lâu bền (POPs)
Bên cạnh những nỗ lực của chính phủ và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, các tổ chứcNGO địa phương và các tổ chức cộng đồng cũng tham gia đóng góp vào công tác quản lýmôi trường ở Việt Nam Nhận thức được rằng các tổ chức NGO địa phương có một vai tròquan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện các chương trình quốc gia, đặc biệt là huy động sựtham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường và đẩy mạnh sự phát triển bềnvững ở cấp cơ sở, trong các năm qua, chính phủ đã hỗ trợ cho sự hoạt động của các tổchức NGO địa phương Hiện nay, chính phủ đang rà soát lại các chính sách, pháp chế đốivới hoạt động của các tổ chức NGO địa phương Mặc dù ở Việt Nam hiện nay số lượngcác tổ chức NGO địa phương rất hạn chế và còn tương đối non trẻ, các tổ chức này đãthực sự đóng một vai trò quan trọng trong các dự án phát triển cộng đồng và xóa đói giảmnghèo nói chung và trong công tác bảo vệ môi trường nói riêng Các tổ chức NGO địaphương đã tập hợp các nhà hoạt động xã hội, các nhà khoa học, và các nhà quản lý có trithức và kinh nghiệm trong lĩnh vực môi trường và phát triển cộng đồng để vận động cộng
đồng tham gia vào thực hiện các chính sách, chương trình hoạt động của chính phủ trongcông tác quản lý và bảo vệ môi trừơng
Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam bao gồm các tổ chức quần chúng, như Hội Liên HiệpPhụ Nữ, Đoàn Thanh Niên, Hội Nông Dân và Hội cựu chiến binh Các tổ chức này hoạt
động ở cấp xã và hình thành lên dần các cấp cao hơn, đến trung ương Các tổ chức này đãtham gia thực hiện các chính sách của chính phủ trong lĩnh vực môi trường, các chươngtrình dự án phát triển cộng đồng, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường được tài trợbởi các tổ chức quốc tế triển khai trên địa bàn địa phương Các tổ chức này đóng vai tròquan trọng trong việc vận động cộng đồng tham gia thực hiện các chủ trương chính sáchmôi trường của chính phủ, và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đềmôi trường
Với những nỗ lực trên, những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môitrường trong những năm qua là to lớn Khung pháp lý và chính sách cùng với chiến lược
và các chương trình hoạt động quốc gia đã được xây dựng và hoàn thiện, tạo cơ sở vàcung cấp định hướng chiến lược cho các hoạt động trong công tác quản lý và bảo vệ môitrừơng nhằm mục tiêu phát triển bền vững Các cơ chế và hệ thống phân cấp thực hiện ởcấp cơ sở đã và đang được triển khai thực hiện trong việc thực hiện các chủ trương chínhsách của chính phủ trong công tác quản lý bảo vệ môi trường và phát triển nông thôn Tuynhiên, mức độ tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý, bảo vệ môi trường còn rấthạn chế Nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường và huy động cộng đồng tham giatích cực vào công tác quản lý, bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiênnhiên sẽ góp phần đáng kể vào việc thực hiện thành công các chiến lược và kế hoạch quốcgia trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho sự pháttriển bền vững
Trang 6Chương 2: Quá trình đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
Chương này mô tả mục đích, quy trình và phương pháp đã sử dụng để thực hiện công tác
đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
I Mục đích đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
Đánh giá GEF/SGP là một hoạt động trong chiến lược theo dõi và đánh giá GEF/SGP toàncầu nhằm mục tiêu đánh giá tổng thể việc thực hiện chương trình tại cấp quốc gia và được
dự kiến tiến hành hai năm một lần do BCĐQG và điều phối viên quốc gia thực hiện Đánhgiá GEF/SGP tạo cơ hội cho sự trao đổi về thực hiện GEF/SGP với các đối tác và các đốitượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP Việt Nam là một trong những quốc gia thamgia vào đợt đánh giá trong năm 2002, nhằm mục đích phân tích các thành quả đạt đượccũng như những tồn tại trong cơ chế thực hiện tại cấp chương trình và cấp dự án củachương trình GEF/ SGP tại Việt Nam trong những năm thí điểm 1999 - 2001, rút ra nhữngbài học kinh nghiệm cho việc thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam có hiệu quả hơn trongthời gian tới
II Mục tiêu cụ thể đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
Mục tiêu cụ thể của việc đánh giá GEF/SGP nhằm:
1 đánh giá được các ưu điểm, nhược điểm của cơ chế thực hiện chương trình GEF/SGPtại Việt Nam ở cấp quốc gia và cấp dự án, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm chocác thành công cũng như thất bại
2 tạo cơ sở cho sự điều chỉnh chiến lược quốc gia trong thực hiện GEF/SGP tại ViệtNam để phù hợp với những thay đổi trong môi trường thực hiện GEF/SGP với nhữngthử thách đã xác định được cũng như những thử thách mới phát sinh;
3 Giúp Bộ phận điều phối chương trình GEF/SGP toàn cầu (CPMT) trong việc xác định
được các định hướng ưu tiên để tập trung nguồn lực trong việc hỗ trợ kỹ thuật thựchiện GEF/SGP tại Việt Nam nói riêng và tại cấp quốc gia nói chung một cách hiệuquả hơn;
4 Cung cấp các thông tin về tình hình thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam để góp phần vàobáo cáo chung về tình hình thực hiện chương trình GEF/SGP của CPMT nộp cho hội
đồng GEF
III Kết quả dự kiến của quá trình đánh giá GEF/SGP tại Việt
Nam
Kết quả chính của quá trình đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam là bản báo cáo nêu đưa ra
được quy trình và phương pháp đã tiến hành, các kết quả thu được trong quá trình đánhgiá về việc thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam trong những năm thí điểm từ 1999 đến 2001,
cụ thể của việc xây dựng và thực hiện chiến lược GEF/SGP, hồ sơ dự án GEF/SGP, và tìnhhình hoạt động cũng như cơ chế quản lý GEF/SGP tại cấp quốc gia và cấp dự án Báo cáonêu lên các bài học kinh nghiệm và các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiệnGEF/SGP tại Việt Nam Báo cáo này gồm 4 phần:
- Phần 1: Tổng quan về GEF/SGP tại Việt Nam
- Phần 2 : Quá trình đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
- Phần 3: Các kết quả của quá trình đánh giá GEF/SGP tại Việt Nam
Trang 7- Phần 4: Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị trong việc thực hiện GEF/SGP tại ViệtNam
IV Các vấn đề trọng tâm của quá trình đánh giá GEF/SGP
1 ở cấp chương trình:
Các vấn đề cụ thể sau được đánh giá ở cấp chương trình:
a) Xây dựng và thực hiện chiến lược GEF/SGP
b) Thực hiện kinh phí phân bổ của GEF/SGP
c) Xây dựng năng lực cho các đối tác và đối tượng tham gia và thụ hưởng chính củaGEF/SGP
d) Xây dựng mối quan hệ cộng tác với các đối tác và đối tượng tham gia và thụ hưởngchính của GEF/SGP
e) Thực hiện công tác truyền thông về GEF và GEF/SGP, bao gồm phổ biến thông tin,tuyên truyền và tăng cường nhận thức cộng đồng về các vấn đề môi trường toàn cầu,quốc gia và địa phương
f) Theo dõi và đánh giá GEF/SGP
g) Cơ chế hoạt động của văn phòng GEF/SGP, của BCĐQG
2 ở cấp dự án:
Các vấn đề cụ thể sau được đánh giá ở cấp dự án:
a) Các tiêu chí và quy trình thẩm định và xét duyệt dự án GEF/ SGP
b) Công tác xây dựng, thực hiện, theo dõi và đánh giá dự án GEF/SGP, và các cơ chếquản lý áp dụng trong xây dựng, thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giá dự ánGEF/SGP
V Phương pháp thực hiện và quá trình đánh giá GEF/SGP tại
Việt Nam
Điều phối viên quốc gia là người thực hiện chính trong quá trình đánh giá GEF/SGP tạiViệt Nam với sự chỉ đạo của BCĐQG và sự hỗ trợ của thư ký GEF/SGP Các thành viêncủa BCĐQG tham gia vào quá trình đánh giá thông qua việc góp ý và phê duyệt quy trình
và phương pháp đánh giá GEF/SGP, cung cấp thông tin về tình hình thực hiện GEF/SGPcho việc soạn thảo báo cáo đánh giá Báo cáo đánh giá được BCĐQG góp ý và phê duyệttrước khi gửi đến CPMT
Một nhóm 3 chuyên gia được hợp đồng để giúp điều phối viên quốc gia thu thập thông tin
đánh giá qua các phiếu đánh giá (Phụ lục 1), qua phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoạivới các đối tượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP Nhóm chuyên gia còn tiến hànhviếng thăm các dự án của GEF/SGP nhằm mục đích thu thập thông tin để đánh giá thôngqua quan sát, tổ chức các cuộc phỏng vấn trực tiếp và tổ chức các cuộc họp đánh giá với
tổ chức tiếp nhận viện trợ, chính quyền, ban ngành, và cộng đồng tham gia dự ánGEF/SGP Phục lục 2 mô tả chi tiết trách nhiệm của nhóm chuyên gia
Các phương pháp sử dụng trong quá trình đánh giá GEF/SGP nhằm phát huy vai trò củacác đối tượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP trong theo dõi và đánh giá dự án Cácphương pháp sử dụng để thu thập thông tin như đã đề cập ở trên bao gồm các phiếu đánh
Trang 8giá, phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại với các đối tượng tham gia và thụ hưởng củaGEF/SGP, và viếng thăm dự án Đã có 8 dự án được chọn lọc cho việc viếng thăm trongquá trình đánh giá GEF/SGP theo các tiêu chí sau (Phụ lục 3).
Lĩnh vực trọng tâm của dự án: các dự án được lựa chọn thuộc các lĩnh vực trọng tâmcủa GEF/SGP là bảo tồn đa dạng sinh học và hạn chế biến đổi khí hậu
Thời gian tiến hành dự án: các dự án đã kết thúc (4 dự án) và đang triển khai (4 dự án)Các tài liệu được xem xét và đánh giá trong quá trình đánh giá GEF/SGP bao gồm:
ở cấp dự án: Các văn bản đề nghị dự án của các dự án đã phê duyệt trong hồ sơGEF/SGP, báo cáo tiến độ và tài chính của dự án đang triển khai, báo cáo tổng kết vàbáo cáo đánh giá của các dự án đã kết thúc,
ở cấp chương trình:
- Các tài liệu do chương trình GEF/SGP toàn cầu soạn thảo, bao gồm văn kiện dự ánGEF/SGP, chiến lược theo dõi và đánh giá GEF/SGP, chiến lược truyền thôngGEF/SGP, chiến lược huy động kinh phí của GEF/SGP; Hướng dẫn thực hiệnGEF/SGP;
- Các tài liệu do chương trình GEF/SGP tại Việt Nam soạn thảo, bao gồm chiến lượcquốc gia của chương trình GEF/SGP, báo cáo viếng thăm dự án của BCĐQG và ĐPV,các báo cáo 6 tháng về tình hình triển khai GEF/SGP tại Việt Nam gửi CPMT, Hướngdẫn xây dựng và thực hiện dự án GEF/SGP
Trang 9Chương 3: Kết quả đánh giá GEF/SGP
Phần I.
Đánh giá thực hiện GEF/SGP tại cấp chương trình
I Chiến lược quốc gia GEF/SGP
1 Xây dựng chiến lược quốc gia GEF/SGP giai đoạn 1999-2001
Chiến lược quốc gia GEF/SGP của Việt Nam giai đoạn 1999-2001 được xây dựngtrên cơ sở của các chiến lược và kế hoạch có liên quan sau:
ư chiến lược và các chương trình hành động của GEF
ư khung chiến lược toàn cầu GEF/SGP
ư văn kiện dự án GEF/SGP
ư kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền của Việt Nam 1991-2000
ư kế hoạch hành động bảo vệ ĐDSH của Việt Nam (1995)
ư các chương trình quốc gia có liên quan đến môi trường của Việt Nam
ư các công ước quốc tế về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu
Các tài liệu này là những hướng dẫn rất tốt cho việc xây dựng đúng định hướng củaGEF/SGP trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc xây dựng chiến lược có sự thamkhảo ý kiến của các đối tượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP như các tổ chứcphi chính phủ địa phương, các tổ chức cộng đồng, các cơ quan ban ngành có liênquan của chính phủ, UNDP Việt Nam và GEF/SGP toàn cầu
Chiến lược đã xây dựng nhằm mục tiêu chính là góp phần giải quyết các vấn đề bứcxúc của Việt Nam trong những lĩnh vực trọng tâm của GEF về bảo tồn và sử dụngbền vững tài nguyên đa dạng sinh học và hạn chế sự thay đổi bất lợi của khí hậu toàncầu, hạn chế sa mạc hoá và thoái hoá đất
Các mục tiêu chính của chiến lược GEF/SGP trong giai đoạn 1999-2001 là:
- Góp phần bảo tồn ĐDSH thông qua việc đẩy mạnh bảo tồn và sử dụng bền vữngcác nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của các hệ sinh thái khác nhau như hệsinh thái khô hạn và bán khô hạn; hệ sinh thái biển và ven bờ, nước ngọt; hệ sinhthái rừng; và hệ sinh thái miền núi
- Góp phần ngăn chặn sự thay đổi khí hậu toàn cầu thông qua việc tăng cường hiệuquả sử dụng năng lượng và đẩy mạnh sử dụng các dạng năng lượng tái tạo
- Góp phần hạn chế sự thoái hoá đất và hoang mạc hoá nhằm mục tiêu bảo vệ đadạng sinh học và biến đổi khí hậu toàn cầu
Trang 10- Nâng cao nhận thức và hiểu biết trong các đối tượng tham gia và thụ hưởng củaGEF/SGP tại cấp địa phương về những vấn đề môi trường toàn cầu, quốc gia và
địa phương trong các lĩnh vực trọng tâm của GEF/SGP là các vấn đề về suy thoái
ĐDSH, biến đổi khí hậu, suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễmcác vùng nước quốc tế
- Tăng cường năng lực và khả năng hoạt động của các NGO, CBO và các cơ quan
có liên quan của địa phương trong lĩnh vực giải quyết những vấn đề môi trường
- Xây dựng các mô hình phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môitrường trong các lĩnh vực trọng tâm của GEF
- Xây dựng màng lưới cộng tác ở địa phương để hỗ trợ và nâng cao năng lực củacộng đồng, CBO, NGO địa phương trong việc giải quyết các vấn đề môi trườngtoàn cầu và phát triển bền vững
Các kết quả dự kiến của GEF/SGP tại Việt Nam trong giai đọan thí điểm 1999
2 Đánh giá nội dung và thực hiện chiến lược quốc gia GEF/SGP
Có thể đánh giá chiến lược GEF/SGP giai đoạn 1999-2001 là phù hợp với tình hìnhthực tiễn Việt Nam và đáp ứng được các yêu cầu của GEF/SGP Chiến lược này đãcung cấp định hướng phát triển cụ thể cho việc thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam
Ưu điểm:
Về nội dung chiến lược
- Phù hợp mục tiêu chung của GEF/SGP và tình hình thực tiễn của Việt Nam
- Xác định đúng các vấn đề ưu tiên nhất trong giai đoạn thí điểm là xây dựng cơchế thực hiện GEF/SGP phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam trên cơ sở họctập kinh nghiệm của các chương trình GEF/SGP tại các quốc gia khác
- Các mục tiêu đặt ra có tính chất chiến lược nhằm tạo tiền đề cho phát triển lâudài của GEF/SGP tại Việt Nam
Về thực hiện chiến lược
- Đạt được mục tiêu và kết quả dự kiến đã đề ra trong chiến lược ở mức độ cao Cơchế thực hiện hiệu quả GEF/SGP đã được xây dựng và thử nghiệm thành công tạiViệt Nam
Trang 11- Bám sát chiến lược và có sự điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện cho phùhợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam và do thay đổi trong môi trường thựchiện GEF/SGP, trong chiến lược chung của GEF và GEF/SGP cấp toàn cầu (bổxung các chiến lược truyền thông, huy động kinh phí, theo dõi và đánh giá củaGEF/SGP toàn cầu; bổ sung các chương trình hành động mới của GEF như bảotồn đa dạng sinh học trong sản xuất nông lâm nghiệp (OP 13), quản lý tổng hợp
hệ sinh thái (OP 12), phát triển giao thông bền vững (OP 11)
- Chưa cụ thể hoá các vấn đề ưu tiên trong từng lĩnh vực trọng tâm của GEF/SGP
và từng chương trình hành động của GEF để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổchức quan tâm có sự định hướng cụ thể khi xác định ý tưởng dự án
- Chưa xác định rõ các ưu tiên về vị trí địa lý trong các lĩnh vực trọng tâm củaGEF/SGP
- Tác động của GEF/SGP trong các lĩnh vực trọng tâm của GEF chưa rõ do quy môkinh phí và thời gian hạn hẹp của dự án nhỏ, và do đầu tư của GEF/SGP chưa có
định hướng ưu tiên rõ ràng về các vấn đề trọng tâm và khu vực địa lý
- Trong chiến lược quốc gia 1999 - 2001 chưa có những nội dung cụ thể về xâydựng năng lực đối tác; truyền thông tuyên truyền về GEF và GEF/SGP; theo dõi
và đánh giá; và huy động kinh phí; lồng ghép với các dự án lớn của GEF vàUNDP
2 Thực hiện kinh phí đã phân bổ của GEF/SGP tại Việt Nam
Kinh phí phân bổ của GEF/SGP được thực hiện theo cơ chế Bộ phận điều phốichương trình GEF/SGP tại New York (CPMT) xem xét và phê duyệt đề xuất kinh phíphân bổ hàng năm của các quốc gia tham gia Căn cứ vào nhu cầu của Việt Nam,GEF/SGP Việt Nam đề xuất CPMT phân bổ kinh phí hàng năm và đã thực hiện nhưsau:
Bảng 1: Thực hiện kinh phí đã phân bổ của GEF/SGP tại Việt Nam
- Cam kết các kinh phí đã được phân bổ với tỷ lệ cao (82.7%)
- Số lượng dự án đã phê duyệt là 28 (không kể các dự án tài trợ kinh phí xây dựng
dự án) Kinh phí trung bình của các dự án đã phê duyệt là 20.000 USD Kinh phíthấp nhất là USD 8,000, cao nhất 50.000 USD) (xem danh sách các dự ánGEF/SGP ở phụ lục 4) Quy mô kinh phí dự án tăng theo thời gian Năm 1998 và
Trang 121999 các dự án có kinh phí trung bình 15.000 USD, năm 2000 và 2001 các dự án
có kinh phí trung bình là 30.000 USD
- Số lượng các dự án được tài trợ kinh phí xây dựng dự án là 24 với tổng kinh phí
là 15.644USD (xem danh sách ở phụ lục 5) Kinh phí xây dựng dự án trung bình
là 700USD Trong số 24 dự án được tài trợ kinh phí xây dựng dự án có 21 dự án
được phê duyệt (chiếm tỷ lệ 91.6%)
- Tỷ lệ các dự án trong các lĩnh vực ưu tiên của GEF/SGP:
- 19 dự án thuộc lĩnh vực bảo tồn ĐDSH, chiếm 68%
- 5 dự án thuộc lĩnh vực biến đổi khí hậu, ngăn chặn sa mạc hoá và suythoái đất đai, chiếm 17,8%
- 4 dự án thuộc lĩnh vực xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức và giáo dụcmôi trường, chiếm 14,2%
- Loại hình dự án: Trong 28 dự án, có 24 dự án thuộc loại xây dựng mô hình trìnhdiễn (86%), 2 dự án xây dựng năng lực (7%), 2 dự án truyền thông, nâng caonhận thức và giáo dục môi trường (7%) Tất cả các dự án xây dựng mô hình trìnhdiễn đều có nội dung truyền thông, nâng cao nhận thức và giáo dục môi trường,xây dựng năng lực cho cộng đồng và các bên có liên quan
- Việc ưu tiên trong phân bổ kinh phí theo các lĩnh vực trọng tâm của GEF/SGP vàcác loại hình dự án như trên là phù hợp với mục tiêu đã đề ra trong chiến lượccủa GEF/SGP tại Việt Nam
- Qui mô kinh phí các dự án như đã bố trí là hợp lý, bước đầu là các dự án với kinhphí nhỏ và quy mô kinh phí lớn dần lên theo thời gian khi đã có kinh nghiệmthực hiện và điều hành GEF/SGP tại Việt Nam
- Dự báo tình hình trong những năm tới: GEF/SGP tại Việt Nam có thể cam kếtkinh phí lớn hơn do:
- thông tin về GEF/SGP được phổ biến rộng rãi trong cả nước
- Hiểu biết về tiêu chí GEF/SGP và năng lực, kinh nghiệm xây dựng dự áncủa các tổ chức hợp lệ (các tổ chức phi chính phủ địa phương NGO vàCBO) được nâng cao
- Sự quan tâm của chính quyền và ban ngành của địa phương trong việc huy
động kinh phí từ các tổ chức quốc tế cho các dự án và hoạt động tronglĩnh vực môi trường Chính quyền và ban ngành của địa phương chú trọngxây dựng năng lực và hỗ trợ cho các tổ chức NGO và CBO của địa phươngmình trong xác định ý tưởng, xây dựng và viết đề nghị dự án nhằm huy
động kinh phí tài trợ của GEF/SGP
3 Phổ biến thông tin về GEF/SGP
Trong nội dung và thực hiện chiến lược quốc gia GEF/SGP rất chú trọng và ưu tiêncông tác này Thông qua các hình thức thực hiện sau đây để quảng bá thông tin vềGEF/SGP:
- Xây dựng và phân phát tờ rơi GEF/SGP
Trang 13- Tổ chức các cuộc họp giới thiệu GEF/SGP với các tổ chức quốc tế, các ban ngànhtrung ương, chính quyền và các tổ chức cơ quan có liên quan và các địa phương.
- Tổ chức các cuộc hội thảo tập huấn xây dựng dự án có sự tham gia của các tổchức phi chính phủ địa phương, các tổ chức cộng đồng, các ban ngành có liênquan của địa phương, các viện nghiên cứu, các cơ quan chuyên môn (đã tổ chức
5 cuộc hội thảo tập huấn với sự tham gia của 180 đại biểu)
- Thông qua các hội thảo quốc gia trong các lĩnh vực có liên quan (trong đó có hộithảo đối thoại về GEF do Ban thư ký GEF New York tổ chức tại Việt Nam tháng4/2000)
- Thông qua các cuộc gặp gỡ tiếp xúc của BCĐQG và ĐPV với các tổ chức phi chínhphủ địa phương, các tổ chức cộng đồng, các ban ngành có liên quan của địa phương, cácviện nghiên cứu, các cơ quan chuyên môn
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (kêu gọi ý tưởng dự án trên báo 2lần/năm; các bài viết về các kết quả thành công của các dự án trên các báo, tạpchí của Trung ương và địa phương, các phóng sự và đưa tin về các hoạt động củaGEF/SGP trên Đài truyền hình và phát thanh Trung ương và địa phương, )
- Phổ biến thông tin về GEF/SGP trên Website, Bản tin UNDP Việt Nam,và phổbiến thông cáo báo chí với sự hỗ trợ của phòng thông tin UNDP Việt Nam
- Các dự án GEF/SGP tài trợ đều có các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhậnthức về các vấn đề môi trường trong các lĩnh vực mà GEF quan tâm và tuyêntruyền về GEF và GEF/SGP tại các địa phương triển khai dự án
Đánh giá kết quả công tác Phổ biến thông tin về GEF/SGP
- Đạt kết quả dự kiến nêu trong chiến lược ở mức độ cao
- Thông tin phổ biến rộng rãi, thu hút sự quan tâm của đối tượng tham gia và thụ hưởng(số lượng các ý tưởng dự án đã nhận được là 445 (phụ lục 6), có 28 dự án triển khaitrên địa bàn 25 tỉnh), đặc biệt các tỉnh có dự án thông tin được phổ biến rộng rãi vàthu hút sự quan tâm của chính quyền các cấp tỉnh, huyện và các cơ quan ban ngành cóliên quan như Sở KHCN và MT, Sở NN và PTNT, Sở KHĐT
- Góp phần rất lớn nâng cao sự hiểu biết về GEF và GEF/SGP tại Việt Nam
- Xây dựng quan hệ cộng tác giữa GEF/SGP và các cơ quan truyền thông đạichúng của Trung ương và địa phương
- Tạo điều kiện thiết lập quan hệ và huy động kinh phí từ các nhà tài trợ khác (đãthiết lập quan hệ với Ford Foundation, Swedish Environment Fund, SNV SmallGrants Programm, AusAID Fund For Small Projects )
- Nội dung và hình thức tổ chức phổ biến thông tin rất phong phú, đa dạng, nhiềuhình thức có tác động tuyên truyền tốt như truyền hình (kết quả đánh giáGEF/SGP cho thấy, 80% số người được phỏng vấn trực tiếp hoặc trả lời phiếu
đánh giá cho biết họ có các thông tin về GEF/SGP qua truyền hình)
Trang 144 Xây dựng năng lực cho các đối tác GEF/SGP
Do các tổ chức NGO và CBO ở Việt Nam còn hạn chế về năng lực và kinh nghiệmhuy động kinh phí từ các tổ chức quốc tế, về xác định ý tưởng dự án, xây dựng vàviết đề nghị dự án theo các tiêu chí của GEF/SGP, trong xây dựng và thực hiện chiếnlược quốc gia GEF/SGP, GEF/SGP đã rất chú trọng và ưu tiên công tác xây dựngnăng lực cho các tổ chức hợp lệ của GEF/SGP trong xây dựng và viết đề nghị dự án,
và thực hiện và quản lý dự án Việc xây dựng năng lực cho các tổ chức hợp lệ củaGEF/SGP được thực hiện thông qua nhiều hình thức như:
- Tổ chức các hội thảo tập huấn xây dựng dự án có sự tham gia của các NGO,CBO, các ban ngành có liên quan của địa phương
- Tổ chức các cuộc hội thảo tập huấn thực hiện và quản lý dự án có sự tham giacủa các Ban điều hành dự án (đã tổ chức 3 cuộc hội thảo thực hiện và quản lý dự
án với sự tham dự của 106 đại biểu, hội thảo được 100% số đại biểu đánh giá là
đạt kết quả rất tốt)
- Thông qua các cuộc tham quan chia sẻ kinh nghiệm giữa các dự án (các dự án cócùng mục tiêu và thuận lợi về khoảng cách địa lý có cơ hội tham dự các hội nghị sơkết, tổng kết dự án để chia sẻ kinh nghiệm Trong nội dung hội thảo tập huấn thựchiện và quản lý dự án có sự tham gia của các BĐH dự án đều tổ chức tham quan một
số dự án GEF/SGP đang triển khai)
- Xây dựng và thực hiện sổ tay hướng dẫn xây dựng và thực hiện dự án:
- Nội dung rõ ràng, đầy đủ, là hướng dẫn rất tốt cho các tổ chức xây dựng
và thực hiện dự án GEF/SGP Các tổ chức xây dựng và thực hiện dự án
được cấp phát đầy đủ các sổ tay
- Sổ tay được sử dụng làm tài liệu chính thức trong các cuộc hội thảo tậphuấn của GEF/SGP
- Sổ tay được thường xuyên điều chỉnh theo góp ý của các đối tượng thamgia và thụ hưởng và các bài học kinh nghiệm trong xây dựng và thực hiện
dự án GEF/SGP (đã điều chỉnh 2 lần)
- Sổ tay được chia sẻ cho các chương trình tài trợ nhỏ khác (SEF, SNV) vàcác ban ngành có liên quan của địa phương (các Sở KHCN và MT) làm tàiliệu tập huấn cho công tác xây dựng dự án tại địa phương
ư Thông qua các cuộc viếng thăm dự án của BCĐQG và ĐPV:
Trang 15- Các thành viên BCĐQG viếng thăm các dự án đang xây dựng đề xuấtGEF/SGP tài trợ và các dự án đang triển khai.
- Việc viếng thăm các dự án đang khảo sát xây dựng của BCĐQG và ĐPVtạo điều kiện cho GEF/SGP đánh giá tính khả thi của dự án đề xuất, đánhgiá năng lực của tổ chức đề xuất, huy động sự hỗ trợ kỹ thuật và đóng gópkinh phí của chính quyền và ban ngành của địa phương, và tăng cường sự
hỗ trợ của GEF/SGP cho tổ chức đề xuất trong việc xây dựng và viết đềnghị dự án Trước khi phê duyệt cấp kinh phí thực hiện cho bất cứ dự ánnào đều có viếng thăm địa điểm dự án của GEF/SGP
- Việc viếng thăm các dự án đang triển khai để theo dõi và giám sát, đánhgiá dự án, xem xét thực tế các hoạt động của dự án từ đó đúc rút kinhnghiệm, bổ sung cho sự điều hành thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam Việctheo dõi giám sát dự án chặt chẽ thông qua các cuộc viếng thăm dự án củaBCĐQG và ĐPV đã có ảnh hưởng lớn với chính quyền địa phương nơi có dự
án, tạo đà cho dự án phát triển thuận lợi hơn Qua các cuộc viếng thăm đãgóp ý kiến hoặc giải quyết tại chỗ những vấn đề tồn tại hoặc phát sinh,giúp cho việc xây dựng hoặc thực hiện dự án kết quả hơn Kết quả của
đánh giá GEF/SGP cho thấy các dự án đều đánh giá rất cao vai trò và tácdụng của các cuộc viếng thăm đã góp phần quan trọng vào sự thành côngcủa dự án BCĐQG và ĐPV viếng thăm các dự án đang xây dựng và đangtriển khai, bình quân mỗi dự án 1 lần/năm
- Tài trợ kinh phí xây dựng dự án cho các ý tưởng dự án phù hợp tiêu chí và có khảnăng được phê duyệt với qui mô kinh phí tối đa 1000 USD, nhằm hỗ trợ các tổchức đề xuất xây dựng dự án chưa có nhiều kinh nghiệm để huy động sự hỗ trợcủa chuyên gia kỹ thuật trong việc tiến hành khảo sát điều tra, đề xuất các giảipháp kỹ thuật, tổ chức các cuộc họp tham khảo ý kiến chính quyền và ban ngành,cộng đồng địa phương nơi có dự án dự kiến triển khai và viết đề nghị dự án
Đánh giá kết quả về xây dựng năng lực cho đối tác và các đối tượng tham gia và thụhưởng chính của GEF/SGP
- Có nhiều nỗ lực trong công tác này (do nhận thức được năng lực hạn chế của các
tổ chức hợp lệ trong việc xây dựng dự án phù hợp với tiêu chí GEF/SGP)
- Hình thức thực hiện phong phú, có hiệu quả
- Chất lượng các dự án đã phê duyệt theo nhận xét của BCĐQG là khá, phù hợptiêu chí GEF/SGP
- Kết quả đánh giá cho thấy các dự án thực hiện có hiệu quả, kết quả đánh giá 7 dự
án đã kết thúc cho thấy mức độ đạt được các mục tiêu dự án từ mức độ trungbình khá đến tốt (tốt: 1/7, khá: 4/7, trung bình khá: 3/7)
- Góp phần rất lớn nâng cao năng lực quản lý dự án của tổ chức tiếp nhận viện trợthông qua việc thực hiện dự án GEF/SGP
- Nội dung các lớp hội thảo tập huấn, tham quan mô hình được chuẩn bị chu đáo,
đáp ứng đúng yêu cầu đang đòi hỏi của đối tác, do đó sau tập huấn năng lực của
đối tác được nâng cao rõ rệt, biểu hiện trong việc quản lý và điều hành dự án tốthơn
Trang 16- Việc tài trợ kinh phí xây dựng dự án rất hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng
dự án, đảm bảo tính thành công và khả thi của dự án do điều tra khảo sát đầy đủ
và có sự tham gia của các đối tượng tham gia và thụ hưởng chính của dự án, cộng
đồng, chính quyền và các ban ngành liên quan
- Kết quả phỏng vấn và phiếu đánh giá cho thấy các tồn tại trong công tác xâydựng và thực hiện dự án đều do năng lực hạn chế và thiếu kinh nghiệm của các tổchức tiếp nhận viện trợ, ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng và hiệu quả thực hiện
dự án Điều này được xác định là thách thức lớn nhất trong việc nâng cao chấtlượng xây dựng và hiệu quả thực hiện dự án cuả GEF/SGP
5 Xây dựng quan hệ cộng tác với các đối tượng tham gia
và thụ hưởng của GEF/SGP
Trong xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia, GEF/SGP đã rất chú trọng và ưutiên công tác này nhằm mục đích sau:
- Để huy động sự hỗ trợ của các chính quyền và ban ngành có liên quan của địaphương trong việc xây dựng và thực hiện dự án cho các tổ chức hợp lệ củaGEF/SGP, đặc biệt là các tổ chức cộng đồng do hạn chế về năng lực quản lý vàchuyên môn trong các lĩnh vực ưu tiên của GEF/SGP
- Huy động kinh phí đóng góp để đáp ứng tiêu chí GEF/SGP
- Tạo điều kiện thu hút sự quan tâm của chính quyền và cơ quan chuyên môn đểnhân rộng các kết quả thành công của các dự án GEF/SGP
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết về GEF và GEF/SGP tại Việt Nam
Việc xây dựng quan hệ cộng tác với các đối tượng tham gia và thụ hưởng củaGEF/SGP được thực hiện thông qua các hình thức sau:
ư Với chính quyền và ban ngành có liên quan của địa phương
- Trong xây dựng dự án, GEF/SGP yêu cầu có sự tham khảo ý kiến của các
đối tượng tham gia và thụ hưởng dự án tại địa phương thông qua tổ chứccác cuộc họp xây dựng dự án ĐPV và BCĐQG khi viếng thăm địa điểm
dự án trước lúc phê duyệt dự án đều tham khảo ý kiến của địa phương
- Trong thực hiện dự án, nguyên tắc quản lý thực hiện dự án yêu cầu phảibáo cáo định kỳ cho chính quyền địa phương về tiến độ thực hiện, có sựtham gia của đại diện chính quyền địa phương trong thành phần BĐH dự
án Báo cáo kết thúc dự án được gửi cho chính quyền và ban ngành có liênquan của địa phương
- Trong văn bản đề nghị dự án có giấy cam kết thực hiện và đóng góp kinh phí củachính quyền và các ban ngành cho việc thực hiện dự án
ư Với các cơ quan chuyên môn kỹ thuật
- GEF/SGP thử nghiệm cơ chế tổ chức đồng thực hiện đóng vai trò tư vấn
hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức hợp lệ của GEF/SGP trong xây dựng vàthực hiện dự án Do hạn chế về năng lực kỹ thuật, các tổ chức cộng đồngcần có sự tư vấn kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn trong xây dựng và
Trang 17thực hiện dự án Các tổ chức đồng thực hiện còn hỗ trợ trong việc xác
định và đề xuất các ý tưởng dự án Hiệu quả thực hiện dự án được tăngcường do các vấn đề của dự án GEF/SGP cũng là các đề tài đang triểnkhai của các tổ chức này Cơ chế tổ chức đồng thực hiện góp phần xâydựng quan hệ cộng tác của GEF/SGP với các cơ quan chuyên môn có liênquan của Trung ương và địa phương
Đánh giá kết quả của việc xây dựng quan hệ cộng tác với các đối tượng tham gia vàthụ hưởng của GEF/SGP
- Đã xây dựng mối quan hệ cộng tác chặt chẽ giữa GEF/SGP và các tổ chức tiếpnhận viện trợ (kết quả đánh giá GEF/SGP cho thấy 100% tổ chức tiếp nhận việntrợ đánh giá cao sự hỗ trợ của GEF/SGP, coi đó là một trong những yếu tố quantrọng của sự thành công của các dự án)
- Các tổ chức tiếp nhận viện trợ của GEF/SGP đều có sự hỗ trợ tích cực trong xâydựng và thực hiện dự án và sự đóng góp kinh phí do đã xây dựng được mối quan
hệ cộng tác chặt chẽ:
- Với chính quyền, ban ngành, cơ quan chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật nơi dự
án triển khai
- Với cơ quan chuyên môn hỗ trợ kỹ thuật của Trung ương
- Với các tổ chức phi chính phủ của địa phương và các tổ chức quần chúng
ở các cấp Trung ương, tỉnh, huyện, xã
- GEF/SGP xác định và xây dựng quan hệ cộng tác với các tổ chức cơ quan chuyênmôn hỗ trợ tư vấn kỹ thuật trong các lĩnh vực có liên quan của GEF/SGP
- Xây dựng mối quan hệ cộng tác chia sẻ và trao đổi thông tin, kinh nghiệm vớicác chương trình tài trợ nhỏ khác tại Việt Nam như SNV, SEF, IMA
- Mối quan hệ này tạo cơ hội huy động kinh phí từ các tổ chức này và tránh sựtrùng lắp trong tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam
- Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện dự án của GEF/SGP đã tạo cơ hội thuậnlợi cho sự tham gia đầy đủ của các đối tượng tham gia và thụ hưởng dự án tại địaphương, góp phần cho sự thành công của các dự án
Trang 186 Theo dõi và đánh giá GEF/SGP
GEF/SGP chú trọng công tác theo dõi và đánh giá trong quá trình thực hiệnGEF/SGP Mặc dù trong chiến lược chưa cụ thể hoá công tác này, GEF/SGP tại ViệtNam đã bám sát chiến lược theo dõi và đánh giá GEF/SGP toàn cầu để thực hiện Kếhoạch công tác hàng năm được xây dựng và là cơ sở cho việc theo dõi và đánh giátiến độ thực hiện của GEF/SGP Căn cứ vào kế hoạch năm và điều kiện cụ thể củaViệt Nam để đề xuất CPMT và UNOPS phân bổ kinh phí năm, bao gồm kinh phí chohoạt động hành chính của Văn phòng GEF/SGP và kinh phí tài trợ cho các dự án.Hàng năm ĐPV báo cáo bằng văn bản 2 lần với CPMT (báo cáo 6 tháng) về tìnhhình triển khai GEF/SGP tại Việt Nam và báo cáo quý về tài chính với UNOPS
ĐPV thực hiện tốt cơ chế báo cáo định kỳ hàng quý cho BCĐQG về tình hình thựchiện GEF/SGP thông qua các cuộc họp định kỳ hoặc báo cáo bằng văn bản Với cơchế báo cáo đang triển khai của GEF/SGP, thông tin về thực hiện GEF/SGP đượcchia sẻ đầy đủ với các bên tham gia tại cấp quốc gia như BCĐQG, UNDP và với cấptoàn cầu như CPMT và UNOPS Nội dung rút kinh nghiệm thực hiện GEF/SGP đượclồng ghép trong các cuộc họp BCĐQG tổ chức định kỳ hàng quý
Như đã đề cập ở chương 2 của báo cáo này, GEF/SGP tại Việt Nam tiến hành đánhgiá tình hình thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam sau 3 năm triển khai để rút ra nhữngbài học kinh nghiệm và có sự điều chỉnh kịp thời và thích hợp cơ chế đang thực hiệncho phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, làm cơ sở xây dựng chiếnlược thực hiện GEF/SGP trong những năm sắp tới Việc tiến hành đánh giá này cũng
là thực hiện chiến lược theo dõi và đánh giá GEF/SGP toàn cầu
7 Cơ chế hoạt động của GEF/SGP
Các cơ quan thực hiện GEF/SGP bao gồm UNDP Việt Nam, BCĐQG, ĐPV quốc gia.Văn phòng UNDP/GEF và cơ quan dịch vụ dự án của LHQ (UNOPS) ở New Yorkthực hiện công tác điều phối và hỗ trợ chung toàn cầu
UNDP Việt Nam
- Văn phòng UNDP hỗ trợ chung về quản lý chương trình GEF/SGP Tham giakiểm tra giám sát hoạt động của chương trình, hỗ trợ cho việc phối hợp và thiếtlập mối quan hệ công tác với các cơ quan của chính phủ để phục vụ choGEF/SGP Đại diện thường trú ký nghị định thư với các NGO/CBO được cấp kinhphí dự án Văn phòng UNDP tạo điều kiện cho việc thực hiện chi trả của dự án và
đóng vai trò quan trọng trong quá trình xúc tiến triển khai chương trình
Đánh giá sự hỗ trợ của UNDP Việt Nam trong việc thực hiện GEF/SGP
- đóng vai trò quan trọng trong quá trình xúc tiến triển khai chương trình GEF/SGP ởViệt Nam
- Rất cam kết và ủng hộ GEF/SGP, đóng vai trò quan trọng trong việc phát độngGEF/SGP tại Việt Nam, thiết lập các mối quan hệ với các bộ ngành có liên quancủa chính phủ, với các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, huy động kinh phí choGEF/SGP
- Đại diện UNDP tham gia thành viên BCĐQG
Trang 19- Hỗ trợ tích cực của phòng môi trường về chuyên môn, của phòng thông tin trongviệc tuyên truyền phổ biến thông tin về GEF/SGP.
Ban chỉ đạo Quốc gia
- Chức năng BCĐQG bao gồm chỉ đạo xây dựng chiến lược quốc gia và thiết lậpcác tiêu chí lựa chọn dự án phù hợp với quốc gia trong khuôn khổ hướng dẫnchung của GEF/SGP; hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện chiến lược cho chươngtrình cũng như khảo sát và chọn lọc dự án để cấp kinh phí
- BCĐQG nhiệm kỳ 1999 - 2000 có 7 thành viên, trong đó có 2 thành viên đại diệnNGO địa phương, có 1 thành viên đại diện NGO quốc tế (IUCN), có 1 thành viên
đại diện UNDP Việt Nam và có 3 thành viên đại diện chính phủ (Cục môi trường(tổ chức đầu mối của chính phủ về CBD và GEF, Tổng cục khí tượng thuỷ văn (tổchức đầu mối của chính phủ về UNFCC), Viện năng lượng quốc gia)
- BCĐQG nhiệm kỳ mới 2001 - 2003 có 11 thành viên (bổ xung các chuyên giatrong lĩnh vực lâm nghiệp theo yêu cầu của dự án bảo vệ và phát triển bền vữngrừng nhiệt đới (EC/UNDP PTF)
- Hoạt động của BCĐQG thông qua các cuộc họp định kỳ (1 lần/quý), thư tín, fax,email
Đánh giá vai trò và kết quả hoạt động của BCĐQG
- Kết quả của các phiếu đánh giá của các thành viên BCĐQG cho thấy nội dungchức năng nhiệm vụ (TOR) và qui trình làm việc của BCĐQG là rõ ràng, cụ thể.BCĐQG bao gồm các chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực trọng tâmcủa GEF, và với các dự án cộng đồng, rất nhiệt tình và cam kết với việc thực hiệnGEF/SGP tại Việt Nam BCĐQG đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo xâydựng chiến lược quốc gia GEF/SGP và chỉ đạo cho việc thực hiện GEF/SGP.BCĐQG đã thực hiện tốt công việc xem xét, lựa chọn các đề nghị dự án đểGEF/SGP phê duyệt tài trợ (đã xem xét 47 đề nghị dự án trong đó phê duyệt tài trợ
28 dự án) Ngoài ra, các thành viên BCĐQG còn tham gia vào các hoạt động viếngthăm, kiểm tra giám sát và đánh giá các dự án đang xây dựng hoặc đang hoạt
động
Điều phối viên quốc gia
- ĐPV đóng vai trò chủ trì trong việc quản lý thực hiện chương trình quốc gia Cácchức năng của ĐPV bao gồm phổ biến thông tin về GEF/SGP; nâng cao nhậnthức và năng lực cho những đối tượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP; hỗtrợ các CBO, NGO địa phương xây dựng dự án và tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ
kỹ thuật; khảo sát sơ bộ các đề nghị dự án; hỗ trợ cho hoạt động của BCĐQG;theo dõi, kiểm tra giám sát, đánh giá thực hiện GEF/SGP; thiết lập mối quan hệcộng tác với các đối tượng tham gia và thụ hưởng của GEF/SGP; và huy độngkinh phí đóng góp
Đánh giá vai trò và kết quả hoạt động của ĐPV
- Kết quả đánh giá GEF/SGP qua trực tiếp phỏng vấn và qua phiếu điều tra đánhgiá rất cao về vai trò và hoạt động của ĐPV trong quá trình xây dựng và thựchiện có hiệu quả GEF/SGP tại Việt Nam ĐPV đóng vai trò chủ chốt trong việc
Trang 20thực hiện GEF/SGP, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa BCĐQG và UNDP ViệtNam, giữa GEF/SGP Việt Nam với CPMT và UNOPS ở New York.
- Kết quả các phiếu đánh giá của các thành viên BCĐQG nhận xét các cuộc họpcủa BCĐQG tổ chức có hiệu quả cao, nội dung tốt, hình thức tổ chức khá; sốlượng cuộc họp trung bình (vừa phải) Nội dung và công tác tổ chức các cuộc viếngthăm dự án tốt Các báo cáo ĐPV gửi BCĐQG về tình hình thực hiện dự án có chấtlượng tốt, giúp BCĐQG nắm bắt được tình hình triển khai các dự án GEF/SGP
Đánh giá sự phối hợp của UNDP Việt Nam, BCĐQG và ĐPV
- Sự phối hợp giữa UNDP Việt Nam, BCĐQG và ĐPV là chặt chẽ và hiệu quả Các
tổ chức tham gia thực hiện đúng chức năng, vai trò, tạo điều kiện thuận lợi cho
ĐPV hoạt động trong quá trình triển khai GEF/SGP
Đánh giá sự hỗ trợ của CPMT và UNOPS cho việc thực hiện GEF/SGP tạiViệt Nam:
- ở cấp toàn cầu, Bộ phận điều phối GEF/SGP (CPMT), trực thuộc văn phòngUNDP/GEF, có trách nhiệm trực tiếp quản lý và hỗ trợ về mọi phương diện đối vớicác chương trình quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Bộ phận điều phốinày tập trung chủ yếu vào công tác chỉ đạo và hỗ trợ về mặt hoạt động tác nghiệp
cụ thể cũng như tổng kết và phổ biến những bài học rút ra từ thực tế triển khaichương trình ở cộng đồng Văn phòng dịch vụ dự án của LHQ (UNOPS) chịutrách nhiệm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho việc điều hành chương trình vê cáclĩnh vực sau đây: (1) tuyển nhân sự và quản lý các hợp đồng với cán bộ dự án quốcgia cũng như chuyên gia quốc gia/quốc tế; (2) tiến hành hợp đồng phụ với cácNGO chủ trì và phân bổ kinh phí cho chương trình quốc gia; (3) quản lý ngânsách, kể cả việc kiểm tra giám sát các khoản chi tiêu; (4) hướng dẫn những côngviệc trên cho cán bộ chương trình ở các nước; và (5) hỗ trợ cho việc xúc tiến triểnkhai chương trình ở những nước thành viên mới
- Các tài liệu về chiến lược toàn cầu GEF/SGP, chiến lược truyền thông, chiếnlược theo dõi và đánh giá, chiến lược huy động kinh phí là những cơ sở địnhhướng cho GEF/SGP tại các quốc gia trong việc xây dựng chiến lược quốc gia
Trang 21Phần II: Đánh giá thực hiện GEF/SGP tại cấp dự án
I Xây dựng dự án GEF/SGP
1 Đánh giá về tiêu chí và qui trình xét duyệt dự án GEF/SGP.
Để triển khai việc thực hiện GEF/SGP tại Việt Nam, căn cứ vào tiêu chí chung củaGEF/SGP và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra trongchiến lược quốc gia GEF/SGP, BCĐQG xây dựng tiêu chí và qui trình xét duyệt dự
án GEF/SGP tại Việt Nam
Tiêu chí xét duyệt dự án GEF/SGP:
Các tổ chức hợp lệ: các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và các tổ chức cộng
- Trong lĩnh vực bảo vệ sự đa dạng sinh học, các hoạt động của dự án phải nhằm tăngcường sự bảo tồn và khai thác đảm bảo tính bền vững các nguồn sinh vật của các hệsinh thái rừng, hệ sinh thái miền núi, hệ sinh thái biển, ven biển và nước ngọt, và hệsinh thái khô hạn và bán khô hạn;
- Trong lĩnh vực làm giảm sự thay đổi khí hậu, các hoạt động cần góp phần xoá bỏnhững cản trở cho việc bảo toàn năng lượng và sử dụng năng lượng một cách hiệu quả
ở địa phương, hoặc góp phần tăng cường việc sử dụng các dạng năng lượng tái tạo;
- Các dự án góp phần hạn chế sự thoái hoá đất và hoang mạc hoá nhằm mục tiêubảo vệ đa dạng sinh học hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Các ưu tiên của GEF/SGP tại Việt Nam là:
- Xây dựng mô hình trình diễn có khả năng nhân rộng, thể hiện tính bền vững và
có khả năng phát triển thành dự án GEF lớn
- Tạo điều kiện cho sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức ở địa phương trong việcthiết kế, thực hiện và đánh giá dự án; và mở rộng phạm vi tiếp cận của cộng đồng, đặcbiệt là phụ nữ và dân tộc thiểu số, với các cơ hội việc làm và tạo thu nhập, hỗ trợ kỹthuật và đào tạo tại địa phương;
- Hỗ trợ cho các chương trình và các vấn đề ưu tiên về môi trường của chính phủ và địaphương và gắn bảo vệ môi trường với xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững; vàhuy động các hình thức đóng góp và sự tham gia đồng tài trợ của chính quyền và các
đối tượng trực tiếp thực hiện ở địa phương;
Trang 22- Coi trọng vai trò và tầm quan trọng của kinh nghiệm cổ truyền và các tổ chức ở địaphương; và thể hiện tính bền vững của dự án; và
- Các dự án được xây dựng bởi các nhóm CBO hoặc NGO nhỏ và cho đến nay ít cócơ hội tìm nguồn tài trợ và được xây dựng ở những khu vực chưa có nhiều dự án vàchương trình của các tổ chức tài trợ khác
Qui trình thủ tục xét duyệt dự án
- Tổ chức xin tài trợ viết ý tưởng dự án theo hướng dẫn của ĐPV và mẫu qui địnhcủa GEF/SGP
- ĐPV xem xét, sàng lọc, và phê duyệt ý tưởng dự án trên cơ sở tham khảo ý kiếncủa BCĐQG
- Tổ chức đề xuất có ý tưởng dự án được phê duyệt đề xuất tài trợ kinh phí xâydựng dự án (nếu cần thiết)
- ĐPV xem xét, phê duyệt kinh phí tài trợ xây dựng dự án
- ĐPV hỗ trợ các tổ chức đề xuất xây dựng và viết đề nghị dự án (ĐNDA), sànglọc các ĐNDA, và trình BCĐQG xem xét phê duyệt
- Các ĐNDA được BCĐQG phê duyệt sẽ được trình cho UNDP Việt Nam, CPMT
và UNOPS tại New York thông qua
Đánh giá tiêu chí và qui trình xét duyệt dự án GEF/SGP
- Phù hợp với quy định chung của GEF/SGP toàn cầu và điều kiện thực tiễn củaViệt Nam
- Các tiêu chí và quy trình xét duyệt dự án của GEF/SGP rõ ràng, chặt chẽ, hợp lý
và hiệu quả Việc phân chia 2 giai đoạn ý tưởng và dự án hoàn chỉnh góp phầnnâng cao chất lượng dự án Với cơ chế này GEF/SGP thu thập được nhiều ý tưởng
dự án của nhiều tổ chức Tổng cộng các ý tưởng dự án đã nhận được trong các
đợt kêu gọi của GEF/SGP trong 3 năm qua là 445 Việc sàng lọc các ý tưởng dự
án phù hợp với tiêu chí GEF/SGP tạo điều kiện cho việc định hướng các ưu tiên
để tập trung thời gian và công sức hỗ trợ xây dựng dự án của ĐPV và BCĐQG,góp phần hỗ trợ các tổ chức đề xuất nâng cao chất lượng dự án Trong số 445 ýtưởng dự án đã nhận được có 50 ý tưởng được xây dựng thành dự án hoàn chỉnhcho việc xem xét của BCĐQG Trên cơ sở sàng lọc và đánh giá khả năng phêduyệt của dự án hoàn chỉnh để tài trợ kinh phí xây dựng dự án, đảm bảo việc sửdụng hiệu quả kinh phí này trong việc nâng cao chất lượng dự án
- Cơ chế xem xét và phê duyệt dự án đảm bảo tính công khai, dân chủ, và đã tạo
được lòng tin trong các tổ chức đề xuất dự án
- Các tài liệu hướng dẫn xây dựng và viết đề nghị dự án GEF/SGP, và các biểu mẫu
có liên quan rõ ràng, chi tiết
- Các tiêu chí trong lĩnh vực trọng tâm của GEF quá hạn hẹp nên khó xác định các
ý tưởng phù hợp tiêu chí GEF/SGP Các tiêu chí về lợi ích toàn cầu của GEF đốivới dự án nhỏ rất khó lý giải
Trang 23- Mẫu đề nghị dự án chưa thật đơn giản phù hợp với năng lực của các tổ chức cộng
tổ chức hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình xây dựng dự án
2 Đánh giá về chất lượng các dự án GEF/SGP
- Tất cả các dự án đã phê duyệt đều phù hợp tiêu chí GEF/SGP
- Chất lượng các đề nghị dự án khá Các dự án được phê duyệt trong năm 2000 và
2001 (21 dự án) có chất lượng cao hơn các dự án được phê duyệt trong năm 1998
và 1999 (7 dự án) do khảo sát đầy đủ, có sự tham khảo ý kiến của chính quyền,ban ngành địa phương và có sự hỗ trợ của cơ quan ban ngành chuyên môn củaTrung ương trong tư vấn kỹ thuật và viết đề nghị dự án Các hoạt động này đượcthực hiện tốt do sử dụng có hiệu quả kinh phí xây dựng dự án đã được GEF/SGPtài trợ
- Sự ưu tiên trong xây dựng năng lực thiết kế và viết đề nghị dự án cho các tổ chứchợp lệ của GEF/SGP thông qua các hội thảo tập huấn, tham quan mô hình dự áncũng là yếu tố chính góp phần đảm bảo chất lượng các ĐNDA tốt hơn
- Năng lực xây dựng dự án của các tổ chức hợp lệ của GEF/SGP cũng được nângcao thông qua việc tham gia trực tiếp xây dựng dự án với sự tư vấn hỗ trợ của các
tổ chức chuyên môn kỹ thuật
- Do năng lực và hiểu biết, kinh nghiệm hạn chế của các đối tác GEF/SGP trongcác vấn đề môi trường mà GEF ưu tiên và trong xác định ý tưởng, xây dựng vàviết đề nghị dự án, mặc dù số lượng các ý tưởng dự án đã nhận rất lớn nhưng tỷ
lệ các ý tưởng dự án phù hợp với tiêu chí GEF/SGP rất thấp Các tổ chức cộng
đồng phụ thuộc quá nhiều vào các tổ chức tư vấn kỹ thuật trong xây dựng và viết
đề nghị dự án
- Các ý tưởng dự án chưa phong phú, có sự lặp lại ý tưởng dự án trong lĩnh vực đadạng sinh học (các dự án bảo tồn và phát triển trong các vùng đệm của các khuvực bảo vệ) và trong lĩnh vực biến đổi khí hậu (các dự án biogas và bếp đun tiếtkiệm năng lượng)
- Khả năng lồng ghép với các dự án khác có mục tiêu tương tự triển khai trên cùng
địa bàn, và các dự án lớn của GEF và UNDP còn hạn chế
II Thực hiện dự án GEF/SGP.
I Cơ chế quản lý và thực hiện dự án GEF/SGP
- GEF/SGP xây dựng và áp dụng ‘Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án GEF/SGP’,quy định cụ thể các nguyên tắc thực hiện trong quản lý điều hành dự ánGEF/SGP: trách nhiệm của các bên tham gia dự án, các nguyên tắc trong tuyển
Trang 24chọn và quản lý nhân sự dự án, tổ chức các hoạt động đào tạo, mua sắm, theodõi, giám sát và đánh giá dự án, và quản lý tài chính.
- Các nguyên tắc chính trong quản lý thực hiện dự án của GEF/SGP bảo đảm tínhcông khai, dân chủ, phát huy vai trò cộng đồng tham gia dự án
II Đánh giá việc thực hiện cơ chế quản lý và thực hiện dự án GEF/SGP
Ưu điểm
- Kết quả đánh giá GEF/SGP qua phỏng vấn trực tiếp và phiếu đánh giá cho thấycác dự án đều đánh giá cao tính chặt chẽ và hiệu quả các nguyên tắc chính trongquản lý thực hiện dự án của GEF/SGP, và thực hiện khá tốt các nguyên tắc này
- Các yêu cầu về quản lý dự án của GEF/SGP, đặc biệt là các qui định về quản lýtài chính, vượt quá năng lực của các tổ chức cộng đồng và chưa phù hợp với điềukiện đặc thù của một số vùng sâu vùng xa ở Việt Nam
- Việc thực hiện các nguyên tắc của một số các dự án GEF/SGP trong tuyển chọn
và quản lý nhân sự chưa chặt chẽ, ảnh hưởng đến kết quả một số hoạt động đàotạo, hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia không cao, việc sử dụng kinh phí chuyên giakhông hiệu quả
- Cơ chế thực hiện dự án của GEF/SGP chưa tạo điều kiện cho sự tham gia của cácban ngành có liên quan của địa phương Kết quả đánh giá dự án cho thấy 3/28 dự
án GEF/SGP chưa huy động được sự hỗ trợ của chính quyền và ban ngành địaphương đã dẫn đến kết quả dự án rất hạn chế và ảnh hưởng lớn đến tính bền vữngcủa dự án sau khi dự án kết thúc
III Hiệu quả thực hiện dự án GEF/SGP
- Kết quả đánh giá GEF/SGP qua phỏng vấn trực tiếp và phiếu đánh giá cho thấycác dự án đều thực hiện có hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng,cho chính quyền địa phương và các ban ngành nơi tham gia và thực hiện dự án vềGEF, GEF/SGP và các vấn đề môi trường mà GEF quan tâm
- Việc thực hiện các dự án và các hoạt động xây dựng năng lực của GEF/SGP như
tổ chức các hội thảo, tham quan chia sẻ kinh nghiệm giữa các dự án GEF/SGP,góp phần xây dựng và tăng cường năng lực cho tổ chức và cá nhân tham gia dự
án, tạo cơ hội thu thập nhiều kinh nghiệm trong quản lý điều hành và thực hiện
dự án Các tổ chức tiếp nhận viện trợ đều cho rằng việc thực hiện dự án góp phầntăng cường uy tín của các tổ chức với chính quyền và ban ngành có liên quan, vàcộng đồng địa phương, tạo điều kiện cho các tổ chức thực hiện tốt hơn chức năng
và nhiệm vụ trong việc vận động cộng động thực hiện tốt hơn các chính sách,chương trình của chính phủ
- 90% cộng đồng tham gia trả lời phỏng vấn trực tiếp và phiếu đánh giá cho rằngmang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng (nơi có dự án) về các mặt nâng cao thunhập, cải thiện đời sống và môi trường
- Một hiệu quả khác của các dự án GEF/SGP là xây dựng được quan hệ cộng tác tốtgiữa các tổ chức thực hiện dự án, chính quyền và ban ngành địa phương nơi dự ántriển khai, với các cơ quan chuyên môn của địa phương và Trung ương Việc xâydựng mối quan hệ này góp phần cho việc huy động kinh phí đóng góp của các
Trang 25chính quyền địa phương, các ban ngành liên quan và cộng đồng tham gia (xem phụlục) Sự đóng góp của cả hai phía không những có tác dụng làm tăng qui mô kinhphí dự án mà còn tăng trách nhiệm của đối tác, của địa phương và của những ngườitham gia và thụ hưởng, làm cho dự án có tính bền vững Nguồn kinh phí đóng gópchủ yếu bằng hiện vật (địa điểm, nhà xưởng, ngày công, chuyên gia ).
IV Theo dõi và đánh giá dự án GEF/SGP
1 Nguyên tắc thực hiện dự án GEF/SGP về theo dõi và đánh giá dự án.
ư GEF/SGP quy định các nguyên tắc theo dõi, giám sát, đánh giá dự án thông quacơ chế xây dựng kế hoạch và dự trù kinh phí quý, báo cáo tiến độ và tài chính quý,
tổ chức đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ, các cuộng viếng thăm dự án của các bêntham gia dự án Mục tiêu của theo dõi, giám sát và đánh giá dự án nhằm hỗ trợ các
dự án đảm bảo tiến độ thực hiện dự án, đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc quản lý
dự án của GEF/SGP, điều chỉnh dự án kịp thời với những khó khăn phát sinh trongquá trình thực hiện dự án, nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra trong đề nghị dự
án Các tiêu chí đánh giá thành công trong đề nghị dự án đã được phê duyệt là cácmốc để đo mức độ đạt được các mục tiêu dự án
ư Nguyên tắc chính của GEF/SGP trong theo dõi, giám sát và đánh giá dự án là tạo
điều kiện cho sự tham gia của cộng đồng
ư Trong ‘Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án GEF/SGP’ quy định cụ thể trách nhiệmcủa các bên tham gia dự án, và các công cụ sử dụng trong công tác theo dõi, giámsát và đánh giá dự án
2 Đánh giá việc thực hiện nguyên tắc thực hiện dự án GEF/SGP trong theo dõi
và đánh giá dự án.
Ưu điểm:
ư GEF/SGP đánh giá vai trò quan trọng của công tác theo dõi, giám sát và đánh giá
dự án, và ưu tiên cho công tác này Xây dựng năng lực cho các tổ chức tiếp nhậnviện trợ trong theo dõi, giám sát và đánh giá dự án là một trong những nội dungchính của hội thảo tập huấn thực hiện dự án
ư Cơ chế thực hiện hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia và phát huyvai trò của chính quyền, ban ngành ở địa phương và cộng đồng tham gia dự án trongcông tác theo dõi, giám sát và đánh giá dự án
ư Hiệu quả thực hiện dự án GEF/SGP được đảm bảo và nâng cao do có sự theo dõi
và giám sát chặt chẽ Kết quả đánh giá GEF/SGP cho thấy cơ chế theo dõi, giám sátchặt chẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công cho dự án
Tồn tại:
ư Năng lực các tổ chức tiếp nhận viện trợ còn hạn chế trong theo dõi và đánh giá
dự án nên gặp nhiều khó khăn trong việc xác định các tiêu chí đánh giá thành côngtrong xây dựng và viết đề nghị dự án, và gây chậm trễ tiến độ thực hiện dự án
ư Chưa xây dựng chiến lược theo dõi và đánh giá cho GEF/SGP tại Việt Nam, tuytrong quá trình hoạt động có chú trọng thực hiện chiến lược theo dõi và đánh giácủa GEF/SGP toàn cầu