Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Ở trong nước, các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu tổng quan về pháp luậtcạnh tranh, vấn đề thực thi pháp luật cạnh tranh của một số nư
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Lê Danh Vĩnh
2 TS Trịnh Thị Thanh Thủy
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện Họp tại Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền - Hà nội.
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện quốc gia Hà nội
2 Thư viện Viện Nghiên cứu Thương mại
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Năm 2004, Quốc Hội đã ban hành Luật cạnh tranh Tiếp theo đó, trong giai đoạn2004-2009, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành luậtcạnh tranh Thực tế cho thấy, Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn đã bước đầu pháthuy vai trò tích cực trong việc phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh, xử lý nhữnghành vi làm sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, số lượng vụ việc cạnhtranh được điều tra, xử lý là chưa nhiều (08 vụ hạn chế cạnh tranh và 122 vụ cạnh tranhkhông lành mạnh) Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Namtrong thời gian qua chưa được như kỳ vọng là do còn nhiều bất cập về quy định của phápluật cạnh tranh, bộ máy thực thi và nhận thức của cộng đồng
Để có giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật cạnh tranh trong tình hình mới, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ
kinh tế với mong muốn góp phần đưa pháp luật cạnh tranh đến gần hơn với cuộc sống
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Ở trong nước, các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu tổng quan về pháp luậtcạnh tranh, vấn đề thực thi pháp luật cạnh tranh của một số nước để tập trung xây dựng Luậtcạnh tranh và các văn bản hướng dẫn trong giai đoạn 2003-2006.Các công trình khoa họctrên chủ yếu nghiên cứu về lý luận chung, như sự cần thiết phải có những thay đổi căn bản
về vai trò của nhà nước khi chuyển đổi nền kinh tế, tính tất yếu của việc xây dựng pháp luật
và chính sách cạnh tranh để phù họp với quy luật của thị trường nhằm (i) kiểm soát độcquyền; (ii) tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh; (iii) bảo vệ quyền và lợi ích củadoanh nghiệp và người tiêu dùng
Ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách và pháp luật cạnhtranh vô cùng phong phú và đa dạng, được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức khác nhau Cónhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề cụ thể về chính sách cạnh tranh, chủ yếu là phântích về cách tiếp cận trong việc xây dựng chính sách cạnh tranh, các nguyên tắc xây dựngchính sách cạnh tranh và các hành vi và đối tượng mà chính sách cạnh tranh điều chỉnh
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của
đề tài luận án, xác định những vấn đề đã được các nhà khoa học nghiên cứu, những vấn đềchưa được nghiên cứu để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu
- Đánh giá tổng quan pháp luật cạnh tranh, thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam
- Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật cạnh tranh và hiệu quả thực thi phápluật cạnh tranh ở Việt Nam
- Phân tích đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ khiLuật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực đến nay, từ đó rút ra nhữngbất cập cần được hoàn thiện
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi phápluật ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 44 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của
cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
a Về nội dung
- Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam (bao gồm Luậtcạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành), các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến quá trìnhtriển khai thực hiện pháp luật cạnh tranh
- Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh ởViệt Nam
b Về không gian
Hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệm một
số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc…
c Về thời gian
- Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh từ năm 2005 - 2014
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm
2015 đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu của luận án
5.1 Phương pháp phân tích và thống kê
Được sử dụng nhằm hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, lý luận cơ bản về cácvấn đề liên quan trong Đề tài nghiên cứu của mình, nghiên cứu sinh sử dụng phương phápphân tích, thống kê để làm rõ các thuật ngữ, những lý luận sử dụng trong lĩnh vực cạnhtranh, các kết quả nghiên cứu, những vấn đề đang tồn tại mà được các công trình khoa hoctrước đây đã nghiên cứu
5.2 Phương pháp so sánh
Nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập, phương pháp so sánhđược sử dụng trong nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng và thực thi pháp luậtcạnh tranh và trong phần phân tích đánh giá thực trạng theo khung lý thuyết
5.3 Phương pháp khảo sát thực tế
Bên cạnh việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chính sách cạnh tranh được trìnhbày trong các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, các ấn bản khoa học, phương phápkhảo sát thực tế được sử dụng trong trao đổi với chuyên gia, điều tra mẫu một số doanhnghiệp là đối tượng điều chỉnh của Luật Phương pháp này cung cấp những số liệu, tài liệucho đánh giá thực trạng về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranhcủa Việt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất trong luận án
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬTCẠNH TRANH 1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và các hình thái cạnh tranh
a Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồn tại như
là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, phản ánh năng lực phát triển củakinh tế thị trường Với cách tiếp cận này, Từ điển Luật học cũng giải thích “cạnh tranh là sự
Trang 5đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thịtrường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình kháchhàng, thị trường và thị phần của một thị trường qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn”
1.1.2 Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh
a Khái niệm pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh, theo cách hiểu phổ biến nhất trong giới nghiên cứu về lĩnh vựcnày trên thế giới, bao gồm tất cả các quy định của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đếnhành vi kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc thị trường
b Lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế.Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên tục sửa đổi để phù hợp vớithực tiễn Luật Cạnh tranh có thể được gọi theo nhiều cách khác nhau (ví dụ: Luật cạnhtranh - Competition Law của Anh, Luật chống độc quyền- Anti monopoly Act của NhậtBản, Luật thương mại lành mạnh – Fair Trade Law của Đài Loan…) nhưng tất cả đều cómột mục đích chung là duy trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho phépcác thực thể kinh tế có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thị trường Bảo vệngười tiêu dùng thông qua việc khuyến khích hạ giá và cải thiện chất lượng sản phẩm đượcxem như một hệ quả của cạnh tranh tự do và lành mạnh trên thị trường
1.1.3 Khái niệm về thực thi pháp luật cạnh tranh
Thực thi pháp luật cạnh tranh được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thihành pháp luật cạnh tranh Việc thực thi pháp luật pháp luật cạnh tranh chia làm 2 nhómhoạt động tương ứng với 2 nhóm đối tượng đó là cơ quan quản lý cạnh tranh (chủ thể quyềnlực) và cộng đồng doanh nghiệp (chủ thể là đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh)
1.1.4 Khái niệm hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh
Theo từ điển luật học, hiệu quả của pháp luật là kết quả cụ thể của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật Hiệu quả của
pháp luật có thể được đánh giá theo từng cấp độ khác nhau: hiệu quả của quy phạm phápluật, của chế định pháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật Những căn cứ
để đánh giá mức độ hiệu quả của pháp luật là mục tiêu yêu cầu đặt ra khi ban hành phápluật, chi phí cho việc thực hiện pháp luật và kết quả thực tế đạt được của việc thực hiệnpháp luật
Theo quan niệm khác: hiệu quả của pháp luật là khả năng của pháp luật có thể tác động được vào các quan hệ xã hội và ý thức xã hội để điều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật.
1.2 Tiêu chí để đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh
1.2.1 Nhóm tiêu chí bên trong
Nhóm tiêu chí bên trong thể hiện chất lượng của các văn bản pháp luật bao gồm (i)Tính hợp pháp của văn bản pháp luật (văn bản đó có được ban hành hợp pháp hay không)
và (ii) Tính phù hợp của văn bản pháp luật (văn bản pháp luật đó có còn phù hợp với thựctiễn hay không)
1.2.2 Nhóm tiêu chí bên ngoài
Tiêu chí bên ngoài để xem xét mối quan hệ tương tác của văn bản pháp luật đó với xãhội bao gồm (i) khả năng tổ chức thực thi của các cơ quan thi hành văn bản pháp luật, (ii)khả năng tiếp cận và tuân thủ luật của đối tượng mà văn bản pháp luật hướng tới
Trang 61.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của một số nước và bài học đối với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
a Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
Luật chống độc quyền của Nhật Bản có tên chính thức là “Luật về chống độc quyền
tư nhân và đảm bảo giao dịch công bằng” (AMA), được ban hành vào năm 1947 dưới sựchiếm đóng của quân Đồng minh sau Chiến tranh thế giới thứ hai như một luật vĩnh cửu(không giới hạn thời gian hiệu lực) nhằm tạo lập trật tự mang tính dân chủ cho nền kinh tếNhật Bản
Kể từ năm 1947 đến nay, Luật AMA đã được Ủy Ban Thương mại lành mạnh(JFTC) đề xuất sửa đổi nhiều lần cụ thể qua các năm:
- 1991 sửa đổi Luật Chống độc quyền theo hướng tăng mức phạt tiền hành vi viphạm
-1992: sửa đổi Luật Chống độc quyền trong đó đưa các quy định về áp dụng các chế tàihình sự vào các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh như phạt tù đói với lãnh đạo các doanhnghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
- 2005 Sửa đổi Luật Chống độc quyền (AMA) theo hướng: Tăng mức phạt tiền; Ápdụng cơ chế khoan dung; Áp dụng các biện pháp bắt buộc đối với buộc tội Hình sự; Sửa đổiThủ tục tiến hành phiên điều trần;
b Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cạnh tranh
Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC, sau đây gọi là Ủy ban) được thànhlập như là một cơ quan quản lý của Chính phủ để đạt được mục tiêu của Luật Chống độcquyền Bên cạnh Luật Chống độc quyền, Uỷ ban còn thi hành Luật chống tặng phẩm phi lý
và trưng bày gây nhầm lẫn, Luật chống thanh toán chậm trong hợp đồng gia công phụ đốivới người sản xuất phụ, đây là những luật đặc biệt bổ sung cho Luật Chống độc quyền Uỷban có vị trí như là một cơ quan cấp bộ thuộc trực thuộc Chính phủ
c Thực tiễn công tác tổ chức điều tra và xử lý các hành vi vi phạm
Luật Chống độc quyền Nhật Bản cấm các đối tượng hoạt động kinh doanh độc quyềnmang tính cá nhân, các hành vi hạn chế giao dịch không hợp lý, sử dụng các phương phápgiao dịch không công bằng, JFTC điều tra cân nhắc những thông tin thu nhận được từ côngchúng, hoặc do chính JFTC phát hiện ra Khi xét thấy xảy ra sự kiện vi phạm quy định cấm,
sẽ tiến hành điều tra cần thiết đối với vụ việc bị nghi ngờ
Số lần xử lý hành vi thông thầu trong giai đoạn 2001-2004 trung bình là 25 vụ/năm
do đây là những hành vi khá phổ biến và được xem là “vấn nạn quốc gia” của Nhật Bản,nhưng nhờ cơ chế phát hiện vi phạm hiệu quả nên đã phát hiện và xử lý nhiều vụ, dần cảithiện môi trường và thói quen kinh doanh của doanh nghiệp Do sự nỗ lực của cơ quan cạnhtranh và sự cải thiện trong chính sách nên đến giai đoạn 2005-2012 thì số vụ bị xử lý đãgiảm xuống 10-11 vụ/năm, tuy nhiên vẫn ở mức cao so với các hành vi khác
d Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh
- Áp dụng thủ tục khám xét tại chỗ
Khám xét hiện trường (On-spot inspection) cụ thể là khám xét cơ sở kinh doanh củadoanh nghiệp bị tình nghi vi phạm, kiểm tra sổ sách giấy tờ đồng thời ra lệnh nộp sổ sáchgiấy tờ và sau đó lưu giữ sổ sách giấy tờ nhằm thu thập vật chứng cần thiết để chứng minh
sự thật vi phạm
- Áp dụng chương trình khoan dung (Leniency)
Trang 7Để giúp cơ quan điều tra có thêm nguồn cung cấp chứng cứ, qua đó tăng cường hiệuquả thực thi luật, đặc biệt là các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, JFTC đã ban hành
và áp dụng chính sách khoan hồng Chính sách khoan hồng được áp dụng đối với các chủthể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chủ động đến khai báo với cơ quan quản lý cạnhtranh về hành vi của mình, đồng thời cung cấp cho cơ quan cạnh tranh các tài liệu chứng cứ
có giá trị chứng minh thỏa thuận đó
Chính sách khoan hồng của Nhật Bản được đưa vào áp dụng từ tháng 04/2006 Tuymới được áp dụng nhưng đến tháng 5 năm 2007, cơ quan cạnh tranh của Nhật Bản đã nhậnđược sự khai báo của tổng cộng 105 công ty trong đó có tập đoàn công nghiệp nặngMitsubishi Trong năm tài chính 2009, có 85 vụ JFTC nhận được thông báo đúng sự thật vềhành vi vi phạm, và đến cuối tháng 3 năm 2010 là 349 vụ
- Đẩy mạnh các hoạt động quan hệ công chúng đạt hiệu quả cao
Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, JFTC đã luôn đề cao và đẩy mạnh hoạtđộng tuyên truyền về chính sách và Luật Chống độc quyền, quan hệ công chúng, kêu gọi sựđồng thuận của toàn xã hội Đây là hoạt động hoàn toàn không mang tính hình thức nhưhoạt động tuyên truyền, đào tạo thông thường mà là hoạt động đi vào thực chất, chi tiếtnhằm đảm bảo tính minh bạch trong thi thành pháp luật, cung cấp thông tin về chính sách,nắm bắt quan điểm của người dân và tạo sự đồng thuận trong xã hội, từ những người dânbình thường đến các doanh nghiệp, đến cơ quan nhà nước khác, đến cả những nhà lãnh đạo
để hiểu rõ bản chất, vai trò của Luật và tạo ý chí quyết tâm thực thi Luật
1.3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
a Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
Có thể nói, Hoa Kỳ là quê hương của Luật chống độc quyền hay pháp luật và chínhsách cạnh tranh Các quy định chống độc quyền của Hoa Kỳ đầu tiên là Đạo luật Shermanđược thông qua năm 1890 và Đạo luật Clayton có hiệu lực vào ngày 15 tháng 10 năm 1914.Đây được coi là hai đạo luật cơ bản cho chính sách chống độc quyền của Hoa Kỳ
Không dừng lại ở đó, năm 1936, Luật Robinson- Patman được ban hành với nhữngquy định nghiêm khắc hơn trong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử Ngoài ra, đạo luậtCeller-Kefauver được ban hành năm 1950, bổ sung thêm các quy định trong đạo Luật Clayton
1914, được coi là Đạo luật Chống sáp nhập Đạo luật Celler-Kefauver là công cụ giúp Chínhphủ ngăn chặn cả các vụ sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập hỗn hợp có tác động hạn chếcạnh tranh
Năm 1976, Đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền (Hart-Scott-Rodino AntitrustImprovement Act) được ban hành là một tập hợp các sửa đổi, bổ sung cho các luật chốngđộc quyền của Hoa Kỳ, mà chủ yếu là Đạo luật Clayton Đạo luật này bổ sung thêm các quyđịnh về thông báo tập trung kinh tế trước khi tiến hành sáp nhập hoặc mua lại
b Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cạnh tranh
Các cơ quan tham gia xử lý vụ việc cạnh tranh ở Hoa Kỳ bao gồm Uỷ ban thươngmại Liên bang Hoa Kỳ (viết tắt là US-FTC) và Cục Chống độc quyền thuộc Bộ Tư PhápHoa Kỳ (viết tắt là US-DOJ)
- USFTC xử lý các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế của phần lớn người Mỹ.Trên thực tế, cơ quan đã có một truyền thống về duy trì một môi trường cạnh tranh cho cảngười tiêu dùng và cho các hoạt động kinh doanh FTC là một cơ quan độc lập báo cáo trựctiếp cho Quốc hội Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo của 5 Ủy viên có nhiệm kỳ 7 năm,được bổ nhiệm bởi Tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng nghị viện Tổng thống chỉđịnh một Ủy viên đảm trách Chủ tọa Không quá 3 Ủy viên là thành viên của 1 Đảng
Trang 8- Về Cục Chống độc quyền, Bộ Tư pháp: Chiểu theo Mục 2 của Luật Sherman, CụcChống độc quyền của Bộ TP chủ yếu tiến hành điều tra dân sự liên quan đến việc sử dụngLệnh điều tra dân sự (CID), một loại công cụ điều tra tiền khởi tố
c Thực tiễn công tác điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh
Các cơ quan cạnh tranh của Hoa Kỳ, đặc biệt là Cục chống độc quyền, Bộ Tư phápHoa Kỳ đã chứng minh được hiệu quả trong thực thi pháp luật cạnh tranh, chống độc quyền.Giai đoạn từ năm 2004 đến 2013, Vụ chống độc quyền đã khởi xướng điều tra hơn 1575 vụviệc cạnh tranh, trung bình trên 157 vụ năm
Số lượng các vụ tập trung kinh tế được khởi xướng điều tra chiếm ưu thế hơn, với
842 vụ trong vòng 10 năm Đồng thời, các vụ việc liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh được thụ lý có số lượng tương đối đáng kể, chiếm trung bình trên 60 vụ mỗi nămtrong giai đoạn 2004 – 2013 Khi pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ đã có thời gian dài pháttriển, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh/độc quyền trên thịtrường đã ý thức rất rõ về các đạo luật chống độc quyền Số lượng các vụ việc về lạm dụng
vị trí thống lĩnh/độc quyền thị trường chiếm không đáng kể so với tổng số vụ việc cạnhtranh được điều tra, chỉ có 23 vụ trong 10 năm
d Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi luật
Bộ Tư pháp trong quá trình điều tra sẽ dễ dàng điều động điều tra viên tiến hành khám xétđúng lúc, đúng thời điểm nhằm thu giữ được những chứng cứ quan trọng, xác thực
- Áp dụng Chương trình khoan dung
Hoa Kỳ là nước đầu tiên trên thế giới đưa ra chính sách khoan dung và áp dụng trongcùng năm 1978 Chính sách này cũng được tiến hành sửa đổi một số nội dung quan trọngvào năm 1993 cho phù hợp với thực tiễn Theo đó, thay vì theo chương trình cũ thì doanhnghiệp chỉ được hưởng khoan dung trong trường hợp Bộ Tư pháp chưa hề có thông tin về
vụ thông đồng hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và chưa tiến hành điều tra vụ việc nhưng ởchương trình mới, doanh nghiệp vẫn có thể hưởng khoan dung nếu Bộ Tư pháp đã tiến hànhđiều tra vụ việc nhưng vẫn chưa thu thập được đầy đủ các chứng cứ cần thiết buộc doanhnghiệp đã nộp đơn phải tự thú về hành vi thông đồng của mình Mặt khác, theo chương trìnhmới, doanh nghiệp nộp đơn được hưởng cơ chế khoan dung tự động, trong trường hợp Bộ Tưpháp chưa có thông tin gì về vụ thông đồng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thay vì phải đápứng đầy đủ các điều kiện cần thiết như trước kia
- Áp dụng mức phạt mang tính răn đe
Tháng 6 năm 2004, đạo luật Sherman (15 U.S.C § 1) của Hoa Kỳ đã bổ sung tăngmức phạt đối với các hành vi phản cạnh tranh vi phạm Luật chống độc quyền:
+Mức phạt tối đa đối với doanh nghiệp tăng từ 10 triệu lên 100 triệu đô la Mỹ;
+ Mức mức phạt tối đa đối với cá nhân tăng từ 350 nghìn lên 1 triệu đô la Mỹ;
+ Hình sự: thời hạn phạt tù tối đa tăng từ 3 năm lên 10 năm
- Hoạt động vận động chính sách cạnh tranh (competition advocacy)
Trong những năm qua, Cục Chống độc quyền, Bộ Tư pháp cũng như Ủy ban Thươngmại Liên bang đã và đang tăng cường các nỗ lực vận động chính sách cạnh tranh thông qua
Trang 9việc thực hiện các chương trình khác nhau và các sáng kiến hướng tới củng cố thị trường vàbảo tồn phát triển kinh tế tự do và công bằng Thực tế, thúc đẩy các nguyên tắc cạnh tranhthông qua nỗ lực vận động chính sách và tiếp cận các nhà quản lý vẫn là một trong những
ưu tiên cao nhất của các cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳ Những nỗ lực này bao gồm việc mởrộng quan hệ hợp tác sâu rộng và phối hợp hoạt động cùng với các cơ quan liên bang như
Ủy ban Truyền thông Liên bang, Bộ Nông nghiệp và Bộ Giao thông vận tải, Văn phòngquản lý thương hiệu và bằng sáng chế, Cục Dự trữ liên bang cũng như với Quốc hội, các cơquan lập pháp và các cơ quan nhà nước Đồng thời, Cục Chống độc quyền cũng đệ trình cácbản giải trình tóm tắt lên Tòa án tối cao Liên bang và các Tòa phúc thẩm, phát hành các báocáo chi tiết tác động cạnh tranh nhằm giải thích lập luận và phân tích cạnh tranh
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
a Về nội dung pháp luật cạnh tranh
Theo quy định pháp luật cạnh tranh của một số nước trên thế giới, việc ban hànhpháp luật cạnh tranh phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, minh bạch và không phân biệt đối
xử Đặc biệt, trong phạm vi áp dụng luật cạnh tranh không được miễn trừ áp dung đối vớibất kỳ đối tượng nào bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước
Bên cạnh đó, pháp luật cạnh tranh của các nước thường quy định và điều chỉnh vềcác nhóm hành vi sau đây:
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (hành vi thông thầu, ấn định giá )
- Các hành vi mua bán sáp nhập doanh nghiệp có tác động tới môi trường kinhdoanh
b Về vị trí, chức năng, nhiệm và và quyền hạn của cơ quan cạnh tranh
Theo kinh nghiệm của các nước, nguyên tắc quan trọng hàng đầu đối với cơ quancạnh tranh là bảo đảm tính độc lập cho nó Điều này có nghĩa là, tổ chức, hoạt động củathiết chế này phải được thiết kế làm sao để bảo đảm không để can thiệp hoặc bị chi phối từcác cơ quan khác (lập pháp, hành pháp, tư pháp) Độc lập là yếu tố tiên quyết để có sự côngbằng trong việc xử lý các vụ việc, điều mà các bên đương sự luôn chờ đợi ở cơ quan này
Tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh trong tổ chức và hoạt động luôn luôn là mụctiêu hàng đầu mà các nước này hướng tới xây dựng Đây là nội dung rất quan trọng đảm bảocho những cơ quan này có thể thực hiện chức năng xử lý một cách công minh, vì mục tiêubảo vệ trật tự công cộng – cạnh tranh lành mạnh trên thị trường
Minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước kể cả cơ quan cạnh tranh đang
là một đòi hỏi hết sức quan trọng Tuy nhiên, đối với các cơ quan cạnh tranh thì đây lại làyêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Điều này xuất phát chính từ vai trò trong việc duy trìtrật tự cạnh tranh rõ ràng, lành mạnh Thông tin trong thị trường phải được thông suốt Tínhminh bạch sẽ nâng cao thêm uy tín của chính các cơ quan này
Nhiệm vụ chính của cơ quan quản lý cạnh tranh là bảo đảm thực thi Luật cạnh tranh
Có thể nói, luật cạnh tranh được thực thi nghiêm chỉnh đến đâu là phụ thuộc vào hiệu quảhoạt động của chính cơ quan này Qua nghiên cứu mô hình cơ quan cạnh tranh của một sốnước, một số chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh như sau:
- Điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Chống độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
- Kiểm soát quá trình sát nhập hợp nhất doanh nghiệp
- Điều tra, xử lý các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường
- Thực hiện các hoạt động khác nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn trên, hầu hết các cơ quan cạnh tranh đều có hai thẩmquyền cơ bản:
Trang 10- Phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đếnmôi trường cạnh tranh.
- Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quátrình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh
c Về xây dựng và phát triển các công cụ nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
- Về chức năng tiến hành khám xét thu thập chứng cứ
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, trong nhiều trường hợp việc thu thậpthông tin chứng cứ bằng các công cụ thông thường như yêu cầu cung cấp thông tin một cáchchính thống từ cơ quan cạnh tranh với các đối tượng liên không đem lại hiệu quả Lý do là
vì các đối tượng thực hiện hành vi vi phạm thường có xu thế che dấu hoặc thậm chí là tiêuhủy các tài liệu liên quan tới hành vi vi phạm Do đó, để kịp thời thu thập các thông tin,chứng cứ và ngăn chặn nguy cơ chứng về hành vi vi phạm bị tiêu hủy, cơ quan cạnh tranhcần phải được trang bị một công cụ đặc biệt đó là có thẩm quyền tiến hành việc khám xét trụ
sở và nơi làm việc của các tổ chức, cá nhân liên quan
- Về chương trình khoan dung
Thực tiễn và lý luận đã chứng minh chính sách khoan dung thực sự là một công cụhữu hiệu của cơ quan quản lý cạnh tranh trong cuộc chiến chống lại các hành vi thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia đã ban hành Luật cạnhtranh trong đó có những quy định về cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Tuynhiên, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung về tìnhtiết giảm nhẹ (bên cạnh tình tiết tăng nặng) trong xử lý vi phạm các quy định về kiểm soáthành vi hạn chế cạnh tranh Các quy định này chưa thể hiện đúng được tinh thần chính sáchkhoan dung dành cho các thành viên tham gia các thỏa thuận này Do đó, để đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn điều tra và xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cần thiếtphải có sự nghiên cứu và bổ sung một cách hợp lý chính sách này vào pháp luật cạnh tranhcủa Việt Nam trong thời gian tới
Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA
VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN 2014 2.1 Tổng quan về pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Ngay từ những năm 2000, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ đưa vàochương trình xây dựng pháp luật Sau 4 năm soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của cácchuyên gia trong và ngoài nước, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 03tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2005
Luật cạnh tranh được ban hành có mục tiêu nhằm:
- Kiểm soát độc quyền
- Tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng;
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật cạnh tranh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh khônglành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh
Trang 112.2 Thực trạng hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014
2.2.1 Thực trạng vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam
a Cục Quản lý cạnh tranh
- Chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý cạnh tranh
Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ Công Thương có chức năng giúp Bộtrưởng Bộ Công Thương thực hiện:
+ Quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật cạnh tranh)
+ Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự
vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (thực thi 03 Pháp lệnh về chống bán phá giá,chống trợ cấp và tự vệ);
+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);+ Phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó các vụ kiệntrong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ
- Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay được quy định theo Quyết định
số 848/QĐ-BCT ngày 05 tháng 02 năm 2013 của Bộ Công Thương
Hình 1 Cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh
Cục Quản lý cạnh tranh
Văn phòng CụcPhòng Giám sát và quản lý cạnh tranhPhòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranhPhòng Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnhPhòng Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Phòng Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chungPhòng Điều tra vụ kiện phòng vệ thương mại của doanh nghiệptrong nước
Phòng Xử lý các vụ kiện phòng vệ thương mại của nước ngoàiPhòng Hợp tác quốc tế
Văn phòng đại diện tại Đà NẵngVăn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí MinhTrung tâm Thông tin cạnh tranh
Trung tâm Đào tạo điều tra viên
Trang 12Hội đồng cạnh tranh gồm 01 Chủ tịch, giúp việc cho Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh sẽ
có 02 Phó Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh
Để giúp việc cho Hội đồng, ngày 28 tháng 8 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Thương mại
đã có Quyết định số 1378/QĐ-BTM thành lập Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh Ban Thư
ký Hội đồng cạnh tranh gồm từ 7-9 người làm việc chuyên trách
2.2.2 Thực trạng công tác điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh
2.2.2.1 Các vụ việc hạn chế cạnh tranh
So với nhiều quốc gia trên thế giới, Luật Cạnh tranh và Cơ quan quản lý cạnh tranhViệt Nam còn rất non trẻ Đến nay, Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam đã tổ chức điềutra 8 vụ việc hạn chế cạnh tranh, trong đó đã chuyển 5 hồ sơ vụ việc sang Hội đồng Cạnhtranh để xử lý theo quy định của pháp luật Trong số 8 vụ việc đó, có 3/8 vụ việc xuất phát
từ đơn khiếu nại của doanh nghiệp và 5/8 vụ việc do Cơ quan QLCT tự khởi xướng điều tratheo quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật Cạnh tranh
Trong 5 vụ việc đã được xử lý, có 3 vụ việc tiếp tục được đưa ra xét xử tại hệ thốngTòa án theo thủ tục tố tụng hành chính, gồm vụ bia Tân Hiệp Phát, vụ Vinapco và vụ 19doanh nghiệp bảo hiểm Mặc dù có những vụ việc được đưa ra xét xử ở cấp phúc thẩm,nhưng đến nay Tòa án các cấp đều công nhận các quyết định giải quyết khiếu nại đối vớiquyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do Hội đồng cạnh tranh ban hành Mặc dù số lượng vụviệc hạn chế cạnh tranh đã được điều tra và xử lý còn khiêm tốn, nhưng xét trong bối cảnh
Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam còn non trẻ với nguồn lực hạn chế thì đó chính là sựkhởi đầu cho thấy Luật Cạnh tranh đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng
2.2.2.2 Về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trong gần 10 năm thực thi quy định của Luật Cạnh tranh về chống các hành vi cạnhtranh không lành mạnh, Cơ quan QLCT đã tiếp nhận 298 khiếu nại, tiến hành điều tra 144
vụ việc và ra quyết định xử phạt 122 vụ
2.2.2.3 Kiểm soát tập trung kinh tế
Tính đến tháng 8 năm 2014, Cơ quan QLCT đã thụ lý 23 vụ việc thông báo TTKT vàrất nhiều vụ việc tham vấn về TTKT trước và trong quá trình các doanh nghiệp thực hiệnTTKT
Qua nghiên cứu về tình hình điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnhtranh của Việt nam trong thời gian qua, chúng ta có thể rút ra mấy vấn đề quan trọng đểphân tích và đi sâu hơn trong chương 2 của đề tài:
- Trong giai đoạn 2006-2014, Cơ quan tranh tranh đã tiến hành điều tra tiền tố tụng
77 vụ việc Tuy nhiên, số vụ việc đi đến quyết định điều tra chính thức chỉ là 5 vụ việc(chiếm hơn 6%) Trong 5 vụ việc có quyết định điều tra chính thức, cơ quan cạnh tranh chỉchuyển hồ sơ cho Hội đồng cạnh tranh có 3 vụ việc còn lại 2 vụ là đình chỉ điều tra Nhưvậy số vụ việc hạn chế cạnh tranh được xử lý chính thức chỉ có 2 vụ việc
- Công tác điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đạt được nhiềukết quả như mong đợi Trong giai đoạn 2006-2013, trung bình hàng năm cơ quan cạnh tranh
đã tiến hành điều tra và xử lý khoảng gần 20 vụ/1 năm Tuy nhiên, năm 2012-2013 số vụviệc xử lý có hướng giảm do sự xung đột giữa luật cạnh tranh và luật về xử lý vi phạm hànhchính
- Một trong những kết quả của quá trình thực thi quy định của Luật Cạnh tranh vềkiểm soát TTKT là số việc thông báo TTKT và tham vấn TTKT đã dần tăng lên đáng kể do
có sự chuyển dịch về phương thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đãlựa chọn phương thức đầu tư thông mua hoạt động mua bán, sáp nhập nhằm tiết kiệm nguồnlực, dễ dàng thâm nhập thị trường và giảm thiểu các rào cản gia nhập thị trường Tuy nhiên,vấn đề đặt ra ở đây là 100% các hồ sơ thông báo tập trung kinh tế đều được Cục chấp nhận,
Trang 13không có hồ sơ xin được hưởng miễn trừ và Cục không tiến hành điều tra và xử lý bất kỳ vụviệc tập trung kinh tế bị cấm nào theo quy định của pháp luật cạnh tranh
2.2.3 Thực trạng hoạt động tăng cường sự tiếp cận pháp luật cạnh tranh của cơ quan thực thi
Một trong những mục tiêu quan trọng của công tác thực thi Luật Cạnh tranh là làmsao để Luật thực sự đi vào “đời sống của doanh nghiệp và xã hội”, giúp doanh nghiệp hiểu
và lĩnh hội pháp luật cạnh tranh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trướccác hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh Để làm được điều đó, trong bối cảnh doanh nghiệpcòn chưa thực sự “mặn mà” với việc tự tìm hiểu Luật Cạnh tranh thì công tác tuyên truyềnphổ biến pháp luật cạnh tranh phải được đặc biệt ưu tiên, chú trọng Trong thời gian qua,theo báo cáo hoạt động thường niên của Cơ quan QLCT trong thời gian qua, Cơ quanQLCT đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền phổ biến về pháp luật cạnh tranh tới cộngđồng doanh nghiệp và các đối tượng liên quan
2.3 Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn
2005 đến 2014
2.3.1 Đánh giá theo nhóm tiêu chí bên trong
2.3.1.1 Đánh giá về tính hợp pháp của pháp luật cạnh tranh
Tính hợp pháp của Luật Cạnh tranh được đánh giá dựa trên liệu các quy phạm LuậtCạnh tranh có đảm bảo tính hợp pháp về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức haykhông
- Về hình thức, Luật Cạnh tranh được soạn thảo và ban hành theo đúng những trình tự
thủ tục do luật định, cụ thể là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định LuậtCạnh tranh được Quốc hội, cơ quan lập pháp tối cao của Việt Nam ban hành ngày03/12/2004, tại kỳ họp thứ 6 khoá XI, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua và đãchính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2005
- Về nội dung, các quy phạm Luật cạnh tranh là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với Hiến
pháp, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là với các hiệp định của Tổ chứcthương mại thế giới WTO và thống nhất với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống phápluật của Việt Nam Về cơ bản, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu vềchính sách canh tranh của các nước thành viên WTO đưa ra và các nguyên tắc cơ bản theoquy định của WTO, cụ thể như nguyên tắc không phân biệt đối xử và minh bạch trong hoạtđộng thương mại, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
2.3.1.2 Đánh giá về tính thực tiễn của pháp luật cạnh tranh
Xét về tổng thể, Luật Cạnh tranh được ban hành phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầucủa xã hội thời điểm 2005-2006 Tuy nhiên, để có thể thực hiện một cách có hiệu quả cácquy phạm của Luật, các quy phạm này đòi hỏi cũng phải đáp ứng các yêu cầu về từng quyphạm pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn
Thực tế áp dụng các quy phạm Luật Cạnh tranh cho thấy, đến nay có những quyphạm không còn phù hợp với thực tiễn, gây cản trở hiệu quả thực thi của luật cạnh tranh vàcác văn bản hướng dẫn
- Các quy định về xác định thị trường liên quan
Ở Việt Nam, hai sản phẩm, dịch vụ được coi là có khả năng thay thế cho nhau tức làphải thay thế được cho nhau cả về “đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả” và nếu một trong
ba tiêu chí không thể thay thế cho nhau thì có thể kết luận hai sản phẩm nằm trên thị trườngsản phẩm liên quan khác nhau Việc đánh giá cả ba tiêu chí đối với bất cứ sản phẩm, dịch vụnào dẫn đến kết luận về khả năng thay thế cho nhau của các sản phẩm, dịch vụ không phảnánh đúng thực tế cạnh tranh trên thị trường
Trang 14Nếu áp dụng cứng nhắc Khoản 1 Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP sẽ dẫn đến tìnhtrạng, mỗi sản phẩm, dịch vụ là một thị trường riêng biệt, không thể thay thế, và doanhnghiệp sản xuất, hoặc cung ứng sản phẩm, dịch vụ đó sẽ luôn là doanh nghiệp có vị trí độcquyền hoặc thống lĩnh trên thị trường liên quan được xác định.
- Các quy định về thủ tục khiếu nại vụ việc cạnh tranh
Theo Điều 58 của Luật Cạnh tranh, “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của mình bị xâm phạm do hành vi vi phạm của Luật Cạnh tranh” có quyền khiếu nạiđến cơ quan cạnh tranh Tuy nhiên, trách nhiệm của người khiếu nại là phải cung cấp cho cơquan cạnh tranh chứng cứ về hành vi vi phạm, chịu trách nhiệm về tính trung thực củachứng cứ đã cung cấp cho cơ quan cạnh tranh
Tuy nhiên, chính những yêu cầu này lại gây ra những khó khăn và gánh nặng cho bênkhiếu nại khi hành vi có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh là có thật, nhưng không thể thuthập tài liệu, chứng cứ chứng minh cho hành vi vi phạm Những trở ngại này dẫn đến việcbên khiếu nại dễ dàng bỏ qua hành vi vi phạm do những rườm rà trong thủ tục khiếu nại
- Về quy trình điều tra, xử lý vụ việc
Những vụ việc cạnh tranh thường mang tính chất phức tạp, đặc biệt vụ việc hạn chếcạnh tranh, không chỉ đòi hỏi những phân tích về quy định của pháp luật, mà còn dựa trêncác phân tích kinh tế Bằng chứng, thông tin trong một vụ việc không chỉ thu thập tại mộtthời điểm mà còn cả một quá trình, từ trong, trước và sau khi diễn ra hành vi vi phạm củadoanh nghiệp Ngoài 30 ngày điều tra sơ bộ, 150 ngày (kể cả thời gian gia hạn) đối với vụviệc cạnh tranh không lành mạnh và 300 ngày (kể cả 2 làn gia hạn) đối với vụ việc hành chếcạnh tranh là khoảng thời gian quá ngắn để cơ quan cạnh tranh có thể thu thập tất cả cácthông tin cần thiết, và đưa ra kết luận chính xác
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý
vụ việc phải ra một trong các quyết định mở Phiên điều trần, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổsung, hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh Trên thực tế, vụ việc lạm dụng vị tríthống lĩnh/độc quyền là những vụ việc rất phức tạp, hồ sơ vụ việc có thể lên đến hàng nghìnbút lục Trong khi đó, các thành viên Hội đồng xử lý thường là những cán bộ kiêm nhiệm,không chuyên trách, vì vậy, khoảng thời hạn 30 ngày để đưa ra quyết định xử lý vụ việc làkhông hợp lý Đối với một vụ việc được thu thập thông tin và chứng cứ trong khoảng thờigian gần một năm, trong vòng 30 ngày, các thành viên của Hội đồng xử lý khó có thể hiểuđược một cách rõ ràng mọi thông tin vụ việc, điều này ảnh hưởng đến tính chính xác củaquyết định của Hội đồng xử lý đối với vụ việc
Trong thực tế vụ việc thường có sự liên quan của hai hay nhiều doanh nghiệp Hộiđồng cạnh tranh sau khi đã ra quyết định xử lý, các doanh nghiệp dù là bị đơn hay nguyênđơn cũng đều có quyển khởi kiện khiếu nại về quyết định của Hội đồng cạnh tranh tới cáctòa án cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương Vì vậy, khả năng có thể xảy ra là Hộiđồng cạnh tranh sẽ phải theo đuối vụ kiện với danh nghĩa là bị đơn ở rất nhiều nơi khi màcác doanh nghiệp khiếu nại khởi kiện tại các địa phương khác nhau
- Về biện pháp xử lý vi phạm
Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh ở Việt Nam được quy định vàhướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, bao gồm hình thức xử phạt chính làphạt cảnh cáo và phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung và một số biện pháp khắc phục hậuquả Việc xử phạt các hành vi vi phạm vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
Thứ nhất, mức phạt tiền được xác định căn cứ trên tổng doanh thu của năm tài chính
trước năm thực hiện hành vi vi phạm là không hợp lý Theo quy Luật cạnh tranh, mức phạttiền đối với hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh lên đến 10% tổng doanh thu của nămtài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm Trên thực tế, hành vi vi phạm pháp luật cạnh