Sau đây là một số mô hình dạy học các trường tiểu học ở Việt Nam đang áp dụng: Bảng 1: Mô hình trường tiểu học dạy học cả ngày Nửa ngày 22-25 tiết/tuần tùy thuộc theo các khối lớp khác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CHƯƠNG TRÌNH ĐẢM BÁO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG HỌC
Tư vấn chính sách: Nguyễn Thị Hải
HÀ NỘI, THÁNG 7 NĂM 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A.MÔ TẢ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU ……… 4
1.Mục tiêu nghiên cứu ………
2 Đối tượng nghiên cứu………
3 Phạm vị nghiên cứu………
4 Phương pháp nghiên cứu………
B.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Phần thứ nhất Một số khái niệm về các mô hình dạy học ……… 5
1 Khái niệm về dạy học nửa ngày ……… 5
2 Khái niệm về dạy học hai buổi ngày………
3 Khái niệm về dạy học cả ngày………
4 Mô hình dạy học……… 6
Phần thứ hai Hiện trạng về sử dụng GV và lớp học khi các trường TH tổ chức dạy học cả ngày 7 I MỘT SỐ MÔ HÌNH DẠY HỌC ĐANG THỰC HIỆN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC……… 7
1 Các mô hình dạy học ở tiểu học………
2 Thời gian biểu của dạy học cả ngày ………
II NỘI DUNG HỌC TẬP VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY 1 Nội dung học tập và các hoạt động GD theo mô hình T30 ……… 10
2 Nội dung học tập và các hoạt động GD theo mô hình T33 ……… 11
3 Nội dung học tập và các hoạt động GD theo mô hình T35……… 13
III TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GV KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY………… 15
IV TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LỚP HỌC KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY… 17
Phần thứ ba.Một số đề xuất về sử dụng hiệu quả GV và lớp học khi trường TH tổ chức dạy học cả ngày 19 I XÂY DỰNG NÔI DUNG HỌC TẬP VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GD KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY 19 1 Căn cứ để xác định nội dung học tập và các hoạt động GD khi tổ trường TH chức dạy học cả ngày ………
19 2 Nội dung học tập và các hoạt động GD khi trường TH tổ chức dạy học cả ngày……… 20
3 Cách lựa chọn nội dung học tập và các hoạt động GD khi trường TH tổ chức dạy học cả ngày 23
II.SỬ DỤNG HIỆU QUẢ GV KHI TRƯỜNG TIỂU HỌC TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY 25 1.Nguyên tắc chung về sử dụng giáo viên khi trường TH tổ chức dạy học cả ngày ……… 25
2 Sử dụng GV, nhân viên khi trường TH tổ chức dạy học cả ngày ……… 25
III.SỬ DỤNG HIỆU QUẢ LỚP HỌC KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY 1 Sử dụng lớp học ……… 26
2 Sử dụng phòng học môn chuyên ………
3 Sử dụng nhà đa năng, phòng truyền thống, phòng Đội, sân trường, vườn trường …………
4 Sử dụng thư viện ……… 27
IV.MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN SỬ DỤNG HIỆU QUẢ GV VÀ LỚP HỌC KHI TRƯỜNG TH TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY 28 1.Đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV, nhân viên ……… 28
2 Tăng cường cơ sở vật chất ……… 31
3.Các cơ sở pháp lí ……… 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 34
Trang 4A MÔ TẢ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tình hình sử dụng giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang học cả ngày Trên cơ sở đó, đề xuất sử dụng hiệu quả giáo viên và lớp học khi trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày
II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Cán bộ quản lí Sở Giáo dục và Đào tạo
- Cán bộ quản lí Phòng Giáo dục và Đào tạo
- Cán bộ quản lí trường Tiểu học
- Giáo viên trường Tiểu học
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Để đề xuất việc sử dụng hiệu quả GV và lớp học khi các trường TH tổ chức dạy học
cả ngày, cần thiết phải nghiên cứu các nội dung dạy học và các hoạt động khi dạy học cả ngày, tập trung vào nội dung dành cho thời gian tăng thêm khi dạy học cả ngày
- Sử dụng một cách hợp lí các loại hình GV khi các trường TH chuyển sang dạy học
cả ngày Ngoài ra, trong nghiên cứu đề cập đến sử dụng các nhân viên khác trong nhà trường, đặc biệt là nhân viên thư viện
- Khai thác một cách hiệu quả các phòng học hiện có khi chuyển sang học cả ngày phù hợp với các địa phương của các vùng miền có các điều kiện khác nhau trong cả nước Trong nghiên cứu, các phòng học ở đây bao gồm tất cả các phòng/ cơ sở vật chất có khả năng khai thác để tổ chức dạy học cả ngày, không chỉ riêng lớp học Đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng thư viện để tổ chức các hoạt động dạy học cả ngày của trường TH
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp hồi cứu tài liệu
Trang 5- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan: các thông tư, quyết định của chỉnh phủ, các Bộ Ngành có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản và sản phẩm là kết quả nghiên cứu của các thành phần trong Chương trình (SEQAP) liên quan đến nhiệm vụ
- Nghiên cứu bố trí GV, thời khóa biểu năm học 2011- 2012 của một số trường tiểu học đang tổ chức mô hình dạy học cả ngày
2. Quan sát thực tiễn/phỏng vấn điều tra: Nghiên cứu thực tiễn tại các cơ sở Giáo
dục đang thực hiện mô hình FDS Điều tra thu thập dữ liệu về việc sử dụng giáo viên
và lớp học tại các cơ sở giáo dục TH khi tổ chức học theo mô hình FDS
3. Phương pháp chuyên gia: tham vấn ý kiến chuyên gia thông qua hội thảo và dưới
hình thức các bài viết, những ý kiến thảo luận trong hội thảo
Phần thứ nhất
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CÁC MÔ HÌNH DẠY HỌC
1 Khái niệm về dạy học nửa ngày : HDS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Half
Day Schooling, c ó nghĩa là dạy-học nửa ngày Học nửa ngày là tất cả việc
học tập và hoạt động của HS ở trường chỉ trong thời gian một buổi sáng hoặc buổi chiều
2 Khái niệm về dạy học 2 buổi ngày : Dạy- học hai buổi ngày là phương thức dạy
– học bổ sung thêm thời gian cho học sinh học, hoạt động ở trường Học hai buổi
ngày là buổi sáng, buổi chiều học sinh học ở trường, buổi trưa HS ở nhà
3 Khái niệm về dạy học cả ngày
Theo tài liệu của Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học thì dạy học cả ngày (viết
tắt của cụm từ tiếng Anh full day schooling – FDS) là phương thức bổ sung thêm thời gian
cho việc học tập/hoạt động của học sinh ở trường FDS sẽ sử dụng có hiệu quả thời gian tăng thêm ở trường để tổ chức các hoạt động giáo dục theo một chương trình, kế hoạch được điều chỉnh và mở rộng Học sinh tham gia thực hiện phương thức FDS sẽ được học
tập/hoạt động cả buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều tại trường vào một số ngày trong tuần
4 Một số mô hình dạy học
Trang 6Dạy học cả ngày là mô hình dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đó là
mô hình dạy học, mà ở đó học sinh học được học tập và tham gia các hoạt động ở trường cả ngày HS có thể ở lại buổi trưa tại trường (bán trú) hoặc về nhà tùy theo nhu cầu và điều kiện của từng gia đình Thời gian học ở trường có thể 7h trong một ngày Trong một tuần,
số ngày học cả ngày linh hoạt, có thể cả tuần hoặc một số ngày trong tuần
Theo mô hình này, HS được học tập và tham gia các hoạt động giáo dục tại trường cả ngày Bên cạnh việc học văn hóa, các em còn tham gia các hoạt động tập thể Từ đó, các
em được giao lưu, chia sẻ, góp phát triển mối quan hệ xã hội, kĩ năng giao tiếp, tính độc lập, tự chủ Điều đó đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học
Ở Việt Nam, do nhu cầu của XH, mô hình dạy học cả ngày đã xuất hiện từ nhiều năm nay ở một số trường TH thuộc các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Lâm Đồng, Nam Định, Quảng Nam, vv Ngày nay, mô hình dạy học cả ngày được phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước Việc dạy học cả ngày mới chỉ mang tính tự phát, do nhu cầu của CMHS của các địa phương, chưa trở thành qui định có tính chất pháp qui của cả hệ thống GDTH Tuy nhiên, mô hình dạy – học cả ngày đã được nhắc tới trong một số văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT Ví dụ, chương trình tiểu học hiện hành, Công văn hướng dẫn của Vụ Giáo dục Tiểu học 10176/TH tháng 11 năm 2000 Hiện nay, Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) đang thử nghiệm mô hình dạy học cả ngày ở 36 tỉnh Tính đến năm 2011, với sự hỗ trợ của SEQAP có khoảng gần 1000 trường TH tổ chức mô hình dạy học cả ngày Theo kế hoạch, đến khi kết thúc chương trình vào năm 2015 sẽ có khoảng
1650 trường tổ chức mô hình dạy học cả ngày
Sau đây là một số mô hình dạy học các trường tiểu học ở Việt Nam đang áp dụng:
Bảng 1: Mô hình trường tiểu học dạy học cả ngày
Nửa ngày 22-25 tiết/tuần
tùy thuộc theo các khối lớp khác nhau
C – Chương trình hiện nay được Bộ phê duyệt
Học sinh chỉ học một buổi trong ngày – có thể là buổi sáng hoặc buổi chiều
T 30 (Khoảng 30 tiết/tuần)
C + C1 2 ngày học cả ngày và
3 ngày học nửa ngày ở trường mỗi tuần
Trang 7T 33 (Khoảng 33 tiết/tuần)
C + C1 +C2 hoặc
C: Chương trình học hiện hành được Bộ GD&ĐT phê duyệt
C1 Củng cố kiến thức, kỹ năng của học sinh về môn Tiếng Việt (Tiếng Việt 1), môn
Toán và Tiếng Dân tộc
C 2 Giới thiệu một môn học tự chọn - Tin học hoặc Ngoại ngữ (chú trọng môn Ngoại ngữ, thực hiện Đề án dạy ngoại ngữ của Chính phủ
C 3 Gồm các hoạt động giáo dục
Phần thứ hai
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG GIÁO VIÊN VÀ LỚP HỌC KHI TRƯỜNG TIỂU HỌC
TỔ CHỨC DẠY HỌC HỌC CẢ NGÀY
I MỘT SỐ MÔ HÌNH DẠY HỌC ĐANG THỰC HIỆN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1 Các mô hình dạy học ở trường tiểu học
Để thực hiên nhiệm vụ nghiên cứu: “Sử dụng hiệu quả giáo viên và lớp học khi các trường tiểu học chuyển sang dạy học cả ngày”, nhóm tư vấn chính sách đã nghiên cứu trực tiếp tại 13 trường tiểu học, của 8 quận/ huyện, thuộc 4 tỉnh: Hòa Binh, Bắc Giang (miền núi phía Bắc), Lâm Đồng (vùng Tây nguyên Trung bộ) và thành phố
Hà Nội Các địa điểm này đại diện cho một số vùng có điều kiện kinh tế khác nhau Trong đó, có 6 trường TH tham gia chương trình SEQAP và 7 trường không tham gia chương trình Đồng thời, nhóm tư vấn cũng tiến hành khảo sát thông qua báo cáo, thống kê của 19 trường TH thuộc 6 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thái Nguyên, Bắc Kạn Ngoài ra, nhóm TV đã nghiên cứu văn bản pháp lí hiện hành và tài liệu của Chương trình SEQAP, Sổ tay FDS, Sổ tay hướng dẫn thực hiện quĩ phúc lợi nhà trường có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu Để có
Trang 8nghiên cứu đề xuất phù hợp, nhóm nghiên cứu đã tham vấn ý kiến của 45 đại biểu là các nhà quản lí GD của Sở, phòng GD&ĐT các tỉnh, hiệu trưởng một số trường TH, chuyên viên vụ bậc học, Vụ tổ chức cán bộ, Cục Nhà giáo và Cán bộ giáo dục thuộc
Bộ GD&ĐT
Kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy, các trường TH ở Việt Nam lựa chọn các mô hình dạy học đa dạng, linh hoạt phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương Thời gian biểu trung bình của một ngày HS ở trường từ 5 tiết cho một buổi/ngày lên khoảng 7 – 8 tiết cho hai buổi/ ngày Ngoài ra, HS sinh có thể ở lại trường buổi trưa Như vây, với một trường TH tổ chức dạy học cả ngày sẽ có buổi sáng, buổi chiều, buổi trưa HS ở lại trường (bán trú) tùy thuộc kiện của mỗi trường
Lựa chọn các mô hình dạy học của các trường TH đã khảo sát cũng hết sức đa dạng Trong một trường TH đồng thời tổ chức một số mô hình dạy học khác nhau Có nghĩa là, một số lớp theo mô hình T30, T33, T35 và nửa ngày
Kết quả thống kê của 32 trường TH cho thấy, có 20/32 trường có tổ chức 1 mô hình dạy học, chiểm 62,5%; có 9/32 trường tổ chức 2 mô hình dạy học, chiếm 28,125% và 3/32 trường có tổ chức 3 mô hình dạy học, chiếm 9,275% (xem sơ đồ 2 dưới đây)
Sơ đồ 2 Tỷ lệ các các trường TH tổ các mô hình dạy học
Thống kê nghiên cứu cũng cho thấy số các trường có tổ chức các mô hình dạy học T30, T33, T35 và nửa ngày của 32 trường như sau: có 13 trường (chiếm 40,6%) có một số lớp
Trang 9trường (chiếm 37,5%) có một số lớp học theo mô hìnhT35 và 12 trường (chiếm 37,5%) tổ
chức dạy học nửa ngày Trong 32 trường khảo sát có 8 trường (chiếm 25%) có 100% số lớp dạy học theo mô hình T35
Tình theo đơn vị lớp, kết quả nghiên cứu 32 trường TH với tổng số khoảng 503 lớp, cho thấy: dạy - học theo mô hình T30 là 145 lớp (chiếm 28,8%); T33 là 88 lớp (chiếm 17,5%), T35 là 164 lớp (chiếm 32,6%) và nửa ngày khoảng từ 6 đến 7 buổi/tuần là 106 lớp (chiếm 21,1%)
Sơ đồ 3: Các mô hình dạy học (Theo trường và theo lớp)
2 Thời gian biểu cho dạy học cả ngày ở trường tiểu học
Qua khảo sát, thời gian biểu cho một ngày học cả ngày được bố trí thông thường là 7 tiết/ngày, trong đó, buổi sáng 4 tiết, chiều 3 tiết Ví dụ, Nguyễn Thị Minh Khai (Quảng Nam), TH Trung Bì (Hòa Bình) vv… Đa số các trường khảo sát bố trí học 8 tiết/ ngày, trong đó 5 tiết buổi sáng và 3 tiết buổi chiều Ví dụ, TH Trần Thị Bích Dung (Đồng Tháp),
TH Dương Xuân Hội, TH Long Trì (Long An), TH Hành Tín Tây, TH Hành Tín Đông (Quảng Ngãi), TH Tà Bhing (Quảng Nam), TH Tam Hiệp (Hà Nội), TH Đức Thắng 1 (Bắc Giang) vv… Đối với các trường có học sinh bán trú, các em có khoảng thời gian nghỉ trưa tại trường
Việc sắp xếp thời gian biểu cho hai buổi trong ngày ngày (chưa kể buổi trưa), tùy thuộc vào mỗi trường Một số trường bố trí xen kẽ các môn văn hóa và các môn chuyên, hoạt động
GD để tạo không khí thoải mái, tránh được những căng thẳng cho HS Ví dụ, TH Lê Văn
Trang 10Tám (Quảng Nam), Tam Hiệp, (Hà Nội); TH Đức Thắng 1 (Bắc Giang) vv… Một số trường, sắp xếp các môn văn hóa vào buổi sáng (buổi 1) buổi chiều (buổi 2) bố trí các môn chuyên hoặc dành riêng cho việc bồi dưỡng HS, củng cố kiến thức: luyện tập Toán, tiếng Việt (tập viết, học vần) ), hoặc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp (ví dụ trườngTH Hành Tín Đông (Quảng Ngãi), TH Kim Đồng (Quảng Nam) vv…
II NỒI DUNG HỌC TẬP VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KHI TRƯỜNG TIỂU
HỌC TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY
Qua nghiên cứu 32 trường tiểu học có tổ chức học cả ngày, đại diện cho các vùng miền: vùng Núi (vùng khó khăn), Nông thôn, Thành thị Việc thực hiện các nội dung học tập, các hoạt động giáo dục khi chuyển từ một buổi/ ngày sang học cả ngày, nhìn chung có sự khác nhau giữa các vùng miền Sự khác nhau tập trung ở những nội dung học tập, các hoạt động do thời gian ở trường tăng thêm bởi các mô hình dạy học khác nhau Nhìn chung, các nội dung học tập và các hoạt động giáo dục bao gồm:
- Thực hiện Chương trình Giáo dục tiểu học hiện hành theo Quyết định 16/2006/QĐ BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Các tiết tăng thêm tập trung vào tăng cường tiếng Việt và Toán (100% các trường ở vùng khó bồi dưỡng HS khá, kèm cặp HS yếu)
- Đối với phần tự chọn, nội dung tập trung vào học Ngoại ngữ, Tin học (theo hướng dẫn trong chương trình TH hiện hành)
- Tổ chức dạy học một số nội dung tự chọn: kĩ năng sống, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường vv…
- Các hoạt động GD: thể dục, thể thao, trò chơi dân gian, múa hát tập thể, đọc sách vv…
- Đối với các trường có HS bán trú, tổ chức cho HS ở lại buổi trưa, thông thường cho các em đọc sách, xem ti vi hoặc chơi các trò chơi
Sau đây là một số ví dụ về nội dung học tập và hoạt động GD đối với các mô hình dạy học:
1 Nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục theo mô hình dạy học T30
Mô hình dạy học T30 tức là khoảng 30 tiết/tuần Trong đó, có 2 ngày học cả ngày và
3 ngày học một buổi trong tuần; Thời gian biểu cho cả ngày thường được bố trí 7 tiết: sáng 4 tiết, chiều 3 tiết hoặc 8 tiết sáng 5 tiết, chiều 3 tiết Như vậy, theo mô
Trang 11hình T30, số tiết tăng thêm cho 2 buổi học (chưa tính thời gian nghỉ trưa) khoảng từ
4 đến 6 tiết/tuần
Khi chuyển sang học cả ngày, đối với các trường TH tổ chức theo mô hình T30, nhất là các trường thuộc vùng khó khăn, HS dân tộc, các tiết tăng so với dạy học nửa ngày thường tập trung vào củng cố kiến thức, kèm cặp HS yếu, bồi dưỡng HS khá Tập trung tăng cường cho môn Toán và Tiếng Việt Trong đó, đặc biệt ưu tiên tăng cường cho khối lớp 1 và 2 Trong hai môn đó, môn tiếng Việt được đa số các trường dành thời lượng tăng cường nhiều hơn (Xem bảng 4)
Vì dụ dưới đây về tăng thời lượng cho 2 môn Toán và Tiếng Việt khi thực hiện mô hình T30
Bảng 4 Phân bổ thời gian tăng cho môn Toán và Tiếng Việt theo mô hình T30
Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 5 STT Trường tiểu
Trang 12Thời lượng tăng khi học cả ngày của mô hình T30 được các trường tổ chức cho HS khối lớp 3,4,5 học môn tự chọn Ngoại ngữ, Tin học Thời lượng dành cho mỗi môn tự chọn là 2 tiết/tuần
Các hoạt động GD: các trường tổ chức dạy học theo mô hình T30 thường tổ chức các hoạt động tập thể, thời lượng 1- 2 tiết/tuần (Ví dụ: Tanie Lâm Đồng dành 1 tiết/tuần ;Tử
Nê, Hòa Bình dành 2 tiết/tuần)
2.Nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục theo mô hình dạy học T33
Mô hình dạy học T33 trong đó có 3 ngày học cả ngày và 2 ngày học nửa ngày trong tuần
Số tiết học một tuần khoảng 33 tiết, mỗi ngày 7 tiết, 4 tiết buổi sáng và 3 tiết buổi chiều Hoặc 8 tiết/ngày, 5 tiết buổi sáng và 3 tiết buổi chiều Có nghĩa là, khi tổ chức theo mô hình T33, số tiết tăng thêm cho mỗi tuần khoảng từ 6 đến 9 tiết
Các tiết tăng được bố trí cho các khối kiến thức và các hoạt động GD như sau:
- Tăng cường cho các môn học trong chương trình TH hiện hành, đặc biệt là các môn Toán
và Tiếng Việt (xem bảng 5)
Sau đây là một số trường làm ví dụ cho việc bố trí các tiết tăng tiết cho 2 môn Toán và Tiếng Việt khi tổ chức dạy học cả ngày theo mô hình T33
Bảng 5 Phân bổ thời gian tăng cho môn Toán và Tiếng Việt theo mô hình T33
Trang 13Nhìn vào bảng trên ta thấy, các tiết tăng thêm của việc học cả ngày đều tập trung tăng cường cho Toán và Tiếng Việt Trong đó, các khối lớip 1,2 tăng cường nhiều hơn Tùy vào đặc điểm của từng trường, các tiết tăng cho môn Toán từ 2- 4 tiết/ tuần, môn Tiếng Việt từ 3-5 tiết/tuần Các tiết tăng cho Tiếng Việt và Toán ở các khối lớp 3,4,5 ít hơn so với khối lớp 1,2 Một số trường, các tiết tăng cũng được dành cho một số môn như Hát nhạc, HĐTT với thời lượng 1 tiết/tuần (TH Lán Tranh 1)
- Các môn tự chọn: Ngoài ra, đối với các khối lớp 3,4,5 các tiết tăng thêm dành cho các môn tự chọn: Tin học, Ngoại ngữ (Tiếng Anh), thời lượng khoảng 2 tiết/tuần Bên cạnh các môn tự chọn là Ngoại ngữ và Tin học, một số trường đã đưa vào khối kiến thức tự chọn các nội dung đang là những vấn đề quan tâm của XH như GD bảo vệ môi trường, An toàn giao thông, Kĩ năng sống, Văn hóa-lịch sử địa phương vv… Ví dụ: TH Lán Tranh 1 dạy cho HS kĩ năng sống cho tất cả các khối lớp 1tiết/tuần
- Các hoạt động GD: đối với các trường tổ chức Dạy học theo mô hình T33, ngoài các tiết tăng cường thời lượng dành cho môn Tiếng Việt,Toán, các môn tự chọn các trường dành thời gian hợp lí cho các hoạt động tập thể Bao gồm trò chơi, múa hát sân trường Hoặc tổ chức các Hội thi tìm hiểu: thi tìm hiểu về an toàn giao thông, hát dân ca, rung chuông vàng, giải toán internet, cờ vua, đá bóng mini, Aerobic vv Thời lượng cho các Hội thi này 1 buổi/tuần Ví dụ: một số trường TH ở Nghĩa Hành (Quảng Ngãi), Lán tranh 1, Hòa Đức 1 (Lâm Đồng)
3 Nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục theo mô hình dạy học T35
Tổ chức dạy học theo mô hình T35, tức là có 5 ngày học cả ngày trong tuần Theo thời biểu
cả các trường học 7 – 8 tiết/ngày, số tiết tăng cho mối tuần sẽ từ 10 – 15 tiết/tuần
Với thời lượng tăng thêm so với học nửa ngày của mô hình T35, các trường đã dành bổ sung cho các khối kiến thức và các hoạt động GD như sau:
- Tăng cường cho các môn học trong chương trình TH hiện hành: Tùy vào điều kiện của các địa phương, đặc điểm của HS các vùng miền mà việc tăng cường thời lượng cho các môn học, các khối lớp cũng khác nhau
Theo thống kê của một số trường TH thực hiện theo mô hình T35 các tiết tăng thêm do học
cả ngày được phân bổ cho các môn Toán và Tiếng Việt như sau: (Xem bảng 6)
Bảng 6 Phân bổ thời gian tăng cho môn Toán và Tiếng Việt theo mô hình T35
STT Trường tiểu học Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 5
Trang 14Ngoài ra, một số trường, tăng thêm 1 tiết/tuần cho các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục,
Tự nhiên – XH Ví dụ: TH Tam Hiệp (Hà Nội), TH Đức Thắng 1 (Bắc Giang), vv…
Trang 15- Các môn tự chọn: Hầu hết các trường tổ chức theo mô hình T35 đều chọn môn Tiếng Anh, Tin học Các trường ở vùng thuận lợi tổ chức cho HS học tiếng Anh từ lớp 1 (TH Tam Hiệp) Bên cạnh đó, các trường đưa nội dung giáo dục đang là mối quan tâm của XH
Ví dụ, giáo dục Kĩ năng sống, Quyền trẻ em, An toàn giao thông, Giáo dục bảo vệ môi trường, Văn hóa – lịch sử địa phương, Giáo dục nếp sống thanh lịch –văn minh, tiết học thư viện (mỗi tháng 1 chủ điểm) vv…
- Các hoạt động giáo dục: Các trường danh nhiều thời gian tổ chức các hoạt động tập thể, như: chơi trò chơi dân gian (chơi ô ăn quan, gà chọi), thể dục, thể thao, múa hát, tổ chức các Hội thi vv…
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày, thời gian ở trường của HS tăng thêm Thời
lượng tăng thêm cho việc học cả ngày đối với các mô hình dạy học khác nhau là khác nhau Dẫn đến việc thực hiện các nội dung dạy học và các hoạt động giáo dục của mỗi mô hình dạy học cũng khác nhau Mặt khác, việc lựa chọn nội dung học tập và các hoạt động GD phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm vùng miền Đối với nông thôn, vùng núi tập trung hơn vào việc tăng cường củng cố kiến thức, bồi dưỡng HS khá, kèm học sinh yếu Các vùng khó khăn, học sinh dân tộc, học cả ngày chủ yêu tập trung vào việc tăng cường môn Toán và Tiếng Việt Các khối lớp 1,2 tập trung tăng cường Tiếng Việt nhiều hơn Các trường có HS dân tộc tập trung dạy tiếng dân tộc Vùng thành thị đưa những nội dung giáo dục thuộc khối kiến thức tự chọn nhằm hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng mềm, những lính vực phục vụ thiết thực cho cuộc sống hàng ngày Bằng cách đưa các chuyên đề vào trong nhà trường:Giáo dục nếp sống thanh lich văn minh, văn hóa địa phương, Kĩ năng sống, vv…Mặt khác, tổ chức các hoạt động cho HS đối với các mô hình dạy học, vùng miền khác nhau cũng khác nhau Một số trường đã tạo điều kiện cho HS được tham gia các hoạt
động nhiều hơn Như thể thao, tham quan, giã ngoại, chăm sóc vườn trường, các hoạt động
gắn với địa phương vv…
Nhìn chung khi chuyển sang học cả ngày nhiều trường vẫn trú trọng ưu tiên thời lượng cho học kiến thức mà chưa thật sự chú trọng một cách thỏa đáng việc tổ chức các hoạt động GD cho HS
III TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GIÁO VIÊN KHI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TỔ CHỨC DẠY HỌC CẢ NGÀY
Khi học cả ngày, việc bố trí GV thực hiện các nội dung học tập và hoạt động động giáo dục của các trường như sau:
Trang 16- GV dạy văn hóa đồng thời kiêm làm công tác chủ nhiệm lớp Họ sẽ đảm nhận môn
cơ bản có trong chương trình tiểu học hiện hành, dạy tăng cường Toán, Tiếng Việt,
bồi dưỡng HS khá, kèm cặp HS yếu
- Giáo viên dạy các môn chuyên, đảm nhận các môn Âm nhạc, MĨ thuật, Thể dục,
Tin học, Ngoại ngữ
- Các hoạt động ngoài giờ lên lớp: do tổng phụ trách đội phụ trách Nhiều hoạt động
đã thu hút các GV văn hóa, GV dạy các môn chuyên tham gia
Việc bố trí GV cho buổi 2 của các trường cũng hết sức linh hoạt Đối với các trường thiếu
GV dạy các môn chuyên, GV dạy các môn văn hóa sẽ đảm nhận dạy các môn như Âm nhạc, Mĩ thuật,Thể dục Một số phòng GD &ĐT đã linh hoạt trong việc sử dụng GV chuyên Cụ thể, đối với các trường có qui mô nhỏ, chưa đủ định mức biên chế một GV chuyên, số giờ trong tuần không đủ theo qui định trong Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐ-BNV, ngày 23 tháng 8 năm 2006 Như vậy, với trường TH qui mô nhỏ dưới 20 lớp,
GV dạy môn chuyên sẽ không đủ số tiết theo định mức trong thông tư đã qui định Do đó, một số trường thường bố trí GV dạy môn chuyên dạy các môn khác hoặc đảm nhiệm các hoạt động khác để đảm bảo số tiết theo qui định Ví dụ: để đảm bảo đủ số tiết cho GV Âm nhạc, họ được bố trí dạy môn Đạo đức; GV Mĩ thuật dạy bố trí dạy Thủ công – Kĩ thuật Tuy nhiên, một số trường bố trí GV chưa hợp lí chủ yếu là GV dạy văn hóa GV dạy các môn văn hóa, ngoài việc đảm nhận các môn văn hóa và những tiết tăng cường, quản lí HS buổi trưa Khiến số tiết tăng, dẫn đến cường độ làm việc của loại hình GV này quá lớn
Ở cấp TH, theo thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV tùy theo loại trường hạng 1,2,3 được bố trí 2, hoặc 1 biên chế là viên chức làm công tác thiết bị, thư viện và nhân viên y tế Đội ngũ cán bộ này đã góp phần quan trọng trong việc quản lí, tổ chức các hoạt động học tập và giáo dục cho HS Đặc biệt là các viên chức phụ trách thư viện Khi dạy học cả ngày, nhiều trường đã sử dụng thư viện để tổ chức các hoạt động học của HS Nhân viên thư viện không chỉ quản lí thư viện mà còn tham gia hướng dẫn HS đọc sách, tổ chức các tiết học thư viện Đồng thời, họ còn tổ chức, hướng dẫn các hoạt động giáo dục cho HS tại thư viện Tuy nhiên, thực tế nhiều trường TH chưa được bố trí loại viên chức này Hoặc một biên chế đồng thời phụ trách thư viện và thiết bị dạy học
Theo kết quả nghiên cứu tại 32 trường, 100% số trường được bố trí GV chuyên Tuy nhiên, chỉ có khoảng 16/32 (chiếm 50%) trong tổng số trường có đủ 5 loại GV chuyên và khoảng 18/32 (chiếm 56,2) trường không đủ 5 loại GV chuyên (Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục, Ngoại
Trang 17ngữ, Tin học); trường có 6-7 GV chuyên là 5/32 (chiếm 15.6%) Số trường TH được bố trí viên chức làm công tác thiết bị là 23/32 (chiếm 71%); Trường được bố trí tổng phụ trách đội là 26/32 (chiếm 81,2)
Sơ đồ 7 Mô tả đội ngũ GV chuyên, nhân viên, tổng phụ trách đội
Tỷ lệ GV/lớp: theo thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT, ngày 23 tháng 8 năm 2006
về định mức GV/lớp là 1,5 đối với trường TH dạy học cả ngày Theo thống kê của 32 trường, số trường có tỷ lệ GV/lớp 1,5 trở lên là 25/32 (chiếm 78,1%); số trường có tỷ lệ GV
từ 1,45 đến 1,15 là 7/32 (chiếm 21,8%) Tuy nhiên, nhiều trường tiểu học đủ về tổng số, nhưng lại thiếu về loại hình GV, chủ yếu thiếu GV dạy các môn chuyên (GV Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục ) Điều đó, dẫn đến khó khăn cho bố trí GV Mặt khác, đối với các trường vùng khó, vùng nông thôn khi số tiết dạy học tăng chủ yếu tập trung vào tăng cường Toán
và Tiếng Việt Dẫn đến GV dạy môn văn hóa (GV chủ nhiệm) sẽ có số giờ tăng Sự xuất hiện thừa giờ cục bộ ở một số trường đã xảy ra khi dạy học cả ngày
Tóm lại: Khi chuyển sang học cả ngày việc sử dụng GV của các trường cho những môn cơ
bản theo chương trình hiện hành và các tiết học tăng cường Toán, Tiếng Việt do GV văn hóa, kiêm công tác chủ nhiệm phụ trách Đối với các trường thiếu GV chuyên, GV cơ bản
đảm nhiệm dạy các môn chuyên Khi chuyển sang học cả ngày, nhiều trường TH đủ GV về
tổng thể, nhưng thiếu về loại hình (thiếu GV Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục, Ngoại ngữ,Tin học) Các trường có biên chế GV chuyên, nhưng qui mô lớp học nhỏ, các GV chuyên sẽ phụ
Trang 18trách các hoạt động khác hoặc dạy các môn như Đạo đức, Thủ công – Kĩ thuật, Tự nhiên-
XH để đảm bảo đủ định mức giờ dạy theo qui định
IV TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LỚP HỌC KHI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC CHUYỂN SANG DẠY HỌC CẢ NGÀY
Cơ sở vật chất phục vụ cho học tập và tổ chức các hoạt động giáo dục bao gồm: phòng học, phòng dành cho môn chuyên (Ngoại ngữ, Mĩ thuật, Âm nhạc, Tin học, Thể dục), thư viện đạt tiêu chuẩn, nhà đa năng, sân chơi, phòng Đội, phòng truyền thống, vv… Theo thống kê từ 32 trường các loại phòng có thể khai thác để tổ chức dạy học cả ngày được mô tả trong sơ đồ 8 dưới đây:
Sơ đồ 8: Thống kê các phòng phục vụ cho dạy học cả
ngày
Đa số các trường đảm bảo đủ phòng học (mỗi lớp một phòng) Nhưng nhiều trường thiếu các phòng dành cho các môn chuyên, thư viện đạt tiêu chuẩn, sân chơi bê tông vv…Sơ đồ 8 cho thấy, chỉ có 53,1% trong tổng số trường khảo sát có thư viện; 6,25% số trường có nhà
đa năng; 15,6% số trường có nhà nghỉ trưa cho HS bán trú và chỉ có 9,3% số trường có phòng lắp đặt các thiết bị nghe nhìn Do đó, hầu hết các tiết học và các hoạt động của buổi
2 diễn ra trên lớp học của buổi 1 Đặc biệt, nhiều trường một phòng được dùng cho cả thư viện và thiết bị dạy học Như vậy, việc khai thác hiệu quả thư viện phục vụ cho dạy học cả ngày là rất hạn chế Những trường có phòng thư viện riêng, nhưng nhiều trong số đó chưa đạt thư viện chuẩn Chưa có không gian để thư viện thực sự trở thành nơi học tập, mở rộng kiến thức, phát triển khả năng của mỗi HS cũng như cơ hội giao lưu chia sẻ giữa HS với