NỘI DUNG: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI ĐẾN VIỆT NAM Chương I: Cơ sở lý luận - Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD: Đầu tư trực tiếp là
Trang 1KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THU HÚT VỐN FDI
Ở VIỆT NAM
GVHD: Nguyễn Thành Tín Sinh viên thực hiện:
1 Lưu Văn Tâm
Trang 2TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2011
MỤC LỤC
-
-LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
I Tổng quan về FDI 3
1 Khái niệm, đặc điểm 3
2 Phân loại FDI……… 5
3 Các nhân tố thúc đẩy FDI 6
4 Tác động của dòng vốn FDI đến các nước tiếp nhận 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI VIỆT NAM 9
I Tổng quan về FDI ở Việt Nam 11
II Đặc điểm FDI ở Việt Nam 11
1 Quy mô/dự án 11
2 Hình thức sổ hữu 12
3 Cơ cấu đầu tư theo ngành 13
4 Địa bàn 13
5 Đối tác đầu tư 14
III Tác động của FDI đến kinh tế Việt Nam 15
1 Tích cực 15
2 Tiêu cực 18
IV Nguyên nhân 22
1 Thuận lợi 22
2 Khó khăn 24
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM 30
I Nhóm giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI 30
1 Về luật pháp 30
2 Tài chính và ngoại hối 31
3 Quy hoạch 31
4 Cải thiện cơ sở hạ tầng 32
5 Xúc tiến đầu tư 33
II Tăng cường hiệu quả dòng vốn 33
1 Tạo đều kiện để dự án triển khai hoạt động mở rộng tăng công suất hiện có 33
2 Về nguồn nhân lực 34
3 Về ngoại hối và vốn 35
4 Một số vấn đề khác 36
III Bài học kinh nghiệm 37
IV Kiến nghị 39
V Dự báo 39
KẾT LUẬN 40
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU - -
Thế kỷ 21 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, một thế giới đầy sôi động của quá trình toàn cầu hoá Gắn liền với quá trình ấy việc chuyển giao vốn và lao động đã không còn xa lạ Đây là yếu tố chính hình thành nên đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), một nguồn vốn có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế cho các nước đang phát triển
và thậm chí cả các nước phát triển FDI mang lại những đóng góp đáng ghi nhận cho nền kinh tế như giải quyết việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng trưởng GDP,… Các nước như Trung Quốc, Ấn Độ,… đã đạt được tăng trưởng tốt và trở thành những nền kinh tế mới nổi một phần là nhờ vào việc thu hút và sử dụng FDI có hiệu quả Cho đến nay, FDI đã được nhìn nhận như là một trong những yếu tố chính góp phần tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Theo đánh giá của một số chuyên gia trên thế giới, Việt Nam là một trong những địa điểm tuyệt vời để đầu tư Tình hình chính trị ở Việt Nam tương đối ổn định, có cơ cấu dân số vàng, nền kinh tế tăng trưởng khá nhanh và đều đặn Chính nhờ những ưu điểm trên, ngày càng có nhiều chương trình đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam Trong đó, đầu tư FDI được Chính phủ Việt Nam đánh giá cao và cố gắng tập trung thu hút nguồn đầu tư này Bên cạnh đó, việc phát hiện ra những vụ bê bối trong các dự án ODA gần đây bắt đầu làm cho vấn đề sử dụng vốn FDI của Việt Nam cũng dần trở thành vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt khi vốn đầu tư FDI lại là một trong những nguồn lực quan trọng của đất nước Trước tình hình đó, để có thể có được một cái nhìn toàn diện về vấn
đề này, nhóm chúng em quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Xu hướng và tác động của FDI đến Việt Nam” để làm rõ hơn vấn đề này
Đây không phải là một đề tài mới mẻ và có rất nhiều chuyên gia đã nghiên cứu và phân tích vấn đề này trước đây Do đó, trên cơ sở nguồn tư liệu thứ cấp sẵn có này, tham khảo thêm một số báo, tạp chí, chúng em đã rút ra những kết luận chung, tổng hợp thêm ý kiến của các thành viên trong nhóm để hoàn thành bài viết Hy vọng đề tài sẽ đem lại cái nhìn khách quan và toàn diện về nền kinh tế Việt Nam nói chung và việc sử dụng FDI hiện nay nói riêng
Trang 4NỘI DUNG: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ
DỤNG VỐN FDI ĐẾN VIỆT NAM Chương I: Cơ sở lý luận
- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu
tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp Có các mục đầu tư như:
+ Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư
+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có
+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới
+ Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)
- Theo Tổ chức tương mại thế giới WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
- Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này
Như vậy FDI được hiểu là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, thiết lập cơ sở sản
Trang 5xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận và chi phối hoặc toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp
Nếu xét trên khía cạnh về quyền sở hữu thì về bản chất, FDI được thực hiện với quyền sở hữu về tài sản đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài Nếu xét trên khía cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được định nghĩa là phần tăng thêm giá trị sổ sách của lượng đầu tư ròng
ở một quốc gia được thực hiện bởi nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời nhà đầu tư này cũng chính là chủ sở hữu chính và nắm quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó
1.2 Đặc điểm:
Từ khái niệm và bản chất của FDI, ta có thể thấy FDI có các đặc điểm chính sau đây:
- FDI là hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân nên mang tính khả thi và hiệu quả kinh
tế cao, không có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế tiếp nhận
- Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, lợi nhuận và rủi ro được phân chia theo
tỷ lệ vốn góp đầu tư
- FDI giúp ích cho quá trình toàn cầu hóa
FDI gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty đa quốc gia
-Cơ cấu và hình thức FDI ngày càng trở nên đa dạng hơn
Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi của môi trường kinh tế thương mại toàn cầu
Ở các nước công nghiệp phát triển, cơ cấu FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ Xu hướng đầu
tư hiện nay của nguồn vốn FDI là vào các ngành có hàm lượng khoa học cao, đặc biệt là các ngành: Điện tử, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy Trong khi đó, tỉ trọng đầu tư các ngành công nghiệp dùng nhiều vốn và lao động thì FDI giảm rõ rệt Tỉ trọng FDI đi vào các ngành dịch vụ tăng lên, một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí
-Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với thương mại và chuyển giao công nghệ.Thông thường, một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng tiềm năng xuất khẩu của một nước Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư, cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
Trang 6FDI đã và đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ Xu hướng này ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau Đây chính là hình thức có hiệu quả của việc lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
2 Phân loại FDI:
Có thể phân loại FDI theo nhiều cách:
1.2 Phân loại theo hình thức thâm nhập:
Đầu tư mới:
Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới
ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại
Mua lại và sáp nhập qua biên giới:
Mua lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động
- Sáp nhập hỗn hợp: là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn
1.2 Phân loại theo quy định của luật Đầu tư Việt Nam:
Doanh nghiệp liên doanh:
Doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đến nay
Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Trang 7Loại hình doanh nghiệp này hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về: chính trị,kinh tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh, …
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh:
Đây là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia thành quả kinh doanh cho mỗi bên, từ đó tiến hành đầu tư, kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới
Hình thức này không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỉ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận từ đầu của hai bên
Đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO:
BOT dùng chỉ các mô hình sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng trực thuộc khu vực nhà nước, sau đó nhà đầu tư sẽ kinh doanh trong một thời gian nhất đinh để thu hồi vốn và đạt được một mức lợi nhuận hợp lý Vào cuối giai đoạn vận hành,
dự án sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho chính phủ nước sở tại
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư sẽ chuyển giao lại cho nước sở tại và nhận được thanh toán bằng tiền hoặc tài sản nào đó tương xứng với vốn bỏ ra ban đầu và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí
Đối với hợp đồng BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước sở tại và được chính phủ nước này dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một khoảng thời gian đủ để hoàn vốn và có lợi nhuận thích hợp
Ba hình thức hợp đồng này diễn ra ở lĩnh vực hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủ yếu cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, được hưởng các ưu đãi đầu tư hơn các doanh nghiệp FDI khác
Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và công ty con:
Mô hình công ty này là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi nhất ở hầu hết các nước
Mô hình này được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạt động quản lý của các công ty con Tuy nhiên, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập
Trang 83 Những nhân tố thúc đẩy FDI:
- Nhu cầu chu chuyển vốn:
Thông thường, chi phí sản xuất ở các nước thừa vốn là lớn hơn ở các nước thiếu vốn, dẫn đến sự chênh lệch năng suất Vì sự chênh lệch này mà hình thành dòng chảy của vốn đâu
tư từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt nhằm tối đa hóa lợi nhuận
- Lợi thế của các tập đoàn đa quốc gia :
Những lợi thế về vốn, công nghệ giúp họ tận dụng được nguồn nguyên liệu, giá nhân công
rẻ và thị trường tiêu thụ
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại :
Việc một nước bị thâm hụt thương mại quá lớn từ nước đối tác sẽ dễ dàng dẫn đến những xung đột thương mại song phương Vì thế, việc tăng cường đầu tư trực tiếp vào nước bị thâm hụt, sản xuất và bán các sản phẩm này ngay tại nước bị thâm hụt sẽ làm giảm tình trạng nhập khẩu từ nước thặng dư
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên :
Các tập đoàn đa quốc gia thường hướng đến việc tiếp cận các nguồn nguyên liệu thô giá
rẻ, giảm được phi phí sản xuất
4 Tác động của dòng vốn FDI đến nước tiếp nhận đầu tư:
Khi dòng vốn FDI di chuyển vào một quốc gia, nó đáp ứng nhu cầu vốn của quốc gia đó Đồng thời FDI vào sẽ mang đến những tác động tích cực đến cho nền kinh tế của nước tiếp nhận Tuy nhiên, đi kèm với mặt tích cực thì FDI vào cũng mang lại những hạn chế nhất định, và chính những hạn chế này làm giảm đi tính hiệu quả của các dòng vốn FDI
4.1 Tác động tích cực của FDI:
- Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho nhu cầu phát triển kinh tế
- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà đặc biệt là ở các nước đang phát triển
- Thúc đẩy thương mại, cải thiện cán cân thanh toán trong ngắn hạn
- Giải quyết bớt tình trạng căng thẳng của bài toán thất nghiệp, phát triển phân công lao động, tham gia vào sản xuất toàn cầu; từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế
và mở rộng thị trường tiêu thụ
- Góp phần tăng ngân sách Nhà nước
Trang 94.2 Tác động tiêu cực của FDI:
Bên cạnh việc khuyến khích cạnh tranh, FDI cũng có thể tạo nên những tác động ngược đối với các công ty trong nước
Vấn đề trong chuyển giao công nghệ, máy móc thiết bị lỗi thời, lạc hậu hoặc quá mới mẻ và tiên tiến
Một khía cạnh tiêu cực khác là việc tham gia của các tập đoàn đa quốc gia vào việc định giá
FDI cũng có tác động lên cán cân thanh toán theo chiều hướng xấu
Và một trong những tác động tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư là tình hình ô nhiễm môi trường và khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên
Những tác động kể trên của vốn FDI đến nước tiếp nhận đầu tư sẽ được phân tích và đi vào chi tiết trong phần của bài viết Vì các tác động này hầu hết là xuất hiện một cách rõ nét khi dòng vốn FDI đi vào Việt Nam
Trang 10Chương II: THỰC TRẠNG VIỆC THU HÚT HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ
DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM
I Tổng quan về FDI của Việt Nam:
Kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 có hiệu lực, Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan trong thu hút nguồn vốn FDI Luật này đã bổ sung và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới Tính đến thời điểm 24/8/2011, Việt Nam đã thu hút được 13,541 dự án với tổng số vốn đăng kí là khoảng 211.3 tỷ USD Tuy nhiên, luồng vốn FDI vào Việt Nam diễn biến bất thường, không ổn định, đặc biệt từ năm 1997 trở lại đây sau khi Việt Nam đạt đỉnh điểm thu hút FDI vào năm 1996 (10.2 tỷ USD)
FDI vào Việt Nam(1988-2010) đăng kí (cấp mới và tăng thêm)
Nguồn: FIA
Có thể thấy luồng FDI vào Việt Nam có nhưng diễn biến chính như sau:
Từ năm 1988 đến năm 1996: Trong giai đoạn này, vốn FDI đổ vào Việt Nam liên
tục tăng với tốc độ nhanh cả về số dự án, số vốn đăng ký mới và đạt mức đỉnh điểm gần 10,2 tỷ USD vào năm 1996 Kết quả này là do kỳ vọng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với một nền kinh tế mới mở cửa, có quy mô dân số khá lớn với trên 70 triệu người và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng, bên cạnh đó cũng không thể không nói đến sự kiện bình thường hoá quan hệ Việt-Mĩ vào năm 1994 Đặc điểm của giai đoạn này là vốn thực tế giải ngân tăng về tuyệt đối và tương đối, nhưng tỷ lệ vốn giải ngân thấp, một phần là do đây là do giai đoạn đầu, phần khác là do tốc độ đăng kí vốn cao hơn
Trang 11 Từ 1997 đến 1999: Đặc trưng bởi sự giảm sút mạnh của dòng vốn FDI đổ vào Việt
Nam, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và do môi trường đầu
tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực, nhất là Trung Quốc Một nguyên nhân nữa có thể là do Luật Đầu tư Nước ngoài sửa đổi năm 1996 đã giảm đi một số ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài Vốn FDI đăng ký mới giảm trung bình tới 24%/năm, trong khi vốn giải ngân giảm với tốc độ chậm hơn, trung bình khoảng 14%, góp phần thay đổi sự tương quan giữa vốn giải ngân và vốn đăng ký Từ năm 1999 trở đi vốn giải ngân luôn vượt vốn đăng kí mới
Từ năm 2000 đến năm 2006: dòng vốn FDI vào nước ta dần hồi phục lại tuy tốc độ
không cao lắm Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm nhưng tốc độ tăng luôn dưới mức 5% Sau đó FDI có xu hướng tăng nhanh
từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm
2006 tăng 75,4% Điều này bắt nguồn từ việc Chính phủ đã có một số chỉnh sửa trong luật đầu tư nước ngoài cũng như xúc tiến công tác đầu tư ở trong và ngoài nước đồng thời ban hành luật doanh nghiệp thống nhất vào năm 2005 Quyền kinh doanh được mở rộng như cho các doanh nghiệp được tự do lựa chon dự án, đối tác Việt Nam, phương thức hợp tác (được đầu tư vào các ngành độc quyền như cung cấp điện, bảo hiểm, ngân hàng, truyền thông)
Từ năm 2006 đến nay: FDI vào nước ta đã có xu hướng tăng mạnh mẽ đặc biệt năm
2008 đạt ngưỡng 71.7 tỉ USD cao nhất trong 20 năm thu hút FDI với nhiều dự án lớn trong lĩnh vực công nghiệp (thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao) Năm 2009 do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và các yếu tố khác, FDI đăng ký vào Việt Nam đã suy giảm mạnh so với năm 2008 và có xu hướng phục hồi chậm cho đến nay
Trong năm 2011, vốn đăng ký FDI (tính đến 15/12/2011) đạt 14,695.95 tỷ USD, trong đó vốn đăng ký mới là 11,558.55tỷ USD (chiếm 78,65% tổng vốn đăng ký), vốn đăng ký bổ sung là 3,137.40tỷ USD (chiếm 21,34% tổng vốn đăng ký)
Nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam trong năm 2011 là Hồng Kông chiếm 21,05% tiếp theo là Nhật Bản là 16,59%, Singapore là:15.03% tổng vốn đăng ký
Trang 12Bảng FDI năm 2011 theo ngành
TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới
(triệu USD)
Số lượt dự
án tăng vốn
Vốn đăng ký tăng thêm (triệu USD)
Vốn đăng
ký cấp mới
và tăng thêm (triệu USD)
Từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á các nước trong khu vực đã cải thiện mạnh
mẽ môi trường đầu tư để thu hút vốn FDI Cũng thời điểm này, chính sách về FDI của Việt Nam cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho rằng, mặc
dù thay đổi nhưng các quy định luật pháp của Việt Nam vẫn thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, hiệu lực thực thi pháp luật thấp Những yếu tố này làm tăng chi phí đầu tư và kinh doanh và làm cho môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn so với trước và
so với một số nước trong khu vực, nhất là so với Trung Quốc
II Một số đặc điểm của FDI tại Việt Nam:
1 Về qui mô vốn/dự án:
Nhìn chung các dự án FDI vào Việt Nam đều có qui mô vừa và nhỏ, trung bình cho cả giai đoạn 1988-2003 chỉ ở mức 8,3 triệu USD/dự án Đáng chú ý, sau khi đạt mức 23 triệu USD/dự án vào năm 1996 thì quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số
dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio )
Trang 13Quy mô đầu tư
Năm 2011, mẫu khảo sát bao gồm 1.970 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
đến từ 45 quốc gia, tương đương gần 16% doanh nghiệp FDI theo Tổng cục Thống kê75% doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đến từ các quốc gia láng giềng
Châu Á (đặc biệt là Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản)
Doanh nghiệp FDI trung bình có quy mô tương đối nhỏ:
Về quy mô lao động :
75% có trên 300 lao động
11% có trên 500 lao động
Về quy mô đầu tư:
63% có số vốn đăng ký dưới 2,5 triệu USD
13% có số vốn đăng ký trên 25 triệu USD
2 Về hình thức sở hữu:
Do nhiều lý do trong đó có việc hạn chế thành lập doanh nghiệp FDI với 100% vốn đầu tư nước ngoài, các dự án FDI đăng ký ở Việt Nam cho đến giữa thập kỷ 90 chủ yếu dưới hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và nhà đầu tư nước ngoài Tính đến cuối năm 1998, số dự án liên doanh chiếm tới 59% tổng số dự án và 69% tổng số vốn đăng ký Từ năm 1997, hạn chế này đã được xóa bỏ và tác động mạnh tới chuyển dịch
cơ cấu số dự án FDI theo hình thức sở hữu Hiện tại, tính đến cuối năm 2011, hình thức liên doanh giảm xuống còn chiếm 21,92% tổng vốn đăng ký, trong khi hình thức dự án có 100% vốn nước ngoài chiếm 59,41,88%, còn lại là dự án BOT và hợp đồng hợp tác kinh
Trang 14doanh Trong các dự án liên doanh, số dự án liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng tăng lên đáng kể.
3 Về cơ cấu đầu tư theo ngành:
Vào những năm 1990 FDI tập trung vào các ngành khai khoáng và ngành thay thế nhập khẩu song từ những năm 2000 có xu hướng tăng mạnh ở các ngành chế biến và các ngành định hướng xuất khẩu Từ năm 2006 nhà đầu tư nước ngoài đầu tư mạnh vào ngành dịch
vụ và một số ngành công nghiệp đã có tăng trưởng cao Trong dịch vụ, FDI tập trung vào nhóm ngành có mức độ mở cửa cao nhất và không yêu cầu thời gian kéo dài như sản xuất
và phân phối điện, khí đốt và nước, khách sạn và nhà hàng, kinh doanh tài sản và dịch vụ
tư vấn, Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI chưa quan tâm đầu tư đến các ngành công nghệ cao, ví dụ như chỉ có 5% doanh nghiệp tham gia vào sản xuất hay dịch vụ CNTT (sản xuất phần mềm, phần cứng và các dịch vụ liên quan), 5,3% tham gia vào hoạt động khoa học
kỹ thuật Trong khi đó ở lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp, tổng số dự án và tổng số vốn đăng kí chỉ là 4% và 1,56%
4 Về địa bàn đầu tư:
Cho đến nay FDI đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua cơ cấu dự án FDI theo vùng thay đổi rất chậm
Phần lớn các dự án FDI tập trung ở các đô thị lớn và các khu công nghiệp tập trung, nơi có điều kiện hạ tầng cơ sở thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và có trình độ kỹ năng Riêng 5
Trang 15tỉnh/thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Dương và Bình Dương, Hải Phòng chiếm tới 57,76% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước, 66,31% tổng số dự án Số tỉnh, thành phố còn lại chỉ thu hút được 43,24% tổng vốn FDI đăng ký Từ vài năm lại đây, nhiều tỉnh đã rất tích cực cải thiện môi trường đầu tư và một số khá thành công như một số tỉnh lân cận của
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo vùng ( tính các dự án còn hiệu lực đến hết ngày 15-12-2011)
Nguồn: FIA
5 Về đối tác đầu tư:
Đến nay đã có 92 nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hồng Kông là những nhà đầu tư lớn nhất, chiếm 57,93% tổng số dự án và 45% tổng vốn đăng ký Hầu như chưa có thay đổi đáng kể về cơ cấu FDI theo đối tác và các nước châu Á vẫn là nhà đầu tư lớn nhất cả về tỷ trọng số dự án và vốn đăng ký trong khi các đối tác từ châu Âu chỉ giữ vị trí khiêm tốn với tỷ lệ tương ứng 16%
và 24% Đầu tư từ Hoa kỳ đã tăng đáng kể trong vài năm gần đây sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (2001), hiện chiếm khoảng 4,47% tổng số dự án và 6,52% tổng vốn đăng ký
Trang 16 Thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và tăng thu nhập trực tiếp và gián tiếp cho người lao động, các doanh nghiệp FDI đã góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân Với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn 2000-2010 bình quân khoảng 19,2%, các doanh nghiệp FDI đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1,6%/năm
3
Trang 17 FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước,nhằm đáp nhu cầu đầu tư cho phát triển Đóng góp của FDI trong đầu tư xã hội biến động lớn, một phần phản ánh diễn biến thất thường của nguồn vốn này như đã phân tích ở trên, một phần thể hiện những thay đổi về đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước.
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp đáng kể vào Tổng sản phẩm
quốc nội GDP
• FDI được thừa nhận rộng rãi như một yếu tố thúc đẩy tăng trưởng
Nguồn: EIU (2010)
Trang 18 Các doanh nghiệp FDI là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật trình độ cao (các nhà quản lý, chuyên gia và lao động lành nghề) phù hợp với kỹ thuật và công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế Thông qua hoạt động của các các doanh nghiệp FDI, đã có trên 300.000 công nhân, 25.000 kỹ thuật viên và nhiều nhà quản lý đã được đào tạo tay nghề kỹ thuật, năng lực quản lý, đặc biệt là khả năng vận hành máy móc, thiết bị và công nghệ mới Một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp FDI đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại
Các doanh nghiệp FDI cũng đã đầu tư vào các lĩnh vực xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân
Cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào ngân sách ngày càng tăng Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối các doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, gấp 2.4 lần giai đoạn 2006-2010 và tăng bình quân 24%/năm Tính riêng 3 năm 2006, 2007 và
2008, các doanh nghiệp FDI đã nộp ngân sách đạt gần 5 tỷ USD, gấp hơn 3 lần thời kỳ 1996-2000 và bằng 1,4 lần thời kỳ 2001-2005 Các doanh nghiệp FDI đã có tác động nhất định đến các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cân đối xuất nhập nhẩu, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam
và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua nguyên, vật liệu tại Việt Nam Nguồn thu NSNN từ các doanh nghiệp FDI, cùng với đóng góp của khu vực này vào bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đã tạo điều kiện để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo
Trang 19Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
Nguồn: Tổng cục thống kê
2 Tác động tiêu cực:
Tuy đạt được một số thành tựu đáng kể trong việc thu hút FDI nhưng hiện nay vẫn còn
khá nhiều bất cập khi đề cập đến luồng vốn FDI vào Việt Nam
Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ: Đa số các dự án đầu tư vào Việt
Nam thường tập trung vào những nơi có điều kiện cơ sở hạ tầng tốt Điển hình như đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là 2 nơi được các nhà đầu tư nước ngoài ưu ái hơn cả, chỉ tính riêng 2 vùng này đã chiếm tới 70,89% tổng số FDI đăng kí với 85,43% tổng số dự
án trong khi Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chỉ thu hút được 5,84% dự án , chiếm 20,89% tổng số FDI đăng kí Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách giữa các vùng miền về trình độ phát triển kinh tế-xã hội
Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO NGÀNH
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 15/12/2011)
TT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đầu tư đăng ký (USD) Vốn điều lệ (USD)
1 CN chế biến,chế tạo 7,987 93,053,036,629.00 34,572,884,213
2 KD bất động sản 373 47,002,093,570.00 11,471,111,168
Trang 2011 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 669 2,066,900,735.00 1,049,754,548
12 Tài chính,n.hàng,bảo hiểm 75 1,321,550,673.00 1,171,785,673