Từ năm 2010, để giúp đỡ cho các trường tiểu học thuộc vùng kinh tế, xã hội khó khăn chuyển sang được dạy học cả ngày, Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học SEQAP đã hỗ trợ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU CHI PHÍ TỐI THIỂU NGOÀI LƯƠNG VÀ VIỆC SỬ DỤNG GIÁO VIÊN, LỚP HỌC KHI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
CHUYỂN SANG DẠY HỌC CẢ NGÀY
Chuyên gia tư vấn: PHẠM VĂN TẠI
HÀ NỘI, THÁNG 7/2012
Trang 2ĐỀ MỤC TRANG
Phần mở đầu ……… ……… 2
Phần I Chi phí tối thiểu ngoài lương khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày ……… 3
1 Kết quả khảo sát ……… 4
2 Tình hình thực hiện các chi phí thường xuyên ngoài lương của các trường khi thực hiện dạy học 2 buổi/ngày … ………… 9
3 Một số đề xuất về các chi phí ngoài lương khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày ……… ……… 12
Phần II Sử dụng hiệu quả giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày ……….………… 14
I Thực trạng về sử dụng giáo viên và lớp học ở các trường tiểu học khi chuyển sang dạy học cả ngày .……… 14
1 Về mô hình tổ chức dạy học cả ngày .……… 14
2 Nội dung học tập và các hoạt động giáo dục ……… 16
3 Sử dụng giáo viên ……… …… 18
4 Sử dụng lớp học ……… 20
II Một số đề xuất về sử dụng hiệu quả giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày ………….…… 22
1 Xác định nội dung học tập và các hoạt động giáo dục .………… 22
2 Về sử dụng hiệu quả giáo viên ……….… 23
3 Về sử dụng hiệu quả lớp học ……….… 25
Phụ lục: .……… 28
- Phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý cấp sở, phòng GD&ĐT …… 28
- Phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý trường tiểu học …… ………… 31
- Phiếu hỏi dành cho giáo viên trường tiểu học ……… 34
- Mẫu báo cáo ……… 37
Tài liệu tham khảo ……… 41
MỤC LỤC
Trang 3
Đặt vấn đề
Dạy học cả ngày là học sinh được học tập và hoạt động cả ngày ở trường từ đầu buổi sáng đến cuối buổi chiều Buổi trưa học sinh có thể ăn, ở lại trường hoặc về nhà Ở lứa tuổi tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em là chuyển từ hoạt động vui chơi (ở bậc mầm non) sang hoạt động học tập và hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động
xã hội Vì vậy, dạy học cả ngày giúp học sinh có nhiều thời gian học tập và tham gia các hoạt động giáo dục ở trường nhiều hơn, các em có điều kiện được giao lưu, chia sẻ, góp phát triển mối quan hệ xã hội, kĩ năng giao tiếp, tính độc lập, tự chủ, nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
Do đó, dạy học cả ngày là mô hình dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm, thực hiện Ở Việt Nam, dạy học cả ngày (dạy học 2 buổi/ngày) đã được thực hiện từ nhiều năm nay ở các tỉnh, thành phố trong cả nước Dạy học cả ngày đầu tiên chỉ là dạy thêm một số buổi chiều trong tuần của một số trường tiểu học ở những vùng có điều kiện kinh tế, xã hội thận lợi Mục đích chính là ôn luyện kiến thức cho một số học sinh và quản lý học sinh giúp các gia đình cha mẹ bận đi làm không có ai trông con buổi không
đi học, nhất là đối với các em còn nhỏ tuổi ở lớp 1 và 2 Sau đó, dạy học cả ngày đã tăng
số buổi học trong tuần lên và nhiều học sinh ở tất cả các lớp đăng ký tham gia Các buổi học 2 trong ngày đã trở thành buổi học chính khóa Nội dung, Chương trình dạy học có
sự chỉ đạo thống nhất của Bộ GD&ĐT Tuy nhiên, đến nay việc dạy học cả ngày vẫn ở mức độ khuyến khích đối với những trường có điều kiện về phòng học, giáo viên và phụ huynh tự nguyện Do vậy, mô hình dạy học cả ngày tuy đã được triển khai hiện ở cả các địa phương trong cả nước nhưng chưa phải được thực hiện ở tất cả các trường hoặc ở tất
cả các lớp trong trường Nhiều trường ở những vùng kinh tế, xã hội khó khăn vẫn học nửa ngày Từ năm 2010, để giúp đỡ cho các trường tiểu học thuộc vùng kinh tế, xã hội khó khăn chuyển sang được dạy học cả ngày, Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) đã hỗ trợ kinh phí để đầu tư thêm cơ sở vật chất, hỗ trợ giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh… Đến nay đã có thêm gần 1.000 trường tiểu học thuộc vùng khó khăn ở 36 tỉnh chuyển sang tổ chức dạy học cả ngày
Việc chuyển từ dạy học một buổi sang dạy học cả ngày, đòi hỏi các trường phải có thêm một số điều kiện cần thiết như tăng thêm đội ngũ giáo viên, phòng học, thiết bị, sân chơi; về phía gia đình học sinh cần có điều kiện cho con đi học cả ngày và ăn ở trưa tại trường Đồng thời còn phát sinh thêm nhiều công việc liên quan đến hoạt động của nhà trường như tăng giờ quản lý lớp học, tăng giờ phục vụ học sinh do các buổi học tăng thêm Tăng thêm các chi phí của nhà trường như sử dụng điện thắp sáng, điện làm mát, nước sinh hoạt, nước uống, thiết bị dạy học (TBDH bộ môn, dành cho phần tự chọn…) văn phòng phẩm, phương tiện nghe nhìn, các thiết bị khác phục vụ cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp vv…
Như vậy, để thực hiện dạy học cả ngày, cần có các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và nguồn kinh phí để chi cho các hoạt động dạy và học cả ngày ở trường Dạy học cả ngày cần phải thay đổi phương pháp, cách tổ chức dạy học Do đó, vấn đề sử
Trang 4dụng giáo viên, lớp học hợp lý, hiệu quả khi các trường chuyển từ dạy học cả ngày ảnh hưởng rất lơn đến chất lượng dạy học
Trong nghiên cứu này, sẽ đề cấp đến các nội dung: chi phí tối thiểu ngoài lương và
sử dụng hiệu quả giáo viên, lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày
Phần I CHI PHÍ TỐI THIỂU NGOÀI LƯƠNG KHI CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC CHUYỂN SANG DẠY HỌC CẢ NGÀY
Ở giai đoạn đầu nghiên cứu, nhóm chuyên gia tư vấn trong nước đã tiến hành khảo sát thực tế tại 1 số trường tiểu học ở các địa phương đại diện cho một số vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau Cụ thể, đã khảo sát thực tế tại 15 trường tiểu học trong và ngoài SEQAP, của 9 quận/huyện, thuộc 4 tỉnh đại diện cho một số vùng có điều kiện kinh
tế khác nhau như: Hòa Bình, Bắc Giang (miền núi phía Bắc), Lâm Đồng (Tây nguyên
Trung bộ) và thành phố Hà Nội
Việc khảo sát thông qua trả lời phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp CBQL cấp sở, cấp phòng GD&ĐT, cấp trường tiểu học; giáo viên trực tiếp dạy, đại diện Hội cha mẹ học sinh của trường; nhân viên kế toán của các cơ sở giáo dục và báo cáo của cơ sở Nội dung
khảo sát là những nhu cầu phát sinh tăng thêm về giáo viên, phòng hoc, cơ sở vật chất
khác; những lao động tăng thêm; các khoản chi ngoài lương khi tổ chức dạy học cả ngày; những chính sách, quy định hiện hành của nhà nước, của địa phương cho việc dạy học cả ngày
Bộ công cụ để khảo sát bao gồm Phiếu hỏi dành cho CBQL cấp sở và phòng GD&ĐT; Phiếu hỏi dành cho CBQL cấp trường; Phiếu hỏi dành cho giáo viên; Biểu mẫu
để Sở và phòng GD&ĐT báo cáo (trong phần phụ lục)
Đồng thời với việc khảo sát, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu các văn bản pháp lí hiện hành; tham khảo kết quả nghiên cứu của Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) và kết quả của các thành phần khác trong chương trình SEQAP liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu
Giai đoạn 2, khi có chuyên gia quốc tế tham gia nghiên cứu nội dung chi phí ngoài lương khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày, nhóm chuyên gia tư vấn trong nước đã phối hợp với chuyên gia quốc tế tiến hành khảo sát tại một số tỉnh: Đồng Tháp, Long An, Thái Nguyên, Bắc Kạn Mỗi tỉnh khảo sát 3 trường tiểu học đại diện cho thành phố, huyện nông thôn, miền núi; cả trong SEQAP và ngoài SEQAP Nội dung khảo sát tập trung vào tình hình thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, cơ sở vật chất, các khoản thu chi tài chính của các trường trong 3 năm học: 2007 - 2008, 2009 - 2010, 2011 - 2012 Kết quả nghiên cứu toàn đợt về chi phí ngoài lương sẽ được trình bày trong báo cáo tổng hợp của chuyên gia quốc tế Adam McCarty Trong phần này tôi chỉ nêu kết quả nghiên cứu của giai đọan đầu
Trang 5Số tr
học
cả ngày
Tỷ lệ
%
Mô hình:
T30,T33,T35
Tỷ lệ phòng học/lớ
p
Tỷ lệ giáo viên/lớp toàn tỉnh
Tỷ lệ GV/lớp dạy học cả ngày
tổ chức các hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp Do đó, những địa phương có điều kiện về kinh tế, xã hội thuận lợi, phụ huynh có nhu cầu cho con đi học cả ngày nhiều hơn thì có nhiều trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày Thành phố Hà Nội là địa phương có
đủ các yếu tố về phòng học, các trang thiết bị, đội ngũ giáo viên nên hầu hết các trường
đã chuyển sang dạy học cả ngày Chỉ còn một số ít trường vẫn học nửa ngày (5%) là do thiếu về phòng học để học cả ngày
b) Về mô hình tổ chức dạy học 2 buổi/ngày của năm học 2011-2012:
Lớp T33
Lớp T35
Nửa ngày
Ghi chú
9 Lê Quý Đôn Đà Lạt, Lâm Đồng 46 0 0 46
10 Lán Tranh 1 Lâm Hà, L.Đồng 13 0 13 0 Seqap
Trang 612 Ninh Loan Đức Trọng,
L.Đồng
14 Tam Hiệp Thanh Trì, Hà Nội 19 0 0 19
15 Liên Quan Thạch Thất, H.Nội 18 0 0 18
Cộng
Tỷ lệ
289
100%
- 10 trường tất cả các lớp học thống nhất theo T30, T33 hoặc T35
- 01 trường có một số lớp theo T30 và một số lớp theo T33
- 04 trường có 1 số lớp học 2 buổi, còn một số lớp vẫn học một buổi
c) Tình hình tổ chức bán trú (học sinh nghỉ trưa tại trường):
Những trường tổ chức tốt bán trú cho học sinh là những trường thuộc vùng kinh tế,
xã hội thuận lợi, thường là những trường ở thành phố, thị xã, thị trấn, như các trường tiểu học ở thành phố Hà Nội, trường tiểu học Lê Quý Đôn (thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), trường tiểu học thị trấn Mường Khến (huyện Tân lạc, tỉnh Hòa Bình), … Đây là những địa phương phụ huynh có khả năng đóng góp cho con đi học cả ngày, ăn, ngủ trưa tại trường Các trường tiểu học tham gia SEQAP là những trường thuộc vùng khó khăn nên được Chương trình SEQAP hỗ trợ một phần kinh phí trong Quỹ phúc lợi học sinh để trường tổ chức bán trú cho học sinh
Việc tổ chức cho học sinh bán trú ăn, nghỉ buổi trưa tại trường hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của từng trường và khả năng đóng góp của gia đình học sinh
Do vậy, không phải ở các trường, các lớp học 2 buổi/ngày đều tổ chức được bán trú cho học sinh Trong một trường tổ chức học cả ngày chỉ có một số lớp có bán trú và ngay trong một lớp có bản trú thì chỉ có một số em tham gia bán trú còn một số học sinh trưa
về nhà ăn cơm chiều lại đến học
Hình thức tổ chức bán trú ở các trường cũng không giống nhau Về kinh phí để tổ chức bán trú như cơ sở vật chất, tiền ăn, tiển trông trưa, các trường phải tự lo Trừ các lớp tham gia chương trình SEQAP được hỗ trợ một phần của Chương trình, các trường khác khi tổ chức bán trú, gia đình học sinh phải đầu tư mua sắm con em mình chăn, mền, dụng
cụ ăn cá nhân, đóng tiền ăn, tiền mua dụng cụ nhà bếp, tiền thuê cấp dưỡng hàng tháng, tiền bồi dưỡng người trông trưa Còn nhà ăn, phòng ngủ trưa thường các trường sử dụng ngay lớp học, trừ một số trường (rất ít) có nhà ăn, phòng ngủ trưa riêng cho học sinh do nhà trường khai thác được cơ sở vật chất sẵn có của trường hoặc địa phương và cha mẹ học sinh đầu tư xây dựng
Trang 7Tóm lại, việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở các địa phương rất đa dạng Số trường,
số lớp được học 2 buổi/ngày ở các địa phương khác nhau Chưa có địa phương nào tất cả các trường, các lớp tiểu học được học 2 buổi/ngày Những địa phương có điều kiện thuận lợi về kinh tế, xã hội thì việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thuận lợi hơn Số buổi học trong tuần (mô hình T30, T33, T35), cách tổ chức bố trí thời khóa biểu, tổ chức cho học sinh bán trú ở các trường khác nhau Nguyên nhân của tình trạng trên là do điều kiện về giáo viên, về phòng học và cơ sở vật chất, trang thiết bị; về nguồn thu để chi; về điều kiện kinh tế và sự tự nguyện của gia đình học sinh ở từng nơi khác nhau Ngoài ra còn do
cơ chế, chính sách của địa phương cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy học cả ngày cho các trường Ví dụ như dạy học 2 buổi/ngày nhu cầu về kinh phí tăng lên, để chi trả cho số tiết vượt giờ của giáo viên, bồi dưỡng cho công tác quản lý, chi cho điện nước, văn phòng phẩm, phí dịch vụ tăng lên do tăng số buổi học Trong khi nhà nước chưa có chính sách quy định cấp bổ sung nguồn kinh phí thì cần phải huy động đóng góp của cha mẹ học sinh Một số địa phương có quy định cho phép thu (như Hà Nội và một số địa phương khác); một số địa phương lại không cho phép thu (như Hòa Bình, Bắc Giang, Lâm Đồng)
d) Các nhu cầu phát sinh tăng lên khi tổ chức dạy học cả ngày:
+ Tăng thêm về cơ sở vật chất: phòng học và các trang thiết bị phục vụ cho dạy học Nếu các trường chỉ dạy học nửa ngày (5 buổi/tuần) thì số phòng học tối thiểu cần cho các lớp đạt tỷ lệ 0,6 phòng/lớp là đã thực hiện được Nay chuyển sang dạy học cả ngày, số phòng học phải tăng lên Cụ thể phải cần tỷ lệ 0,8 phòng/lớp cho T30 và 1,0 phòng/lớp cho T35 thì mới thực hiện được Bên cạnh nhu cầu về phòng học, khi dạy học
cả ngày, cần thiết phải có phòng học đa năng để tăng cường các hoạt động tập thể, các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao; phòng học bộ môn cho một số môn chuyên biệt như
Âm nhạc, Tin học, Ngoại ngữ Ngoài ra còn cần bếp, nhà ăn tập thể, phòng ngủ trưa hoặc phòng nghe, nhìn để học sinh xem phim, đọc báo buổi trưa…Thời gian qua, các địa phương đã chủ động, tích cực đầu tư xây dựng thêm phòng học, nhà đa năng, sân chơi, nhà ăn để các trường tổ chức được dạy học cả ngày Chương trình SEQAP cũng đã hỗ trợ kinh phí cho các địa phương để xây dựng thêm phòng học, nhà đa năng cho một số trường tham gia Chương trình
+ Tăng thêm giáo viên
Khi chuyển sang dạy học cả ngày (tức 2 buổi/ngày), số buổi học tăng lên, số tiết học tăng lên Mỗi lớp tăng từ 23 tiết/tuần lên 30 tiết/tuần (đối với T30), lên 33 tiết/tuần (đối với T33), hoặc lên 35 tiết/tuần (đối với T35) Từ tăng buổi học, tăng tiết dạy dẫn đến cần tăng giáo viên, nếu không giáo viên phải dạy vượt giờ
Thời gian qua, Nhà nước có quy định tăng biên chế giáo viên cho các lớp học 2 buổi/ngày Theo Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV, tỷ lệ giáo viên cho các lớp học 2 buổi/ngày là 1,5GV/lớp (học nửa ngày là 1,2GV/lớp) Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây, Thông tư số 35 có một số điều bất cập như tăng giáo viên cho các lớp học 2
Trang 8tiết/tuần (T35) thì vẫn chưa đủ định mức giáo viên, giáo viên vẫn phải dạy vượt quá số tiết quy định Hoặc chưa tính đến lao động tăng thêm của các đối tượng khác trong trường như Lãnh đạo, nhân viên, nhân viên trông trưa, cấp dưỡng…
+ Tăng giờ quản lý trường, lớp; tăng lao động phục vụ
- Giáo viên chủ nhiệm lớp phải tăng thời gian công tác quản lý lớp thêm buổi học 2 trong ngày (Theo khảo sát tại các trường thì giáo viên chủ nhiệm thường thêm từ nửa giờ đến 1 giờ đến lớp chủ nhiệm mỗi buổi học 2 trong ngày);
- Nhân viên trông trưa cho mỗi lớp bán trú (mỗi trưa khoảng 3 giờ);
- Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng tăng buổi trực trong tuần (ít nhất mỗi buổi học
cả ngày thêm một buổi trực của 01 lãnh);
- Nhân viên phục vụ: Y tế, Kế toán, Thủ quỹ, Lao công, Bảo vệ, Thư viên, thiết bị đều tăng giờ lao động để phục vụ học sinh học 2 buổi và ăn, ngủ trưa tại trường (tùy thực
tế yêu cầu của từng trường để tính thời gian làm tăng thêm của những lao động này)
- Nhân viên cấp dưỡng cho bữa ăn trưa của học sinh, trung bình khoảng từ 80 đến
100 học sinh cần một cấp dưỡng
Ngoài ra, các lực lượng như Trưởng ban thanh tra nhân dân, Chủ tịch công đoàn, đại diện Hội CMHS được huy động để tham gia kiểm tra việc tổ chức bán trú, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm cho bữa ăn trưa của học sinh
Tóm lại, các trường tiểu học khi chuyển sang học cả ngày, công việc phát sinh là: cần một CBQL, một nhân viên Y tế học đường tăng thêm buổi trực trưa và chiều; mỗi lớp cần một giáo viên hoặc người bảo mẫu trông trưa; cần cấp dưỡng nấu bữa trưa cho học sinh Ngoài ra, các lực lượng thanh tra nhân dân, tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, đại diện Hội cha mẹ học sinh được huy động để tham gia kiểm tra an toàn vệ sinh, hỗ trợ quản lý học sinh ngoài giờ học; nhân viên kế toán, thủ quỹ của trường cũng phải làm thêm giờ Số lao động tăng thêm này cần được tính ra giờ để chi bồi dưỡng giờ làm thêm
Có như thế mới động viên được người lao động
Việc bồi dưỡng cho các đối tượng phải làm tăng giờ trong các trường tiểu học khi chuyển sang dạy học cả ngày, hiện nay Nhà nước chưa có chế độ chính sách gì Việc cấp kinh phí cho các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày vẫn cấp như chế độ dạy học nửa ngày trước đậy Do vậy, chỉ những trường tiểu học có thu tiền của học sinh về tổ chức học 2 buổi thì mới có chi bồi dưỡng cho các đối tượng làm thêm giờ (như các trường ở Hà Nội), còn những trường khác (phần lớn ở những vùng khó khăn) không có điều kiện thu của học sinh thì các giờ lao động tăng thêm không được chi bồi dưỡng (như
ở Hòa Bình, Bắc Giang, Lâm Đồng), điều này đã không khuyến khích được các trường ở những vùng khó khăn trong việc tổ chức học cả ngày
+ Tăng thêm về các chi khác
Các chi phí thường xuyên khác cũng tăng thêm so với 1 buổi/ngày, như sử dụng điện thắp sáng, điện làm mát, nước sinh hoạt, nước uống, thiết bị dạy học (TBDH bộ
Trang 9môn, dành cho phần tự chọn…) văn phòng phẩm, phương tiện nghe nhìn, các thiết bị khác phục vụ cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp vv… như Hà Nội quy định trích 17% thu được từ cha mẹ học sinh (tiền học buổi 2) để chi phí cho các khoản tăng thêm này Những trường khác không thu được từ cha mẹ học sinh thì phải tiếp kiệm chi trong số kinh phí nhà nước đã cấp
2 Tình hình thực hiện các chi phí thường xuyên ngoài lương của các trường khi tổ chức dạy học 2 buổi/ngày
a) Nguồn kinh phí cấp:
- Hằng năm, các trường tiểu học được nhà nước cấp kinh phí để hoạt động Kinh phí được cấp gồm phần chi cho con người (bao gồm trả lương, các khoản phụ cấp theo lương, bảo biểm…) và phần để chi ngoài lương (chi phí khác) bao gồm mua sắm vật tư văn phòng, thanh toán dịch vụ công, thông tin liên lạc, Hội nghị, công tác phí, mua sắm, sửa chữa nhỏ phục vụ công tác chuyên môn…
Việc giao kinh phí cho các trường tiểu học hoạt động hàng năm ở các địa phương khác nhau Nhìn chung, các địa phương đều quy định ngân sách giao hàng năm cho các trường dành 80% chi cho lương, 20% chi khác Nhưng qua khảo sát cho thấy kinh phí giao phần chi khác thường giao động từ 15 - 25% tổng quỹ lương của nhà trường Ngân sách giao cho các trường có sự khác biệt giữa các tỉnh với nhau và trong một tỉnh cũng có
sự khác nhau giữa các huyện/thị trong tỉnh Ở Hà Nội: giao ngân sách tính trên đầu học sinh, bình quân là 3 triệu đồng/hs/năm, đảm bảo chi khác cho các trường từ 25 - 30% trên tổng quỹ lương Đối với những trường do phải chi trả lương hết nhiều, phần chi khác không còn đủ 25% thì được cấp bù cho chi khác để đảm bảo đủ 25% Trong khí đó, nhiều địa phương khác do ngân sách địa phương hạn chế, phần chi lương thường được đảm bảo cấp đủ nhưng còn chi khác đều dưới 20%, có địa phương dưới 10% ( như huyện Châu Thành, tỉnh Long An)
- Việc giao ngân sách ở các địa phương cho đến nay vẫn duy trì một định mức chung cho tất cả các trường tiểu học bất kể là trường dạy học nửa ngày hay đã chuyển sang dạy học cả ngày Nhà nước chưa có quy định nào về cấp tăng kinh cho trường dạy học cả ngày Do đó, đặt ra cho các trường phải huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh Đây là điều khó khăn lớn cho những trường ở những vùng khó khăn khi chuyển sang dạy học cả ngày
b) Nguồn thu thêm cho học 2 buổi/ngày:
Khi chuyển dạy học từ một buổi sang dạy học 2 buổi/ngày và tổ chức cho học sinh bán trú, để giải quyết kinh phí chi cho các nhu cầu chi khác tăng thêm so với dạy học nửa ngày, một số địa phương đã có có quy định cho phép các trường thu tiền của học sịnh Cụ thể như:
- Thành phố Hà Nội: UBND thành phố có quy định thu là 50.000đ/hs/tháng
Trang 10cho việc tổ chức học 2 buổi/ngày từ năm 2000 (tỉnh Hà Tây cũ có quy định khác, hiện nay Hà Nội chưa có quy định mới để thống nhất chung) Hướng dẫn chi: 60% cho giáo viên trực tiếp giảng dạy, 20% cho CBQL, nhân viên phục vụ và phúc lợi tập thể, 17% cho mua văn phòng phẩm, tăng cường CSVC, vệ sinh…, 3% nộp cấp trên
- Tỉnh Đồng Tháp: UBND tỉnh có Quyết định số 12/2008/QĐ-UB ngày 17/4/2008,
quy định: trường tiểu học học 2 buổi được phép thu theo thỏa thuận với Ban Đại diện CMHS, phòng GD&ĐT phê duyệt mức thu Hướng dẫn chi: 80% chi cho giáo viên trực tiếp giảng dạy, 10% tăng cường CSVC, điện, nước, văn phòng phẩm; 10% chi cho quản
lý, điều hành, kế toán, phục vụ
Thực tế như huyện Tháp Mười, thuộc vùng sâu, khó khăn, học sinh ít (bình quân khoảng 20hs/lớp), chỉ thu được khoảng 60 - 70% số học sinh
- Tỉnh Long An: UBND tỉnh có Quyết định số 25/2011/QĐ-UB ngày 28/7/2011 quy
định mức thu tiền học 2 buổi theo 3 mức như sau: Học Bán trú: 80.000đ - 50.000đ - 30.000đ Học 6-7 buổi: 40.000đ - 30.000đ - 20.000đ Học 8-10 buổi: 50.000đ - 40.000đ – 30.000đ Hướng dẫn chi: cho giảng dạy, trông trưa, cấp dưỡng, quản lý, nhân viên phục
vụ, hỗ trợ hoạt động thường xuyên, mua vật dụng cho bán trú (các trường tự xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ)
- Tỉnh Thái Nguyên: Tỉnh có văn bản hướng dẫn Liên sở số 1625/LS/GD-TC ngày
22/10/2008 quy định: Chỉ những trường không đủ biên chế giáo viên theo Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV thì được thu để chi trả tiền dạy thừa giờ của giáo viên Mức thu trường thỏa thuận với CMHS; Học sinh bán trú, phụ huynh phải đóng góp tiền
ăn, tiền trông trưa, mua sắn dụng cụ sinh hoạt Các khoản chi phí thường xuyên như điện, nước, vệ sinh, bảo vệ chi từ ngân sách và chi theo chế độ
- Một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang, Bắc Kạn quy định không cho thu của học sinh tiền học 2 buổi khi đã đủ 1,5GV/lớp
Tuy nhiên, việc thu thêm từ gia đình học sinh để hỗ trợ cho các khoản chi khác ngoài lương ở các trường còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận với cha mẹ học sinh theo chủ trương của từng địa phương Khoản thu này có nơi gọi là thu tiền học buổi 2 hay tiền chi phí quản lý học 2 buổi/ngày và chi phí cho bán trú
Cụ thể mức thu của một số trường như sau:
+ Trường tiểu học Thành Công B (Tp.Hà Nội) tính toán cụ thể cho những chi phí dạy học buổi thứ 2 trong ngày và chi phí cho một học sinh bán trú ở 1 lớp 40 học sinh trong 1 tháng, trên cơ sở đó để thu tiền của học sinh như sau:
• Những chi phí cho dạy học buổi thứ 2:
- Thanh toán cho số giờ tăng lên khoảng 16 tiết/tuấn (công tác chủ nhiệm 5 tiết, chấm chữa bài 5 tiết, soạn bài 5 tiết, hội họp 1 tiết), thành tiền khoảng 4.000.000đ/tháng;
- Mua Văn phòng phẩm, đồ dùng dạy học tối thiểu: 400.000đ/tháng;
Trang 11- Quản lý dạy học buổi thứ 2 trong ngày (BGH, nhân viên phục vụ): 600.000đ/HS/tháng
Tổng chi: 5.000.000đ Chia bình quân cho 1 học sinh là 125.000đ/tháng
• Chi phí cho bán trú 1 lớp:
- Trả tiền trông trưa, quản lý học sinh từ 11h đến 14h: 1.600.000đ/tháng;
- Bồi dưỡng công tác bảo vệ: 160.000đ/tháng (4.000đ/HS);
- Bồi dưỡng lao công: 180.000đ/tháng (4.500đ/HS);
- Tiền điện nước: 440.000đ/tháng (11.000đ/HS);
- Quản lý bán trú (BGH, nhân viên phục vụ): 400.000đ/tháng (10.000đ/HS)
Tổng chi: 5.060.000đ Chia bình quân cho 1 học sinh là 126.500đ/tháng
• Xuất ăn: 25.000đ/HS x 22 bữa/tháng = 550.000đ/học sinh/tháng
+ Trường tiểu học Nam Đào (Nam Trực, Nam Định):
Thống kê các khoản chi phí cho một học sinh đi học cả ngày (năm 2011)
5 Tiền trực trưa và quản lí bán trú 38.000đ/tháng 0
6.Tiền điện nước vệ sinh 5.000đ/tháng 0
7 Hỗ trợ GV dạy thừa giờ buổi 2 12.000đ/tháng 0
+ Trường tiểu học Trần Văn Ngạn (Châu Thành, Long An): Thu tiển của học sinh
để chi phí cho dạy học cả ngày:
Trang 12- Tiền học: 50.000đ/HS/tháng (thu theo quyết định của UBND tỉnh);
- Tiền ăn: 200.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận với CMHS);
- Tiền trông trưa: 40.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận với CMHS);
- Tiền điện, nước, vật dụng, vệ sinh…:40.000đ/HS/tháng (theo thỏa thuận)
+ Trường Lê Quý Đôn (Tp Đà Lạt) thu các khoản: 4.500đ/hs/ngày để bồi dưỡng cho cô bảo mẫu trông trưa; 100.000đ/hs/tháng chi bồi dưỡng cho Ban quản lý (gồm Hiệu trưởng, các Phó HT, Chủ tịch Công đoàn, nhân viên Y tế, Kế toán, Thủ quỹ, Thanh tra); tiền ăn theo thỏa thuận với CMHS từng thời điểm
Do việc thu ở các trường khác nhau nên việc chi bồi dưỡng cho các lao động trong trường cũng khác nhau Như trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì) bình quân một tháng giáo viên trực tiếp dạy được hưởng 680.000đ, giáo viên trông trưa 1.100.000đ, Hiệu trưởng 1.100.000đ, Hiệu phó 980.000đ, Tổng phụ trách đội 600.000đ, kế toán, thủ quỹ 800.000đ, Chủ tịch Công đoàn trường, Trưởng Ban thanh tra nhân dân 300.000đ, bảo vệ 200.000đ Ở trường tiểu học Liên quan (Thạch Thất) một tháng giáo viên trực tiếp dạy được hưởng 270.000đ, giáo viên trông trưa 800.000đ, Cán bộ quản lý 2.700.000đ, Tổng phụ trách đội 250.000đ, các nhân viên khác 200.000đ
3 Một số đề xuất về các chi phí ngoài lương khi các trường tiểu học chuyển sang học cả ngày
a) Khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày, các chi phí thường xuyên ngoài lương tăng lên Bao gồm:
- Mua sắm vật tư Văn phòng: tăng Văn phòng phẩm, mua sắm công cụ, dụng cụ văn phòng, vật tư văn phòng khác
- Thanh toán dịch vụ công: tăng điện thắp sáng, điện làm mát, nước sinh hoạt, nước uống, vệ sinh môi trường
- Thanh toán công tác thông tin, tuyên truyền, liên lạc: tăng tiền điện thoại, cước phí internet, sách báo, tạp chí thư viện, tuyên trền, quảng cáo
- Tăng cường thiết bị dạy học (TBDH bộ môn, dành cho phần tự chọn…) và các hoạt động ngoài giờ lên lớp vv…
- Tăng các khoản chi bồi dưỡng lao động làm thêm giờ: Công tác quản lý thêm 1 buổi trực trong ngày (trước đây chỉ trực một buổi), trực quản lý buổi trưa có các lớp bán trú (gồm Ban Giám hiệu, đại diện các tổ chức đoàn thể của trường), nhân viên phục vụ (gồm kế toán, thủ quỹ, thư viện, lao công, bảo vệ) Hiện nay các trường tổ chức học cả ngày có thu thêm của học sinh đều có chi phí bồi dưỡng cho các đối tượng này
b) Các chi phí trên là những chi phí tối thiểu, cần thiết Các trường cần có thêm nguồn kinh phí để chi Thời gian qua các trường chuyển sang dạy học cả ngày thường sử dụng nguồn kinh phí Nhà nước cấp cho chi khác (cấp cho dạy học một buổi) để chi, nên rất hạn chế Những trường có nguồn thu thêm từ sự thỏa thuận với cha mẹ học sinh (được
Trang 13địa phương cho phép) hoặc huy động sự hỗ trợ của cộng đồng thì thuận lợi hơn Hiện nay, Nhà nước chưa có quy định về kinh phí cho các trường dạy học cả ngày Các trường tiểu học tham gia SEQAP, là những trường ở vùng khó khăn, không có nguồn thu từ sự đóng góp của CMHS, nên Chương trình SEQAP đã phải hỗ trợ xây dựng Quỹ phúc lợi học sinh và Quỹ giáo dục nhà trường để nhà trường có kinh phí chi cho các hoạt động khi chuyển sang dạy học cả ngày
Do vậy, để đảm bảo về nguồn kinh phí tối thiểu cho chi thường xuyên ngoài lương khi các trường chuyển sang dạy học cả ngày, Nhà nước cần có chính sách cụ thể về tỷ lệ ngân sách cấp và các khoản huy động từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh và chính sách
đó phù hợp với điều kiện từng vùng miền
c) Để giải quyết nguồn kinh phí tăng thêm, cần đảm bảo từ hai nguồn: Ngân sách Nhà nước cấp thông qua chính quyền ở các địa phương và nguồn huy động từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh
* Nguồn ngân sách nhà nước cấp:
Ngoài đầu tư cho các trường tiểu học trong cả nước đảm bảo tối thiểu đủ giáo viên,
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cơ sở bán trú cho học sinh, nguồn kinh phí Nhà nước cấp chi thường xuyên ngoài lương cho các trường cần được tăng hơn so với số kinh phí cấp hiện nay cho dạy học nửa ngày Việc cấp tăng kinh phí chi khác cho các trường tiểu học không hoàn toàn giống nhau Ở những vùng điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, kinh phí được cấp nhiều hơn, những vùng đặc biệt khó khăn, kinh phí cấp phải đảm bảo
đủ cho mức chi tối thiểu Những vùng có điều kiện thuân lợi, kinh phí cấp giảm đi, tăng huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh Cụ thể:
- Đối với các trường ở thành phố, thị xã, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội thuân lợi: phần chi khác Nhà nước cấp đảm bảo tối thiểu 20% tổng quỹ lương như hiện nay Còn các chi phí phát sinh tăng lên do học cả ngày, các trường được phép huy động từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh và tài trợ
- Đối với các trường vùng nông thôn đồng bằng: phần chi khác cấp đảm bảo tối thiểu 25% tổng quỹ lương Còn thiếu cho các chi phí phát sinh tăng các trường huy động thêm từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh
- Đối với các trường ở vùng miền núi, vùng dân tộc: phần chi khác cấp đảm bảo tối thiểu 30% tổng quỹ lương Đủ cho các chi phí tối thiểu phát sinh tăng lên do học cả ngày Các trường không phải huy động thêm từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh
- Đối với các trường thuộc diện đặc biệt khó khăn: phần chi khác cấp đảm bảo tối thiểu 30% tổng quỹ lương Ngoài ra Nhà nước cần hỗ trợ bữa ăn trưa cho những học sinh
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như Chương trình SEQAP thực hiện để tất cả học sinh có điều kiện đi học được cả ngày
* Huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh:
Trang 14Nhà nước cần có quy định huy động các nguồn lực trong xã hội: dân đóng góp, tài trợ Tuy nhiên, việc huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh cần giao cho chính quyền địa phương quy định cụ thể phù hợp với khả năng thực tế của địa phương mình
Phần 2 SỬ DỤNG HIỆU QUẢ GIÁO VIÊN VÀ LỚP HỌC KHI CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHUYỂN SANG DẠY HỌC HỌC CẢ NGÀY
I Thực trạng về sử dụng giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày
1 Về mô hình tổ chức dạy học cả ngày
Để nghiên cứu về sử dụng giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày, nhóm nghiên cứu đã khảo sát tại 15 trường tiểu học, của 8 quận/ huyện, thuộc 4 tỉnh: Hòa Bình, Bắc Giang (miền núi phía Bắc), Lâm Đồng (vùng Tây nguyên Trung bộ) và thành phố Hà Nội Tiếp theo đó là tiến hành nghiên cứu thông qua báo cáo, thống kê của 19 trường tiểu học thuộc 6 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thái Nguyên, Bắc Cạn Đồng thời nghiên cứu các văn bản pháp lí hiện hành và tài liệu của Chương trình SEQAP, Sổ tay FDS, Quỹ phúc lợi học sinh, Quĩ giáo dục nhà trường có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu
Qua kết quả khảo sát và báo cáo của các trường tiểu học ở các địa phương mô hình dạy học cả ngày khá đa dạng Nhìn chung hiện nay các trường đang thực hiện chương trình theo phương án FDS bao gồm chương trình học ở cấp tiểu học Bộ GD&ĐT quy định
và chương trình mở rộng như bảng dưới đây
Các thành phần chương trình học hiện nay và chương trình học mở rộng
Phương thức tổ
chức
ngày học ở trường Số tiết/tuần
Nội dung chương trình Ghi chú
Nửa ngày
23-25 tiết/tuần (tùy theo khối lớp)
C Chương trình học hiện
nay cho học nửa ngày T30 (Khoảng
30 tiết/tuần) C + C1 Khoảng 2 ngày học cả
ngày ở trường mỗi tuần
T 33 (Khoảng
33 tiết/tuần) C + C1 +C2 Khoảng 3 ngày học cả
ngày ở trường mỗi tuần
Cả ngày
T 35 (Khoảng
35 tiết/tuần)
C + C1 + C2 + C3
Khoảng 4,5 - 5 ngày học cả ngày ở trường mỗi tuần
C: Chương trình học hiện hành được Bộ GD&ĐT phê duyệt
C1 Củng cố kiến thức, kỹ năng của học sinh về môn Tiếng Việt (Tiếng Việt 1), môn Toán và Tiếng Dân tộc
C2 Giới thiệu một môn học tự chọn - Tin học hoặc Ngoại ngữ (chú trọng môn
Trang 15Ngoại ngữ, thực hiện Đề án dạy học ngoại ngữ của Chính phủ
C3 Gồm các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Nhưng việc lựa chọn các mô hình dạy học đối với từng trường khác nhau Có trường tổ chức tất cả các lớp học cả ngày theo một mô hình (cùng một số buổi học/tuần),
có trường một số lớp học theo mô hình này, một số lớp theo mô hình khác (số buổi học khác nhau), có trường mới có một số lớp chuyển sang dạy học cả ngày theo T30 hoặc T33, T35, còn một số lớp vẫn học nửa ngày
Kết quả khảo sát 34 trường tổ chức học cả ngày: Có 23 trường tổ chức dạy học cả ngày ở tất cả các lớp Trong đó 7 trường có một mô hình T30; 3 trường có một mô hình T33; 11 trường có một mô hình T35; còn lại là có từ 2 mô hình trở lên Có 11 trường vẫn còn một số lớp dạy học nửa ngày (trường TH Mường Khến - Hòa Bình 11/18 lớp; trường
TH Thạnh Lâm - Bắc Giang 18/28 lớp; trường TH Ninh Loan - Lâm Đông 6/13 lớp; trường TH Mỹ hòa 2 - Đồng Tháp 5/17 lớp; trường TH Hành Thuận - Quảng ngãi 6/20 lớp…)
Về thời gian biểu trung bình cho một ngày học có sự thay đổi, từ 4 đến 5 tiết cho nửa ngày lên khoảng 7 tiết cho cả ngày (buổi sáng 4 tiết, chiều 3 tiết) Ngoài ra, học sinh
có thể ở lại trường buổi trưa (bán trú) Như vậy, với một trường tiểu học tổ chức dạy học
cả ngày sẽ có buổi sáng, buổi chiều và buổi trưa Buổi sáng và buổi chiều thực hiện chương trình giáo dục cả ngày Buổi trưa tổ chức ăn, ngủ cho học sinh ở lại trường tùy thuộc vào điều kiện thực tế của mỗi trường và nhu cầu của học sinh
Việc sắp xếp thời khóa biểu cho hai buổi học trong ngày, do các trường chủ động Một số trường bố trí xen kẽ các môn văn hóa và các môn chuyên để tạo không khí thoải mái, tránh được những căng thẳng cho học sinh (như trường TH Võ Thị Sáu, trường TH
Lê Văn Tám - Quảng Nam) Một số trường sắp xếp các môn văn hóa vào buổi sáng, buổi chiều bố trí các môn chuyên (như trường TH Kim Đồng - Quảng Nam) hoặc dành riêng cho việc bồi dưỡng, củng cố kiến thức toán, tiếng Việt (như trường hành Tín Đông - Quảng Ngãi) hoặc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Buổi trưa các trường bố trí cho học sinh là ngủ trưa hoặc đọc sách thư viện, xem ti vi, chơi trò chơi vv…tùy theo sở thích
2 Nội dung học tập và các hoạt động giáo dục
Qua khảo sát 34 trường tiểu học có tỏ chức học cả ngày, đại diện cho các vùng miền: miền núi (vùng khó khăn), nông thôn, thành thị Việc thực hiện các nội dung học tập, các hoạt động giáo dục khi chuyển từ một buổi/ngày sang học cả ngày, nhìn chung
có sự khác nhau giữa các trường ở các vùng miền Sự khác nhau tập trung ở những nội dung học tập, các hoạt động do thời gian ở trường tăng thêm Các nội dung học tập và các hoạt động giáo dục tập trung ở nội dung sau:
- Thực hiện chương trình giáo dục tiểu học hiện hành theo Quyết định 16/2006 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 16- Các tiết tăng thêm tập trung vào tăng cường tiếng Việt và Toán (100% các trường
ở vùng khó tổ chức bồi dưỡng học sinh khá, kèm cặp học sinh yếu)
- Đối với phần tự chọn, nội dung tập trung vào học ngoại ngữ, tin học (theo hướng dẫn trong chương trình tiểu học hiện hành)
- Tổ chức dạy học một số nội dung: kĩ năng sống, an toàn giao thông, môi trường vv…
- Các hoạt động giáo dục: thể dục, thể thao, trò chơi dân gian, múa hát tập thể, đọc sách vv…
- Đối với các trường có học sinh bán trú, tổ chức cho học sinh ở lại buổi trưa thông thường cho các em đọc sách, xem ti vi hoặc chơi các trò chơi
* Đối với các trường ở miền núi, vùng sâu, vùng xa:
Hầu hết các trường tiểu học thuộc miền núi, vùng sâu, vùng xa là những vùng khó khăn thời gian tăng thêm ở trường khi chuyển sang dạy học cả ngày thường tập trung vào tăng cường tiếng Việt và Toán: Trường tiểu học Trần Thị Bích Dung (Tháp Mười, Đồng Tháp) học 7 buổi/tuần, khối 1 tập trung tăng cường môn tiếng Việt 14 tiết/tuần (tăng 4 tiết so với chương trình TH hiện hành) và toán 6 tiết/tuần (tăng 2 tiết so với chương trình
TH hiện hành) Trường Lê Văn Tám (Phước Sơn, Quảng Nam) học 8 buổi/tuần, Khối 1, môn Toán được bố trí 7 tiết/tuần (tăng 3 tiết so với chương trình hiện hành); Môn tiếng Việt (Học vần và tập viết) 14 tiết (tăng so với chương trình hiện hành 4 tiết/tuần); Khối 2, tiếng Việt là 11 tiết/tuần (tăng so với chương trình hiện hành 3 tiết); môn toán 7 tiêt/tuần (tăng với chương trình hiện hành là 2 tiết)
Một số trường đưa thêm nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh (Trường tiểu học Lán Tranh 1, Lâm Hà, Lâm Đồng)
* Đối với các trường ở vùng nông thôn:
Các trường ở vùng nông thôn, việc tổ chức học cả ngày cũng tuân theo qui định, hướng dẫn chung cho các trường tiểu học Ngoài ra, các trường chú trọng tổ chức các hoạt động tập thể để học sinh tham gia nhiều hơn (chơi các trò chơi dân gian, hát, múa tập thể sân trường vv…)
Ví dụ trường TH Đông Lỗ 1 (Hiệp Hòa, Bắc Giang) học 7 buổi/tuần - Khối lớp 1: tiếng Việt 14 tiết/tuần (có 3 tiết tăng cường), tăng so với chương trình hiện hành 4 tiết/tuần; Môn Toán: 6 tiết/tuần (có 2 tiết tăng cường), tăng so với chương trình hiện hành
là 2 tiết/tuần Khối 2: Tiếng việt 14 tiết/tuần (có 4 tiết tiếng Việt tăng cường), so với chương trình hiện hành tăng 4tiết/tuần); Môn Toán 7 tiết/tuần (trong đó có 2 tiết tăng cường)
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các trường tổ chức trò chơi, múa sân trường (một
số trường tiểu học ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi)
* Đối với các trường ở vùng thành thị:
Trang 17Các trường thuộc khu vực thành phố, thị xã ngoài việc thực hiện các nội dung của chương trình tiểu học hiện hành, đặc biệt quan tâm đến các môn học tự chọn Không chỉ các môn ngoại ngữ, tin học, các trường còn đưa những nội dung như giáo dục kĩ năng sống, quyền trẻ em, an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, vv…Đồng thời tổ chức các hoạt động tâp thể chơi trò chơi dân gian, thể dục, thể thao vv…
Ví dụ: Trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội), trường nhà trường tổ chức dạy các nội dung: Kĩ năng sống, an toàn giao thông, thanh lịch văn minh vv…Trong thời khóa biểu có các tiết học trong thư viện, tiết sinh hoạt theo chủ điểm vv…
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày, thời gian học ở trường của học sinh tăng
thêm Việc thực hiện các nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm vùng miền Đối với vùng nông thôn, vùng núi các trường tập trung hơn vào việc tăng cường củng cố kiến thức, bồi dưỡng học sinh khá, kèm cặp học sinh yếu Riêng vùng khó khăn, học sinh dân tộc, thời gian học tăng thêm chủ yếu tập trung vào việc dạy tăng cường môn Toán và tiếng Việt, tiếng dân tộc Vùng thành thị đưa những nội dung giáo dục phong phú hơn nhằm phát triển ở học sinh những kĩ năng mềm học sinh được tham gia các hoạt động nhiều hơn
3 Sử dụng giáo viên khi các trường tổ chức dạy học cả ngày
Thực tế ở các địa phương, các lớp dạy học 2 buổi/ngày dù là T30, T33 hay T35 đều được biên chế từ 1,5 giáo viên/lớp trở lên (theo Thông tư số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC) Tuy nhiên, có một số trường được bố trí ít hơn hoặc nhiều hơn tỷ lệ này như trường tiểu học Tam Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội) dạy 10 buổi/tuần, tỷ lệ giáo viên là 1,42 giáo viên/lớp; trường tiểu học Mường Khến (Tân Lạc, Hòa Bình) cũng dạy 10 buổi/tuần,
tỷ lệ giáo viên là 1,9 giáo viên/lớp
Thành phần đội ngũ giáo viên trong một trường thường không đảm bảo cân đối giữa giáo viên văn hóa và giáo viên môn chuyên Nhiều trường tiểu học đủ hoặc thừa về số lượng, nhưng lại thiếu một số giáo viên dạy các môn chuyên Có trường đủ số lượng giáo viên chuyên nhưng lại không cân đối từng môn do số lớp nhiều, ít rất khác nhau, khó bố trí được cân đối giáo viên từng môn
Hà Nội là địa phương có điều kiện thuận lợi về tuyển dụng đội ngũ giáo viên văn hóa và giáo viên chuyên biệt Tỷ lệ giáo viên tiểu học chung toàn thành phố đạt 1,54GV/lớp, nhưng vẫn xảy ra thừa, thiếu cục bộ Để điều động đủ giáo viên dạy môn chuyên, Hà Nội đã đưa ra công thức tính tỷ lệ giáo viên số môn chuyên biệt cho một lớp
để làm căn cứ tuyển dụng như: dành định mức 0,3 GV/lớp cho các môn chuyên và chia ra: môn Âm nhạc, Mỹ thuật là 0,07, Tin học, Ngoại ngữ là 0,035, Thể dục là 0,09 và 1,2
là giáo viên văn hóa Việc chia trên là hoàn toàn chưa có căn cứ, nhưng khi thực hiện do nhiều lý do các trường vẫn không thể đảm bảo đúng cân đối cơ cấu trong đội ngũ giáo viên Như Trường TH Liên Quan dạy 10 buổi/tuần có 18 lớp, có 22 giáo viên văn hóa, 8 giáo viên chuyên biệt (đủ 5 môn), tỷ lệ giáo viên môn chuyên là 0,44GV/lớp Đây cũng là khó khăn lớn cho các trường trong việc sử dụng giáo viên
Trang 18Không chỉ mất cân đối về thành phần đội ngũ giáo viên, các trường còn thiếu các thành phần khác như Tổng phụ trách đội, nhân viên thư viện, thiết bị, y tế liên quan nhiều đến tổ chức dạy học cả ngày
Theo kết quả khảo sát tại 34 trường tiểu học, tất cả các trường đều được bố trí giáo viên chuyên, nhưng chỉ có 16/34 trường (chiếm 47%) có đủ giáo viên của 5 môn chuyên (Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ), còn 53% số trường không đủ 5 loại giáo viên chuyên; có 23/34 trường (chiếm 67,6%) được bố trí nhân viên thư viện; Tổng phụ trách Đội là 26/34 trường (chiếm 76,4%)
Trước thực tế đội ngũ giáo viên như vậy, khi chuyển sang dạy học cả ngày các trường đã bố trí sử dụng giáo viên như sau:
- Giáo viên văn hóa được bố trí làm chủ nhiệm lớp và đảm nhận dạy các môn cơ bản có trong chương trình tiểu học hiện hành, bồi dưỡng học sinh khá, kèm cặp học sinh yếu, dạy tăng cường Toán, tiếng Việt
- Giáo viên dạy các môn chuyên, đảm nhận các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ
- Các hoạt động ngoài giờ lên lớp do tổng phụ trách đội phụ trách chính, có sự tham gia của các giáo viên văn hóa, giáo viên chuyên
Đối với các trường không đủ giáo viên dạy các môn chuyên, giáo viên dạy các môn văn hóa sẽ đảm nhận dạy Những trường có đủ giáo viên chuyên nhưng do số lớp ít giáo viên dạy không đủ số tiết theo định mức 23 tiết/tuần thì nhà trường thường bố trí giáo viên chuyên kiêm phụ trách thêm công việc khác
Điều mong muốn ở các trường là cần đủ số lượng giáo viên và cân đối giữa giáo viên văn hóa và giáo viên từng môn chuyên để đảm bảo dạy có chất lượng Nhưng thực
tế rất khó đạt được Đây cũng là điều khó khăn cho các trường trong việc sử dụng hiệu quả giáo viên Đối với các trường vùng khó, vùng nông thôn khi số tiết dạy học tăng đều tập trung vào tăng cường môn Toán và tiếng Việt do giáo viên chủ nhiệm dạy Dẫn đến giáo viên chủ nhiệm sẽ có số giờ tăng, thường vượt quá số giờ quy định
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày các trường tiểu học đều bố trí giáo viên văn hóa làm chủ nhiệm lớp và dạy các tiết học tăng cường Tóan, tiếng Việt Đồng thời tham gia tổ chức, quản lý các hoạt động giáo dục ngoài giờ của lớp Do đó, thường có số tiết vượt quá định mức quy định Giáo viên chuyên bố trí dạy các môn chuyên Nhưng các trường thường không đủ giáo viên chuyên vì việc điều động đủ giáo viên môn chuyên theo đúng số tiết từng môn chuyên là rất khó Các trường đã chủ động phân công giáo viên trong trường để giảng dạy, như bố trí giáo viên văn hóa dạy các môn chuyên thể dục, âm nhạc, mỹ thuật khi thiếu giáo viên dạy chuyên Hoặc khi giáo viên chuyên, dạy ít tiết, trường phân công phụ trách các hoạt động khác để đủ định mức giờ dạy
Trang 19Vì vậy việc phân công hợp lý giáo viên trong trường là rất cần thiết và đòi hỏi chất lượng chuyên môn của giáo viên để có thể dạy được các môn khi trường không được bố trí đủ cơ cấu thành phần giáo viên các môn
4 Sử dụng lớp học khi chuyển sang dạy học cả ngày
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường bao gồm: phòng học văn hóa, phòng học môn chuyên (Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ), thư viện, nhà đa năng, sân chơi, phòng Đội, phòng truyền thống, vv… Thực tế cơ sở vật chất ở các trường dạy học cả ngày không giống nhau Theo thống kê tại 34 trường khảo sát có:
- 34/34 trường có đủ phòng học văn hóa để thực hiện theo mô hình T30, T33 hay T35 (đạt 100%)
- 24/34 trường có phòng học dành cho môn chuyên (đạt 70,5%)
- 18/34 trường có phòng thư viện (đạt 52,9%)
- 13/34 trường có phòng thiết bị, đồ dùng dạy học (đạt 38%)
- 03/34 trường có phòng học đa năng (đạt 9%)
- 24/34 trường có phòng Đội hoặc phòng truyền thống (đạt 70,5%)
- 03/34 trường có phòng lắp thiết bị nghe nhìn (đạt 9%)
- 12/34 trường có phòng Y tế (đạt 35%)
- 5/34 trường có phòng cho học sinh ngủ trưa (đạt 14,7%)
Như vậy, khi chuyển sang dạy học cả ngày, các trường mới đảm bảo đủ tối thiểu về phòng học cho các lớp theo mô hình lựa chọn (tỷ lệ 0,8 phòng học/lớp cho T30, tỷ lệ 1,0 phòng học/lớp cho T33 và T35 Còn các phòng chức năng khác như phòng học bộ môn cho các môn chuyên, thư viện, nhà đa năng, sân chơi… nhiều trường chưa có hoặc có nhưng không đủ các loại phòng và chưa đạt chuẩn Như thư viện, mới trên 50% số trường
có, nhưng một số trường thư viện lại dùng chung với thiết bị dạy học, hạn chế việc khai thác hiệu quả thư viện Nhiều trường có thư viện riêng, nhưng chưa đạt tiêu chuẩn, chưa
có không gian để thực sự trở thành nơi học tập, mở rộng kiến thức, phát triển khả năng của mỗi học sinh Việc tổ chức một số hoạt động như thể dục, thể thao, trò chơi, múa hát tập thể vv… cho học sinh gặp khó khăn vì chưa có nhà đa năng, thiếu sân chơi Có một
số trường, cơ sở vật chất tương đối khá như trường TH Tam Hiệp, trường TH Liên Quan (Hà Nội), trường TH Đức Thắng 1 (Bắc Giang), trường TH Lê Quý Đôn (Lâm Đồng) Các trường này, ngoài đủ các phòng học được xây dựng kiên cố, có sân chơi, Thư viện đã được xây dựng theo mô hình thư viện thân thiện Có được cơ sở vật chất đầy đủ chẳng những phục vụ tốt cho các giờ lên lớp của 2 buổi học mà còn tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, cũng như các nội dung học tập khác của học sinh Đây là cơ sở tổ chức các hoạt động như học sinh tự học hoặc tự học có hướng dẫn, vẽ tranh, học đàn, chơi cờ vv…