Hoạt động can thiệp trực tiếpcủa ngân hàng trung ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thểtạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nềnkinh tế vì vậy đi kèm hoạt độn
Trang 1I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm chính sách tỷ giá
Khái niệm: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chínhphủ mà đại diện thường là NHTW thông qua một chế độ tỷ giá nhấtđịnh (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ canthiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giábiến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sáchkinh tế quốc gia
2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
+ Ổn định giá cả
P = α PD + (1- α ) E P*M
P: Mức giá cả của hàng hóa chung của nền kinh tế
α: Tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước
1- α: Tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu
PD: Mức giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ
P*M: Mức giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
E: Tỷ giá ( số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ)
Khi phá giá nội tệ = > E ↑ => E P*M ↑ => P ↑
Khi nâng giá nội tệ = > E ↓ => E P*M ↓ => P ↓
+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ
Y = C + I + G + X – MY: Sản lượng nền kinh tế X: Xuất khẩu
C: Tiêu dùng M: Nhập khẩu
Trang 2I: Đầu tư
Trong các điều kiện nhất định:
Phá giá nội tệ => X↑ M ↓ => Y ↑, U ↓+ Cân bằng cán cân vãng lai
CA = TB + SE + IC + Tr
CA : Cán cân vãng lai SE: Cán cân dịch vụ
TB: Cán cân thương mại IC: Cán cân thu nhập
Tr: Chuyển giao vãng lai 1 chiều
E tác động trực tiếp đến nhập khẩu, xuất khẩu => tác động lên CA
Chính sách định giá thấp nội tệ: X↑ M ↓ => Cải thiện CA từthâm hụt về cân bằng
Chính sách định giá thấp nội tệ: X ↓ M ↑ => Cải thiện CA từthâm hụt về cân bằng => Điều chỉnh CA từ thặng dư về cân bằnghay thâm hụt
Chính sách tỷ giá cân bằng => Cân bằng X, M => CA cânbằng tự động
3 Các công cụ của chính sách tỷ giá
Nhóm công cụ trực tiếp
+ Phá giá tiền tệ là việc chính phủ đánh tụt giá đồng nội tệ sovới các ngoại tệ trong chế độ tỷ giá cố định Biểu hiện là tỷ giáđược điều chỉnh tăng so với mức mà chính phủ đã cam kết
Trang 3+ Nâng giá tiền tệ: là việc Chính phủ tăng giá đồng nội tệ sovới đồng ngoại tệ khác trong chế độ tỷ giá cố định Biểu hiện là tỷgiá được điều chỉnh giảm so với mức mà chính phủ đã cam kết.
+ Hoạt động mua bán của NHTW trên thị trường ngoại hối: NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một
tỷ giá cố định hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới mộtmức nhất định theo mục tiêu đã đề ra Hoạt động can thiệp trực tiếpcủa ngân hàng trung ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thểtạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nềnkinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can thiệp này của NHTW thì phải
sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cunghay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông
+ Biện pháp kết hối: là biện pháp Chính phủ yêu cầu các DNsau khi có ngoại tệ phải bán lại cho các NHTM (một phần hoặctoàn bộ) để tránh tình trạng nắm giữ làm căng thẳng tình hình tỷgiá Mục đích chính là tăng Cung ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giảm
áp lực phá giá nội tệ
+ Quy định hạn chế: đối tượng được mua ngoại tệ, hạn chếmục đích, số lượng và thời điểm mua ngoại tệ Mục đích giảm cầungoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ tỷ giá ổn định
Nhóm công cụ gián tiếp
Trang 4+ Lãi suất tái chiết khấu: Khi NHTW mức lãi suất tái chiếtkhấu, mặt bằng lãi suất thị trường, thu hút vốn ngoại tệ, làm tănggiá đồng nội tệ
+ Thuế quan: thuế quan cao có tác dụng hạn chế NK, Cầungoại tệ giảm , nội tệ tăng giá
+ Hạn ngạch: Hạn ngạch làm hạn chế NK, có tác dụngtương tự thuế quan
+ Giá cả: Chính phủ có thể áp dụng Trợ giá XK, lượng hànghóa XK tăng, tăng cung ngoại tệ Nội tệ lên giá
Chính phủ bù giá cho hàng NK Tăng nhập khẩu, làm đồngnội tệ lên giá
Các công cụ đặc biệt
+ Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ: Khi ngoại
tệ khan hiếm trên BOP, NHTW có thể tăng dự trữ bắt buộc đối vớihuy động vốn bằng ngoại tệ của các NHTM NHTM hạ lãi suất huyđộng ngoại tệ, người dân sẽ bán ngoại tệ để nắm giữ nội tệ Làmtăng cung trên BOP
+ Quy định lãi suất trần thấp đối với tiền gửi bằng ngoại tệ.+ Quy định trạng thái ngoại tế đối với các NHTM
II Chính sách tỷ giá của Việt Nam từ năm 2009 đến nay
1 Chính sách tỷ giá năm 2009
1.1 Diễn biến tỷ giá và chính sách tỷ giá năm 2009
Trang 51.1.1 Giai đoạn từ đầu năm 2009 đến tháng 24/11/2009 : tỷ
giá liên tục tăng
Xu hướng của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VNDvới USD, tỷ giá ở NHTM luôn ở mức trần của biên độ dao động màNHNN công bố
Tỷ giá biến động mạnh trên cả thịtrường liên ngân hàng và thịtrường tự do Cụ thể: Từ tháng 1 đến tháng 3: tỷ giá LNH dao độngtrong khoảng 17.450 - 17.700, cách giá trần khoảng từ 0 – 200đồng, còn TT tự do cao hơn tỷ giá LNH khoảng 100 đồng -Từtháng 4 đến tháng 9 :tỷ giá trên 2 thị trường dao động trong khoảng18.180 - 18.500 -Từ tháng 10 đến 25/11/2009: Biến động tỷ giárất dữ dội từ 18.545 – 19.300đồng/USD,có lúc đạt đỉnh 20.000
Đầu năm 2009, tỷ giá trên thị trường tự do xa rời tỷ giá tỷchính thức, do áp lực cung cầu trên thị trường ngoại tê Nhập siêu
có xu hướng tăng trở lại, hiện tượng găm giữ ngoại tệ chờ giá lêncủa người dân, DN vay USD tuy chưa đến kỳ trả nợ nhưng đã muasẵn USD để giữ vì sợ tỷ giá sẽ tăng, khiến giá USD trên thị trườngtăng mạnh Do tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất cho cácDNbằng tiền đồng, do lãi suất vay tiền đồng thấp, phạm vi và thời gianvayđược mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên một số DN cóngoại tệ có xu hướng không muốn bán ngoại tệ và chỉ muốn vaytiền đồng Đây là 1 tác động thiếu tích cực không mong muốn khitriển khaigói kích cầu Do việc khan hiếm nguồn USD các doanh
Trang 6nghiệp cũng phải nhờ đến thị trường chợ đen hoặc phải thụ phí khimua tại ngân hàng thương mại tâm lý hoang mang mất lòng tin vàoVND làm tằng càu và giảm cung USD đã đẩy tỷ giá thị trường tự
do tăng lên hàng ngày
Trước tình hình này, NHNN đã triển khai đồng bộ nhiều biệnpháp: quyết định mở rộng biên độ tỷ giá từ +/-3% lên +/-5%, ápdụng từ ngày 24/03/2009 nhằm giảm bớt sự chênh lệch tỷ giá giữathị trường tự do và thị trường chính thức; kiểm soát chặt chẽ hoạtđộng kinh doanh ngoại hối của các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảmcác tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định quản lýngoại hối về thực hiện niêm yết và giao dịch; tăng cường công táctuyên truyền ổn định tâm lý người dân và triển khai các biện pháptạo sự đồng thuận giữa các ngân hàng thương mại (NHTM), thống
Trang 7nhất giảm lãi suất huy động USD và hạ mặt bằng lãi suất cho vayngoại tệ nhằm khắc phục tình trạng mất cân đối cung - cầu ngoại
tệ, duy trì lãi suất VND ở mức hợp lý để tạo sự hấp dẫn cho việcnắm giữ VND Kể tư ngày 1/6/2009 lãi suất cho vay ngoại tệ từ 3-3.5%/năm nhằm giúp giảm áp lực dư nợ VND
1.1.2 Giai đoạn từ 25/11/2009 đến cuối năm 2009 : tỷ giá
bắt đầu giảm về mức 18.500 USD/VND
Đến quý IV/2009, tình hình mất cân đối cung - cầu ngoại tệlại xuất hiện trở lại vào tháng 11/2009
Nguyên nhân của hiện tượng này là do ảnh hưởng của thôngtin về mức thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng ( tình trạngnhập siêu kéo dài và ngày càng tăng ở 3 tháng cuối năm đã tăngmạnh, chiếm 30% giá trị nhập khẩu đầu năm, mặc dù xuất khẩutăng tháng 11 nhưng nhập siêu lên tới 2 tỷ USD, mức cao nhất cảnăm), dự trữ ngoại hối suy giảm, mà đặc biệt là dưới tác động củacơn sốt giá vàng Giá vàng trong nước tăng cao đã khiến cầu ngoại
tệ tăng đột biến do giới đầu cơ đẩy mạnh hoạt động thu mua USD
để mua vàng, có thời điểm đẩy giá USD lên tới 20.000 VND/ 1USD và mức chênh lệch tỷ giá giữa hai thị trường tăng mạnh từmức xấp xỉ 800 VND đầu tháng 11/2009 lên gần 1.700 VND/ 1USD vào tuần thứ 3 tháng 11/2009
Trang 8Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng củacơn sốt giá vàng, NHNN đã lập tức công bố cho nhập khẩu vàngnhằm giảm sức ép lên cung vàng; qua đó, hạ bớt sức nóng của đồngUSD trên thị trường tự do Thêm vào đó, NHNN quyết định canthiệp trực tiếp và mạnh tay vào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ giá bìnhquân liên ngân hàng tăng 5,44% từ mức 17.034 VND ngày25/11/2009 lên 17.961 VND/ 1 USD áp dụng cho ngày 26/11/2009;thu hẹp biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức ±5% xuống mức
±3% và tăng lãi suất cơ bản tiền đồng lên 8% NHNN cũng cam kết
hỗ trợ bán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng (TCTD) có trạng tháingoại tệ từ âm 5% trở xuống Bên cạnh các quyết định trên củaNHNN, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 2578/TTg-KTTHyêu cầu 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngay số ngoại tệdưới dạng tiền gửi và các nguồn thu vãng lai cho các TCTD đượcphép hoạt động ngoại hối để góp phần giảm áp lực đè nặng lênnguồn cung ngoại tệ
Với việc triển khai đồng bộ các biện pháp nêu trên, thị trườngngoại hối Việt Nam đã ổn định trở lại, hiện tượng găm giữ và tíchtrữ ngoại tệ đã dần được khắc phục
1.2 Đánh giá về chính sách tỷ giá năm 2009
Chính sách điều hành tỷ giá của NHNN còn cứng nhắc, đợtphá giá ngày 26/11/2009 được cho là hợp lý nhưng khá muộn màng.Đồng Việt Nam tiếp tục mất giá trên thị trường tự do thể hiện qua
Trang 9việc tỷ giá trên thị trường tự do vào thời điểm cuối anwm 2009 vẫn
ở mức cao khoảng 19.400 VND cho 1 USD và các NHTM vẫn giaodịch ở mức trần Những biện pháp đúng đắn và phù hợp trên củaNHNN đã giúp thị trường ngoại hối trong Quý III/2009 diễn biếntương đối ổn định, tính thanh khoản được cải thiện đáng kể Tìnhhình cung cầu ngoại tệ trên thị trường tự do có xu hướng bớt căngthẳng
NHNN đã thực thi nhiều biện pháp nhằm bình ổn thị trườngvàng, qua đó giúp hạ nhiệt thị trường ngoại hối Tuy nhiên có lẽđây chỉ là những biện pháp tạm thời và tính thế chứ không phải lànhững biện pháp mang tính lâu dài giúp ổn định thị trường ngoạihối
Thông tin, số liệu liên quan đến tỷ giá, cung cầu ngoại tệ,lượng vàng và ngoại tệ dự trữ trong dân, vốn là những thông tinkhá nhạy cảm đặc biệt trong bối cảnh thị trường ngoại tệ đang tăngnóng, chưa được nhất quán khi công bố giữa các cơ quan quản lýnhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Chính điều này đã khiếncho người dân mất dần niềm tin vào giá trị VND, làm cho thịtrường ngày càng biến động hơn
2 Chính sách tỷ giá năm 2010
2.1 Diễn biến tỷ giá và chính sách tỷ giá năm 2010
2.1.1 Giai đoạn từ đầu năm 2010 đến tháng 6/2010
Trang 10Giá USD trên thị trường tự do giao dịch ở mức cao hơn tỷ giáchính thức ở quý 1, và có xu hướng giảm và rời mốc trần tỷ giá ởquý 2 Cụ thể:
Sau khi thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát mạnh thị trườngngoại hối cuối năm 2009, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do đãdần hạ nhiệt, tuy nhiên chênh lệch tỷ giá trên thị trường tự do vàthị trường chính thức vẫn ở mức khá cao, khoảng 1000 VND trênmột USD giao dịch cho đến những ngày đầu tháng 2
Ngày 11/02, NHNN bất ngờ phá giá VND thêm 3,3% từ17.941 lên mức 18.544 Động thái này của NHNN vào những ngàygiáp Tết, thời điểm nguồn cung ngoại tệ thường dồi dào đã giúpcho giá USD trên thị trường tự do tiếp tục giảm xuống và sát với tỷgiá giao dịch của các NHTM vào cuối quý I năm 2010 ( hình 1)
Cùng với việc nâng tỷ giá này, NHNN đã thực hiện hàng loạtcác biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trường ngoạihối như: giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mởrộng đối tượng cho vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trêncác tài khoản ở nước ngoài của các NHTM và các tổ chức tín dụng,đóng cửa các sàn vàng, và tăng lãi suất cơ bản lên 8%/ năm Cụthể, NHNN ra quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh giảm mạnh
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% kể từ kỳ dự trữ bắtbuộc tháng 2/2010 Bên cạnh đó , mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng
Trang 11USD của tổ chức kinh tế (trừ TCTD) tại TCTD cũng được NHNNđiều chỉnh xuống còn 1%/năm
Kết quả là, trong sáu tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ đãtăng 27% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 4.6% Đồng thời, kiềuhối và các khoản giải ngân FDI, ODA và FII( đầu tư gián tiếp nướcngoài đều tăng lên trong hai quý của đầu năm 2010 so với cùng kỳnăm 2009 khi còn khủng hoảng) Tất cả các yếu tố trên đã góp phầntăng cung và giảm cầu ngoại tệ nhờ đó giảm khoảng cách giữa tỷgiá thị trường tự do và tỷ giá chính thức trong quý II và nửa đầuquý III năm 2010 ( xem hình 3 )
2.1.2 Giai đoạn từ cuối tháng 6/2010 đến cuối năm 2010
Sau một thời gian ổn định trong quý 2, giá USD có xu hướngtăng mạnh bắt đầu từ cuối tháng 6, kéo dài hết tháng 7 và tiếp tụctăng trong tháng 8 khi đạt mức 19.300 – 19.330 vào ngày 17/08.Những xu hướng này phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về
sự phá giá của VND Nguyên nhân của kỳ vọng này là : (i) cungngoại tệ tăng lên chủ yếu do các doanh nghiệp tận dụng chênh lệchlãi suất giữa tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi VND; (ii) nhiều biện pháphành chính của NHNN chỉ mang tính tạm thời và có thể bị đảongược; (iii) lo lắng về cầu ngoại tệ sẽ tăng cao khi nhiều khoản vayngoại tệ của các doanh nghiệp nhằm tận dụng chênh lệch lãi suấtđến hạn; và (iv) hành vi đầu cơ của người dân do giảm sút niềm tinvào tiền đồng
Trang 12Có lẽ do nhận thức được mối đe dọa này, vào ngày17/08/2010, NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932VND/USD mặc dù áp lựcthị trường vẫn chưa rõ ràng và khoảngcách giữa tỷ giá thị trường và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mứcthấp khoảng 500 VND/USD Ngay lập tức, các NHTM tăng tỷ giácủa họ lên kịch trần Những diễn biến về cung cầu ngoại tệ tại thờiđiểm đó cho thấy, động thái điều chỉnh tỷ giá ngày 17/08 củaNHNN nhiều khả năng nhằm mục đích ngắn hạn trước mắt đó làkhơi thông nguồn cung ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng, từ đó gópphần làm giảm căng thẳng trên thị trường ngoại hối, tránh áp lựccho nguồn dự trữ ngoại hối hiện đang khá mỏng Thêm vào đó,nghiên cứu của Phạm T.H Anh và Nguyễn Hồng Ngọc ( 2009) vềlựa chọn chính sách tỷ giá cho thấy tỷ giá thực song phương VND
và USD tại thời điểm cuối năm 2009 ở mức khá thấp khoảng 0,8,còn tỷ giá thực đa phương là 0,97 Điều đó có nghĩa la hiện VND
bị định giá quá cao, gây ảnh hưởng đến sức cạnh tranh thương mạiquốc tế của Việt Nam
Việc điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng sẽ có thể góp phần đưaVND về với giá trị thực vốn có của nó Ngoài ra, việc VND giảmgiá có thể kích thích các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục giải ngân
Động thái của NHNN có thể đã giúp giảm áp lực và ổn định
tỷ giá nếu không có những yếu tố bất lợi diễn ra trong những thángcuối năm 2010 Yếu tố đầu tiên và có lẽ là yếu tố quan trọng nhất
Trang 13là việc giá vàng quốc tế tăng cao kỷ lục dẫn đến giá vàng trongnước còng tăng cao hơn do đầu cơ Đông thời, sau một vài thángtăng với tốc độ chậm, lạm phát lại bắt đầu tăng nhanh từ tháng 9năm 2010 khiến cho CPI của năm 2010 tăng lên 11,75% so với 7%năm 2009.
- Tỷ giá thị trường tự do tháng 10 vượt mốc 20.000
Sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng vào ngày17/08, giá USD trên thị trường tự do dao động khá ổn định quanhmức 19.500 Tuy nhiên, vào cuối tháng 9, USD trên thị trường tự
do lại bắt đầu bước vào một đợt tăng giá mới và kéo dài cho đếntận cuối tháng 10 Gía USD trên thị trường tự do liên tục tăngmạnh và vượt mức 20.000 vào ngày 19/10 Diễn biến này cho thấycung cầu trên thị trường ngoai hối đang có dấu hiệu căng thẳngthực sứ chứ không phài là “ cân bằng” hay “ mua ròng ngoại tệ”như công bố ngày 8/10 của NHNN
Sự tăng mạnh của cầu USD tại thời điểm này là do một sốnguyên nhân sau đây: Thứ nhất, do giá vàng trong nước có thờiđiểm chênh lệch với giá vàng thế giới từ 800.000 – 1.000.000 đồng
đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh chênh lệch giá gom USD nhậplậu vàng ở nước ngoài về bán, khiến cho cầu USD tăng mạnh Hoạtđộng này đã từng diễn ra vào đầu tháng 1 năm 2009 làm cho giáUSD thị trường tự do tăng vọt, dẫn đến động thái phá giá VND5,16% vào ngày 26/11/2009 Thứ hai, trong tháng 8 và 9, Việt
Trang 14Nam liên tục tái xuất vàng ( tháng 8: 744 triệu USD, tháng 9: 450triệu USD, 9 tháng: 2,78 tỷ USD ) Mặc dù các doanh nghiệp kháđược giá trong tháng 8,9 khi xuất vàng, nhưng từ đó cho đến naygiá vàng liên tục tăng kỷ lục Nếu phải nhập vàng lại phục vụ chonhu cầu trong nước thì sẽ khó tránh khỏi các doanh nghiệp phảigom nhiều ngoại tệ hơn để mua vàng Thứ ba, nhập siêu vẫn tiếptục gia tăng trong các tháng cuối năm Ngoài ra, áp lực gom muaUSD trả nợ cho các khoản tín dụng ngoại tệ ( vốn đã tăng mạnhtrong quý 1, 2 và thậm chí tiếp tục tăng trong quý 3) cũng gây sức
ép tới tỷ giá tại thời điểm này Trong khi cầu USD tăng mạnh thìnguồn cung trên thị trường dường như lại bị hạn chế do nguồn FDIgiải ngân trong tháng 8 và 9 có xu hướng giảm Không những thế,các doanh nghiệp XNK có nguồn thu ngoại tệ có xu hướng nắm giữUSD không muốn bán lại cho ngân hàng do lo ngại tỷ giá tăng vàocuối năm, khó có thể mua vào Thêm vào đó, mặc dù lượng kiều hốitrong tháng 9 có xu hướng tăng nhưng lượng kiều hối chuyển qua
và bán lại cho các NHTM không nhiều, chỉ chiếm dưới 3% tổnglượng mua ngoại tệ của các NHTM
Trước diễn biến này, NHNN đã tuyên bố sẽ không điều chỉnh
tỷ giá trong ngắn hạn, nhưng họ sẽ sớm cung ứng một lượng USDnhất định cho các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của cácmặt hàng thiết yếu Tuy nhiên, tại thời điểm này lượng cung ngoại
tệ của NHNN ra thị trường sẽ khó có thể giải tỏa sự căng thẳng
Trang 15USD hiện tại do lượng dự trữ ngoại hối đang khá mỏng Khôngnhững thế, NHNN đã ban hành Thông tư 22/2010 về quản lý huyđộng và cho vay bằng vàng đối với các TCTD Theo quy định củaThông tư này, kể từ ngày 29/10, TCTD sẽ chỉ được phép huy độngvốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá, thay vì hìnhthức phát hành sổ tiết kiệm vàng trước đây Ngoài ra, ngân hàng sẽchỉ được cho phép khách hàng vay vốn bằng vàng để sản xuất( chếtác) và kinh doanh vàng trang sức Việc cho vay để sản xuất vàkinh doanh vàng miếng hoàn toàn bị cấm Ngoài ra, TCTD sẽkhông được phép chuyển số vốn huy động bằng vàng thành VND vàcác hình thức bằng tiền khác để kinh doanh ( trước đây, ngân hàngđược phép chuyển 30% số vàng này thành tiền để bổ sung vàonguồn vốn cho vay) Thông tư này được kỳ vọng sẽ khiến cho cácNHTM sẽ không có cơ sở để tăng lãi suất huy động vàng vốn đượcxem như là một trong những nguyên nhân khiến cho người dân cótâm lý tích trữ vàng, tạo nên chênh lệc lớn giữa giá vàng trongnước và giá vàng quốc tế, từ đó gây căng trên thị trường ngoại tệ tự
do Điều này có thể sẽ giúp thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong
và quốc tế, từ đó giảm căng thẳng trên thị trường ngoại tệ
- Tỷ giá thị trường tự do vượt mốc 21.000 trong tháng 11/2010 song song với việc giá vàng trong nước và giá vàng thế giới lập kỷ lục
Trang 16Đà tăng giá mạnh của USD trong tuần cuối tháng 10 được tiếpnối trong những ngày đầu của tháng 11 bằng việc chạm mốc 21.000vào ngày 4/11 ( hình 1) Biến động này đã đẩy chênh lệch giữa giáUSD trên thị trường tự do và giá trần theo quy định của NHNN đãlên đến 1.300 – 1.500/1 USD giao dịch trong tuần đầu tiên trongtháng 11.
Trước những diễn biến đầy phức tạp của giá USD trên thịtrường tự do, trong buổi họp báo sáng 4/11 Ủy ban giám sát tàichính cho biết, Chính phủ tái khẳng định sẽ không phá giá từ giờcho đến cuối năm Thêm vào đó, để hạ nhiệt tỷ giá trên thị trườngngoại tệ tự do, Chính phủ dự kiến bơm mạnh ngoại tệ phục vụ vàocác ngành sản xuất lương thực thực phẩm, phân bón … phục vụ nhucầu nhập khẩu thiết yếu ( dự kiến khoảng 200-500 triệu USD ) Thịtrường tự do phản ứng khá tích cực trước thông báo này được khigiá USD trên thị trường tự do giảm từ mức đỉnh 21.000 ( buổisáng ) xuống còn 20.700 – 20.800 (vào đầu buổi chiều), rồi xuốngmức 20.400, thậm chí có lúc chỉ còn 20.300
Tuy nhiên việc giá vàng thế giới trong phiên giao dịch ngày8/11 lên mức đỉnh 1.420 USD/1 ounce đã khiến cho giá vàng trongnước tăng theo Lợi dụng điều này, nhiều cửa hàng vàng đã tăngmạnh giá mua – bán, tạo sự khan hiếm hàng giả tạo để đẩy chênhlệch giữa giá vàng trong nước và thế giới lên mức kỷ lục 1,8 triệu
Trang 17động trong buổi sáng ngày 9/11 Cùng với đó là giá USD trên thịtrường tự do cũng bị đẩy lên mức cao kỷ lục 21.350
Trước sự chênh lệch quá lớn giữa giá vàng trong nước và thếgiới vào cuối buổi sáng ngày 9/11, NHNN đã tuyên bố sẽ cho nhậpvàng nhằm bình ổn thị trường vàng cũng như thị trường ngoại tệ tự
do Động thái này của NHNN đã có tác động khá tích cực tới thịtrường vàng và ngoại tệ tự do khi giá vàng giảm từ mức đỉnh 38,2triệu đồng/1 lượng xuống dao động quanh mức 36,7 triệu đồng/ 1lượng, và xuống 35,8 triệu đồng/ 1 lượng vào ngày 12/11 Đồngthời, USD trên thị trường tự do cũng giảm nhẹ tuy vẫn duy trì ởmức khá cao khoảng 21.000 – 21.500 bởi lẽ:
Động thái của NHNN tiếp tục cho phép một số DN nhập vàngkhông hạn chế thời gian có thể khiến cho giá vàng trong nước sátvới giá vàng thế giới nhưng nó khó có thể khiến cho thị trườngngoại tệ giảm nhiệt bởi vì các doanh nghiệp có giấy phép nhậpkhẩu vàng se phải gom USD để nhập;
Những căng thẳng trên thị trường ngoại tệ không thể giảiquyết chỉ bằng thông điệp sẽ cung ngoại tệ, mà chính là số lượngngoại tệ mà NHNN có thể cung ra bao nhiêu khi mà lượng dự trữngoại hối hiện nay là khá mỏng
Tâm lý lo sợ VND ngày càng mất giá cộng với lạm phát có xuhướng tăng cao đã khiến cho người dân nắm giữ vàng và ngoại tệ
Trang 18thay vì VND cũng khiến cho thị trường ngoại tệ nóng hơn bao giờhết.
Nhập siêu tăng mạnh trong tháng 11 lên cao nhất kể từ tháng2/2010 cũng là nguyên nhân gây nên sức ép tới tỷ giá cho dù cácnguồn tài trợ cho thâm hụt thương mại năm 2010 có tăng mạnh.Các doanh nghiệp nước ngoài có xu hướng chuyển lợi nhuận kinhdoanh vào cuối năm cũng thể khiến cho cầu USD tăng, làm cho tỷgiá khó giảm
Như vậy, sự biến động mạnh với nhiều trạng thái khác nhaucủa USD trong năm 2010 đã gây nên bất ổn cho nền kinh tế đồngthời khiến mất cân đối vĩ mô như tình trạng nhập siêu, lạm phát…ngày càng trở nên trầm trọng và khó kiểm soát hơn Cụ thể, lạmphát không thể đạt mục tiêu khi lên tới 2 con số trong năm 2010,còn thâm hụt thương mại trong 11 tháng năm 2010 ( nếu loại bỏxuất khẩu vàng ước tính khoảng 2,8 tỷ USD) cũng lên tới 13,6 tỷ( tương đương với 21,2% tổng kim ngạch xuất khầu ), vượt mụctiêu 13,5 tỷ USD nhập siêu cho cả năm
2.2 Đánh giá về chính sách tỷ giá năm 2010
Trước những diễn biến của tỷ giá năm 2010, NHNN đã có một
số chính sách, biện pháp nhằm hạn chế những căng thẳng trên thịtrường ngoại hối như:
Điều chỉnh nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng 2 lần: từ17.941 lên 18.544 vào ngày 11/02/2010 (tương đương với việc
Trang 19VND bị phá giá 3,3%), và từ 18.544 lên 18.932 vào ngày17/08/2010 ( tương đương với việc VND bị phá giá 2%);
NHNN yêu cầu kiểm soát chặt tín dụng ngoại tệ, hạn chế cấpngoại tệ dùng để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu mà trongnước đã sản xuất được;
Tuyên bố sẵn sàng bơm ngoại tệ cho nền kinh tế, và cung ứng
đủ ngoại tệ để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu mà trong nướcchưa sản xuất được;
Ban hành Thông tư 22/2010 về quản lý huy động và cho vaybằng vàng đối với cac TCTD; đánh thuế suất 10% đối với hoạtđộng xuất khẩu vàng kể từ ngày 1/1/2011
Đồng thời cấp thêm quota nhập khẩu vàng cho các DN kinhdoanh vàng bạc để giảm bớt căng thẳng cung cầu làm giảm chênhlệch giữa giá vàng trong nước và nước ngoài, vốn là một nhân tốthường gây nên những bất ổn thị trường ngoại tệ tự do
Nhìn lại những biện pháp và cách thức mà NHNN thực hiệntrong năm 2010 nhằm bình ổn thị trường ngoại hối có thể thấy một
số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, trong những năm trước đây, NHNN thường chỉ điều
chỉnh tỷ giá khi giá USD trên thị trường tự do cao hơn rất nhiều sovới tỷ giá chính thức (thường từ 1.000 – 1.500 VND) Điều đó cónghĩa là chỉ khi sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường ngoại hốiquá căng thẳng thì NHNN mới thay đổi Tuy nhiên, trong năm
Trang 202010, NHNN đã khá chủ động trong việc điều chỉnh tỷ giá bìnhquân liên ngân hàng nhằm ứng phó với biến động của tỷ giá USD.
Cụ thể, cả 2 lần NHNN điều chỉnh tỷ giá trong năm 2010 đều lànhững lúc thị trường ngoại hối tự do không quá căng thẳng, chênhlệch tỷ giá tự do và chính thức chỉ khoảng 300 Tuy nhiên, có mộtvấn đề đó la NHNN lại điều chỉnh tỷ giá khá ” nhỏ giọt “ khi mỗilần chỉ điều chỉnh từ 2-3% Chính động thái phá giá dần dần từngbước, chứ không phá giá mạnh một lần lại khiến cho các nhà đầu tư(đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài), cũng như các doanh nghiệp longại khi tiến hành giải ngân vốn hoặc nhập khẩu hàng hóa phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, các nhà đầu tưnước ngoài hay các DN thường có tâm lý “ trông chờ “, “ nghengóng “ động thái của NHNN về tỷ giá – khiến cho sự mất cân đốitrên thị trường ngoại tệ khó giải quyết hơn bao giờ hết Cụ thể, đốivới các nhà đầu tư nước ngoài, việc giải ngân trước và sau khi phágiá cũng có thể khiến cho nhà đầu tư đó bị thua thiệt rất nhiều do
tỷ giá biến động, thậm chí lãi có thể sẽ biến thành lỗ do vấn đề về
tỷ giá, khiến cho họ “ khá chần chừ “ trong việc giải ngân Trongkhi đó, các DN có nguồn thu ngoại tệ lại muốn “ găm giữ “ chờ giáUSD lên mới bán
Thứ hai, nhằm tránh sự liên thông giữa giá vàng thế giới, giá
vàng trong nước và tỷ giá USD tự do, NHNN đã thực thi nhiều biệnpháp nhằm bình ổn thị trường vàng, qua đó giúp hạ nhiệt thị trường
Trang 21ngoại hối Tuy nhiên có lẽ đây chỉ là những biện pháp tạm thời vàtính thế chứ không phải là những biện pháp mang tính lâu dài giúp
ổn định thị trường ngoại hối Điều đó được thể hiện khá rõ khi ViệtNam cũng đã từng đối mặt với hiện tượng này vào tháng 11/2009.Tại thời điểm đó, trước sức ép của tỷ giá, bên cạnh những giải phápkhác NHNN đã phải đưa ra một vài biện pháp liên quan đến thịtrường vàng đó là cấp thêm quota nhập khẩu vàng, cấm sàn vànghoạt động Tưởng chừng những biện pháp đố có thể phần nào ngănchặn sự liên thông giữa các thị trường này nhưng nó lại tiếp tụcdiễn ra năm 2010 và gây ra những xáo động khá mạnh trên thịtrường ngoại hối tự do
Thứ ba, các thông tin, số liệu liên quan đến tỷ giá, cung cầu
ngoại tệ, lượng vàng và ngoại tệ dự trữ trong dân, vốn là nhữngthông tin khá nhạy cảm đặc biệt trong bối cảnh thị trường ngoại tệđang tăng nóng, chưa được nhất quán khi công bố giữa các cơ quanquản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Chính điều này
đã khiến cho người dân mất dần niềm tin vào giá trị VND, làm chothị trường ngày càng biến động hơn
3 Chính sách tỷ giá năm 2011
3.1 Diễn biến tỷ giá và chính sách tỷ giá năm 2011
3.1.1 Giai đoạn từ đầu năm 2011 đến tháng 3/2011
- Tháng 1/2011: Tỷ giá tự do ổn định quanh mốc 21.000,trong khi NHNN cố gắng kiềm giữ tỷ giá chính thức ở mức 18.932
Trang 22Trong những ngày đầu năm 2011, do chênh lệch giá vàngtrong nước và thế giới tiếp tục tăng cao đã đẩy giá USD trên thịtrường tự do tăng lên trên mức 21.000 Trước sức ép liên tục vềphá giá VND, nhưng NHNN vẫn tiếp tục kiềm giữ duy trì tỷ giábình quân liên ngân hàng tại mức 18.932, trong khi các ngân hàngthương mại (NHTM) niêm yết tỷ giá tại mức trần 19.500 Diễn biếnnày khiến cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do(paralell market premium) đẩy lên tới 1.500-1.600VND (tươngđương khoảng 8% so với tỷ giá chính thức) Đà tăng tỷ giá trên thịtrường tự do chỉ chững lại vào cuối tháng 1, nhưng sau ñó lại có xuhướng tăng mạnh trong các ngày sát và sau kì nghỉ Tết nguyên đán2011.
Sự tăng mạnh của giá USD tự do tại thời điểm đó có thể dochênh lệch khá lớn giữa giá vàng trong nước và thế giới (hơn 1triệu VND/lượng) Bên cạnh đó, sự kì vọng của giới đầu cơ về khảnăng NHNN sẽ tiến hành phá giá VND ngay sau Tết cũng có thểđược coi là nguyên nhân khiến cho giá USD tự do tăng Diễn biến
tỷ giá USD/VND trong những ngày đầu năm mới 2011 cho thấygiới đầu cơ đang trông chờ nhiều vào các tín hiệu của NHNN vềđiều hành chính sách tỷ giá
- Thời điểm sát Tết nguyên đán đến đầu tháng 3/2011: Tỷ giá
tự do tăng mạnh lên trên 22.300 sau khi NHNN phá giá
Trang 23Theo chu kỳ, thị trường ngoại hối trong nước thường có dấuhiệu căng thẳng vào thời điểm cuối năm, và đặc biệt vào cuối năm
2010 và đầu năm 2011, nguyên nhân chính do lạm phát bắt đầu códấu hiệu tăng nhanh, nhập siêu ở mức cao, tâm lý găm giữ ngoại tệcủa người dân và doanh nghiệp khá trầm trọng dẫn đến các nguồnngoại tệ không tập trung vào hệ thống ngân hàng, tình trạng đô lahóa trở nên phổ biến
Trước tình hình đó, ngày 11/2/2011, Ngân hàng Nhà nước(NHNN) đã thực hiện điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngânhàng thêm 9,3% (tương đương với việc VND bị phá giá 8,5%) vàgiảm biên độ giao dịch xuống +/-1%
Trang 24Tuy nhiên, động thái điều chỉnh tỷ giá của NHNN lại dườngnhư không có mấy tác động tích cực tới thị trường tự do khi mà giáUSD liên tục tăng kể từ ngày 11/2 cho đến cuối tháng 2, đặc biệtbiến động khá mạnh trong ngày 17/2 khi giá bán ñược niêm yếtvượt 22.000, đạt kỉ lục 22.300 vào ngày 19/2.
Sự tăng mạnh đột biến của giá USD có thể bắt nguồn từ chênhlệch giá vàng thế giới và trong nước vẫn đang duy trì ở mức khácao, cộng thêm với tâm lý đầu cơ của người dân cũng như sự e ngại
về giá trịcủa VND Không những thế, thông tin dự trữ ngoại hối tạithời điểm đó chỉ còn khoảng 10 tỷUSD và những quan ngại về tìnhhình lạm phát cao có thể là những nguyên nhân góp phần khiến chogiá USD tự do liên tục tăng mạnh
3.1.2 Trung tuần tháng 3 đến đầu tháng 8/2011
Tỷ giá tự do giảm mạnh, xuống sát với tỷ giá của NHTM saukhi NHNN thi hành nhiều biện pháp điều hành chính sách tỷ giá
Cùng với việc kiểm soát chặt thị trường ngoại tệ tự do,NHNN cho biết sẽ cụ thể hóa giải pháp tiến tới xóa bỏ hoàn toànhoạt động kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do cũng nhưđưa hoạt động của thịtrường vàng vào khuôn khổ như đã đề ratrong Nghị quyết 11 thông qua việc ban hành các quy định về giaodịch vàng (dự kiến được ban hành trong Quý 3)
Trong Quý 2, NHNN tiếp tục ban hành các văn bản pháp lýnhằm bình ổn thị trường ngoại hối, hạn chế tình trạng USD hóa
Trang 25nền kinh tếvà hướng tới mục tiêu chỉ sử dụng VND trên lãnhthổViệt Nam khi áp trần lãi suất huy động USD là 3% (Thông tư
09, ngày 9/4) và sau đó là 2% (Thông tư 14, ngày 2/6); Quyết định
750 về tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ từ 4%lên 6% (ngày 9/4) và sau đó tăng lên 7% (ngày 1/6) Với các biệnpháp nhằm hạn chế huy động và cho vay bằng ngoại tệ này củaNHNN ñã giúp khơi thông nguồn ngoại tệ do người dân nhận thấynắm giữ USD không có lợi bằng VND nên có xu hướng bán USD đểgửi tiết kiệm bằng VND, giúp tăng nguồn cung ngoại tệ trên thịtrường ngoại hối Không những thế, NHNN đã mở rộng đối tượngphải kết hối ngoại tệ khi ban hành Thông tư 13 (có hiệu lựctừ1/7/2011) Chính vì vậy, không có gì là khó hiểu khi trong quý 2,cùng với đà giảm của tỷ giá bình quân liên ngân hàng, các NHTMliên tiếp giảm tỷgiá mua và bán xuống dưới mốc trần tỷgiá (+1%)theo quy định của NHNN, thậm chí có thời điểm gần sát với giásàn, dao động quanh 20.500-20.700 (Hình 1) Đây là lần đầu tiên
kể từ tháng 5/2010, tỷgiá của các NHTM rơi khỏi mốc trần củaNHNN Cùng với diễn biến trên thị trường chính thức, tỷ giá trênthị trường tự do cũng tiếp tục suy giảm, biến động tương đối cùngchiều với tỷ giá bình quân liên ngân hàng và tỷ giá niêm yết tại cácNHTM Sự ổn định trên các thị trường ngoại tệ được kéo dài chođến đầu tháng 8/2011 khi mà sự tăng giá kỉ lục của giá vàng thếgiới đẩy giá vàng trong nước tăng cao, đã khiến cho giá USD tại