TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC Tên đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BA GIỐNG DƯA HẤU NHẬ
Trang 1KHÔNG GHÉP, VỤ HÈ THU 2011
Luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p Ngành: NÔNG HỌC
Cần Thơ – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BA GIỐNG DƯA HẤU NHẬP NỘI GHÉP TRÊN GỐC BẦU VÀ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
-
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học, với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BA GIỐNG DƯA HẤU NHẬP NỘI GHÉP TRÊN GỐC BẦU VÀ
KHÔNG GHÉP, VỤ HÈ THU 2011
Do sinh viên Mạch Thanh Sang thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày 06 tháng 12 năm 2012 Cán bộ hướng dẫn
PGS.TS Trần Thị Ba
Trang 4iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Mạch Thanh Sang
ii
Trang 5iv
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA BA GIỐNG DƯA HẤU NHẬP NỘI GHÉP TRÊN GỐC BẦU VÀ KHÔNG GHÉP, VỤ HÈ THU 2011 Do sinh viên Mạch Thanh Sang thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày 06 tháng 12 năm 2012 Thành viên hội đồng
iii
Trang 6v
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I Lý lịch sơ lược
Nơi sinh: xã Tân Lược huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Con ông: Mạch Văn Sóc
Và bà: Văn Thị Huệ
Chỗ ở hiện nay: ấp Hưng Lợi, xã Tân Hưng, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
II Quá trình học tập
Trường: Trung học Cơ sở Tân Hưng
Địa chỉ: xã Tân Hưng, huyê ̣n Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
3 Trung học Phổ thông
Thời gian: 2006-2009
Trường: Trung học Phổ thông Tân Lược
Địa chỉ: xã Tân Lược, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Mạch Thanh Sang
iv
Trang 7LỜI CẢM ƠN Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS.TS Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý
và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt
luận văn này
- ThS Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn
chỉnh luận văn
- Cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thủy đã quan tâm và dìu dắt lớp tôi hoàn
thành tốt khóa học
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học
Xin chân thành cảm ơn!
- Chị Trần Thị Hồng Thơi lớ p C ao ho ̣c Trồng Tro ̣t khóa 17 đã giúp tôi hoàn
thành số liệu và chỉnh sửa luận văn
- Chị Thanh, chị Trang, chị Kiều, chị Như, anh Hạc, anh Hoàng, anh Duy,
anh Lộc, anh Mến cùng các bạn Trang, Phú, Như, Trâm, Thảo và các bạn lớp Nông
Học 35 đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông Học khóa 35 những lời chúc sức khỏe và thành đạt trong
tương lai
Mạch Thanh Sang
v
Trang 8MẠCH THANH SANG, 2012 “Khảo sát sự sinh trưởng, năng suất và chất
lượng của ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên gốc bầu và không ghép, vụ Hè Thu 2011” Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành Nông học, Khoa Nông nghiệp và
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ sống cây con sau ghép trước khi ra đồng tương đối cao ở cả ba giống từ 80% Giống dưa hấu LF 93 cho năng suất thương phẩm (27,47 tấn/ha) và độ brix (12,8%) ngọt nhất, kế đến là giống LF 95 ghép (20,95 tấn/ha; 11,0%) và giống China baby (19,65 tấn/ha; 11,7%); giống LF 93 cho
sự sinh trưởng (dài thân chính, số lá) tốt hơn giống LF 95 và giống China baby (60NSKT) Dưa hấu ghép trên gốc bầu cho năng suất thương phẩm (23,51 tấn/ha) cao hơn dưa hấu không ghép (21,68 tấn/ha), độ brix của dưa hấu ghép trên gốc bầu
và dưa hấu không ghép tương đương nhau (11,7%; 12,0%; tương ứng), và thời gian tồn trữ trái (17 ngày) cũng lâu hơn 6 ngày so với dưa hấu không ghép; dưa hấu ghép trên gốc bầu cho sự sinh trưởng (dài thân chính, số lá) tốt hơn dưa hấu không ghép
vi
Trang 91.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dƣỡng và tình hình sản xuất dƣa hấu 2
1.1.2 Tình hình sản xuất dƣa hấu trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.3.2 Thuận lợi, khó khăn của việc sử dụng giống thụ phấn tự do 9
vii
Trang 101.4.2 Một vài kết quả nghiên cứu về gốc ghép 11
3.4.7 Tỷ lệ năng suất thương phẩm trên năng suất tổng 36 3.5 Một số chỉ tiêu về phẩm chất trái dưa hấu 36
PHỤ CHƯƠNG
viii
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho ba giống dưa hấu nhập nội
ghép trên gốc bầu và không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông
nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
19
3.1 Tỷ lệ sống (%) qua các ngày sau khi ghép của ba giống dưa hấu
nhập nội ghép trên gốc bầu, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp
và SHƯD, trường ĐHCT (Tháng 6-8/2011)
24
3.2 Chiều dài thân chính (cm) của ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên
gốc bầu và không ghép qua các thời điểm khảo sát, tại trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
25
3.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài dây (cm/ngày) của ba giống dưa hấu
nhập nội ghép trên cùng gốc bầu và không ghép qua các thời điểm
khảo sát, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường
ĐHCT (6-8/2011)
26
3.4 Tốc độ tăng trưởng số lá (lá/ngày) của ba giống dưa hấu nhập nội,
dưa hấu ghép trên gốc bầu và không ghép qua các thời điểm khảo
sát, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường
ĐHCT (6-8/2011)
28
3.5 Đường kính ngọn ghép (mm) của ba giống dưa hấu nhập nội ghép
trên gốc bầu và không ghép ở các thời điểm khảo sát, tại trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
30
3.6 Tỷ lệ trọng lượng trái trên trọng lượng toàn cây (%) của ba giống
dưa hấu nhập nội ghép trên gốc bầu và không ghép, tại trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
34
3.7 Độ brix (%) của ba giống dưa hấu nhập nội, dưa hấu ghép trên gốc
bầu và không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và
SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
37
3.8 Độ dày vỏ trái (mm) của ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên gốc
bầu và không ghép, khảo sát tại trại Thực nghiệm khoa Nông
nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
38
ix
Trang 123.9 Thời gian tồn trữ trái (ngày) của ba giống dưa hấu nhập nội ghép
trên gốc bầu và không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp
và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
39
x
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm (6-8/2011), tại TP
Cần Thơ (Đài Khí tượng Thủy văn TP Cần Thơ)
13
2.2 Hình dạng và màu sắc trái của ba giống dưa hấu nhập nội, khảo
sát tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường
Đại học Cần Thơ (6-8/2011)
14
2.3 Gốc ghép bầu sao 12 ngày tuổi (a), dụng cụ ghép dưa hấu (b),
tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường Đại
học Cần Thơ (6-8/2011)
15
2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên
gốc bầu và không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp
và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
16
2.5 Phương pháp ghép và chăm sóc dưa hấu sau ghép, tại Trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
18
3.1 Dưa hấu sau khi mưa (17 ngày sau khi trồng) (a), cách phòng trị
bù lạch (b), dưa hấu 45 ngày sau khi trồng (c), tại trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường Đại học Cần Thơ
(6-8/2011)
23
3.2 Số lá trên thân chính của ba giống dưa hấu nhập nội (a), ghép
trên gốc bầu và không ghép (b), qua các thời điểm khảo sát, tại
trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT
(6-8/2011)
27
3.3 Đường kính gốc (cm) của ba giống dưa hấu nhập nội (a), ghép
trên gốc bầu và không ghép (b), tại trại Thực nghiệm khoa
Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
29
3.4 Đường kính trái và chiều cao trái của ba giống dưa hấu nhập nội
(a), ghép trên gốc bầu và không ghép (b), tại trại Thực nghiệm
khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
31
3.5 Trọng lượng trung bình trái và trọng lượng toàn cây (rễ, thân, lá
và trái) của ba giống dưa hấu nhập nội (a), ghép trên gốc bầu và
32
xi
Trang 14không ghép (b), tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và
SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
3.6 Năng suất tổng và năng suất thương phẩm của ba giống dưa hấu
nhập nội (a), ghép trên gốc bầu và không ghép (b), tại trại Thực
nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
35
xii
Trang 15MỞ ĐẦU
Dưa hấu có tên khoa học Citrullus lanatus (Thberg.) Mansf, thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một loại trái cây có vỏ cứng, chứa nhiều nước Là một loại trái cây phổ biến ở các nước nhiệt đới Xuất hiện ở nước ta từ lâu đời Do thích hợp với thời tiết nắng nóng và thổ nhưỡng ở nước ta, cây dưa hấu đã thành cây trồng chính của nhiều vùng, đem lại thu nhập khá cho nông dân; nhưng việc trồng dưa hấu trong mùa mưa đạt năng xuất cao cũng gặp nhiều khó khăn cho người sản xuất
Giống là một trong những yếu tố hàng đầu trong việc năng cao năng suất cây trồng Các nhà khoa học đã ước tính khoảng 30 – 50% mức tăng năng suất hạt cây lương thực trên thế giới là nhờ vào việc đưa vào sản xuất những giống mới (Trần Thượng Tuấn, 1997) Hiện nay trên thị trường có nhiều giống dưa hấu, nhưng không phải tất cả các giống dưa hấu trên thị trường đều đạt chuẩn như khuyến cáo Việc xác định được giống thích nghi với điều kiện canh tác và cho năng suất, chất lượng cao là một trăn trở lớn đối với nhà nông Ở Đài Loan, Công ty giống cây trồng Know-you seed nổi tiếng trên thế giới về giống dưa hấu chất lượng cao, trong
đó ba giống dưa hấu được trồng phổ biến là giống China baby, LF 95 và LF 93; đều
là giống thụ phấn tự do
Trồng dưa hấu cho lợi nhuận cao từ 2 -3 lần so với trồng lúa Nhưng việc canh tác dưa hấu còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là các bệnh từ đất nên cho năng suất thấp Ghép dưa hấu trên gốc bầu là một biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến, ở các nước tiên tiến trên thế giới nhằm giúp cây ghép sinh trưởng mạnh sau khi trồng ra đồng cho năng suất cao Nhưng việc chọn một giống dưa hấu thích hợp với gốc ghép bầu cho năng suất cao, đảm bảo chất lượng và có khả năng hạn chế một số bệnh từ đất khi trồng trong mùa mưa là một vấn đề luôn được các nhà sản
xuất quan tâm, chính vì vậy đề tài: “Khảo sát sự sinh trưởng, năng suất và chất
lượng của ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên gốc bầu và không ghép, vụ Hè Thu 2011” được thực hiện nhằm xác định giống dưa hấu có năng suất cao, chất
lượng ngon trong mùa mưa và nông dân có thể tự giữ giống giảm chi phí sản xuất; đồng thời đảm bảo tăng năng suất, ổn định chất lượng trái dưa hấu khi ghép lên gốc bầu phục vụ cho sản xuất thâm canh
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT DƯA HẤU 1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
1.1.1.1 Nguồn gốc
Dưa hấu có tên tiếng anh là Watermelon, tên khoa học Citrullus lanatus
(Thumb.) Mansf (Tạ Thu Cúc, 2005), thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một loại trái cây có vỏ cứng, chứa nhiều nước Dưa hấu có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới khô, nóng Trung Phi, một phần phía Bắc sa mạc Sahara (Trần Khắc Thi, 2000) Theo Tạ Thu Cúc (2005), vào năm 1857 nhà truyền giáo Livingtstone đã phát hiện thấy cả hai loài dưa Melon đắng và ngọt hoang dại sinh trưởng ở Châu Phi Dưa hấu được đưa đến Trung Quốc và miền Đông nước Nga vào thế kỷ thứ X và đến Anh vào năm 1600 Những đoàn khách lữ hành đã mang dưa hấu đến các vùng ấm áp của Châu Âu Các thương gia ở châu Phi đã mang hạt dưa hấu đến bán ở nhiều vùng của Châu Mỹ, đến năm 1640 dưa hấu được trồng rộng rãi ở Mỹ
Ở nước ta, dưa hấu được biết đến qua sự tích dưa hấu An Tiêm từ thời vua Hùng Vương thứ 18 (Tạ Thu Cúc, 2005) Cho đến nay dưa hấu được trồng rộng rãi
và được xem là loại trái cây không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
1.1.1.2 Giá trị dinh dưỡng
Dưa hấu có giá rị dinh dưỡng khá cao, rất giàu carbohydrate, muối khoáng, vitamine A, C,… (Trần Thị Ba, 2000) Trong 100 g phần ăn được của trái dưa hấu chứa 90% nước; 9% carbohydrate; 0,75% protein; 0,15% lipid; 300 IU vitamine A;
6 mg vitamin C; 8 mg Ca; 10 mg Mg; 14 mg P và 0,2 g Fe, giá trị năng lượng tương đương 150 kJ/100 g (Phạm Hồng Cúc., 2007) Theo Mai Thị Phương Anh và ctv., (1996), thịt trái dưa hấu chứa 0,225% kali, 0,016% natri và 0,022% canxi Khi phân tích 1 kg chất khô quả dưa hấu có 12,1 g N, 2,9 g P và 17,4 g K (Trần Khắc Thi và ctv., 1999)
Trang 17Theo Phan Hồ Hải Uyên (2005), dưa hấu có thể trị một số bệnh như viêm thận và cao huyết áp, tiêu chảy, đặc biệt loại quả này có chứa chất Lycopene giúp ngăn ngừa bệnh ung thư Theo Võ Văn Chi (2002), vỏ trái dưa hấu có tác dụng trị bệnh phù thủng, hạt trái trị đau lưng
1.1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê Faostat (2010), với diện tích dưa hấu trên thế giới năm
2008 đạt 3,30 triệu ha và năng suất 28,66 tấn/ha đến năm 2010 thì tăng diện tích 3,47 triệu ha và năng suất giảm 28,60 tấn/ha Còn ở Việt Nam diện tích dưa hấu năm 2008 là 0,03 triệu ha và năng suất chỉ đạt 14,75 tấn/ha, đến năm 2010 thì diện tích giảm 0,028 triệu ha và năng suất tăng 15,14 tấn/ha
1.2 ĐẶC TÍNH CHUNG CỦA CÂY DƯA HẤU 1.2.1 Đặc tính thực vật
1.2.1.1 Rễ
Dưa hấu có bộ rễ phát triển mạnh, rễ chính có khả năng ăn sâu 0,6-1 m nên
có khả năng chịu hạn tốt Rễ phụ ăn lan trên mặt đất, phân bố ở chiều sâu cách mặt đất, ở giai đoạn phát triển tối đa rễ phụ lan rộng khắp mặt liếp, bán kính trug bình 50-60 cm (Trần Thị Ba và ctv., 1999; Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006) Rễ dưa không có khả năng phục hồi khi bị đứt, do đó, khi trồng hay chăm sóc tránh làm đứt rễ (Phạm Hồng Cúc, 2000) Nhưng, theo Tạ Thu Cúc (2005) khi
rễ bị đứt (do nhổ lên trồng) vẫn có khả năng thu được năng suất cao hơn
1.2.1.2 Thân
Dưa hấu thân thảo hằng niên, dài từ 1,5-5m, thân mềm có nhiều góc cạnh và manh nhiều lông trắng, thân có nhiều mắt, mỗi mắt mang một lá, một chồi nách và một vòi bám, chồi nách có khả năng phát triển thành dây nhánh như thân chính Thường sự phát triển của chồi nách chịu sự ức chế của ngọn thân chính nên chồi gần gốc phát triển mạnh hơn chồi gần ngọn (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đặng Nghĩa, 2006; Phạm Hồng Cúc, 2007) Ở thời kỳ đầu thân chính sinh trưởng chủ yếu, khi thân chính dài trên 1 m, lúc đó cành cấp 1 mới sinh trưởng (Tạ Thu Cúc,
2005)
Trang 181.2.1.3 Lá
Có hai dạng lá là lá mầm và lá thật Lá mầm là lá ra đầu tiên, hình trứng có ý nghĩa quan trong quang hợp tạo vật chất nuôi cây và lá thật đầu tiên Trong điều kiện tăng trưởng tốt lá mầm vẫn còn giữ trên cây cho đến khi trái chín (Trần Thị Ba
và ctv., 1999) Lá thật là lá đơn, mọc xen, hình chân vịt, xẻ thùy sâu Số lá trên thân chính do đặc tính di truyền giống quyết định (Đồng Thanh Liêm, 2001; Phạm Trung Hiếu, 2008 và Nguyễ Sĩ Lâm, 2004)
1.2.1.4 Hoa
Hoa dưa hấu là hoa đơn tính cùng cây Hoa có kích thước nhỏ, mọc đơn ở nách lá với 5 lá đài xanh và 5 cánh dính màu vàng, hoa thụ phấn chéo nhờ côn trùng (Phạm Hồng Cúc, 2000), nhưng vẫn có một số lớn hoa tụ thụ phấn xảy ra một cách bình thường (Tạ Thu Cúc, 2005) Số lượng hoa đực và cái không cân đối, thường hoa đực xuất hiện sớm, sau 3-5 hoa đực sẽ có 1 hoa cái mọc xen kẻ trên thân (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đặng Nghĩa, 2006)
1.2.1.5 Trái
Trái dưa hấu có nhiều hình dạng, kích thước và màu sắc khác nhau tùy theo giống (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996) Lúc còn nhỏ trái có nhiều lông tơ và mất dần đến khi trái lớn, trái to và có nhiều nước, nặng 1,5-30 kg Vỏ trái cứng, láng có nhiều gân và hoa văn, màu sắc thay đổi từ đen, xanh đậm, xanh nhạt hay có sọc, thịt trái có màu đỏ hay vàng, khi trái chín gân nổi rõ trên mặt vỏ (Tạ Thu Cúc, 2005; Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2006)
1.2.1.6 Hạt
Hình dáng, màu sắc, kích thước hạt dưa thay đổi tùy theo giống, trọng lượng hạt trung bình từ 25-30 hạt/gam, hạt có chứa chất béo từ 20-40%, nên dùng làm nguyên liệu chế biến có giá trị dinh dưỡng cao, hạt rất dễ mất sức nảy mầm (Trần Thị Ba và ctv., 1999), tùy vào giống dưa khác nhau mà có số lượng hạt nhiều ít khác nhau, mỗi trái chứa từ 200-900 hạt (Phạm Hồng Cúc, 2007)
Trang 191.2.2 Các thời kỳ sinh trưởng
1.2.2.1 Thời kỳ tăng trưởng (khoảng 21 ngày sau khi gieo)
Trong thời kỳ này dưa tăng trưởng chậm, ra lóng ngắn, thân mọc thẳng, chưa phân cành, tốc độ ra lá chậm, tốc độ phát triển rễ cũng chậm nhưng mạnh hơn thân
lá (Phạm Hồng Cúc, 2000) Sau khoảng 2 tuần lễ, cây sinh trưởng mạnh, ra lá nhiều, hình thành vòi bám, thân ngã bò ra, chồi nách bắt đầu phát triển (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2006)
1.2.2.2 Thời kỳ ra hoa kết trái
Khi dưa có được 15-16 lá (30 ngày sau khi trồng) hoa đực và hoa cái tập trung trên dây chính cũng như dây nhánh (chèo), ở giai đoạn này hoa thường nhỏ, hoa đực nhỏ ít phấn, hoa cái có bầu noãn nhỏ nên cần loại bỏ đợt hoa này Khi cây đạt 16-18 lá cây cho hoa cái to, bầu noãn (nụ) tròn, cuốn dài, thụ tinh dễ dàng và nụ
có thể phát triển thành trái lớn (Phạm Hồng Cúc, 2000)
1.2.2.3 Thời kỳ phát triển trái
Hoa sau khi thụ phấn trái phát triển rất nhanh, nhất là 20 ngày đầu và chậm dần đến khi trái bắt đầu chín Thời kỳ quyết định đến năng suất, lúc này dưa cần nhiều nước và chất dinh dưỡng tập trung nuôi trái (Phạm Hồng Cúc, 2000) Tùy vào
vị trí mang trái trên dây khác nhau mà thời gian chín khác nhau (Trần Khắc Thi, 1996)
1.2.3 Điều kiện ngoại cảnh
1.2.3.1 Nhiệt độ
Cây dưa hấu chịu được nhiệt độ cao do đặc điểm sinh lý của cây (nhiệt độ kết dính protein trong lá 64-72oC) và cấu tạo bộ lá (xẻ thùy lớn để khuếch tán nhiệt
và lớp lông sáp che phủ mô, có tác dụng hạ nhiệt độ thân cây), Trần Khắc Thi,
2000 Hạt dưa nảy mầm tốt ở 35-40oC, do đó cần ủ hạt trước khi deo Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển từ 25-30oC Nhiệt độ thích hợp cho hoa nở và thụ phấn là 25oC, nhiệt độ thích hợp cho trái lớn và chín là 30oC (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Theo Trần Khắc Thi (1996), nhiệt độ dưới 20oC hoặc trên 35oC cây sinh
Trang 20trưởng bất bình thường, ảnh hưởng xấu đến sự ra hoa đậu trái và năng suất của dưa
hấu
1.2.3.2 Ẩm độ
Dưa hấu là cây chịu hạn khá, nhưng hệ số thoát nước lớn nên nhu cầu giữ ẩm
đất cho cây thường xuyên là cần thiết nhất là giai đoạn đầu (Mai Thị Phương Anh,
Trần Văn Lài và Trần Khắc Thi, 1996) Ẩm độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát
triển là 70–80%, nếu ẩm độ cao tạo điều kiện cho bệnh hại phát triển (Tạ Thu Cúc,
2005)
1.2.3.3 Ánh sáng
Dưa hấu là cây ưa sáng, cây cần nhiều ánh sáng để sinh trưởng và kết trái
Thiếu ánh sáng, dưa bò dài, dễ bị nhiễm bệnh và khó đậu trái, số giờ chiếu sáng tối
thiểu cần thiết cho dưa hấu là 600 giờ (Phạm Hồng Cúc, 2007) Số giờ chiếu sáng
trong ngày từ 8-10 giờ sẽ làm cây ra hoa sớm và số lượng hoa cái cũng nhiều hơn
(Trần Thị Ba và ctv., 1999)
1.2.3.4 Đất
Dưa hấu có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát đến đất sét
nặng, thích hợp nhất là đất có sa cấu nhẹ, tầng canh tác dày (Phạm Hồng Cúc,
2002) Đất không chua (pH từ 6-7) là thích hợp cho dưa hấu sinh trưởng (Nguyễn
Mạnh Chinh và ctv., 2006)
1.2.3.5 Nước
Dưa hấu cần một lượng nước lớn trong suốt quá trình hình thành trái và phát
triển trái (Miller, 2007).Dưa hấu chịu úng kém nhất ở giai đoạn cây con, nhưng vào
thời kỳ phát triển trái nên cần giữ ẩm đất thường xuyên, thiếu nước giai đoạn này
trái nhỏ nhưng nếu mưa đột ngột thì dễ làm cho trái bị nứt, lúc trái gần thu hoạch
cần giảm bớt tưới để trái ngọt hơn (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
Chất dinh dưỡng: Việc bón phân rất quan trọng vì nó quyết định năng suất và
chất lượng trái dưa hấu, phần lớn chất dinh dưỡng được dưa hấu nhiều khi cây ra
hoa, kết trái, do đó bón thúc là biện pháp kỹ thuật cần thiết (Phạm Hồng Cúc, 2000)
Trang 21Ngoài ba dưỡng chất chính là đạm, lân và kali, cây dưa rất cần calcium, magie và một số vi lượng khác để cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao
1.2.4 Sâu bệnh hại chính
1.2.4.1 Sâu hại chính
* Bù lạch (bọ trĩ: Thrip palmi Karny)
Bù lạch có cơ thể nhỏ, dài khoảng 1 mm, hai mắt đen, chân nâu đen, cánh vàng lợt có lông đen, thân mà vàng và râu có bốn đốt Ấu trùng và thành trùng sống tập trung ở mặt dưới lá non, hút nhựa, làm đọt và lá non quăn queo, biến dạng và bị cong xuống phía dưới (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2010) Thiệt hại này cùng với triệu chứng làm cho đọt non bị sượng, không phát triển dài ra được mà chùn lại và cất cao, thường được gọi là hiện tượng “đầu lân” hay “bắn máy bay” (Trần Thị Ba, 2010) Ngoài gây hại trực tiếp, bù lạch còn là môi giới truyền bệnh virus (bệnh khảm), làm vàng và xoăn lá dưa hấu Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, dùng bẫy màu vàng, thường xuyên kiểm tra ruộng, tưới nước đều đặn; phun luân phiên thuốc tránh hiện tượng quen thuốc như như Confidor 100SL, Regent 800WG, Vertimec 1,8EC,…(Nguyễn Văn Huỳnh và ctv., 2010)
* Nhện đỏ (Tetranychus sp.)
Thành trùng nhện hình bầu dục, thân rất nhỏ khoảng 0,3-0,4 mm Toàn thân phủ lông lưa thưa và thường có màu xanh, trắng hay đỏ với đốm đen ở 2 bên thân mình, nhện có 8 chân (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2004) Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút mô của là cây làm cây bị mất màu xanh và có màu vàng, sau cùng lá sẽ bị khô đi, làm giảm phẩm chất và năng suất trái., Phòng trừ bằng cách sử dụng thiên
địch bọ rùa Stethorus sp, bọ xít nhỏ Orius tristicolor và Chysoperla carnea, dùng
luân phiên các loại thuốc trừ nhện như Danitol 10EC, Ortus 5SC,… (Nguyễn Văn Huỳnh và ctv., 2010)
* Sâu ăn tạp (Spodoptera litura)
Sâu ăn tạp đẻ thành từng ổ hình tròn ở mặt dưới phiến lá, có lông vàng nâu che phủ Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên tán lá dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu ăn lũng
Trang 22lá có hình dạng bất định hoặc cắn đứt ngang thân cây con Sau đó sâu thường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nức hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2010) Phòng trừ bằng cách làm đất kỹ trước khi trồng, sử dụng các loại thuốc Cymbus 5EC, Karate 2.5EC,…(Trần Thị Ba
và ctv., 1999)
1.2.4.2 Bệnh hại chính
* Bệnh khảm (Cucumber mosaic)
Do virus Cumcuber mosaic (C.M.V) gây ra,thường làm lá đọt nhỏ hơn và bị
xoăn, có màu xanh đậm xen lẫn màu xanh nhạt hay khảm xanh vàng, còi cọc, chòi non chùn lại, dây kém phát triển,lóng dây ngắn hơn bình thường, cây không cho trái hoặc trái bị nhỏ (Nguyễn Thị Nghiêm, 1996) Cho đến nay chưa có loại hoá chất nào có thể phòng trị được virus, phòng trừ bệnh gián tiếp vẫn là biện pháp canh tác
và loại bỏ ngay các cây bệnh để tránh lây lan, phun thuốc sát trùng để ngăn ngừa rầy mềm truyền bệnh (Trần văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
* Bệnh thối rễ, héo dây
Bệnh héo dây do nấm Fusarium oxysporum Schlechtendahl gây nên Bệnh
thường xảy ra ở giai đoạn cây có trái non trở về sau (Trần Văn Hai và ctv., 2005) Cây dưa bị bệnh héo chết, thường ngọn có hiện tượng rũ trước vào buổi trưa và tươi tốt lại vào buổi chiều hay sáng sớm Triệu chứng héo từng phần sẽ xảy ra trong vài ngày; đồng thời với hiện tượng kể trên, sau đó, triệu chứng héo được lan ra cả cây, cây chết (Phạm Thị Nhất, 2000) Ở vị trí gốc thân,, vết bệnh màu nâu hoặc xám nhạt bao quanh gốc, gây hiện tượng thối khô tóp lại, chẻ dọc phần mô bị bệnh thấy bó mạch màu nâu xám, thường trên vết bệnh có bao phủ lớp nấm trắng thưa Cây bị
nhiễm nấm Fusarium oxysporum bộ rễ phát triển kém, rễ bị thối dần (Lê Minh
Tường, 2010) Phòng trừ bằng cách nhổ bỏ dây bệnh Sau vụ mùa, tiêu hủy hết xác
bả thục vật, tránh để ngập úng làm tổn thương rễ Ghép dưa hấu trên gốc bầu hoặc
bí để hạn chế được thiệt hại do bệnh gây ra, có thể phun hoặc tưới gốc bằng Copper
B, Topan 70WP,…(Trần Thị Ba, 2010)
Trang 23* Bệnh bả trầu, nứt thân chảy nhựa
Do nấm Mycosplaerella elonis gây ra, bệnh thường gây ra hiện tượng “chạy
dây”, nông dân thường gọi là bệnh “bã trầu” Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu nâu như những đốm dầu, bệnh thường xuất hiện từ bìa lá lan vào, sau đó, các đốm dầu sẽ bị cháy khô Thân cây bị bệnh sẽ tạo ra hiện tượng nhựa ứa ra thành từng giọt màu nâu đỏ, sau cùng đổi thành màu nâu đen và khô cứng lại, vỏ thân bị nứt ra, dây và nhánh bị héo (Lê Minh Tường, 2010) Phòng trị bằng cách tiêu hủy các cây bệnh sau mỗi mùa vụ, phun Metaxyl 25WP, Aliette 80WP, Zinancol,… và kết hợp với chất bám dính khi phun thuốc bệnh để tăng hiệu quả sử dụng thuốc
trong mùa mưa (Trần Văn Hai, 2002)
1.3 GIỐNG DƯA HẤU TRONG SẢN XUẤT 1.3.1 Vai trò của giống
Giống là yếu tố quan trọng trong sản xuất, việc chọn được giống tốt đã giúp người sản xuất thu được năng suất cao, ổn định với phẩm chất tốt, mức chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm thấp, góp phần thâm canh tăng vụ, tạo ra những thay đổi
về chất lượng sản phẩm (Trần Thượng Tuấn, 1992) Các nhà khoa học ước tính khoảng 30-50% mức tăng năng suất của cây lương thực trên thế giới là nhờ vào việc đưa và sản xuất những giống tốt Theo Trần Thị Thiên Thư (2003), hầu như sự gia tăng năng suất ở mỗi cây trồng đều có vai trò quan trọng của những yếu tố giống Ngày nay, với sự xuất hiện những giống mới, có thể trồng quanh năm, đã góp phần làm tăng lượng sản phẩm từ cây trồng lên đáng kể Trên thế giới có ba giống dưa hấu đó là giống OP (tự thụ phấn tự do) bao gồm các giống địa phương và nhập nội; giống F1 (giống lai) bao gồm giống lai tạo trong nước và nhập nội; giống đa bội thể không hạt có năng suất và chất lượng cao
1.3.2 Thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng giống thụ phấn tự do
Giống thụ phấn tự do là giống mà trong quá trình sản xuất hạt thì con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn (Phạm Văn Duệ, 2006) Việc tự để giống lại từ giống thụ phấn tự do thì phải tiến hành thụ phấn bắt buộc theo kiểu tự thụ phấn, đó là quá trình chuyển phấn hoa từ nhị đực đến nhụy cái trong cùng một
Trang 24cây Nói cách khác, là quá trình hình thành qua sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái của cùng một cây (Trần Đình Long và ctv., 1997)
1.3.2.1 Thuận lợi
Giống thụ phấn tự do có thể tự để giống lại (tạo giồng thuần), tiết kiệm chi phí sản xuất Thụ phấn bắt buộc cho cây giao phấn trong quá trình tạo dòng thuần giúp duy trì kiểu gene của bố mẹ từ đời này sang đời khác, góp phần tăng năng suất sản phẩm (Nguyễn Phước Đằng, 2010)
1.3.2.2 Khó khăn
Quá trình thụ phấn bắt buộc cho cây gặp một số khó khăn về điều kiện mùa
vụ, nhiệt độ, ẩm độ, hướng và tốc độ gió vào thời điểm thụ phấn, côn trùng thụ phấn, giống hay dòng cây trồng (Trần Đình Long và ctv., 1997) Mức độ đồng hợp
tử ở cây thụ phấn chéo càng cao thì sức sống của cây càng giảm rõ rệt Điều này thể hiện rõ qua quá trình tạo dòng thuần ở cây giao phấn (Nguyễn Phước Đằng, 2010)
1.4 GỐC GHÉP 1.4.1 Lịch sử quá trình nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép trên rau 1.4.1.1 Trên thế giới
Theo Edelstein (2003) và Core (2005), thì việc ghép rau là phương pháp cơ bản ở Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu nhằm hạn chế bệnh trong đất như
héo rũ Fusarium, héo rũ vi khuẩn Công nghệ ghép trên rau đã được ứng dụng đầu
tiên ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào năm 1920 với việc ghép dưa hấu trên gốc bầu (Kacjan et al., 2004) Phương pháp ghép mở ra một hướng mới để phòng trừ các loại bệnh sinh ra từ đất đối với cây rau, bởi 68% các trường hợp bị bệnh của rau là bắt nguồn từ đất (Takahashi, 1984) Theo Cary và Frank (2006), việc chọn gốc ghép
là dựa vào khả năng kháng hoặc chịu đựng với bệnh trong đất, còn việc chọn chồi ghép là dựa vào chất lượng trái
Trang 251.4.1.2 Ở Việt Nam
Kỹ thuật ghép cà chua đã bắt đầu nghiên cứu năm 1999 tại Viện nghiên cứu Rau Trái Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 2000-2003 (Trần Thị Ba, 2010) Ghép là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất để có thể trồng dưa liên tục nhiều năm mà cây dưa không bị chết do
nấm Fusarium sp Ở nước ta vùng Phú Tân (Sóc Trăng) đã áp dụng kỹ thuật trồng
dưa hấu ghép trên gốc bầu trong sản xuất đại trà hơn 20 năm (Nguyễn Mạnh Chinh
và ctv., 2006) Theo báo khoa học phổ thông (2011), tại xã Tân Hưng, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long trồng trên 100 ha dưa hấu trên đất ruộng, trong đó giống dưa trái tròn (bi đen, dưa vàng) ghép bầu chiếm hơn 80% diện tích, nhằm giúp dưa ít bị hiện tượng chạy dây, hạn chế bệnh héo rũ, thối gốc, nứt thân, dưa cho trái to đồng đều
1.4.2 Một vài kết quả nghiên cứu về gốc ghép
Việc ghép dưa hấu trên gốc ghép “Shintoza” (Cucurbita maxima Cucurbita moschata) tỉ lệ sống (93%) và năng suất (từ tháng 6 – 9 là 89 tấn/ha) cao hơn không ghép trong điều kiện có bệnh héo do nấm Fusarium (Miguel, 2004)
Theo Phạm Văn Côn (2007), thì ở Trung Quốc và Đài Loan người ta thường ghép dưa hấu trên gốc bí đỏ để trồng trên ruộng sản xuất Gốc cây bí đỏ chống chịu được
một số bệnh nhiễm từ đất như héo xanh vi khuẩn, héo do nấm Fusarium Ngoài ra, dưa hấu ghép trên gốc ghép Lagennaria siceraia SPK (Landrace) có khả năng chịu
đựng được với sự ngập úng hơn (Yetisir, 2005) Việc ghép thì không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của trái (Salam và ctv., 1998, Khan và ctv., 2006)
Có nhiều giống bầu bí được các công ty Giống chọn làm gốc ghép cho dưa hấu (Phạm Hồng Cúc, 2007) Nhưng ở nước ta “ bầu Sao” được nông dân chọn làm gốc ghép vì khả năng tăng trưởng mạnh thích nghi rộng, bộ rễ phát triển, ăn lan rộng, dễ để giống (Trần Thị Ba và ctv.,1999; Phạm Hồng Cúc, 2007)
Theo Trần Thị Ba (2010), tỷ lệ sống của cây con dưa hấu ghép khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương đương nhau ở ba loại gốc ghép bầu Nhật và bầu địa phương (85 – 87%) qua kết quả nghiên cứu tại trường Đại học Cần Thơ Dưa hấu ghép trên gốc bầu Nhật 2, Nhật 3 và bầu địa phương sinh trưởng
Trang 26mạnh (về chiều dài thân, số lá), còn tỷ lệ bệnh héo rũ trên các gốc bầu Nhật luôn thấp (Trần Thị Hồng Thơi, Lê Văn Mắc, 2007) Dưa hấu ghép trên gốc bầu Nhật 3
và bầu địa phương luôn đạt trọng lượng và năng suất luôn cao tương đương nhau, nhưng độ Brix của bầu Nhật 3 cao hơn (Nguyễn Thạch Lel, 2008) Như vậy, gốc ghép không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của ngọn ghép mà còn làm tăng khả năng chống chịu điều kiện khắc nghiệt của môi trường, tăng năng suất và khả năng kháng bệnh cho cây sau này (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2010)
* Ưu điểm của phương pháp ghép
Cây ghép giữ được đặc tính của giống muốn nhân, tăng sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng, rút ngắn thời gian chọn giống, chống lại những bất lợi của môi trường (Lê Thị Thủy, 2000 và Phạm Văn Côn, 2007) Cành ghép chịu ảnh hưởng của gốc ghép về một số mặt như: tuổi thọ dài hay ngắn, phân hóa mầm hoa sớm hay muộn, thế sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chống chịu cao hay thấp, một phần sản lượng và năng suất Do đó, gốc ghép càng khỏe, càng thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai của địa phương thì cây ghép sinh trưởng càng tốt, sản lượng càng cao, tuổi thọ càng dài (Phạm Văn Côn, 2007) Bên canh đó Oda (1999), nhận thấy rằng
mùi vị, độ Brix của trái dưa hấu trở nên tốt hơn khi ghép dưa lên gốc bầu
* Hạn chế của phương pháp ghép
Giá thành cây ghép cao hơn so với cây không ghép và thời gian sinh trưởng của cây ghép lâu hơn cây trồng trực tiếp từ 1 – 2 tuần Dụng cụ ghép phải sạch và thao tác ghép phải nhanh gọn (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2006) Việc ghép cây tốn nhiều thời gian và công lao động, khó áp dụng rộng rãi (Trần Thị Ba, 2010)
Trang 27CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian
* Địa điểm: Trại Thực nghiệm khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
* Thời gian: Từ tháng 6–8/2011
2.1.2 Tình hình thời tiết
Nhiệt độ trung bình từ tháng 6-8/2011 là 27,40C, nhiệt độ biến thiên từ 27,50C, ẩm độ không khí trung bình là 84,67% Lượng mưa cao nhất vào tháng 07/2011 (384,5 mm) và thấp nhất là tháng 8 (167,7 mm) (Hình 2.1 và Phụ bảng 1.1)
27,2-Hình 2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm (6-8/2011), tại TP Cần Thơ
(Đài Khí tượng Thủy văn TP Cần Thơ)
Trang 28+ China baby : Trái dạng hình oval, vỏ màu xanh nhạt (Hình 2.2a)
+ LF 93: Trái dạng hình oval, vỏ màu xanh ngọc bích (Hình 2.2b)
+ LF 95: Trái dạng hình oval, vỏ màu xanh ngọc bích, gân trái màu xanh rõ (Hình 2.2c)
- Hạt giống làm gốc ghép: Bầu địa phương (bầu Sao) (Hình 2.3a), thân lá
phát triển mạnh và sinh nhánh lớn, bộ rễ rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt
Hình 2.2 Hình dạng và màu sắc trái của ba giống dưa hấu nhập nội, khảo sát tại trại
Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường Đại học Cần Thơ 8/2011)
Trang 29- Thuốc trừ sâu: Tanwin 2.0EC, Basudin 10H, Losmine 250EC, Map Jono 700WP, Dầu khoáng DS 98.8EC,…
- Thuốc trừ bệnh: Copper B 75WP, Mataxyl 35WP, Starner 20WP,…
- Hệ thống tưới nhỏ giọt nhập nội từ Israel
- Thước dây, thước kẹp, cân đồng hồ, nhiệt độ, ẩm độ kế, Brix kế,…
Hình 2.3 Gốc ghép bầu sao 12 ngày tuổi (a), dụng cụ ghép dưa hấu (b), tại trại
Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường Đại học Cần Thơ 8/2011)
(6-2.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ gồm 2 nhân tố với 4 lặp lại (Hình 2.4)
+ Nhân tố lô chính: Ba giống dưa hấu nhập nội
1/ Giống China baby
Trang 30CBG: China baby ghép 95G: LF 95 ghép 93G: LF 93 ghép CBK:Chinna baby không ghép 95K: LF 95 không ghép 93K: LF 93 không ghép
- Diện tích lô: 10,5 m2 (3,5 m x 3 m)
- Diện tích khu thí nghiệm: 252 m2
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên gốc bầu và
không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
2.2.2 Kỹ thuật canh tác dưa hấu ghép
* Chuẩn bị đất
- Thí nghiệm thực hiện trên nền đất đã trồng dưa hấu ở vụ trước Sau khi thu dọn và làm sạch cỏ, tiến hành cuốc xới, phơi nắng một tuần và lên liếp trước khi trồng cây Đất được lên liếp dạng liếp đơn, mặt liếp rộng 0,8 m, dài 18 m, khoảng cách giữa 2 tim rộng 3,5 m, giữa 2 liếp đơn là rãnh rộng 0,2 m, liếp có độ cao 20
cm so với chân liếp, khoảng trống dưa bò là 2,5 m, ngay vị trí đặt cây sao cho liếp
có hình mái nhà (cao ở giữa và thấp dần hai bên liếp)
- Xử lý đất bằng vôi bột 300 kg/ha, bón lót phân hóa học trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ
* Chuẩn bị cây con
- Hột bầu được ngâm trong nước ấm khoảng 45-50oC (3 sôi + 2 lạnh) sau 2 giờ, đem ủ ấm trong khăn lông cho đến khi nhú rễ (3 ngày) thì đem gieo vào ly đất
Trang 31được chuẩn bị trước (gồm 1 đất, 1 xơ dừa, 100g phân gà và 5g phân NPK(16-16-8) trên dụng cụ chứa có thể tích 5 lít), đặt nơi có nhiều ánh sáng để cây con lên đều và khỏe mạnh Khi cây có hai lá mầm vừa xòe (6 ngày sau khi trồng) thì chuẩn bị ngọn ghép Sau 10 ngày ủ cây bầu có lá thật đầu tiên
- Hột dưa hấu dùng làm ngọn ghép được ngâm trong nước ấm 2 giờ
(45-50oC) chà và rửa sạch nhớt, ủ 48 giờ hột nhú mầm Gieo hột vào rổ nhựa đã có một lớp xơ dừa khoảng 2-3 cm (sao cho mặt xơ dừa bằng phẳng), phun nước đủ ẩm Sau
đó rải một lớp xơ dừa mịn lên dày khoảng 1 cm Bắt đầu ghép cây khi cây bầu có lá thật đầu tiên và khi cây dưa vừa rơi vỏ hạt (4 ngày sau khi ngâm ủ hạt dưa)
* Phương pháp ghép
- Ngắt bỏ lá thật (lá nhám) của cây bầu chừa hai lá mầm (Hình 2.5a)
- Dùng dao ghép (được làm bằng xương heo) ghim vào đỉnh bầu xéo gốc khoảng 30o-40o, giữ que ghim tại đỉnh bầu (Hình 2.5b và 2.5c)
- Dùng lưỡi lam cắt bỏ phần gốc thân dưa hấu góc 30o-40o sát dưới lá mầm (Hình 2.5d)
- Rút dao ghép trên ngọn bầu, đặt ngay ngọn dưa hấu lên gốc ghép sao cho mặt cắt áp sát vào đỉnh bầu và hai tử diệp của ngọn dưa hấu vuông góc với hai lá mầm của gốc ghép, thao tác phải nhanh chính xác (Hình 2.5e, 2.5f và 2.5g)
- Chăm sóc sau ghép: Đặt cây nơi kín gió 3 ngày, dùng bình xịt phun sương thật nhẹ để ngọn dưa hấu không bị héo (Hình 2.5h) Giai đoạn sau khi ghép 4 ngày thì đem cây ra nắng nhẹ 25 phút, vào ngày thứ 5-6 cho cây ra nắng 1 – 2 giờ Ngày thứ 7 thì cho ra nắng hoàn toàn Khi cây dưa hấu có lá thật thì đem trồng
Trang 32Hình 2.5 Phương pháp ghép và chăm sóc dưa hấu sau ghép, tại trại Thực nghiệm
khoa Nông nghiệp & SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
* Trồng cây con: Cây con (cây ghép đến khi có 1-2 lá thật, 12 ngày sau khi ghép) đem ra trồng lúc chiều mát Đào hốc sâu 5 cm, rộng khoảng 10 cm, khoảng cách cây cách cây 40 cm, đạt cây nghiêng một góc 45o
hướng theo chiều dây dưa sẽ
bò, tưới nước ngay sau khi đặt cây con và rải Basudin 10H (6-10 hạt/gốc) quanh gốc để ngừa sâu, kiến,…hại rễ Trồng dặm 5 ngày sau khi trồng Mỗi cây dưa ghép được buộc vào một thanh tre để tránh ngọn ghép bị gãy do gió
* Tưới nước: Tưới nước bằng hệ thống nhỏ giọt (tưới 3 lần/ngày) được lắp cho mỗi hàng dưa nằm giữa 2 đường ống (khoảng cách giữa 2 đường ống và hàng cây là 20 cm từ khi mới trồng đến 15 NSKT) Trong 4 ngày đầu mới trồng, khi cây con chưa bắt rễ, tưới thêm nước vào lỗ đặt cây ngày 2 lần Giai đoạn sau (15 NSKT trở về sau) dời 2 đường ống cách hàng cây 35 cm, tưới 3 lần/ngày
Trang 33* Bón phân: Công thức phân sử dụng là 300 kg/ha vôi bột, 150 kg/ha N–P–K 16-8), 100 kg/ha urê và 100 kg/ha phân hữu cơ vi sinh, bón lót lúc chuẩn bị đất theo công thức trên (Bảng 2.1)
(16 Bón thúc lần 1: 15 NSKT, rãi cách gốc 20 cm trở ra ngoài phía dây dưa bò
- Bón thúc lần 2: 35 NSKT, rãi cách gốc 30 cm trở ra ngoài phía dây dưa bò
- Bón thúc lần 3: Bắt đầu từ 45 NSKT, ngâm phân cho tan trong nước rồi tưới cho cây
Bảng 2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên
gốc bầu và không ghép, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
Loại phân Lượng phân
(kg/ha) Bón lót
Bón thúc (NSKT)
15 35 45 Phân hữu cơ vi sinh 100 100 - - -
NSKT: Ngày sau khi trồng
* Ngắt đọt: Khi cây có 4 lá thật tiến hành ngắt bỏ đọt thân chính, sau đó cây đâm ra nhiều nhánh tỉa chừa lại 2 nhánh tốt, sau khi để trái tiến hành ngắt bỏ đọt của 2 chồi (mang trái và không mang trái), vị trí ngắt bỏ đọt cách trái 5 lá, nhằm giúp cây khỏe mạnh, dễ chăm sóc, tránh được một số sâu bệnh do bộ lá xum xuê gây ra và tập trung dưỡng chất để nuôi trái
* Sửa dây: Khi dưa hấu bò dài khoảng 20 cm (15-20 NSKT) tiến hành sửa và
cố định vị trí bò của dây (dùng dây kẽm dài khoảng 12 cm, uốn cong lại có luồng 2
cm ống hút bên ngoài) giúp các dây dưa bò song song với mặt liếp theo thứ tự để cây quang hợp tốt, không bị lật gãy vì gió và giảm nơi trú ngụ của nhiều loại sâu bệnh
* Tỉa nhánh: Tỉa nhánh khi nhánh vừa lú ra 7 cm, mỗi cây tỉa chừa lại 2 nhánh/cây Việc tỉa nhánh được thực hiện thường xuyên cho đến trước khi thu hoạch (10 ngày trước khi thu hoạch) để tập trung dinh dưỡng nuôi trái và dễ chăm sóc
Trang 34* Thụ phấn: Tiến hành thụ phấn bắt buộc cho cây (32 NSKT) lúc nụ hoa cái thứ 3 nở vào buổi sáng lúc 6-8 giờ
* Tuyển trái: Sau khi dứt thụ phấn (7 ngày), tiến hành chọn trái đẹp nhất (nụ hoa to, dài, lông tơ nhiều, đều đặn) lặt bỏ trái xấu (40 NSKT), chừa 1 trái/cây khi trái non vừa bằng trái chanh-trái cam (trái vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 tốt nhất)
* Phòng trừ sâu bệnh: Phun luân phiên một số loại thuốc hoá học (Tanwin 2.0EC, Map Jono 700WP, Dầu khoáng DS 98.8EC,…) định kỳ 5 ngày/lần để trị bù
lạch (Thrip palmi), rầy phấn, nhện đỏ và xâu xanh ăn lá (Diaphania indica),…
Phòng trị nấm bệnh gây hại (thán thư, nứt thân chảy nhựa,…) bằng một số loại thuốc như Copper B 75WP, Phytocide 50WP, Mataxyl 35WP, Starner 20WP,… Cách ly thuốc trừ sâu,bệnh ít nhất 7 ngày trước khi thu hoạch trái
* Thu hoạch: Tưới Kalitan thêm để tăng độ ngọt cho thịt trái trái dưa hấu (7 ngày trước thu hoạch) và tưới Calcium-Nitrate để hạn chế trái bị nứt (6 ngày trước khi thu hoạch)
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ sống của cây dưa hấu sau ghép
- Tình hình sâu bệnh hại chính trong vườn ươm và ngoài đồng
* Chỉ tiêu nông học (quan sát cố định 7 cây/lô)
- Chiều dài thân chính: Dùng thước dây đo dây từ gốc thân (gốc thân tiếp xúc với mặt đất) đến đỉnh sinh trưởng của một thân dài nhất, đo lần đầu lúc mới trồng, sau đó định kỳ 15, 30, 60 ngày/lần
Trang 35- Số lá trên thân: Đếm từ lá thật thứ nhất (lá nhám) đến ngọn (chỉ tính phiến
lá dài hơn 2 cm) trên thân dài nhất, thực hiện trên cùng một thân dây dưa/cây và
cùng lúc với đo chiều dài thân
- Đường kính gốc thân (gốc và ngọn ghép): Đo bằng thước kẹp 2 cạnh thẳng
gốc tại phần gốc thân cách 2 cm bên dưới tử diệp của gốc bầu và cách 2 cm bên
dưới tử diệp của dưa hấu đo cùng lúc với đo chiều dài thân
* Thành phần năng suất và năng suất
- Kích thước trái: Đo chiều cao và bề hoành lớn nhất của trái bằng thước dây
- Trọng lượng trung bình trái (kg/trái): Cân trọng lượng của từng trái trên lô
lô rồi cộng lại tính trung bình
- Trọng lượng toàn cây (kg/cây): Cân toàn bộ cây (rễ, dây, lá và trái) trên lô
- Tỷ lệ trọng lượng trung bình trái/trọng lượng toàn cây (%)
Tỷ lệ (%) = x 100
- Năng suất tổng (tấn/ha): Cân tất cả số trái trên các lô, quy ra tấn/ha
-Năng suất thương phẩm (tấn/ha): Cân những trái bán được (không sâu bệnh
và không bị nứt) trên lô, quy ra tấn/ha
- Tỷ lệ năng suất thương phẩm/năng suất tổng (%)
Tỷ lệ (%) = x 100
* Phẩm chất trái:
- Độ Brix (%): Đo bằng máy đo khúc xạ kế Brix lúc 7 ngày sau thu hoạch
- Độ dày vỏ trái (cm): Bổ dọc trái, đo bằng thước kẹp ở 3 vị trí (đầu, giữa, đít
trái), rồi tính trung bình
- Thời gian tồn trữ trái (ngày): Trữ trái sau khi thu hoach ở nhiệt độ phòng,
cho đến khi cuốn trái khô 2/3 chiều dài
Năng suất thương phẩm Năng suất tổng Trọng lượng trung bình trái trên lô Trọng lượng toàn cây trên lô
Trang 362.2.4 Phân tích số liệu
- Nhập số liệu bằng chương trình Excel
- Dùng chương trình SPSS để phân tích thống kê số liệu thí nghiệm
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Thời tiết trong thời gian thí nghiệm bất lợi (6-8/2011) do trời mưa liên tục ở giai đoạn cây con (17 NSKT) (Hình 3.1a) và giai đoạn thụ phấn (30 NSKT) nên làm ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và tỷ lệ thụ phấn của cây Hệ thống rảnh thoát nước không tốt, nên bị ứ đọng khi có mưa to Ngoài ra, thời tiết xấu còn ảnh hưởng đến vị trí đậu trái của dưa hấu ghép trên gốc bầu và dưa hấu không ghép, các nghiệm thức dưa hấu ghép gốc bầu thường có vị trí đậu trái ở hoa cái thứ 3, 4 (khoảng 32-34 NSKT), còn nghiệm thức dưa hấu không ghép có vị trí đậu trái ở hoa cái thứ 2, 3 (khoảng 30-32 NSKT) Đặt biệt, vào giai đoạn gần thu hoạch thì gặp mưa nên gây ra hiện tượng nứt trái và bị thối trái dưa hấu làm hao hụt năng suất Mặt khác, hiện tượng trái dưa hấu bị biến dạng (phần dưới trái to trong khi gần cuống thì teo nhỏ lại) xuất hiện ở giống China baby và giống LF 95 Giai đoạn đầu (22 NSKT) các giống đều bị bù lạch, sâu vẽ bùa, bệnh thán thư gây hại không đáng
kể do phòng trị kịp thời (Hình 3.1b) Giai đoạn 45 ngày sau khi trồng do điều kiện
ẩm độ cao nên xuất hiện bệnh nứt than, bệnh thối rễ, héo dây (do nấm Fusarium oxysporum gây ra), bệnh sương mai (Hình 3.1c)
Hình 3.1 Dưa hấu sau khi mưa (17 ngày sau khi trồng) (a), cách phòng trị bù lạch
(b), dưa hấu 45 ngày sau khi trồng (c), tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường Đại học Cần Thơ (6-8/2011)
Trang 383.2 TỶ LỆ SỐNG CÂY CON SAU GHÉP
Hạt nảy mầm tốt, giai đoạn 3 ngày sau khi ghép cây bắt đầu xuất hiện bệnh, sau đó cây dần hết bệnh do kịp thời phun thuốc phòng trị Qua kết quả Bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ sống sau ghép giữa các giống dưa hấu tương đương nhau dao động từ 80,00-87,50%
Bảng 3.1 Tỷ lệ sống (%) qua các ngày sau khi ghép của ba giống dưa hấu nhập nội
ghép trên gốc bầu, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (Tháng 6-8/2011)
Giống Ngày sau khi ghép (ngày)
cả ba giống dưa hấu
Cường độ ánh sáng trung bình (108lux) trong một ngày trong phòng phục hồi sau khi ghép (lấy trong ba ngày sau khi ghép), dao động từ 85-120 lux luôn thấp hơn ngoài đồng (dao động từ 1.003-1.252 lux) (Phụ bảng 1.4), do phòng ghép được chuẩn bị tốt để ánh sáng bên trong phòng ghép thấp cho sự phục hồi sau khi ghép ở
cả ba giống dưa hấu tốt, mặt khác ở ngày thứ 2 sau khi ghép thì cường độ ánh sáng yếu trung bình là 85 lux cũng làm ảnh hưởng sự phục hồi của cây do trời kéo mây chuẩn bị mưa, nhưng ảnh hưởng đó không đáng kể vì lúc cường độ ánh sáng yếu là trong khoảng 15-17 giờ, thì cây ghép cũng quang hợp yếu
Trang 393.3 CHỈ TIÊU NÔNG HỌC
3.3.1 Chiều dài thân cây dưa
Chiều dài thân chính của ba giống dưa hấu nhập nội khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê (Bảng 3.2), dao động từ 36,51-36,82 cm; 198,83-203,45 cm; 320,74-358,36 cm; tương ứng với giai đoạn 15, 30 và 60 NSKT, qua đó cho thấy sự phát triển tương đương nhau giữa các giống dưa hấu Kết quả này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Đinh Văn Hai (2003) và Trần Thị Thiên Thư (2003), sự
khác biệt về chiều dài thân là do đặc tính giống qui định Chiều dài thân chính của
dưa hấu ghép trên gốc bầu và không ghép qua các thời điểm khảo sát 15, 30 và 60 NSKT khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê (Bảng 3.2), dưa hấu ghép trên gốc bầu có chiều dài thân chính (58,18 cm; 224,50 cm; 363,75 cm; tương ứng) luôn lớn hơn dưa hấu không ghép (15,06 cm; 176,62 cm; 313,40 cm; tương ứng), mặt dù ở
35 NSKT ngắt đọt dưa hấu để dinh dưỡng tập trung nuôi trái Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thạch Lel (2008), cây dưa hấu ghép trên gốc bầu sinh trưởng rất mạnh về chiều dài rễ và thân so với cây dưa hấu không ghép Bên cạnh
đó, Trần Thị Ba và ctv (1999) cho rằng hạt bầu to hơn hạt dưa hấu rất nhiều nên cây con khỏe hơn cây không ghép
Bảng 3.2 Chiều dài thân chính (cm) của ba giống dưa hấu nhập nội ghép trên gốc
bầu và không ghép qua các thời điểm khảo sát, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011)
Những số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt qua phân tích thống kê, ns = không khác biệt, * = khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, ** = Khác biệt ý nghĩa ở mức 1%
Nghiệm thức Ngày sau khi trồng (ngày)
Trang 40Tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính của ba giống dưa hấu nhập nội khác biệt không có ý nghĩa qua phân tích thống kê (Bảng 3.3), dao động từ 3,91-5,32 cm/ngày Theo Đồng Thanh Liêm (2001) và Phạm Trung Hiếu (2008), thì chiều dài thân không bị ảnh hưởng bởi biện pháp tỉa nhánh, mức phân bón và biện pháp phun thuốc Dưa hấu ghép trên gốc bầu và không ghép có tốc độ tăng trưởng chiều dài thân chính khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê (Bảng 3.3), dao động từ 11,09-10,77 cm/ngày; 4,64-4,56 cm/ngày; tương ứng với 15-30 NSKT và 30-60 NSKT
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài dây (cm/ngày) của ba giống dưa hấu nhập
nội ghép trên cùng gốc bầu và không ghép qua các thời điểm khảo sát, tại trại Thực nghiệm khoa Nông nghiệp và SHƯD, trường ĐHCT (6-8/2011) Nghiệm thức Ngày sau khi trồng
ns = không khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê
3.3.2 Số lá trên thân chính cây dưa hấu
Số lá trên thân chính của ba giống dưa hấu khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê qua các giai đoạn khảo sát (Hình 3.2a và Phụ bảng 2.1), trừ thời điểm 0 NSKT số lá biến thiên từ 1,98-2,14 lá Giống dưa hấu LF 93 luôn có số lá nhiều hơn giống dưa hấu LF 95 và giống China baby qua các thời điểm khảo sát 15, 30 và 60 NSKT (15,32-13,23-9,63 lá; 32,42-29,18-25,35 lá; 50,98-46,66-39,65 lá; tương ứng) Kết quả này phù hợp với sự sinh trưởng chiều dài thân chính của ba giống dưa Kết quả này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Đồng Thanh Liêm (2001), Đinh Văn Hai (2003) và Nguyễn Sỹ Lâm (2004) cho rằng số lá được quyết định bởi đặc tính di truyền giống Dưa hấu ghép trên gốc bầu và không ghép có số
lá trên thân chính qua các giai đoạn khảo sát khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống