Dạy tích hợp tiếng Việt trong môn Thủ công- Kĩ thuật là cung cấp những từ ngữ tiếng Việt thể hiện các hoạt động mang tính thủ công, kĩ thuật : xé, cắt, dán, khâu, đan, lắp ghép, chiết cà
Trang 1TĂNG CƯỜNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC
Trang 2MỤC LỤC
Nội dung Trang MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
I CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC HỖ TRỢ HỌC SINH DÂN TỘC TĂNG CƯỜNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT 4
1 Tích hợp dạy tiếng Việt vào các môn học và hoạt động giáo dục khác 4
2 Phát triển vốn từ tiếng Việt theo chủ đề của môn học 7
3 Sử dụng nhiều giác quan để tăng cường vốn từ 8
4 Thường xuyên thực hành kĩ năng nghe, nói tiếng Việt .10
II CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẰM TĂNG CƯỜNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC 12
1 Tiếp cận tiếng Việt tự nhiên 12
2 Trực quan hành động 14
3 Tạo và sử dụng cuốn sách khổ lớn 16
4 Luyện tập phát âm theo mẫu 19
5 Kể lại 21
6 Điền từ 24
7 Sử dụng bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu 27
8 Tổ chức trò chơi 30
III MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỖ TRỢ HỌC SINH DÂN TỘC TĂNG CƯỜNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC 56
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Học sinh dân tộc Kinh khi đến trường đã có vốn từ tiếng Việt đủ để tiếp thu các bài học và tham gia các hoạt động ở trường học Khác với học sinh dân tộc Kinh, học sinh dân tộc thiểu số khi vào lớp 1 biết rất ít hoặc không biết Tiếng Việt nên rất khó khăn trong việc tiếp thu bài học và tham gia các hoạt động giáo dục khác ở trường tiểu học Đây chính là nguyên nhân khiến học sinh dân tộc thiểu số khi mới vào lớp 1 thường rơi vào tâm trạng ngơ ngác, rụt rè, e ngại trong giao tiếp ở trường học Do vậy, việc tăng cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết
Để góp phần giúp giáo viên tiểu học có thêm các biện pháp tăng cường
kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, Chương trình Đảm
bảo chất lượng giáo dục trường học tổ chức biên soạn cuốn tài liệu Tăng
cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc
Tài liệu này không đề cập đến tất cả các kĩ năng giao tiếp tiếng Việt mà chủ yếu giới hạn trong các biện pháp tăng cường kĩ năng nghe, nói cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, lớp 2, lớp 3
Nội dung tài liệu gồm ba phần:
I Các nguyên tắc dạy học hỗ trợ tăng cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc
II Các biện pháp tổ chức hoạt động nhằm tăng cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh dân tộc
III Một số trò chơi hỗ trợ học sinh tăng cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt
Tài liệu đã được Vụ Giáo dục Tiểu học thẩm định để dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên các trường tiểu học thực hiện Dự án SEQAP
Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học rất mong nhận được ý kiến góp ý để tài liệu ngày càng hoàn thiện hơn
Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học
Trang 4I CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC HỖ TRỢ HỌC SINH DÂN TỘC TĂNG CƯỜNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
1 Tích hợp dạy tiếng Việt vào các môn học và hoạt động giáo dục khác
Các môn học trong trường tiểu học đều sử dụng tiếng Việt là phương tiện chuyển tải kiến thức tới học sinh Việc tiếp nhận kiến thức các môn học phụ thuộc vào trình độ tiếng Việt của học sinh Nếu học sinh sử dụng tiếng Việt kém thì chắc chắn kết quả học tập các môn học khác cũng không tốt
Thật sai lầm khi nghĩ rằng chỉ dạy tiếng Việt ở môn Tiếng Việt Tiếng Việt rất cần được dạy tích hợp trong các môn học, các hoạt động giáo dục khác ở trường tiểu học Bài học của các môn học khác có ngữ liệu thích hợp với việc dạy tiếng Việt là những tình huống để rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt thích hợp Thông qua nội dung các bài học của môn học khác, học sinh được tăng thêm vốn từ, học được cách diễn đạt bằng tiếng Việt và các quy tắc sử dụng tiếng Việt theo các phong cách chức năng, ngữ cảnh khác nhau
Dạy tiếng Việt tích hợp vào các môn học và hoạt động giáo dục khác như thế nào?
Trong quá trình dạy học các môn học khác, giáo viên cần:
- Chú ý kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy kiến thức của các môn học
- Sử dụng ngữ liệu tiếng Việt trong các môn học làm tình huống để học sinh thực hành rèn luyện các kĩ năng giao tiếp tiếng Việt
- Sử dụng tranh ảnh, hiện vật, mô hình…để giảng giải các khái niệm, thuật ngữ đặc trưng của môn học, đồng thời hướng dẫn, giảng giải chậm, rõ ràng những từ ngữ khó
- Cung cấp các mẫu câu đặc trưng của môn học và cho học sinh luyện tập theo mẫu
Trang 5- Hướng dẫn học sinh tích cực sử dụng tiếng Việt trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo, tham gia thảo luận cùng các bạn trong các giờ học Giáo viên luôn luôn chú ý giúp học sinh sử dụng tiếng Việt đã có để mở rộng và làm giàu vốn từ cho mình
Một số ví dụ tích hợp dạy tiếng Việt vào các môn học:
Tích hợp dạy tiếng Việt vào môn Âm nhạc: Là kết hợp dạy âm nhạc với dạy những từ ngữ chuyên ngành : giai điệu, tiết tấu, lời ca, vỗ tay , gõ đệm, vận động phụ họa, dân ca cho học sinh
Một trong những yêu cầu cần đạt khi dạy hát là học sinh biết hát theo giai điệu và hát đúng lời ca Muốn hát đúng lời ca, học sinh cần phải đọc đúng lời bài hát rồi mới đọc được lời ca theo tiết tấu Hoạt động đọc mẫu của giáo viên và đọc lời ca của học sinh là hoạt động thích hợp để tích hợp rèn kĩ năng nghe, nói, đọc tiếng Việt cho học sinh
Khi dạy kể chuyện âm nhạc, để giúp học sinh biết nội dung câu chuyện, giáo viên phải thực hiện quy trình sau:
- Giới thiệu khái quát về câu chuyện
Dạy vẽ tranh trong môn Mĩ thuật với đề tài Em đi học, giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để học sinh nhớ lại các hình ảnh, hoạt động khi đi học Khi hướng dẫn học sinh chọn đề tài, giáo viên gợi ý, miêu tả cảnh vật thân quen với học sinh dân tộc như : màu sắc, nhà cửa, cây cối, nương rẫy hai bên
Trang 6đường đi học… để học sinh lựa chọn Những từ ngữ về chuyên ngành mĩ thuật được hình thành trong quá trình dạy học môn Mĩ thuật: màu sắc, bố cục, mảng màu, họa tiết,…sẽ dần dần giúp vốn từ tiếng Việt của học sinh ngày một giàu thêm
Dạy chủ đề Cảm ơn và xin lỗi trong môn Đạo đức lớp 1, một trong các yêu cầu cần đạt là học sinh biết được khi nào cần nói cảm ơn, xin lỗi; biết cảm ơn, xin lỗi trong các tình huống phổ biến khi giao tiếp Đây là những tình huống để giáo viên hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng nghe, nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Dạy tích hợp tiếng Việt trong môn Thủ công- Kĩ thuật là cung cấp những từ ngữ tiếng Việt thể hiện các hoạt động mang tính thủ công, kĩ thuật :
xé, cắt, dán, khâu, đan, lắp ghép, chiết cành, bón lót, bón thúc, làm luống, cờ
lê, tua vít, quy trình kĩ thuật, răng cưa, bánh đai, băng chuyền,… và những câu lệnh: gấp vào đường dấu giữa hình; miết kĩ mép tờ giấy; cắt lượn theo đường cong; lắp các thanh thẳng vào tấm lớn; tháo rời các chi tiết của sản phẩm;…
Dạy tiếng Việt tích hợp trong môn Toán là dạy học sinh những từ ngữ trong bài toán có lời văn, những từ ngữ liên quan đến toán học : cộng, trừ, nhân, chia, tính nhẩm, lời giải …; hệ thống câu với các mệnh đề như: a cộng b; a trừ b; a lớn hơn b; …
Dạy tích hợp tiếng Việt trong môn Tự nhiên và Xã hội là dạy những từ ngữ thể hiện nội dung các chủ đề: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên
Đó là các từ ngữ chỉ tên gọi, đặc điểm, tính chất của các sự vật, hiện tượng; các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Các tình huống trong môn học này là cơ hội thuận lợi để học sinh thực hành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt
Rõ ràng, tích hợp dạy tiếng Việt trong dạy học các môn học khác là rất cần thiết Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng để hỗ trợ học sinh
Trang 7dân tộc thiểu số rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc tiếng Việt nhằm tăng cường kĩ năng giao tiếp
2 Phát triển vốn từ tiếng Việt theo chủ đề của môn học
Mỗi môn học trong chương trình giáo dục tiểu học đều dạy học theo các chủ đề Việc phát triển vốn từ theo chủ đề của các môn học vừa giúp học sinh tiếp thu tốt kiến thức môn học vừa phát triển vốn từ tiếng Việt một cách
hệ thống Có vốn từ Tiếng Việt theo từng chủ đề sẽ giúp học sinh vận dụng giao tiếp trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau tốt hơn
Ví dụ:
Môn Đạo đức lớp 1 có thể phát triển vốn từ cho học sinh theo các chủ đề: Gọn gàng sạch sẽ; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập; lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ; lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo ; cám ơn và xin lỗi ; chào hỏi và tạm biệt… Mỗi chủ đề có rất nhiều từ ngữ thể hiện các chuẩn mực và hành vi đạo đức cần cung cấp và phát triển vốn từ cho học sinh
Học về chủ đề Thời gian trong môn Toán lớp 2, các từ ngữ cần được giáo viên hình thành, phát triển cho học sinh về chủ đề thời gian là : ngày, giờ; buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối, buổi đêm ; ngày thứ hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, chủ nhật…
Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 có chủ đề Gia Đình Các hoạt động
trong thời gian này tập trung để cung cấp, mở rộng cho học sinh từ ngữ về chủ đề gia đình như : ông, bà, cha, mẹ, con, anh, chị, em…
Cha
Trang 8
Để phát triển vốn từ cho học sinh theo chủ đề môn học, giáo viên cần :
- Tập hợp những từ ngữ theo chủ đề môn học, đặc biệt là những từ ngữ gắn liền với cuộc sống của học sinh dân tộc để cung cấp, hướng dẫn học sinh trong quá trình dạy học
- Tạo tình huống theo từng chủ đề cuộc sống để học sinh thực hành nghe, nói theo các chủ đề
- Khuyến khích học sinh thường xuyên thu thập, tích lũy vốn từ theo từng chủ đề
- Hướng dẫn học sinh làm sổ tay từ ngữ để cập nhật những từ ngữ tiếng Việt theo từng chủ đề Đồng thời, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh thực hành sử dụng những từ ngữ theo chủ đề
3 Sử dụng nhiều giác quan để tăng cường vốn từ
Học sinh sử dụng các giác quan thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác để học tập sẽ đem lại hiệu quả cao
Giáo sư - Tiến sĩ Robert C.Titzer, chuyên gia hàng đầu của Mỹ trong nghiên cứu về đề tài học đọc đa giác quan của trẻ đã nêu lên cơ sở khoa học của việc giúp trẻ học bằng đa giác quan là nhờ sự hình thành các kênh thần kinh giữa các vùng khác nhau của não Chúng sẽ nhận được những tín hiệu thông tin qua các giác quan của trẻ và kích thích khả năng lưu trữ, phân tích thông tin Ông còn khuyến cáo: khi trẻ tỏ ra hứng thú ở một chủ đề đặc biệt nào đó, hãy giúp trẻ tiếp cận bằng nhiều giác quan Nếu trẻ học về đề tài động vật - hãy cho trẻ thăm vườn thú, chạm vào con vật (nếu có thể), lắng nghe và bắt chước tiếng kêu của loài vật
Việc sử dụng nhiều giác quan có những ưu điểm:
Trang 9- Học sinh được phối hợp sử dụng nhiều giác quan để tri giác sự vật, hiện tượng sẽ hình thành được các biểu tượng, khái niệm từ ngữ chính xác
- Tạo hứng thú học tập, phát triển khả năng tập trung chú ý, óc tò mò khám phá
- Phát triển tư duy và nâng cao tính tự lực, tích cực của học sinh
Ví dụ: Nếu học sinh nhìn thấy, chạm vào và nếm vị của quả cam, giáo
viên gợi ý bằng các câu hỏi để học sinh nói về :
- Hình dáng;
- Màu sắc ;
- Mùi vị của quả cam
Từ đó, giáo viên giúp học sinh hình thành những từ ngữ đúng về hình dáng, màu sắc, mùi vị của quả cam
Giáo viên có thể phát triển một mạng lưới từ ngữ miêu tả về quả cam như sau:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường cho học sinh hiểu được nghĩa của từ thông qua các hình ảnh trực quan sinh động Đây chính là cách giáo viên giúp học sinh sử dụng một số giác quan trong học từ ngữ Điều quan trọng là cần cho học sinh thường xuyên sử dụng giác quan không chỉ để nghe, nhìn mà còn sờ, ngửi, nếm để học tiếng Việt Học sinh sẽ cảm thấy việc học
Nhìn: thấy giống quả
Trang 10tiếng Việt như một trong những trò chơi hàng ngày với cảm giác vui vẻ
và hưng phấn để phát triển từ ngữ một cách tự nhiên
4 Thường xuyên thực hành kĩ năng nghe, nói tiếng Việt
Học sinh dân tộc bắt đầu học tiếng Việt là một ngôn ngữ mới, ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ Cho nên, việc sử dụng đồng thời tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt để giúp học sinh hiểu, tiếp thu nội dung bài học là cần thiết nhưng chỉ dùng tiếng mẹ đẻ ở trường học trong một số trường hợp như: cung cấp một số câu lệnh nhằm hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập, giảng giải nghĩa từ ngữ mang tính trừu tượng Từng bước, giáo viên phải giúp học sinh nắm vững và sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp
Muốn nắm vững và sử dụng được tiếng Việt, học sinh phải được giáo viên dạy nghe, dạy nói và thường xuyên thực hành kĩ năng nghe, nói tiếng Việt
Để giúp học sinh tích cực, chủ động thực hành kĩ năng nghe, nói tiếng Việt, trong quá trình dạy học, giáo viên cần :
- Chú ý rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh trong quá trình giảng dạy các phân môn của môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
- Có nhiều biện pháp và hình thức tổ chức linh hoạt để học sinh ham muốn thực hành kĩ năng nghe, nói tiếng Việt
- Sử dụng đồ dùng dạy học (tranh ảnh, vật thật…) để tạo cho học sinh
sự quan tâm, thích thú tới đề tài nghe và gợi ý học sinh nói
- Tạo ra những tình huống giao tiếp cụ thể để học sinh vận dụng từ ngữ, mẫu câu vào việc ứng xử bằng lời nói Học sinh dân tộc thiểu số cần được thực hành giao tiếp trong những tình huống có thực ở trường học, ở gia đình phù hợp với sinh hoạt của lứa tuổi
Trang 11- Kiên trì hướng dẫn học sinh nghe và tập nói Mỗi ngày, giáo viên cần tạo điều kiện để mỗi học sinh thực hành nghe, nói tiếng Việt nhiều lần trong giờ học, trong vui chơi
Học sinh dân tộc chưa làm chủ được tiếng Việt, chưa có thói quen nói tiếng Việt nên thường ngại nói Khi có cơ hội, học sinh thường quay về với tiếng mẹ đẻ quen thuộc của mình, kể cả trong lớp học Do vậy, giáo viên cần động viên, khuyến khích học sinh mạnh dạn sử dụng những từ ngữ đã biết để trả lời câu hỏi, trao đổi với thầy giáo, cô giáo và các bạn
- Có thể tổ chức cho học sinh thường xuyên nghe chương trình phát thanh bằng tiếng Việt ở trường Những học sinh đọc tốt, giáo viên có thể cho các em thay nhau làm phát thanh viên một số chuyên mục
- Tổ chức chuyên đề phù hợp để phát triển kĩ năng nghe, nói cho học sinh như : nghe - hiểu; đọc -hiểu ; phát âm đúng ; kể chuyện hay theo nhu cầu cụ thể của từng lớp
- Tạo môi trường tiếng Việt phong phú, đa dạng ở trong và ngoài lớp học để kích thích học sinh giao tiếp tiếng Việt
Ví dụ: Trong lớp học, ngoài sân trường, giáo viên có thể treo (dán) những chữ cái, từ, câu ứng dụng của một bài Học Vần Tiếng Việt lớp 1; những thuật ngữ dùng trong các môn học khác… và thay thế các nội dung này theo thời gian của bài học ở trường tiểu học
Điều quan trọng đối với giáo viên dạy học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số là biết tổ chức các hoạt động, tạo nhiều cơ hội, khuyến khích học sinh thực hành sử dụng tiếng Việt bằng nhiều hình thức khác nhau làm cho học sinh say mê, hứng thú với việc nghe, nói tiếng Việt
Trang 12II CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẰM TĂNG CƯỜNG
KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC
1 Tiếp cận tiếng Việt tự nhiên
Tiếp cận tiếng Việt tự nhiên là cho học sinh nghe, nói, học tiếng Việt gắn với cuộc sống sinh hoạt, học tập hằng ngày của các em
Một đứa trẻ học ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên qua quá trình "thấm dần" Quá trình "thấm dần" bằng cách bao quanh đứa trẻ ngôn ngữ nó cần học, hứng thú và luôn muốn tiếp thu để đáp ứng nhu cầu hòa nhập vào cuộc sống
xã hội của trẻ
Học sinh dân tộc thiểu số không có điều kiện tiếp cận tiếng Việt một cách tự nhiên như tiếp cận tiếng mẹ đẻ Các em chỉ được tiếp cận tiếng Việt khi đến trường học Nếu ở trường học, cũng có một môi trường học tập, giao tiếp tiếng Việt tự nhiên thì tiếng Việt sẽ “thấm dần” vào học sinh Theo thời gian, học sinh sẽ được “thấm đẫm” tiếng Việt Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần tạo môi trường cho học sinh tiếp cận tiếng Việt tự nhiên bằng cách dạy tiếng Việt gắn với cuộc sống thực hằng ngày của học sinh và cộng đồng dân tộc của các em
Để học sinh tiếp cận tiếng Việt tự nhiên, giáo viên cần:
- Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học (tranh ảnh, vật thật…) gắn với cuộc sống thường ngày của học sinh và cộng đồng dân tộc của các em
- Động viên, khuyến khích học sinh tích cực thường xuyên sử dụng tiếng Việt giao tiếp ở trường và cả ở nhà
- Sử dụng các tình huống từ thực tế học tập ở lớp, sinh hoạt thường ngày ở nhà của học sinh để học sinh rèn kuyện kĩ năng giao tiếp
Ví dụ về một cách giáo viên giúp học sinh làm một bảng thời tiết trong ngày của lớp:
Trang 13Vật liệu bao gồm: Thẻ từ, thẻ hình ảnh mô tả thời tiết; một bảng thời tiết có những ô trống để học sinh chọn từ ngữ, hình ảnh phù hợp gắn vào (như hình bên dưới)
Hướng dẫn học sinh thực hiện: Mỗi ngày, học sinh quan sát thời tiết, chọn thẻ hình ảnh, thẻ từ phù hợp gắn vào ô trống trong bảng thời tiết
Có thể phân công cho mỗi nhóm thực hiện một ngày, một tuần hoặc cho học sinh tự do thực hiện khi học sinh muốn
Một ví dụ khác, khi dạy học môn Tự nhiên và Xã hội về các loại cây, giáo viên yêu cầu học sinh mang theo các loại cây ở địa phương đến lớp và cho học sinh khám phá các bộ phận, ích lợi của từng loại cây quen thuộc Với cách làm này, học sinh không những tiếp thu được kiến thức của bài học mà còn học được một cách tự nhiên những từ ngữ thể hiện tên gọi, lợi ích, bộ phận của các loại cây
Được tiếp cận tiếng Việt tự nhiên, học sinh sẽ cảm thấy được bao quanh bởi ngôn ngữ các em cần học, cần biết để sử dụng trong cuộc sống và hòa nhập vào cuộc sống ở trường để rồi các em ham muốn sử dụng tiếng Việt Quá trình phát triển ngôn ngữ của học sinh lúc này ở giai đoạn nghe - hiểu sẽ chuyển rất tự nhiên sang giai đoạn nói Có thể ở giai đoạn nghe – hiểu, học sinh thể hiện sự hiểu biết bằng hành động
Ví dụ:
Trang 14Một học sinh muốn nói cho giáo viên biết rằng hôm nay là một ngày trời nắng, em chỉ mặt trời bên ngoài lớp hay chỉ bức tranh mặt trời trên bảng hoặc chỉ nói ngắn gọn từ "mặt trời" Điều này chứng tỏ học sinh đang cố gắng diễn đạt cho giáo viên biết em đã hiểu rõ câu hỏi và có câu trả lời nhưng chưa biết dùng từ để diễn đạt Do vậy, khi giảng dạy tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần chấp nhận sự gần đúng và các lỗi trong lời nói của học sinh; không nên đòi hỏi học sinh quá sức dễ gây tâm lí sợ sệt, dẫn đến làm mất hứng thú nói tiếng Việt của các em Giáo viên cần coi điều này là sự tự nhiên
ở giai đoạn bắt đầu của việc học một ngôn ngữ mới
2 Trực quan hành động
Trực quan hành động là một phương pháp dạy học thông qua hành động để học sinh rèn luyện kĩ năng nghe, nói một cách tự nhiên, kích thích quá trình học tập tích cực, không gây căng thẳng cho học sinh
Có 4 loại cơ bản về trực quan hành động:
- Trực quan hành động với cơ thể: hoạt động với các vận động cơ bản của cơ thể
- Trực quan hành động với đồ vật: hoạt động với đồ vật
- Trực quan hành động với hình ảnh: hoạt động với hình ảnh
- Trực quan hành động với ngôn ngữ: hoạt động với ngôn ngữ
Với 4 loại trực quan hành động nêu trên, giáo viên có thể lựa chọn loại trực quan hành động phù hợp đối tượng học sinh và điều kiện của trường, lớp
Với học sinh dân tộc thiểu số, việc sử dụng trực quan bằng hành động với cơ thể đơn giản, dễ áp dụng và hiệu quả trong quá trình dạy học tiếng Việt
Quá trình thực hiện phương pháp trực quan hành động với cơ thể bao gồm 3 yếu tố cơ bản : lắng nghe - quan sát - thực hiện
Trang 15Quy trình thực hiện như sau:
- Giáo viên giới thiệu câu lệnh : từ ngữ, câu làm tên gọi của hành động
- Giáo viên làm mẫu: Nêu câu lệnh và thực hiện hành động kèm theo để học sinh nghe và quan sát
- Học sinh và giáo viên cùng thực hiện mẫu (2 hoặc 3 học sinh cùng làm mẫu với giáo viên)
- Học sinh thực hiện: Giáo viên đưa ra câu lệnh, yêu cầu học sinh lắng nghe và thực hiện hành động Có thể giáo viên thực hiện hành động, học sinh nêu tên của hành động
Để thực hiện phương pháp trực quan hành động, giáo viên cần:
- Lựa chọn những câu lệnh phù hợp Những câu lệnh được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa Mới đầu thực hiện là những câu lệnh ngắn gọn, dễ thực hiện, gắn với một hoạt động, sau đó là những câu lệnh khó, gắn với nhiều hoạt động
- Không nên đặt nhiều hơn 5 lệnh mới trong cùng một thời điểm
- Có thể dạy các từ ngữ thông qua các câu lệnh và hành động nhiều lần trong một tuần cho đến khi học sinh học được tất cả các từ ngữ đã được giáo viên đặt ra
Đây là phương pháp nên sử dụng trong giai đoạn đầu của việc học tiếng Việt, khi học sinh có thể hiểu từ nhưng chưa tự tin trong việc sử dụng từ ngữ
1 Lan nói: "Hãy sờ vào đầu của mình"
2 Lan nói: "Hãy sờ vào mũi của mình"
Trang 163 Lan nói: "Hãy sờ vào tai của mình."
4 Lan nói: "Hãy sờ vào cằm của mình."
5 Hãy sờ vào chân của mình
Cách chơi:
Nghe câu lệnh và làm theo Lan nói Nếu câu lệnh không có từ "Lan
nói", người thực hiện hành động sẽ phạm luật
Hằng ngày, giáo viên nên dành thời gian để tổ chức các hoạt động trực quan hành động khoảng 5-6 phút vào đầu buổi học Thực hiện các hoạt động trực quan hành động vào đầu mỗi buổi học còn tạo được bầu không khí thân thiện của lớp học.Trước khi nghỉ trưa và sau khi ăn trưa cũng là thời điểm thuận lợi để tổ chức một hoạt động trực quan hành động nhẹ nhàng
Với môn Tiếng Việt, các hoạt động trực quan hành động nên tổ chức vào đầu hoặc giữa giờ học cho những nội dung bài học phù hợp giúp học sinh thư giãn, vui chơi với ngôn ngữ
3 Tạo và sử dụng cuốn sách khổ lớn
Sách khổ lớn là loại sách có kích cỡ lớn hơn bình thường do giáo viên
tự làm hoặc do học sinh sáng tạo Tạo và sử dụng cuốn sách khổ lớn là hoạt động được học sinh rất thích thú
Sách khổ lớn do học sinh tự làm về một chủ đề nào đó có thể gồm những hình vẽ hoặc lời văn đơn giản trong mỗi trang hay có cả hình vẽ và lời văn Cuốn sách có thể được dán, ghép bởi các hình ảnh cho sẵn và học sinh viết thêm lời văn phù hợp với hình ảnh
Có thể tạo cuốn sách khổ lớn về nội dung của các môn học: Tiếng Việt,
Mĩ thuật,Thủ công, Toán, Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử, Đạo đức…
- Hướng dẫn tạo cuốn sách :
Trang 17+ Mục đích: Giúp học sinh thực hành tiếng Việt qua việc tạo cuốn sách một cách thích thú
Tùy vào điều kiện và năng lực tiếng Việt của học sinh, giáo viên có thể hướng dẫn cho cả lớp cùng làm chung một cuốn sách hoặc mỗi học sinh làm một trang sách và tập hợp thành cuốn sách của mỗi nhóm hoặc của lớp Cuôn sách cần đạt yêu cầu tối thiểu sau:
Sách có kích cỡ bằng hoặc lớn hơn khổ giấy A4 Chữ viết, tranh vẽ
to, rõ ràng, phù hợp với học sinh
Mỗi cuốn sách gồm một số trang Mỗi trang trình bày một vài câu hoặc một số từ ngữ kèm theo hình ảnh đơn giản
Nội dung cuốn sách đơn giản, dễ nhớ, gần gũi, quen thuộc với học sinh dân tộc thiểu số về các chủ đề : gia đình, bạn bè, trường học, con vật…dựa trên bối cảnh văn hóa, xã hội của địa phương hoặc chủ đề của các môn học hay bất cứ nội dung nào các em yêu thích
Để giúp học sinh tạo cuốn sách, giáo viên cần:
- Hướng dẫn học sinh thảo luận chọn đề tài, chọn tên của cuốn sách
- Giới thiệu mẫu một cuốn sách Có thể là cuốn sách của các anh chị lớp trước để lại
- Làm mẫu Có thể viết, vẽ một trang của cuốn sách
- Hướng dẫn, gợi ý học sinh tạo từng trang sách và vẽ hình minh họa đơn giản
- Sau khi các trang của cuốn sách đã hoàn thành, hướng dẫn học sinh viết tên và đóng cuốn sách Giáo viên có thể giúp các em đóng, vẽ, viết tên cuốn sách nếu học sinh chưa làm được
Có nhiều cách hướng dẫn học sinh tạo cuốn sách Sau đây là ví dụ :
+ Chuẩn bị một số tờ giấy có kích cỡ bằng hoặc lớn hơn tờ giấy A4, hai tờ bìa để làm bìa của cuốn sách, một cái bút nét lớn
Trang 18+ Dán các tờ giấy đã chuẩn bị lên bảng (hai tờ bìa được dán ở đầu và cuối)
+ Nói với học sinh: Hôm nay, cô hướng dẫn các em tạo một cuốn
sách Cuốn sách có tên Các con vật ở quê em Các em hãy nói cho cô biết ở
quê mình có các con vật gì nào? (vịt, gà, chó, mèo, trâu, bò…)
+ Tạo mẫu trang đầu tiên của cuốn sách: Vẽ hình con vịt đang bơi dưới nước lên một trang giấy và hỏi học sinh :
Cô vẽ con gì đây? ( con vịt)
Con vịt đang làm gì ? (đang bơi dưới nước) + Nói với học sinh: “Đúng rồi, đây là con vịt đang bơi dưới nước” + Hướng dẫn học sinh thảo luận để viết lời văn bên dưới hình vẽ: Con vịt đang bơi dưới nước
+ Hướng dẫn, gợi ý học sinh thảo luận để tạo các trang tiếp theo của cuốn sách: con trâu đang gặm cỏ; con gà đang kiếm ăn; con mèo đang nằm ngủ ; con chó đang sủa;
+ Sau khi các trang của cuốn sách đã được hoàn thành, giáo viên giúp học sinh đóng bìa, viết tên cuốn sách
Khi học sinh đã thành thạo trong việc tạo cuốn sách, giáo viên không phải làm mẫu, không viết, vẽ giúp học sinh nữa mà hướng dẫn học sinh thảo luận để chọn đề tài, chọn nội dung, chọn hình vẽ cho cuốn sách Sau đó, học sinh sẽ tự hoàn thành cuốn sách của lớp, nhóm hoặc cá nhân
Các con v t quê em
Con vịt đang bơi dưới nước
Trang 19- Sử dụng cuốn sách:
Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc, trao đổi về nội dung cuốn sách (có thể trao đổi vào giờ học Tiếng Việt sau) nhằm rèn kĩ năng nghe, nói tiếng Việt cho học sinh và củng cố kiến thức của bài học
Cuốn sách được để tại góc thư viện của lớp cho học sinh đọc ngoài giờ
học
4 Luyện tập phát âm theo mẫu
Luyện tập phát âm theo mẫu là phương pháp chủ đạo trong việc dạy
phát âm cho học sinh dân tộc Mẫu có thể là băng hình, băng tiếng hoặc giọng phát âm mẫu của giáo viên
Trong phần này chúng tôi giới hạn vấn đề trong phạm vi luyện tập theo mẫu phát âm của giáo viên
Học sinh dân tộc thường phát âm lệch chuẩn do ảnh hưởng của tiếng
mẹ đẻ hoặc cách phát âm địa phương Những lỗi phát âm của học sinh dân tộc thường là :
- Phát âm sai phụ âm đầu: Học sinh dân tộc bị lẫn khi phát âm những
âm ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn : âm v-b ( dân tộc H Mông), r -l (dân tộc Tày)…
- Phát âm sai về vần: Một số học sinh dân tộc thường biến nguyên âm đôi uô thành u hoặc ô; ươ thành ư hoặc ơ; iê thành i hoặc ê
- Phát âm sai về thanh điệu: Phát âm không đúng thanh tiếng Việt là lỗi khá phổ biến của học sinh dân tộc Học sinh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thường phát âm không có thanh Học sinh dân tộc Thái, Tày, Nùng thường phát âm thanh ngã thành thanh sắc hoặc nặng
Luyện tập phát âm theo quy trình sau:
Trang 20- Giới thiệu âm, vần, tiếng cần luyện tập
- Phát âm mẫu (có thể 2-3 lần) để học sinh kết hợp nghe và quan sát khuôn miệng cũng như cách cử động của môi, lưỡi, hàm của giáo viên
Để học sinh nhận biết chính xác các âm thanh ngôn ngữ đòi hỏi việc phát âm mẫu của giáo viên phải chậm, rõ, chuẩn xác, tròn vành rõ tiếng
- Hướng dẫn học sinh cách phát âm, vị trí các bộ phận của cơ quan phát
âm như vị trí đặt lưỡi, độ mở của miệng lúc bắt đầu và kết thúc Với các âm, tiếng khó phát âm, giáo viên có thể mô tả bằng cách nêu rõ cách đặt lưỡi, vị trí của lưỡi với răng, độ mở của môi
- Học sinh thực hành phát âm nhiều lần theo sự hướng dẫn của giáo viên
Để giúp học sinh luyện tập theo mẫu có hiệu quả, giáo viên cần:
- Có kế hoạch cụ thể để luyện phát âm cho học sinh Trước hết, giáo viên cần thống kê những lỗi phát âm học sinh thường mắc để có kế hoạch luyện tập
- Sau khi nắm được lỗi phát âm của từng học sinh, cần có biện pháp giúp học sinh luyện tập, sửa lỗi phù hợp Cách tốt nhất là sửa lỗi cho từng học sinh
- Chú ý luyện giọng phát âm của học sinh vừa phải bằng chính giọng thật của các em, không lí nhí trong cổ họng, không the thé, không hét to
- Tạo ra môi trường để học sinh giao tiếp Qua giao tiếp, trình độ phát
âm của học sinh được nâng cao Trong giao tiếp với học sinh, lời nói của giáo viên phải chậm, rõ ràng, dễ hiểu; nên sử dụng những câu đơn giản để học sinh
dễ nghe, dễ làm theo
- Học sinh cần được thường xuyên nghe âm thanh chuẩn xác và thực hành luyện phát âm thường xuyên, không những trong giờ học Tiếng Việt mà còn trong giờ học các môn học và hoạt động giáo dục khác
Trang 21Đồng thời, giáo viên khuyến khích học sinh sửa lỗi cho nhau Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu học tiếng Việt, học sinh đang có những nỗ lực để
sử dụng tiếng Việt, nếu giáo viên chú ý quá nhiều vào lỗi sẽ khiến học sinh e
sợ, không tự tin sử dụng tiếng Việt Do vậy, giáo viên cần sửa lỗi nhẹ nhàng, làm mẫu chính xác để cho học sinh điều chỉnh phát âm đúng theo mẫu
- Phát triển kĩ năng nghe, nói cho học sinh
- Củng cố, mở rộng vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy
lô gíc, nâng cao sự hiểu biết cho học sinh
- Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện
Để hỗ trợ học sinh dân tộc kể lại câu chuyện, giáo viên cần:
- Sử dụng đồ dùng trực quan: Có nhiều loại đồ dùng trực quan giúp học sinh kể chuyện, giáo viên có thể chọn những đồ dùng phù hợp với học sinh và điều kiện của trường, lớp Ví dụ:
+ Sử dụng tranh ảnh minh họa để hỗ trợ trí nhớ, trí tưởng tượng và tạo
sự hứng thú cho học sinh khi kể lại câu chuyện
+ Sử dụng con rối bằng ngón tay để học sinh luyện nói với nhau trong một môi trường thân thiện Học sinh có thể thay phiên nhau đóng vai các nhân vật trong câu chuyện
Trang 22Trong chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1, lớp 2 có một số câu
chuyện ít nhân vật, học sinh có thể dễ dàng kể lại bằng cách sử dụng con rối
ngón tay như bài Quả tim khỉ, Quạ và công…
Đối với những câu chuyện có số lượng lớn các nhân vật, chẳng hạn như
bài Cóc Kiện Trời trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 có thể được kể lại
câu chuyện theo nhiều nhóm, một nhóm có nhiều thành viên và học sinh có
thể đóng cả vai người dẫn chuyện
+ Sử dụng các thẻ hình ảnh của các nhân vật trong câu chuyện:
Học sinh có thể sử dụng một bộ thẻ hình ảnh, mỗi thẻ tương ứng với
một thời điểm trong câu chuyện Các thẻ hình ảnh minh họa rõ ràng, đơn giản
giúp học sinh theo dõi các nhân vật và sự kiện
Trang 23Khi có sự trợ giúp tốt để trực quan, học sinh sẽ ghi nhớ các sự kiện quan trọng và các nhân vật trong câu chuyện một cách dễ dàng hơn, giúp học sinh chủ động kể lại câu chuyện bằng chính từ ngữ của các em
- Gợi ý, hướng dẫn học sinh kể lại từng đoạn câu chuyện:
Giáo viên có thể dùng các câu hỏi và gợi ý một số từ ngữ để học sinh
kể lại từng đoạn câu chuyện
Ví dụ sau đây cho thấy cách giáo viên giúp học sinh phát triển kĩ năng nghe, nói khi kể lại câu chuyện về thăm bà ngoại:
Một học sinh lớp 1 tên Thịnh, kể cho cô giáo và các bạn nghe câu chuyện như sau:
Thịnh ( Học sinh) : Em mới được về thăm nhà bà ngoại
Giáo viên: Em về thăm bà ngoại vào khi nào ?
Học sinh: Chủ nhật vừa qua
Giáo viên: Nhà bà ngoại của em ở đâu ?
Học sinh: Nhà bà ngoại của em ở Lào Cai ạ
Giáo viên: Em đi về bà ngoại cùng với ai?
Học sinh: Em đi cùng với mẹ
Giáo viên: Mẹ đưa em đi bằng phương tiện gì ?
Học sinh: Mẹ và em đi tàu hỏa
Giáo viên: Em có nhìn qua cửa sổ toa tàu không?
Học sinh: Có ạ
Giáo viên: Em nhìn thấy những gì?
Học sinh: Em thấy nhiều cảnh đẹp
Bằng những câu gợi ý hoặc dàn ý, giáo viên giúp học sinh có điểm tựa
để kể lại câu chuyện dễ dàng Khi học sinh mới bắt đầu kể chuyện, giáo viên
Trang 24nên cùng tham gia kể chuyện với học sinh, có thể kể chuyện tiếp sức khi học sinh quên hoặc lúng túng và giảm dần mức độ cùng tham gia của giáo viên khi học sinh đã chủ động kể lại được
- Gợi ý , hướng dẫn học sinh kể lại toàn bộ câu chuyện bằng lời kể của chính các em:
Cũng ví dụ nêu trên, giáo viên tiếp tục giúp Thịnh kể lại toàn bộ câu chuyện một cách hoàn chỉnh :
Chủ nhật vừa qua, Thịnh được mẹ cho đi tàu hỏa về thăm bà ngoại ở Lào Cai Nhìn qua của sổ toa tàu, Thịnh thấy rất nhiều cảnh đẹp
Ngoài các câu chuyện trong môn Tiếng Việt, giáo viên cần khuyến khích học sinh thực hành kể những câu chuyện trong sinh hoạt hằng ngày của các em với thầy, cô giáo và các bạn Điều này sẽ giúp học sinh có cơ hội rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng lời nói, tạo cho các em tự tin, mạnh dạn
Nếu kể lại câu chuyện đã học, giáo viên sử dụng các câu hỏi gợi mở, hướng dẫn học sinh kể tự nhiên bằng giọng điệu, cảm xúc của chính mình, giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ của các em để kể lại mà không bắt buộc học sinh sử dụng ngôn ngữ như trong văn bản Điều quan trọng là học sinh thể hiện được chính xác trình tự của chuỗi các sự kiện và có thể đưa ra cách hiểu của các em về câu chuyện hợp lí
6 Điền từ
Điền từ là phương pháp “lấp” từ ngữ còn thiếu vào chỗ trống trong một câu, một đoạn hoặc một văn bản Đôi khi, chỗ trống được thay thế bằng hình ảnh, học sinh nhìn hình ảnh đoán từ ngữ còn thiếu để điền từ thay hình ảnh
Để hiểu văn bản phải bắt đầu từ việc hiểu từ ngữ Không hiểu từ ngữ thì không hiểu văn bản Từ ngữ trong một văn bản là từ ngữ trong một văn cảnh cụ thể, có một nét nghĩa cụ thể, học sinh có thể dựa vào những từ ngữ đã
Trang 25biết để tìm ra từ ngữ chưa biết Điền từ là một cách giúp học sinh tìm từ ngữ chưa biết trong một câu, một đoạn hoặc một văn bản
Giáo viên có thể sử dụng phương pháp điền từ theo nhiều cách khác nhau Đối với học sinh dân tộc thiểu số, điền từ thích hợp nhất là cách giáo viên xóa đi một số từ ngữ tạo thành những ô trống để học sinh tìm từ thích hợp điền vào ô trống Cũng có thể, giáo viên dùng hình ảnh tương ứng che những từ còn thiếu để học sinh nhìn hình ảnh đoán và điền từ thay cho hình ảnh
Với học sinh dân tộc thiểu số, có 2 cách điền từ thích hợp như sau:
- Điền từ ngữ đã bị xóa:
Giáo viên xóa hoặc che đi một số từ ngữ trong một câu, một đoạn hoặc một văn bản trình bày trên bảng của lớp hoặc trong phiếu học tập của học sinh Giáo viên không xóa quá nhiều từ trong cùng một câu vì học sinh cần một số lượng từ nhất định trước và sau từ bị xóa để làm căn cứ đoán từ ngữ còn thiếu Những từ làm căn cứ để đoán phải là những từ học sinh đã biết
Ví dụ sau là hai câu trong bài "Quả tim khỉ" Từ được bỏ trống là tên của một nhân vật trong câu chuyện (từ Cá Sấu được xóa đi), học sinh dễ dàng đoán được từ còn thiếu
Bạn là ai và tại sao bạn lại khóc?
Tôi là và tôi khóc vì không ai chơi với tôi
Nếu sử dụng một cuốn sách khổ lớn hoặc bài văn phóng to treo trên bảng để hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên có thể che khuất một số từ trong văn bản Khi đọc đến từ bị che khuất, giáo viên yêu cầu học sinh đoán từ Sau
đó, giáo viên bỏ phần che khuất để học sinh kiểm tra dự đoán của mình
- Điền từ thay thế hình ảnh :
Cá Sấu
Trang 26Giáo viên có thể không xóa một số từ ngữ mà dùng hình ảnh tương ứng che đi một số từ và yêu cầu học sinh nhìn hình ảnh đoán từ ngữ Đây là cách
để học sinh dân tộc vốn không thông thạo tiếng Việt có thể nhìn thấy những hình ảnh quen thuộc dễ đoán được từ ngữ thay thế hình ảnh
Giáo viên không dùng hình ảnh che quá nhiều từ trong cùng một câu vì học sinh cần một số lượng từ nhất định trước và sau từ bị che bằng hình ảnh
để làm căn cứ đoán từ ngữ còn thiếu Những từ làm căn cứ để đoán phải là những từ học sinh đã biết
Hình ảnh con vịt bầu và con chó vện
sẽ được che lấp các từ ngữ bên cạnh
để học sinh nhìn hình ảnh những con vật quen thuộc đoán từ thay thế hình ảnh
Để học sinh tìm đúng từ ngữ để điền vào chỗ trống, giáo viên cần hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh huy động vốn từ đã biết, liên tưởng, so sánh
Trang 27Việc đoán từ được thực hiện theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo trình độ tiếng Việt của học sinh Học sinh lớp 1 có thể đoán một vài âm, vần trong các tiếng; từ ngữ đơn giản trong một câu văn Học sinh lớp 2, lớp 3 có thể đoán những từ ngữ khó hơn trong một câu văn hoặc một đoạn văn
Điều quan trọng là giáo viên nắm được vốn từ của học sinh để gợi ý, củng cố hay cung cấp từ mới, làm giàu vốn từ cho học sinh bằng nhiều biện pháp phong phú nhằm tăng cường kĩ năng giao tiếp cho học sinh Muốn vậy, giáo viên cần theo dõi, ghi chép những từ ngữ học sinh đã biết, chưa biết để gợi ý, hướng dẫn học sinh sử dụng trong các tình huống cụ thể
7 Sử dụng bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu
Sử dụng bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu để nghe, để hát, để chơi với những lời văn có vần điệu là cách để rèn luyện hiệu quả kĩ năng nghe, nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số Các hoạt động này tạo ra môi trường học tiếng Việt thân thiện, vui tươi nhằm cung cấp, củng cố vốn từ, rèn kĩ năng phát âm và nói trôi chảy cho học sinh
Để tổ chức cho học sinh sử dụng bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu,
kĩ năng giao tiếp
Ví dụ:
Trang 28Mẹ vắng nhà
( Thơ Trần Đăng Khoa)
Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm
Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng
Xỉa cà mè
(Nhạc: Trương Quang Lục)
Xỉa cá mè đè cá chép
Tay nào đẹp thì đi bẻ ngô
Tay nào to thì đi dỡ củ
Tay nào nhỏ thì hái đậu đen
Tay lọ lem ê xấu xấu xấu
Mau đi về ngay rửa tay cho sạch
Trang 29Những câu nói của người Việt Nam đôi khi đã có vần, có điệu, nhất là những câu nói quen thuộc thường sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Giáo viên có thể sử dụng những từ ngữ, câu nói thường ngày của học sinh để sáng tác thành những bài hát, bài thơ, câu văn đơn giản theo giai điệu của một bài hát nào đó trong chương trình Âm nhạc tiểu học để học sinh dễ nhớ, dễ thuộc,
dễ vận dụng trong giao tiếp
- Lập kế hoạch sử dụng các bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu: Sử dụng bài gì? Ở đâu? Vào lúc nào? Sử dụng nhằm mục đích gì? (rèn kĩ năng nói, rèn kĩ năng đọc, cung cấp vốn từ…)
- Chuẩn bị những đồ dùng dạy cần thiết hỗ trợ học sinh sử dụng những bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu Học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3 đặc biệt thích các bài hát và các câu thơ có vần điệu đi kèm với hành động, âm thanh của các nhạc cụ đơn giản Đây là một cách làm hiệu quả để dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Những đồ dùng cần thiết để hỗ trợ là những nhạc cụ đơn giản dùng cho học sinh tiểu học như: thanh phách, trống nhỏ, mõ,…
- Viết bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu lên tờ giấy khổ lớn, vẽ thêm một số hình ảnh minh họa đơn giản treo trong phòng học, ngoài sân chơi của lớp để học sinh có thể nhìn, đọc, hát hoặc ngâm nga theo vần điệu tiếng Việt trong các bài hát, bài thơ, câu văn trong một không khí thoải mái, tự nhiên
Cách sử dụng:
- Thời điểm : Cho học sinh thực hiện vào đầu buổi học, sau giờ nghỉ giải lao hoặc tổ chức thành một hoạt động trong quá trình dạy học các môn học, có thể tổ chức vào một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Hướng dẫn thực hiện:
+ Hát hoặc đọc mẫu Có thể 1 hoặc 2 lần
+ Đọc những từ ngữ mới, khó
Trang 30+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu từ ngữ
Xác định những từ ngữ cần tìm hiểu: Từ khó, mới; từ đóng vai trò
quan trọng để hiểu nội dung của bài hát, bài thơ hoặc câu văn
Sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, vật thật, mô hình,…có thể là
động tác, cử chỉ để giảng giải cho học sinh hiểu những từ mới, khó
+ Hướng dẫn học sinh hát hoặc đọc theo nhiều hình thức khác nhau
* Nêu từ ngữ tiếng Việt và cách sử dụng qua bài hát, bài thơ, câu văn
vừa sử dụng
Việc sử dụng các bài hát, bài thơ, câu văn có vần điệu được lấy từ cuộc
sống thường ngày của học sinh sẽ giúp các em dễ nhớ, dễ vận dụng tiếng Việt
để giao tiếp
8 Tổ chức trò chơi
Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp dạy học
tiếng Việt có hiệu quả Thông qua những trò chơi, giáo viên rèn luyện kĩ năng
nghe, nói, xử lí thông tin và phản xạ ngôn ngữ nhanh cho học sinh
Trò chơi phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt là trò chơi có nội dung
tri thức gắn với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt nhằm giúp học sinh
phát triển các kĩ năng một cách tự nhiên
Tác dụng của trò chơi:
- Giúp học sinh hứng thú, tự giác và tích cực tham gia vào quá trình
nhận thức tiếng Việt
- Kích thích học sinh tìm kiếm từ ngữ giải quyết nhiệm vụ chơi
- Sử dụng các giác quan để phân tích, so sánh, tổng hợp từ ngữ tiếng
Việt trong quá trình chơi
- Tăng cường kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh