PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận án Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu…”[6]. Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu: “Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11–12%/năm trong thời kỳ 2011–2020, trong đó giai đoạn 2011–2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016–2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm”[51]. Để thực hiện được mục tiêu đó, Chiến lược đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng”[51]. Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề ra định hướng tới năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thế giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ít thị trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thị trường mới như thị trường Châu Phi. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đang diễn ra gay gắt đòi hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chi tiết về thị trường Châu Phi. Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực thị trường đều mang những đặc điểm thị trường có tính đặc thù riêng, vì vậy rất cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu từng thị trường và khu vực thị trường. Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất của châu Phi và là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục. SACU được thành lập từ năm 1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thế giới. Hiện nay khối liên minh này bao gồm 5 quốc gia thành viên đó là Nam Phi, Bostwana, Lesotho, Namibia và Swaziland. Thị trường các nước SACU được đánh giá có nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng khá ổn định, có nhu cầu hàng hóa lớn và đa dạng, chủ yếu là sản phẩm chất lượng vừa phải, giá rẻ. Bên cạnh đó, tình hình chính trị của các nước khu vực SACU khá ổn định; việc Mỹ, EU và một số nước cho phép nhiều sản phẩm các nước khu vực SACU tiếp cận tương đối tự do và thuận lợi hơn thị trường của họ cũng như nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn đã giúp thị trường các nước khu vực SACU ngày càng giành được sự quan tâm chú ý của nhiều nước trên thế giới. Các nước SACU là một khu vực thị trường còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp nước ta. Trao đổi thương mại với các nước khu vực này vẫn còn hạn chế. Năm 2014, trao đổi thương mại hai chiều mới đạt mức 1,014 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 814 triệu USD và nhập khẩu đạt 200 triệu USD. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU còn hạn chế đó các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp chưa thực sự có nhiều giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy, phát triển quan hệ thương mại với các nước này. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) một cách có hệ thống sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách và giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại của nước ta sang các nước SACU đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng chính là lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu xác lập các quan điểm, định hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanh thương mại trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU. * Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU, những vấn đề đã được nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa sâu để tập trung nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh thuế quan.
Trang 1TRẦN QUANG HUY
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC TRONG LIÊN MINH
THUẾ QUAN MIỀN NAM CHÂU PHI (SACU)
Chuyên ngành: Thương mại
Mã số: 62.34.10.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hướng dẫn 1: PGS.TS Trần Công SáchHướng dẫn 2: GS TS Đỗ Đức Bình
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệunêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Quang Huy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iiii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận án 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Những đóng góp mới của luận án 5
6 Kết cấu nội dung của luận án 6
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIỀN CỨU 7
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến đề tài luận án 7
2 Những vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu có liên quan và hướng nghiên cứu của luận án 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA MỘT QUỐC GIA VỚI CÁC NƯỚC TRONG MỘT LIÊN MINH THUẾ QUAN 16
1.1 Lý luận về quan hệ thương mại giữa các quốc gia 16
1.1.1 Khái quát lý thuyết về quan hệ thương mại quốc tế 16
1.1.2 Đặc điểm quan hệ thương mại quốc tế của một liên minh thuế quan .23 1.2 Nội dung, hình thức, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia và các nước trong một liên minh thuế quan 27
1.2.1 Nội dung và hình thức phát triển quan hệ thương mại 27
Trang 41.2.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển quan hệ thương mại 32
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại 34
1.3 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển quan hệ thương mại với các nước trong SACU và bài học rút ra cho Việt Nam 36
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển quan hệ thương mại với các nước trong SACU 36
1.3.2 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 42
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG LIÊN MINH THUẾ QUAN MIỀN NAM CHÂU PHI (SACU) 45
2.1 Các nước SACU và chính sách thương mại đối với Việt Nam 45
2.1.1 Đặc điểm kinh tế của các nước SACU 45
2.1.2 Chính sách thương mại của SACU đối với Việt Nam 57
2.2 Chính sách thương mại của Việt Nam đối với các nước SACU 61
2.2.1 Khái quát về quan hệ chính trị, ngoại giao 61
2.2.2 Chính sách thương mại của Việt Nam đối với các nước SACU 63
2.3 Thực trạng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU 67
2.3.1 Phát triển quan hệ thương mại ở cấp độ thể chế 67
2.3.2 Phát triển quan hệ thương mại ở cấp độ thực thể 72
2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU 86
2.4.1 Những thành quả đạt được 86
2.4.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 88
Trang 5Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG LIÊN
MINH THUẾ QUAN MIỀN NAM CHÂU PHI (SACU) 93
3.1 Triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU 93
3.1.1 Triển vọng hội nhập kinh tế khu vực của SACU 93
3.1.2 Triển vọng phát triển kinh tế của các nước SACU 96
3.1.3 Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU 99
3.1.4 Dự báo triển vọng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU 101
3.2 Quan điểm và định hướng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU thời kỳ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 105
3.2.1 Quan điểm phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU 105
3.2.2 Định hướng phát triển quan hệ thương mại với giữa Việt Nam với các nước SACU 107
3.3 Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong SACU giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 110
3.3.1 Giải pháp ở cấp độ vĩ mô 110
3.3.2 Khuyến nghị cho doanh nghiệp 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt tiếng Anh
AfDB Africa Development
Bank
Ngân hàng Phát triển châu Phi
AGOA African Growth and
Đại hội dân tộc Phi
BRICS Brasil, Russia, India,
China, South Africa
Nhóm các nước gồm Brasil, Nga, Ấn
Độ, Trung Quốc và Nam PhiBLNS Botswana, Lesotho,
Namibia and Swaziland
Nhóm các nước gồm Botswana, Lesotho, Namibia và SwazilandCET Common Effective Tarrif Thuế quan đối ngoại chung
COMESA Common Market for
Eastern and Southern Africa
Thị trường chung Đông và Nam châu Phi
EPA Economic Partnership
Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế
FAO Food and Agriculture
Organization
Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
FTA Free Trade Area Khu vực thương mại tự do
IMF International Monetary
Fund
Quĩ Tiền tệ quốc tế
MFN Most-Favored Nations
Treatment
Quy chế tối huệ quốc
SACU South African Customs
Trang 7Công ty xuyên quốc gia
UNCTAD United Nations
Conference on Trade andDevelopment
Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các chỉ số kinh tế của khối SACU, 2002-2012 47
Bảng 2.2 Kinh tế các nước SACU, 2012 49
Bảng 2.3 Ngoại thương khối SACU, 2002-2012 52
Bảng 2.4 Ngoại thương của các nước thành viên SACU, 2012 53
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nam Phi, 1992-1999 72
Bảng 2.6 Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước SACU, 2000-2006 73
Bảng 2.7 Nhập khẩu của Việt Nam từ các nước SACU, 2000-2006 74
Bảng 2.8 Kim ngạch XNK Việt Nam – SACU, 2007-2014 75
Bảng 2.9 Xuất khẩu của Việt Nam sang SACU, 2007-2014 76
Bảng 2.10 Nhập khẩu của Việt Nam từ SACU, 2007-2014 77
Bảng 2.11: Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước SACU, 2007-2014 78
Bảng 2.12 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang SACU 79
Bảng 2.13 Mặt hàng xuất khẩu sang Nam Phi năm 2014 80
Bảng 2.14 Mặt hàng xuất khẩu sang Botswana năm 2014 80
Bảng 2.15 Mặt hàng xuất khẩu sang Lesotho năm 2014 81
Bảng 2.16 Mặt hàng xuất khẩu sang Namibia năm 2014 81
Bảng 2.17 Mặt hàng xuất khẩu sang Swaziland năm 2014 82
Bảng 2.18 Nhập khẩu của Việt Nam từ các nước SACU, 2007-2014 83
Bảng 2.19 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ SACU 84
Bảng 2.20 Mặt hàng nhập khẩu từ Nam Phi năm 2014 84
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận án
Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tếđối ngoại của Đảng và Nhà nước Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-
2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề
ra định hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả cácthị trường có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanhxuất khẩu…”[6]
Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đếnnăm 2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu: “Tốc độ tăng trưởng xuất khẩuhàng hóa bình quân 11–12%/năm trong thời kỳ 2011–2020, trong đó giaiđoạn 2011–2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016–2020 tăngtrưởng bình quân 11%/năm”[51] Để thực hiện được mục tiêu đó, Chiến lược
đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đadạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa ViệtNam tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trườngxuất khẩu mới có tiềm năng”[51] Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề
ra định hướng tới năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước
Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhànước ta trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay thế giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ítthị trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thịtrường mới như thị trường Châu Phi Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập
Trang 10kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đangdiễn ra gay gắt đòi hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chitiết về thị trường Châu Phi Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốcgia Mỗi quốc gia, khu vực thị trường đều mang những đặc điểm thị trường cótính đặc thù riêng, vì vậy rất cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyênsâu từng thị trường và khu vực thị trường
Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quanmiền Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất củachâu Phi và là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục SACU được thànhlập từ năm 1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thếgiới Hiện nay khối liên minh này bao gồm 5 quốc gia thành viên đó là NamPhi, Bostwana, Lesotho, Namibia và Swaziland
Thị trường các nước SACU được đánh giá có nhiều tiềm năng do kinh tếtăng trưởng khá ổn định, có nhu cầu hàng hóa lớn và đa dạng, chủ yếu là sảnphẩm chất lượng vừa phải, giá rẻ Bên cạnh đó, tình hình chính trị của cácnước khu vực SACU khá ổn định; việc Mỹ, EU và một số nước cho phépnhiều sản phẩm các nước khu vực SACU tiếp cận tương đối tự do và thuận lợihơn thị trường của họ cũng như nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoàikhá hấp dẫn đã giúp thị trường các nước khu vực SACU ngày càng giànhđược sự quan tâm chú ý của nhiều nước trên thế giới
Các nước SACU là một khu vực thị trường còn khá mới lạ đối với cácdoanh nghiệp nước ta Trao đổi thương mại với các nước khu vực này vẫncòn hạn chế Năm 2014, trao đổi thương mại hai chiều mới đạt mức 1,014 tỷUSD, trong đó xuất khẩu đạt 814 triệu USD và nhập khẩu đạt 200 triệu USD.Một trong những nguyên nhân chính khiến cho trao đổi thương mại giữa ViệtNam và các nước SACU còn hạn chế đó các cơ quan quản lý nhà nước, các
Trang 11doanh nghiệp chưa thực sự có nhiều giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy, phát triểnquan hệ thương mại với các nước này
Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) một cách có hệ thống sẽ góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách và giải pháp vĩ mô và vi
mô nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại của nước ta sang các nước SACU đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đây cũng chính là lý do cho việc lựa chọn
đề tài nghiên cứu của luận án
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu xác lập các quan điểm,định hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanhthương mại trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nướcSACU
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện nhữngnhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việcphát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU, những vấn
đề đã được nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặcnghiên cứu chưa sâu để tập trung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nóichung và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liênminh thuế quan
- Phân tích, đánh giá chính sách thương mại và các giải pháp đã đượctriển khai nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong
Trang 12SACU; phân tích, đánh giá thực trạng trao đổi thương mại giữa Việt Nam và cácnước trong SACU để tổng kết những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân củaquan hệ thương mại giữa Việt Nam và trong các nước SACU.
- Phân tích triển vọng phát triển, đề xuất các quan điểm, định hướng vàkiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa ViệtNam và các nước trong SACU đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển quan hệ thương mạigiữa Việt Nam và các nước SACU
* Phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Thời gian nghiên cứu:
Thực trạng phát triển quan hệ thương mại, trong đó chủ yếu là trao đổithương mại hàng hóa giữa Việt Nam và các nước SACU từ năm 1992, khiViệt Nam bắt đầu có quan hệ thương mại với các nước SACU - đến nay; cácgiải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACUcho giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
Trang 13* Phương pháp nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp
Bên cạnh việc nghiên cứu lý luận tại bàn về các vấn đề liên quan đếnquan hệ thương mại giữa các quốc gia, tác giả còn tiến hành trao đổi với đốitượng có liên quan trong và ngoài nước như các nhà quản lý, các cán bộ làmcông tác xúc tiến thương mại, đại diện một số doanh nghiệp và người tiêudùng của Việt Nam và các nước SACU
* Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Tác giả thu thập các văn bản, các công trình khoa học, đề tài, bài báo,sách, thông tin liên quan đến phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gianói chung và phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nướcSACU nói riêng để nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra chéo
Nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập, tác giả
đã sử dụng phương pháp điều tra chéo để đưa ra số liệu, thông tin được sátthực với thực tế
- Chọn lọc, phân tích, đánh giá và tổng hợp
Lựa chọn nguồn số liệu để tiến hành phân tích, đánh giá, tổng hợpnhằm đưa ra các nhận định, đánh giá và đề xuất giải pháp
- Phương pháp mô tả thống kê
Căn cứ trên báo cáo, số liệu thống kê để đưa ra các tiêu chí và tổng hợp
số liệu làm cơ sở cho các nhận định và đề xuất các giải pháp cho đề tài
5 Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềphát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU Bên cạnhcác cơ sở lý thuyết mang tính kinh điển, quan hệ thương mại giữa Việt Nam
và các nước SACU được xác lập trên cơ sở chính sách đa phương hóa, đa
Trang 14dạng hóa quan hệ thương mại của hai bên trong bối cảnh tự do hóa thươngmại và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
- Phân tích và đánh giá chính sách thương mại và các giải pháp đã đượctriển khai nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nướcSACU; thực trạng trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU,những kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam
và các nước SACU, trong đó có các giải pháp đẩy mạnh trao đổi thương mạihàng hóa giữa hai bên, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cậnthị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu củaViệt Nam tại thị trường các nước SACU
- Bổ sung nguồn tư liệu cho công tác quản lý Nhà nước về thương mại,công tác nghiên cứu về việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam vàcác nước SACU
6 Kết cấu nội dung của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan các công trình nghiên cứu, kết luận,danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án được kết cấu thành 3chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các đối tác trong liên minh thuế quan
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU).
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU).
Trang 15TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIỀN CỨU
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến đề tài luận án
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan
về các nước SACU như:
- Nghiên cứu của Colin Mc Carthy - The Southern African CustomsUnion (Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi) [33]
Nghiên cứu đã nêu khái quát quá trình hình thành và phát triển củaSACU, những nội dung chính của các Hiệp định năm 1910, năm 1969 và năm
2002, những vấn đề phát sinh từ các Hiệp định này và ảnh hưởng của nó tớicác nước thành viên
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã tập trung vào phân tích lĩnh vựccông nghiệp và nông nghiệp của các nước SACU
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số gợi ý chínhsách nhằm phát triển sự hợp tác giữa các nước SACU trong việc phát triểnkinh tế và nâng cao vai trò của các cơ quan thường trực của SACU
- Nghiên cứu của Gerhard Erasmus - New SACU Institutions: Prospectsfor Regional Integration (Các định chế mới của SACU – Triển vọng cho hộinhập khu vực) [35]
Nghiên cứu đã tập trung phân tích các nội dung của Hiệp định SACUnăm 2002 Theo đó, các nước SACU đã bước vào một giai đoạn phát triểnmới, với việc thành lập và vận hành các bộ máy thường trực của SACU, sựphối hợp chung về chính sách giữa các nước thành viên và sự bình đẳng hơntrong việc ra quyết định chung của khối giữa các nước thành viên
Trang 16Nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức mà các nước SACU cần phảigiải quyết cũng như những hạn chế Hiệp định SACU năm 2002.
- Nghiên cứu của Carine Zamay Kiala - The Politics of Trade in theSouthern African Customs Union: Prospect of a SACU-China Free TradeAgreement (Vấn đề thương mại của SACU – Triển vọng của Hiệp địnhthương mại tự do SACU-Trung Quốc) [32]
Nghiên cứu đã phân tích những cơ sở lý luận cho việc phát triển quan hệthương mại giữa một quốc gia và một liên minh quan thuế, trong đó nêu ranhững nét đặc trưng của một liên minh quan thuế
Nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng nền kinh tế của các nước SACU
và Trung Quốc, các lợi thế của mỗi bên và khả năng ký kết một Hiệp địnhthương mại tự do giữa hai bên Những nghiên cứu bước đầu cho thấy, mộtHiệp định như vậy nếu được ký kết sẽ có lợi hơn cho Trung Quốc vì hàng hóaxuất khẩu của nước này cạnh tranh và đa dạng hơn so với các nước SACU,vốn dựa vào xuất khẩu các tài nguyên thiên nhiên dưới dạng thô
- Nghiên cứu của Debesh Bhowmik - Regional Integration in Africa: acase study of SACU (Hội nhập khu vực ở châu Phi: nghiên cứu trường hợpcủa SACU) [31]
Nghiên cứu đã sử dung phương pháp phân tích định lượng để đánh giá vềtriển vọng thiết lập một khu vực đồng tiền trung giữa các nước thành viêcSACU, một bước phát triển cao hơn cho các mô hình hội nhập kinh tế khuvực ở châu Phi
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thiết lập một khu vực đồng tiềnchung giữa các nước SACU là hoàn toàn khả thi và nếu được triển khai sẽgóp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế hơn nữa giữa cácnước thành viên SACU
Trang 17- Báo cáo của WTO - Trade Policy Review of the Southern AfricanCustoms Union (Rà soát chính sách thương mại của SACU) [43].
Đây là bộ tài liệu bao gồm báo cáo của Ban Thư ký WTO và báo cáo củacác nước SACU về chính sách thương mại của khối SACU cũng như của cácnước thành viên
Tài liệu đã phân tích tổng thể về tình hình phát triển kinh tế của cả khốicũng như của từng nước thành viên SACU
Tài liệu đã tập trung phân tích các chính sách thương mại của SACU vàcác nước thành viên, quan hệ thương mại giữa SACU và các đối tác
Các kết quả nghiên cứu cho thấy các nước SACU đã thực hiện đúng cáccam kết của mình trong khuôn khổ WTO về cắt giảm thuế quan cũng như ápdụng minh bạch các hàng rào phi thuế quan
- Nghiên cứu của Sukati Mphumuzi - The Economic PartnershipAgreements (EPAs) and the Southern African Customs Union (SACU)Region – The Case for South Africa (Hiệp định đối tác kinh tế và các nướcSACU – Trường hợp của Nam Phi) [41]
Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp phân tích định lượng để sosánh lợi ích thu được của các nước SACU khi đàm phàn chung hoặc riêng
rẽ với một Hiệp định đối tác kinh tế với EU, đối tác thương mại lớn nhấtcủa cả khối
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu đàm phán chung là một khối thì cácnước SACU sẽ thu được lợi ích từ Hiệp định, trong khi nếu đàm phán riêng rẽthì các nước SACU sẽ bị thiệt hại từ việc ký kết và thực hiện Hiệp định
- Nghiên cứu của WTO - The WTO and Preferential Trade Agreements:From Co-existence to Coherence (WTO và các hiệp định ưu đãi thương mại –
từ cùng tồn tại đến sự gắn kết) [44]
Trang 18Nghiên cứu đã tổng kết và phân tích chi tiết xu hướng ký kết các hiệpđịnh thương mại tự do trên thế giới, việc hình thành các liên kết kinh tế khuvực, trong đó có các liên minh quan thuế và SACU là một ví dụ.
Nghiên cứu cũng đã phân tích tác động của việc tham gia các liên kếtkinh tế đối với các nước thành viên, vấn đề tạo lập và chuyển hướng thươngmại; những ảnh hưởng của nó đến việc phát triển thương mại toàn cầu
- Báo cáo Africa Economic Outlook 2013 (Triển vọng phát triển kinh tếChâu Phi năm 2013) của Ngân hàng Phát triển châu Phi (AfDB) [28]
Báo cáo triển vọng kinh tế châu Phi năm 2013 của AfDB đưa ra đánh giá
về tình hình phát triển kinh tế của các nước châu Phi, trong đó có các nướcchâu Phi trong giai đoạn gần đây và triển vọng trong thời gian tới
Nghiên cứu cho thấy kinh tế các nước SACU đã tăng trưởng trở lại saukhi bị ảnh hưởng nặng nề bởi tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, tuynhiên tăng trưởng còn ở mức khiêm tốn
Triển vọng trung hạn cho thấy kinh tế và hoạt động ngoại thương của cácnước SACU tiếp tục tăng trưởng ở mức trung bình, tuy nhiên vẫn sẽ chịunhững tác động từ môi trường kinh tế thế giới
Các nghiên cứu nêu trên đã cho thấy quá trình hình thành và phát triểncủa khối SACU; sự phát triển kinh tế, chính sách thương mại của các nướcSACU và quan hệ thương mại của các nước trong SACU và với một số đốitác thương mại trên thế giới
Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên không có nghiên cứu nào đề cập trựctiếp tới quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong SACU
1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam, cho tới nay mới chỉ có một số đề tài nghiên cứu về thịtrường châu Phi, trong đó có đề cập đến các nước SACU, chủ yếu là NamPhi
Trang 19- Trần Thị Lan Hương (2010), Cải cách kinh tế ở Cộng hòa Nam Phi giai đoạn 1994-2004, Luận án Tiến sĩ kinh tế [15]
Luận án đã phân tích những nét chính của cải cách kinh tế ở Cộng hòaNam Phi, nền kinh tế chủ chốt của khối SACU, kể từ sau chế độ Apartheidđến năm 2004 Theo đó, những nội dung cốt lõi của cải cách kinh tế ở NamPhi là: thay đổi thể chế kinh tế, trao quyền kinh tế lớn hơn cho người da đen,tái hội nhập khu vực và toàn cầu Những cải cách này đã có tác động to lớnđến đường lối phát triển kinh tế và chính sách thương mại không chỉ của riêngNam Phi mà còn của cả khối SACU do vai trò đặc biệt của Nam Phi trongviệc hoạch định chính sách của cả khối
- GS.TS Nguyễn Văn Thường và nhóm tác giả (2006), Giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam-Châu Phi, Đề tài khoa học cấp nhà nước,
Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội [21]
Đề tài đã có những đánh giá thực trạng thị trường Châu Phi về nhu cầu,khả năng xuất nhập khẩu, khả năng thanh toán, từ đó xác định vai trò của thịtrường châu Phi trong chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Đề tài cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ thương mại ViệtNam - Châu Phi trong những năm gần đây, rút ra những thành công, hạn chế
và bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển quan hệ thương mại ViệtNam - Châu Phi
Trên cơ sỏ đó, đề tài đã đề xuất định hướng và các giải pháp thúc đẩyphát triển quan hệ thương mại Việt Nam-Châu Phi trong những năm đầu củathế kỷ XXI
Một kết quả rất có ý nghĩa của đề tài là đã tiến hành khảo sát các doanhnghiệp về việc phát triển quan hệ thương mại với châu Phi, từ đó giúp cho đềtài có các phân tích, đánh giá về vị trí, vai trò của thị trường châu Phi đối vớicác doanh nghiệp cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp trong việc nhậnđược sự hỗ trợ của Nhà nước
Trang 20- Bộ Thương mại (2003), Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và một số nước châu Phi, Đề tài cấp Bộ [1]
Trong đề tài này đã có đề cập đến các liên minh kinh tế ở châu Phi, trong
đó có SACU Tuy nhiên, đề tài mời chỉ dừng ở việc liệt kê các nước thànhviên của SACU và nêu đặc điểm là các nước này đã áp dụng một biểu thuếđối ngoại chung
Đề tài cũng đã đề cập đến tình hình phát triển kinh tế và triển vọng pháttriển quan hệ thương mại với các nước châu Phi, trong đó đã tập trung phântích về Nam Phi và có nêu qua về các nước thành viên SACU khác làBotswana, Lesotho, Namibia và Swaziland
Đề tài đã nghiên cứu về quan hệ thương mại của Việt Nam với một sốnước Châu Phi giai đoạn từ 1991-2001 và đề ra các giải pháp cho giai đoạn2001-2010 Trong số các nước thành viên SACU, đề tài mới tập trung vàophân tích quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nam Phi
- Bộ Công Thương (2008), Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường châu Phi, Đề tài cấp Bộ [3]
Đề tài đã nghiên cứu về đặc điểm thị trường, nhu cầu nhập khẩu của cácnước châu Phi và kinh nghiệm của các nước trong việc thúc đẩy xuất khẩusang thị trường châu Phi
Đề tài cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu củaViệt Nam sang châu Phi giai đoạn 2001-2007, nêu bật những kết quả đạtđược, những hạn chế và nguyên nhân
Từ đó, đề tài đã đề xuất giải pháp và chính sách quản lý nhằm đẩy mạnhxuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang châu Phi cho giai đoạn đến 2015.Trong đó, Nam Phi được xác định là cửa ngõ để hàng hóa Việt Namthâm nhập vào thị trường các nước miền Nam châu Phi, trong đó có cácnước SACU
Trang 21Đề tài cũng đưa ra nhận định rằng châu Phi là một lục địa rộng lớn vớidân số đông, các quốc gia lại khác biệt nhau khá lớn về chính trị xã hội, kinh
tế thương mại, văn hóa tôn giáo, nên để tìm ra những giải pháp cụ thể, chi tiếtcho việc phát triển quan hệ thương mại với các nướctrong châu lục này, cầnphải có nhiều nghiên cứu chuyên sâu Đặc biệt, có một số quốc gia như Cộnghoà Nam Phi hay Ai Cập, hay một số tổ chức hợp tác khu vực như COMESA,SACU… cần phải có những công trình nghiên cứu riêng biệt
- Bộ Công Thương (2010), Nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp vào thị trường châu Phi, Đề tài cấp Bộ [4]
Đề tài đã nghiên cứu và phân tích các yếu tố thị trường, những thuận lợi
và khó khăn của doanh nghiệp khi xuất khẩu sang Châu Phi nói chung và xuấtkhẩu hàng công nghiệp sang thị trường nói riêng, phân tích và đúc rút kinhnghiệm của một số nước thành công tại thị trường Châu Phi thời gian qua đểrút ra những bài học, đánh giá về thực trạng chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàngcông nghiệp của Việt Nam để từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp đẩymạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang thị trường Châu Phi trong thời gian tới.Theo kết quả nghiên cứu, nhằm thực hiện đẩy mạnh xuất khẩu hàng côngnghiệp sang thị trường Châu Phi, cần một số biện pháp về chính sách như: tạomôi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp thông qua việc tăngcường quan hệ hợp tác cấp nhà nước giữa Việt Nam và các nước đối tác ChâuPhi, phát triển công nghiệp phụ trợ hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất và xuấtkhẩu hàng công nghiệp, tạo môi trường thông thoáng hơn nữa để thu hút FDI,đặt biệt FDI hướng vào xuất khẩu Đầu tư và tổ chức tốt cơ sở hậu cần, thôngtin tăng khả năng tổng hợp về tiếp cận thị truờng Châu Phi Các chính sách hỗtrợ đồng bộ về tín dụng, về thuế, về hành chính để khuyến khích các công tysản xuất và phân phối cho thị trường Châu Phi nói riêng và các thị trường cònnhiều khó khăn chưa khai phá nói chung
Trang 22- Trịnh Huy Hóa (biên dịch) (2005), Đối thoại với các nền văn hóa: Nam Phi, NXB Trẻ [11]
Tác phẩm này đã giới thiệu vị trí địa lý, lịch sử, các thể chế, đặc trưngcủa nền kinh tế, đặc điểm văn hóa, tôn giáo, lễ hội, ẩm thực ở Nam Phi, thànhviên chủ chốt của SACU
- Đỗ Đức Định (chủ biên) (2006), Tình hình chính trị, kinh tế cơ bản của Châu Phi, NXB Khoa học xã hội [8]
Tác phẩm giới thiệu khái quát tình hình chính trị, kinh tế của các nướcChâu Phi, trong đó có các nước SACU
2 Những vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu có liên quan và hướng nghiên cứu của luận án
Các công trình nghiên cứu trên đây có liên quan đến các vấn đề về châuPhi, thị trường châu Phi, về các nước SACU, quan hệ kinh tế và thương mạiViệt Nam với các nước châu Phi Tuy rằng mỗi công trình đã nêu trên đây
có những cách tiếp cận, đề cập một hoặc một số vấn đề riêng lẻ, với phạm vinghiên cứu nhất định và mức độ nông sâu khác nhau liên quan đến vấn đềphát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước thuộc SACU,nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về việc pháttriển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU ở cả hai cấp độthể chế thương mại và thực thể thương mại
Do đó, có thể thấy rằng việc phát triển quan hệ thương mại giữa ViệtNam với các nước trong SACU là một vấn đề hoàn toàn mới, cần đượcnghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện
Luận án sẽ đi sâu nghiên cứu về vấn đề này, sẽ tập trung vào các nộidung chính sau:
- Các lý luận cơ bản về việc phát triển quan hệ thương mại giữa cácquốc gia nói chung và những vấn đề cụ thể trong việc phát triển quan hệ
Trang 23thương mại với các nước thuộc một liên minh thuế quan Trong đó, phân tích
kỹ những đặc điểm về chính sách thương mại của một liên minh thuế quan vàtác động của nó tới việc phát triển quan hệ thương mại
- Thực trạng phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nướcSACU ở cấp độ thể chế thương mại và thực thể thương mại, trong đó tậptrung quan hệ thương mại hàng hóa
- Triển vọng, định hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mạigiữa Việt Nam và các nước SACU
Trang 24Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA MỘT QUỐC GIA VỚI CÁC NƯỚC
TRONG MỘT LIÊN MINH THUẾ QUAN
1.1 Lý luận về quan hệ thương mại giữa các quốc gia
1.1.1 Khái quát lý thuyết về quan hệ thương mại quốc tế
1.1.1.1 Cơ sở lý thuyết về nguồn gốc và bản chất của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế được xác định là hoạt động trao đổi, mua bán hànghóa, dịch vụ, hoạt động đầu tư giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ
Các hình thức và nội dung hoạt động của thương mại quốc tế bao gồm:
- Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa: Đây là hoạt động xuất hiện đầutiên trong thương mại quốc tế, phát triển không ngừng và vẫn là hình thức phổbiến và quan trọng nhất hiện nay
- Hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ: Hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ
là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩmđược xem là vô hình, phi vật thể như lao động, chuyển giao công nghệ, dịch
vụ logistics, du lịch quốc tế, tài chính, tiền tệ… Hoạt động thương mại dịch
vụ hoạt động ngay càng phát triển và đóng một vai trò quan trọng trongthương mại quốc tế
- Hoạt động đầu tư quốc tế bao gồm việc đưa vốn đầu tư ra nước ngoài vàtiếp nhận vốn đầu tư vào trong nước nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các bêntham gia Có hai hình thức đầu tư là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Có hai nguyên nhân cơ bản được xem là nguồn gốc của thương mạiquốc tế
Thứ nhất, xét ở bình diện quốc gia, nhu cầu của quốc gia là vô hạntrong khi nguồn lực của quốc gia là có giới hạn nên các quốc gia phải tiến
Trang 25hành giao thương với nhau để thỏa mãn một cách tối ưu nhất các nhu cầucủa mình.
Thứ hai, hoạt động thương mại quốc tế mang lại rất nhiều lợi ích chocác quốc gia Nhờ hoạt động thương mại quốc tế các quốc gia tạo thêm đượcnhiều công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân.Lợi ích vừa là mục tiêu và đồng thời là động lực thúc đẩy các quốc gia giaothương với nhau
Khác với thương mại nội địa, thương mại quốc tế là lĩnh vực hoạt độngvượt ra ngoài biên giới của một quốc gia Do đó nhà nước sẽ tổ chức bộ máyquản lý, điều hành và kiểm soát chặt chẽ quá trình lưu thông hàng hóa, dịch
vụ nhằm đảm bảo những lợi ích quốc gia
Hoạt động thương mại quốc tế là rất phức tạp vì đây là hoạt động liênquan đến các quốc gia khác nhau, trong đó mỗi quốc gia có những ngôn ngữriêng biệt, luật pháp khác nhau, tập quán khác nhau… Do đó, giữa các quốcgia sẽ phải đàm phát để đạt được các thỏa thuận về thương mại quốc tế ở cáccấp độ song phương, khu vực, đa phương và toàn cầu
Các học thuyết về thương mại quốc tế là những lý thuyết giải thích cơ sởkhoa học hình thành thương mại quốc tế và lợi ích đạt được của các chủ thểtham gia quá trình này Các học thuyết về thương mại quốc tế phát triển từđơn giản đến phức tạp và ngày càng hoàn thiện Theo thời gian và tiến trìnhphát triển có thể chia thành hai nhóm lý thuyết: lý thuyết thương mại cổ điển
và lý thuyết thương mại hiện đại
Lý thuyết thương mại cổ điển bắt đầu với những quan điểm của chủnghĩa trọng thương, tiếp đó là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lýthuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết về chi phí cơ hội vàđường giới hạn khả năng sản xuất của Gotfried Haberler
Trang 26Học thuyết kinh tế của trường phái trọng thương cho rằng con đường trởthành một quốc gia giàu có và hùng mạnh chính là thông qua xuất khẩu hànghóa Kết quả của xuất khẩu hàng hóa sẽ tạo ra nhiều vàng bạc cho các quốcgia, giúp quốc gia ngày càng giàu có và hùng mạnh Do đó, chính phủ cầnkích thích xuất khẩu và ngăn chặn nhập khẩu, nhất là nhập khẩu hàng hóa tiêudùng xa xỉ Tuy nhiên, vì không phải tất cả các quốc gia đều có thể thu đượcthặng dư xuất khẩu và số lượng vàng bạc là có hạn nên nếu một quốc gia cólợi thì quốc gia khác sẽ bị thiệt.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế được AdamSmith phát triển Theo ông, mỗi quốc gia cần chuyên môn hóa những ngànhsản xuất những ngành có lợi thế tuyệt đối dựa trên các điều kiện về địa lý, khíhậu, nguồn tài nguyên mà riêng quốc gia đó mới có Thương mại quốc tế làmtăng khối lượng sản xuất và tiêu dùng toàn thế giới khi mỗi quốc gia thực hiệnchuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế và trao đổi với nhau.Ông ủng hộ tự do kinh doanh vì mỗi các nhân và doanh nghiệp đều có mụcđích thu lợi nhuận tối đa Do đó, cho phép tự do kinh doanh sẽ đem lại lợi íchcho toàn xã hội
Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo lập luận rằng nếu mộtquốc gia có hiệu quả thấp hơn so với quốc gia khác trong sản xuất và xuấtkhẩu hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vàothương mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho mình Khi tham gia vào thương mạiquốc tế, quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất các loại hàng hóa sẽchuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa nào mà việc sản xuấtchúng ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại hàng hóa mà việc sản xuất rachúng ở trong nước là bất lợi nhất Khi mỗi nước chuyên môn hóa vào sảnxuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh, tổng sản lượng của mỗi sản phẩmtrên thế giới sẽ gia tăng và kết quả là tất cả các nước trở nên giàu có hơn
Trang 27Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler đã chứng minh một cách rõ ràngcho lý thuyết về lợi thế so sánh Theo lý thuyết này, chi phí cơ hội của mộtsản phẩm là số lượng của một sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để có
đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị của sản phẩm thứ nhất Như vậy,quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp hơn trong việc sản xuất một loại sản phẩmnào đó thì quốc gia đó có lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm đó vàkhông có lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm thứ hai
Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều học giả và các nhà nghiên cứu kinh
tế đã đưa ra nhiều quan điểm và học thuyết quan trọng nhằm chỉ ra và tìmcách bổ sung, hoàn thiện hơn các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế.Các học thuyết này được gọi là học thuyết hiện đại về thương mại quốc tế,bao gồm các học thuyết nổi bật là lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckcher –Ohlin, lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, lý thuyết vềvòng đời quốc tế của sản phẩm của Raymond Vernon, lý thuyết về chuỗi giátrị toàn cầu
- Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckscher – Ohlin (H - O) về lợi thếtương đối:
Theo lý thuyết H – O, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng màviệc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồidào và rẻ của quốc gia đó và nhập khẩu những mặt hàng mà việc sản xuấtđòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố khan hiếm và đắt củaquốc gia đó Như vậy, một quốc gia dồi dào về lao động sẽ sản xuất và xuấtkhẩu sản phẩm sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những sản phẩm thâmdụng vốn hay tư bản
- Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter:
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của M Porter được xây dựng dựatrên cơ sở lập luận rằng khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp được
Trang 28thể hiện tập trung ở khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó Điều nàyđược khái quát cho một thực thể lớn hơn - một quốc gia Lý thuyết củaM.Porter đã kết hợp được các cách giải thích khác nhau trong các lý thuyếtthương mại quốc tế trước đó và đồng thời đưa ra một khái niệm khá quantrọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liênkết của bốn nhóm yếu tố Các nhóm yếu tố đó bao gồm: (i) Điều kiện các yếu
tố sản xuất; (ii) Điều kiện về cầu; (iii) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và cóliên quan; và (iv) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành Cácyếu tố này tác động lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia.Ngoài ra, còn có hai yếu tố khác là chính sách của chính phủ và cơ hội Đây làhai yếu tố có thể tác động đến bốn yếu tố cơ bản kể trên
Các thành phần của lợi thế cạnh tranh quốc gia sẽ cùng nhau tạo nên một
hệ thống mạnh để duy trì lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, ở một mức độ nhấtđịnh, hệ thống này thường hướng theo một cơ cấu ngành nhất định [38]
- Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm của Raymond Vernon:
Lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm dựa trên ý tưởng cho rằng côngnghệ luôn luôn thay đổi dưới hình thức ra đời các phát minh và sáng chế mới,
và điều này tác động đến sự di chuyển công nghệ giữa các quốc gia và xuấtkhẩu của quốc gia Sau khi một phát minh ra đời, một sản phẩm mới xuất hiện
và trở thành mặt hàng mà quốc gia phát minh có lợi thế tuyệt đối tạm thời.Ban đầu doanh nghiệp phát minh sản phẩm giữ vị trí độc quyền, và sản phẩmđược tiêu thụ trên thị trường nội địa
Sau một thời gian, nhu cầu từ phía nước ngoài xuất hiện và sản phẩmbắt đầu được xuất khẩu Dần dần các nhà sản xuất nước ngoài sẽ bắt chước,chuyển giao công nghệ và sản phẩm được sản xuất ngay tại nước ngoài mộtcách có hiệu quả hơn Khi đó lợi thế so sánh về sản xuất sản phẩm này lại
Trang 29thuộc về các quốc gia khác Nhưng ở quốc gia phát minh một sản phẩmmới khác có thể ra đời và quá trình mô tả ở trên được lặp lại
- Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu:
Chuỗi giá trị bao gồm nhiều khâu, nhiều bước được thực hiện để tạo ramột sản phẩm bắt đầu từ khi hình thành ý tưởng tới khi sản phẩm được tiêuthụ và bị thải loại Các hoạt động này được liên kết với nhau tạo thành mộtchuỗi liên kết dọc từ nghiên cứu và phát triển - sở hữu trí tuệ đến sản xuất,xây dựng thương hiệu và thương mại
Chuỗi giá trị toàn cầu được xác định là chuỗi giá trị trong đó hoạtđộng của chuỗi có thể thực hiện tại nhiều doanh nghiệp và diễn ra trênphạm vi toàn cầu Chuỗi giá trị toàn cầu hướng đến việc sản xuất đạt hiệuquả cao hơn bằng cách thực hiện mỗi hoạt động, khâu, công đoạn trongchuỗi ở một quốc gia có lợi thế khác nhau trên thế giới Quá trình toàn cầuhóa ngày càng mạnh mẽ đã thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh mởrộng ra các nước có lợi thế so sánh như vận tải, công nghệ, nhân lực tạothành một mạng lưới sản xuất toàn được chuyên môn hoá cao mang lại giátrị tối đa với chi phí thấp nhất
1.1.1.2 Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các quy định, công cụ vàbiện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thươngmại quốc tế của quốc gia trong những thời kỳ nhất định nhằm đạt được cácmục tiêu đã xác định
Mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia trongtừng giai đoạn có thể khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu chungkhai thác triệt để các lợi thế so sánh của đất nước, tạo điều kiện thúc đẩysản xuất trong nước phát triển, nâng cao lợi thế cạnh tranh và vươn ra thịtrường quốc tế
Trang 30Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế (còn gọi là chính sáchngoại thương) là lý thuyết về sự can thiệp của chính phủ một nước nhằm đạtđược mục đích nào đó về thương mại quốc tế Nội dung nghiên cứu chínhsách thương mại quốc tế gồm có lý luận về chính sách thương mại tự do và lýluận về chính sách bảo hộ thương mại Lý luận này nhấn mạnh sự phân tíchquan điểm chính sách, mục tiêu chính sách, các công cụ và biện pháp chínhsách, phương thức, loại hình và hiểu quả kinh tế của thương mại quốc tế; phântích các mặt lợi, hại, được, mất của chính sách thương mại, lấy đó làm căn cứđưa ra chính sách Các công cụ và biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách(có thể là để thúc đẩy thương mại, có thể là hạn chế thương mại) thường gồmcác công cụ có tính chất kinh tế, công cụ có tính chất kỹ thuật và công cụ cótính chất hành chính Thông thường việc phân loại chính sách thương mạiquốc tế căn cứ và các công cụ chính sách, chia thành chính sách thuế quan vàchính sách phi thuế quan.
Theo mức độ tham gia can thiệp, điều tiết của nhà nước trong hoạtđộng thương mại quốc tế, chính sách thương mại được phân loại thành chínhsách thương mại tự do và chính sách bảo hộ thương mại
Đối với chính sách thương mại tự do, nhà nước tạo điều kiện chothương mại tự do phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh, mở cửa hoàntoàn thị trường nội địa cho hàng hóa, dịch vụ và tư bản của nước ngoài tự dolưu thông
Đối với chính sách bảo hộ thương mại, nhà nước can thiệp sâu vàothương mại quốc tế, sử dụng các biện pháp bảo hộ để bảo vệ thị trường nộiđịa trước sự cạnh tranh của hàng hóa từ bên ngoài Đồng thời, nhà nước cũngtìm cách hỗ trợ các doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài
Để thực thi chính sách thương mại, có hai công cụ chủ yếu là thuế quan
và và các biện pháp phi thuế quan
Trang 31Thuế quan là một loại thế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu haynhập khẩu của một quốc gia Trong đó, thuế xuất khẩu đánh trên hàng hóaxuất khẩu và thuế nhập khẩu đánh trên hàng hóa nhập khẩu Thuế nhập khẩu
sẽ làm tăng giá hàng hóa, giảm bớt nhu cầu tiêu thụ hàng nhập khẩu, đồngthời sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước gia tăng, mở rộng quy môsản xuất Đối với xuất khẩu, thực tế là các nước không những không đánhthuế xuất khẩu, mà còn có các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu Việc đánh thuếxuất khẩu thường chỉ được áp dụng để hạn chế xuất khẩu các sản phẩm thô,khuyến khích chế biến trước khi xuất khẩu Trong điều kiện hội nhập hiệnnay, thuế quan dần được cắt giảm trên cơ sở các hiệp định thương mại songphương và đa phương
Bên cạnh thuế quan, các biện pháp phi thuế quan cũng được nhiều quốcgia sử dụng Các biện pháp phi thuế quan bao gồm các biện pháp tác độngvào giá, các biện pháp tác động vào lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu và các biệnpháp hành chính, kỹ thuật Trong xu hướng tự do hóa thương mại hiện nay, việc
sử dụng các biện pháp phi thuế quan được yêu cầu phải dần bị thu hẹp Tuynhiên, thực tế là không có quốc gia nào đơn phương từ bỏ việc áp dụng các biệnpháp phi thuế quan và vì nhiều lý do, mục tiêu khác nhau, các quốc gia tìm cáchtạo ra và sử dụng các biện pháp phi thuế quan mới và tinh vi hơn
1.1.2 Đặc điểm quan hệ thương mại quốc tế của một liên minh thuế quan
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu, là xu hướng khôngthể đảo ngược, với các mức độ liên kết kinh tế quốc tế ngày càng chặt chẽ.Theo nhà kinh tế học Balassa, có năm cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế từ thấpđến cao: (i) khu vực thương mại tự do (Free Trade Area – FTA); (ii) Liênminh thuế quan (Customs Union – CU); (iii) Thị trường chung (CommonMarket); (iv) Liên minh kinh tế (Economic Union) và (v) Liên minh kinh tếtoàn diện (Comprehensive Economic Union) [23]
Trang 32Ở góc độ thể chế, hội nhập kinh tế khu vực được mô tả là các hoạt độngcủa chính phủ nhằm tự do hóa hoặc tạo thuận lợi cho thương mại trên nềntảng khu vực giữa một nhóm hai hay nhiều nước.
Hội nhập khu vực là sự tự nguyện tham gia của các thành viên, khôngmang tính ép buộc mà phải dựa trên cơ sở những điều khoản đã thỏa thuận,bàn bạc rồi đồng thuận cam kết và ký kết thành những văn bản có tính pháp lýgọi là hiệp định hay hiệp ước Các quốc gia thành viên sẽ sử dụng hiệp ướcnày để kiểm tra, giám sát, đôn đốc và điều chỉnh các hoạt động vì lợi íchchung của liên kết, của tất cả các quốc gia thành viên và lợi ích của chính bảnthân quốc gia mình
Một tổ chức hội nhập khu vực phải xác định được những mục tiêu cơbản là:
- Xóa bỏ các rào cản trong thương mại để thúc đẩy phát triển thươngmại giữa các thành viên;
- Thúc đẩy quá trình tự do di chuyển các nguồn lực về vốn, lao độnggiữa các quốc gia thành viên, biến thị trường riêng rẽ của từng quốc gia trởthành một thị trường thống nhất cho cả khối;
- Tạo nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tăngphúc lợi xã hội cho người dân của các gia trong khối
Một tổ chức hội nhập khu vực thường phải có một cơ quan thường trực
và các phương tiện để duy trì hoạt động của khối và gắn kết các nền kinh tếtrong khối với nhau
Là một trong các hình thức hội nhập khu vực, một liên minh thuế quanđược xác định là một tổ chức kinh tế khu vực, trong đó các quốc gia thànhviên thống nhất loại trừ hàng rào thương mại giữa các quốc gia thành viên vàchấp nhận một chính sách thương mại đối ngoại chung
Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) chính là liên minhthuế quan đầu tiên trên thế giới, được thành lập từ năm 1910
Trang 33Theo quan điểm của J Viner đưa ra trong cuốn sách “Vấn đề liên minhthuế quan” (1950) [42], Liên minh thuế quan là một cấp độ hội nhập thươngmại khu vực từ hai nước trở lên, ký kết hiệp định thành lập khu vực liên minhthuế quan; trong đó đối với nội khối thì xóa bỏ thuế quan nhập khẩu giữa cácthành viên đối với nhau, đối với quan hệ thương mại với các nước ngoài liênminh (ngoại khối) thì thực hiện cùng với mức thuế suất như nhau.
Tác động về kinh tế của việc tham gia liên minh thuế quan đối với cácnước thành viên được thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, liên minh thuế quan vừa có hiệu ứng gia tăng thương mạitrong nội bộ liên minh, vừa có hiệu ứng chuyển hướng thương mại
Nếu như thuế quan đối ngoại theo mức chung và tự do hóa thương mạinội bộ liên minh thuế quan dẫn đến việc chuyển dịch sản xuất từ nước có giáthành cao đến nước có giá thành thấp, tức là dùng hàng hóa nhập khẩu rẻ củanước thành viên khác thay thế các sản phẩm nếu sản xuất trong nước thì giáthành sẽ cao hơn, như vậy sẽ phát sinh hiệu ứng “tạo lập thương mại” Ngượclại, nếu như việc xây dựng hàng rào thuế quan đối ngoại làm cho việc sảnxuất và tiêu dùng của một hoặc một vài nước thành viên từ nguồn cung cấpcủa các nước không phải là thành viên với giá thành thấp chuyển sang ngườisản xuất của nước thành viên có giá thành cao, tức là dùng hàng hóa nhậpkhẩu có giá thành tương đối cao của thành viên trong liên minh thuế quanthay thế hàng hóa nhập khẩu tương đối rẻ của nước không phải là thành viên,như vậy sẽ sinh ra hiệu ứng “chuyển hướng thương mại”
Ví dụ, khi chưa thành lập liên minh thuế quan, một nước A sẽ nhậpkhẩu lúa mì của nước C do nước C có năng suất lúa mì cao, giá thành rẻ màkhông mua của nước B có năng suất thấp hơn, giá thành cao hơn Khi nước A
và B gia nhập liên minh thuế quan thống nhất, mà nước C còn ở liên minh, dotrong liên minh xóa bỏ thuế quan, so sánh tương đối thì giá lúa mì có thể thấp
Trang 34hơn nước C, thế là kênh thương mại truyền thống giữa nước A và nước C sẽgián đoạn, nước A chuyển sang mua của nước B Khi đó xét về tình hình sảnxuất và buôn bán lúa mì toàn thế giới thì năng suất lúa mì giảm và hiệu quảthương mại lúa mì giảm vì dòng thương mại sản xuất lúa mì có năng suất thấp(giữa nước A và nước B) sẽ tăng, ngược lại dòng thương mại lúa mì có năngsuất cao (giữa A và C) sẽ giảm.
Do hiện ứng tạo lập thương mại và hiệu ứng chuyển hướng thương mạitrung hòa lẫn nhau nên xác định hiệu ứng thực tế của liên minh thuế quanphải xem hiệu ứng nào tương đối mạnh để đánh giá
Thứ hai, lợi ích kinh tế của liên minh thuế quan được quyết định bởimức độ chênh lệch của thuế suất thuế quan và mức độ trùng lặp (hoặc tươngđồng) của sản phẩm xuất nhập khẩu của các nước thành viên trước khi thànhlập liên minh Nếu như mức thuế suất thuế quan của các nước thành viêntrước khi thành lập liên minh tương đối cao, sau khi thành lập liên minh thuếquan, do giá cả hàng hóa trong nội bộ liên minh thuế quan giảm xuống (doxóa bỏ thuế quan), lượng hàng hóa buôn bán giữa các nước thành viên sẽ tăngnhanh Trước khi thành lập liên minh thuế quan, các nước có hệ thống sảnphẩm trao đổi thương mại rất khác nhau thuộc mô hình bổ sung lẫn nhau sẽthu thuế nhập khẩu tương đối thấp đối với các sản phẩm không cạnh tranh;các nước có hệ thống sản phẩm tương đối giống nhau và cạnh tranh lẫn nhau
sẽ thu thuế nhập khẩu tương đối cao với các sản phẩm có tính cạnh tranh Do
đó, hiệu quả kinh tế của liên minh thuế quan do các nước cạnh tranh với nhauxây dựng lên càng rõ nét hơn hiệu quả kinh tế của các nước có hệ thống sảnphẩm bổ sung cho lẫn cho nhau Ngoài ra, do mức độ trung lặp về sản phẩmcủa các nước cạnh tranh nhau tương đối cao nên việc xây dựng liên thuế quankhông những làm tăng cạnh tranh giữa các nước đó, mà còn cùng với việc sảnphẩm của các nước thành viên có năng suất cao nhất chiếm lĩnh thị phần lớn
Trang 35nhất trong liên minh thuế quan, các nước đều sẽ phát sinh quá trình phân bổlại tài nguyên để đạt được hiệu quả cao hơn Do vậy, năng suất lao động củatoàn bộ liên minh sẽ nâng cao.
Thứ ba, việc xây dựng liên minh thuế quan còn có thể sinh ra “hiệu ứngkinh tế động thái” đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nướcthành viên, chủ yếu biểu hiện ở các khía cạnh: (i) thông qua việc loại bỏ thuếquan giữa các nước thành viên, mở rộng buôn bán nội bộ có thể đem lại lợithế kinh tế qui mô, việc mở rộng thị trường xuất khẩu tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp có năng suất tương đối cao trong các nước thành viên thực hiệnhiệu quả kinh tế của sản xuất đại qui mô; (ii) nội bộ liên minh thực hành tự dohóa thương mại sẽ gia tăng mạnh mẽ mức độ cạnh tranh hữu hiệu của thịtrường, kích thích tăng thêm đầu tư và khai thác kỹ thuật mới, thúc đẩy việcphân bổ tài nguyên hợp lý , đẩy mạnh nâng cao năng suất lao động; (iii) cùngvới việc làm cho các nước thành viên được cạnh tranh với bên ngoài nhờ hàngrào thuế quan đối ngoại chung của liên minh thuế quan, cũng có thể tạo rahiệu quả tiêu cực là tạo nên các doanh nghiệp lạc hậu, gia tăng sức ỳ nội bộ,làm chậm sự phát triển kinh tế của bản thân liên minh thuế quan
1.2 Nội dung, hình thức, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia và các nước trong một liên minh thuế quan
1.2.1 Nội dung và hình thức phát triển quan hệ thương mại
Về cơ bản, việc phát triển quan hệ thương mại được tiến hành ở hai cấp
độ là cấp độ thể chế thương mại và cấp độ thực thể thương mại
Ở cấp độ thể chế, thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của quốcgia và các thực thể công được hiểu là các quan hệ quốc tế ở cấp độ chính sáchthương mại, ví dụ, chính sách thuế quan và phi thuế quan, chính sách thươngmại tấn công hoặc phòng vệ, chính sách hội nhập kinh tế… của một quốc gia;
Trang 36hoặc sự lựa chọn hội nhập ở cấp độ toàn cầu, khu vực, song phương hoặc đơnphương trong hợp tác thương mại; hay mối quan hệ giữa việc thực hiện cáccam kế thương mại quốc tế và pháp luật quốc gia
Chủ thể chủ yếu của các quan hệ thương mại quốc tế nêu trên là cácquốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế
Bên cạnh các quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế cũng tham gia mạnh
mẽ vào các quan hệ thương mại quốc tế, có thể kể đến WTO, IMF, WB, EU,ASEAN… Mặc dù WTO không phải là tổ chức quốc tế duy nhất có liên quan,nhưng nó đúng là tổ chức quốc tế lớn nhất và toàn diện nhất, điều chỉnh cảcác hiệp định thương mại khu vực và song phương trong phạm vi nhất định
Quan hệ thương mại giữa các quốc gia hiện nay được phát triển dựatrên ba nền tảng chính, đó là: Luật WTO – điều chỉnh quan hệ thương mạiquốc tế ở tầm toàn cầu; các hiệp định hội nhập kinh tế khu vực và các hiệpđịnh hợp tác thương mại song phương
Ở cấp độ thể chế, nội dung của quan hệ thương mại bao gồm:
- Quan hệ liên chính phủ trong lĩnh vực thương mại: Các chính phủthiết lập các mối quan hệ về thương mại giữa các quốc gia, thành lập các cơchế theo dõi việc phát triển quan hệ thương mại như Ủy ban thương mại hỗnhợp, Tiểu ban thương mại hỗn hợp, Nhóm công tác chung về thương mại…
- Đàm phán ký kết các hiệp định, quy chế thương mại song phương, đaphương: Các chính phủ tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp định, quy chếthương mại ở cấp độ song phương và đa phương nhằm tạo thuận lợi cho pháttriển quan hệ thương mại
- Hợp tác trong xúc tiến và hỗ trợ thương mại vĩ mô: Các chính phủtriển khai các hoạt động về hợp tác trong công tác xúc tiến thương mại và hỗtrợ thương mại ở cấp độ vĩ mô nhằm tạo điều kiện cho phát triển quan hệthương mại
Trang 37- Cơ chế, chính sách giải quyết các tranh chấp về thương mại giữa cácbên: Các chính phủ đàm phán, ký kết các cơ chế giải quyết tranh chấp thươngmại giữa các nước ở cấp độ song phương và đa phương.
Việc phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nướctrong một liên minh thuế quan được dựa trên mối quan hệ với từng thành viêncũng như quan hệ với cả khối
Thứ nhất, phát triển quan hệ thương mại dựa trên mối quan hệ songphương với từng nước thành viên
Quan hệ thương mại quốc tế của một quốc gia chủ yếu dựa trên các mốiquan hệ thương mại song phương với các quốc gia khác Điều đó được thựchiện bởi các mối quan hệ về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và đầu tư docác thực thể kinh tế của mỗi quốc gia tiến hành
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển quan hệ thương mại, chínhphủ của các quốc gia sẽ tiến hành đàm phán, ký kết và triển khai thực hiện cácthỏa thuận, hiệp định thương mại song phương cũng như các thỏa thuận, hiệpđịnh hợp tác khác nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ thương mạinhư hiệp định về vận tải, thanh toán, tránh đánh thuế hai lần, khuyến khích vàbảo hộ đầu tư…
Trong đó, đáng lưu ý là khi đàm phán về rào cản phi thuế quan với mộtliên minh thuế quan thì việc đàm phán được tiến hành với từng thành viên vàchỉ có giá trị với thành viên đó (nếu giữa các nước thành viên không có quyđịnh khác)
Thứ hai, phát triển quan hệ thương mại dựa trên mối quan hệ hợp tác đaphương với cả khối liên minh thuế quan
Bên cạnh các mối quan hệ song phương thì vai trò của các mối quan hệ
đa phương có vai trò ngày càng quan trọng trong thương mại quốc tế Mối
Trang 38quan hệ này về cơ bản được xây dựng dựa trên các thỏa thuận, hiệp định đaphương được ký kết.
Đối với một liên minh thuế quan, do các nước thành viên có một biểu thuếđối ngoại chung, nên khi đàm phán thuế quan với một liên minh thuế quan thìviệc đàm phán được tiến hành với cả khối theo một biểu cam kết chung
Ở cấp độ thực thể, thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu củathương nhân, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp
Trên thực tế, việc mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài thườngnhằm mục đích tăng doanh số và lợi nhuận, tạo ra thị trường mới, nâng cao vịthế của doanh nghiệp ở phạm vi quốc tế hoặc đảm bảo nguồn nguyên liệu Nội dung phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia và các nướctrong một liên minh thuế quan, bao gồm:
Thứ nhất là phát triển thương mại hàng hóa Đây là nội dung quan trọngcủa phát triển quan hệ thương mại, nó là hình thức thể hiện cụ thể của việcmột quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế, thể hiện mức độ mởcửa của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và quy mô phát triển củanền kinh tế hương ngoại Cùng với việc tăng kim ngạch xuất nhập khẩu thìcần đa dạng hóa mặt hàng xuất nhập khẩu và chuyển đổi cơ cấu xuất nhậpkhẩu hàng hóa phù hợp với lợi thế cạnh tranh quốc gia Để quan hệ thươngmại phát triển theo chiều sâu thì cần thiết phải đa dạng hóa cơ cấu mặt hàngxuất nhập khẩu Số lượng và khối lượng các mặt hàng xuất nhập khẩu phảingày càng tăng Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu cần phải phù hợp với lợi thếcạnh tranh của quốc gia trong từng thời kỳ
Nội dung của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa bao gồm các yếu tố,quá trình như: quá trình thâm nhập, khai thác và phát triển thị trường xuất –nhập khẩu của các thương nhân từ cả hai phía; mối quan hệ giữa thương nhânhai bên trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; các dịch vụ hỗ trợ cho
Trang 39thương mại (như cung cấp thông tin, thanh toán, quảng bá)… Về hình thức thìbao gồm các chỉ tiêu như qui mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu thị trường, cơcấu mặt hàng xuất nhập khẩu… giữa hai bên.
Bên cạnh việc sản xuất ở trong nước, doanh nghiệp có thể quyết địnhsản xuất sản phẩm của mình ở nước ngoài thay vì sản xuất sản phẩm đó ởtrong nước rồi xuất khẩu ra nước ngoài Đây là trường hợp doanh nghiệpquyết định chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ cho doanhnghiệp khác ở nước ngoài và cho phép doanh nghiệp ở nước ngoài sản xuất
và bán sản phẩm của mình Các hoạt động chuyển giao quyền sử dụng các đốitượng sở hữu trí tuệ tồn tại dưới nhiều hình thức, như chuyển giao các đốitượng sở hữu công nghiệp, chuyển giao quyền tác giả, chuyển giao côngnghệ, nhượng quyền thương mại…
Khi phát triển trao đổi thương mại hàng hóa với các quốc gia trong mộtliên minh thuế quan có một điểm thuận lợi là hàng hóa sau khi thông quan tạimột nước thành viên sẽ được tự do lưu chuyển giữa các nước thành viên.Thứ hai là thúc đẩy trao đổi về thương mại dịch vụ Bên cạnh việc pháttriển quan hệ thương mại hàng hóa, cần phát triển trao đổi về thương mại dịch
vụ Trong đó chú trọng phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho phát triển thương mạihàng hóa như dịch vụ logistics, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ viễn thông…
Thứ ba là phát triển quan hệ hợp tác đầu tư Hợp tác đầu tư sẽ giúp haibên cùng hợp tác khai thác các thế mạnh của mình như các nguồn tài nguyênthiên nhiên, nguồn nhân lực, nguồn vốn, công nghệ, trình độ quản lý… vàgiúp gắn kết các nền kinh tế chặt chẽ hơn Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thểđược thực hiện dưới hình thức thành lập chi nhánh, công ty con, liên doanh,thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, sát nhập và mua lại doanhnghiệp nước ngoài
Trang 40Việc đầu tư vào một nước là thành viên của một liên minh thuế quan cóthuận lợi là hàng hóa đó khi xuất khẩu sang các nước thành viên còn lại sẽkhông chịu các loại thuế xuất nhập khẩu, do đó sẽ có tính cạnh tranh cao hơnđối với các sản phẩm được nhập khẩu từ bên ngoài liên minh thuế quan.
1.2.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển quan hệ thương mại
Đánh giá sự phát triển quan hệ thương mại nói chung và quan hệthương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh quan thuếquan nói riêng là vấn đề khó khăn, phức tạp Theo phạm vi nghiên cứu, luận
án giới hạn ở quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa đánh giá trên hai cấp độ là thểchế thương mại và thực thể thương mại
Ở cấp độ thể chế, sự phát triển quan hệ thương mại giữa một quốc gia vàcác nước trong một liên minh thuế quan được đánh giá trên các tiêu chí sau:
- Số lượng và cấp độ các mối quan hệ liên chính phủ trong lĩnh vựcthương mại như các Ủy ban thương mại hỗn hợp, Tiểu ban thương mại hỗnhợp, Nhóm công tác về thương mại được thiết lập giữa một quốc gia với mộtliên minh thuế quan và với các nước thành viên của liên minh
- Số lượng và cấp độ các cam kết, thỏa thuận, hiệp định thương mại màquốc gia đó ký kết với các nước thành viên cũng như với cả khối liên minhthuế quan để giảm bớt và dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quannhằm tạo điều kiện cho trao đổi thương mại
Đối với hàng rào thuế quan, do các nước thành viên của liên minh thuếquan có một biểu thuế đối ngoại chung nên các cam kết về thuế quan sẽ làcam kết đa phương giữa quốc gia với cả khối liên minh thuế quan với cácmức độ ưu đãi tăng dần là đối xử tối huệ quốc (MFN), hiệp định ưu đãithương mại (PTA) và hiệp định tự do thương mại (FTA)
Về rào cản phi thuế quan, do từng nước của liên minh thuế quan sẽ cócác quy định riêng của mình nên các cam kết về rào cản phi thuế quan sẽ là