LÊ VĂN BÉ HAI NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG GIẢI TRÍ TẠI CÁC QUẬN NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA
Trang 1LÊ VĂN BÉ HAI
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG GIẢI TRÍ TẠI CÁC QUẬN NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2LÊ VĂN BÉ HAI
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG GIẢI TRÍ TẠI CÁC
QUẬN NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Lê Văn Bé Hai
Trang 41.1 Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và các ngành chức
năng về vấn đề giáo dục thể chất và vận động giải trí của trẻ
Trang 51.3.4 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh tiểu học 26 1.4 Tổ chức hoạt động vận động giải trí và các công trình đã nghiên
cứu có liên quan
29
1.4.2 Tại Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh 31
40
3.1 Nhu cầu và thực trạng hoạt động vận động giải trí của học sinh
tiểu học tại các quận nội thành thành phố HCM
56
3.1.1 Nhu cầu vui chơi vận động của học sinh tiểu học nội thành
thành phố Hồ Chí Minh
57
Trang 63.1.3 Giờ học thêm hàng ngày của học sinh tiểu học các quận nội
3.2.2.1 Phỏng vấn chuyên gia để lựa chọn nhóm yếu tố mạnh; nhóm
yếu tố yếu; nhóm yếu tố cơ hội và nhóm yếu tố thách thức
93
Trang 8GDTC - Giáo dục thể chất
NXB TĐBK - Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Trang 10
3.16 Kết quả lựa chọn nhóm yếu tố mạnh; nhóm yếu tố yếu;
nhóm yếu tố cơ hội và nhóm yếu tố thách thức Sau Tr 93
3.17
thành TP.HCM
Sau Tr
96
Trang 113.20 Thể chất của học sinh nam lớp 2 trước thực nghiệm 101 3.21 Thể chất của học sinh nữ lớp 2 trước thực nghiệm 102 3.22 Thể chất của học sinh nam lớp 3 trước thực nghiệm 103 3.23 Thể chất của học sinh nữ lớp 3 trước thực nghiệm 104 3.24 Thể chất của học sinh nam lớp 4 trước thực nghiệm 105 3.25 Thể chất của học sinh nữ lớp 4 trước thực nghiệm 106 3.26 Tăng trưởng thể chất của học sinh nam lớp 1 sau thực nghiệm 110 3.27 Tăng trưởng thể chất của học sinh nữ lớp 1 sau thực nghiệm 112 3.28 Tăng trưởng thể chất của học sinh nam lớp 2 sau thực nghiệm 113 3.29 Tăng trưởng thể chất của học sinh nữ lớp 2 sau thực nghiệm 115 3.30 Tăng trưởng thể chất của học sinh nam lớp 3 sau thực nghiệm 116 3.31 Tăng trưởng thể chất của học sinh nữ lớp 3 sau thực nghiệm 118 3.32 Tăng trưởng thể chất của học sinh nam lớp 4 sau thực nghiệm 119 3.33 Tăng trưởng thể chất của học sinh nữ lớp 4 sau thực nghiệm 121
Trang 12Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
3.1 Nhu cầu vui chơi giải trí của học sinh tiểu học nội thành
3.2 So sánh chiều cao (cm) của nam học sinh nội thành
TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 85
3.3 So sánh chiều cao (cm) của nữ học sinh nội thành
TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 85
3.4 So sánh Công năng tim của nam học sinh nội thành
TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 86
3.5 So sánh Công năng tim của nữ học sinh nội thành
TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 86
3.6 So sánh thành tích chạy 30m XPC (s) của nam học sinh
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 87
3.7 So sánh thành tích chạy 30m XPC (s) của nữ học sinh
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 87
3.8 So sánh thành tích Lực bóp tay thuận (kg) của nam học sinh
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 88
3.9 So sánh thành tích Lực bóp tay thuận (kg) của nữ học sinh
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 88
3.10 So sánh thành tích Bật xa tại chỗ (cm) của nam học sinh nội
thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 89
3.11 So sánh thành tích Bật xa tại chỗ (cm) của nữ học sinh
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 89
3.12
So sánh thành tích Chạy con thoi 4 x 10m (s) của nam
học sinh nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng
lứa tuổi
90
3.13 So sánh thành tích Chạy con thoi 4 x 10m (s) của nữ học
sinh nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 90
Trang 133.15
nội thành TP.HCM và trẻ em Việt Nam cùng lứa tuổi 91
3.16 Tăng trưởng (%) thể chất của học sinh nam lớp 1 nội
3.17 Biểu đTăng trưởng (%) thể chất của học sinh nữ lớp 1
3.18 Tăng trưởng (%) thể chất của học sinh nam lớp 2 nội
Trang 14PHỤ LỤC 01 Phiếu phỏng vấn phụ huynh học sinh PHỤ LỤC 02 Phiếu khảo sát học sinh tiểu học
PHỤ LỤC 03 Tiến trình và nội dung thực nghiệm PHỤ LỤC 04 Mô tả một số hoạt động vui chơi giải trí PHỤ LỤC 05 Một số hình ảnh về trò chơi vận động
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
Cơ sở bền vững để tồn tại lâu dài của mỗi đất nước, mỗi dân tộc bắt nguồn từ sự không ngừng chăm sóc đầu tư cho sự phát triển con người về mọi mặt, trong đó việc đầu tư, nâng cao thể chất, sức khoẻ cho học sinh nói chung là vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển con người Chính vì lẽ
đó, từ lâu trong chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước luôn đề cập đến vấn đề phát triển con người toàn diện nói chung và phát triển thể chất nói riêng cho học sinh ở các cấp học
Giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Thế hệ trẻ hôm nay sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước
Vì thế, giáo dục phải chuẩn bị cho thế hệ trẻ những năng lực, thể chất và trí tuệ cần thiết để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Trong những điều kiện giáo dục thể chất (GDTC) có tổ chức, có khoa học và phù hợp thì những khả năng tiềm tàng to lớn của học sinh về thể chất lẫn tinh thần sẽ được bộc lộ và phát triển lành mạnh
Tuy nhiên, trên thực tế, do nhiều nguyên nhân, GDTC trường học ở TP.HCM còn nhiều điểm bất cập: chất lượng chưa đạt yêu cầu, thời lượng dành cho GDTC nội khóa còn ít, hoạt động GDTC ngoại khóa còn nghèo nàn Thời lượng dành cho vận động của học sinh chưa đáp ứng nhu cầu phát triển theo lứa tuổi Do vậy các em tìm đến những hình thức vận động khác ngoài GDTC học đường để giải trí là một nhu cầu có thật
Đối với tuổi học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học, vui chơi giải trí là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tinh thần và thể chất Các
em tích lũy tri thức, kỹ năng sống, hình thành nhân cách và giải trí thông qua hoạt động vui chơi Sự nhận thức không đầy đủ về vấn đề này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến quá tải trong hoạt động học tập của học sinh Các em thiếu thời gian, điều kiện để vui chơi giải trí
Trang 16Mặt khác, hoạt động giải trí dưới hình thức vận động còn rất hạn chế Học sinh tốn nhiều thời gian vào trò chơi điện tử, giải trí trên mạng internet, xem truyền hình, phim ảnh…Nếu không bị lạm dụng thì những hoạt động giải trí này cũng có tác dụng tích cực nhất định
Quan sát trên thực tế ta dễ nhận thấy, ngoài chương trình GDTC học đường học sinh ở lứa tuổi tiểu học còn tham gia vào hoạt động vận động giải trí Ngoài các lớp, nhóm các môn thể thao hiện đại như các môn võ thuật, bơi, bóng bàn, cầu lông, đá cầu các em còn tham gia vào các trò chơi dân gian hoặc đường phố như: Rồng rắn lên mây; cướp cờ; bịt mắt bắt dê; nhảy cù; ô ăn quan… Thậm chí bắn bi, chọi đáo Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những trò chơi Trò chơi dân gian không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con
mà nó chứa đựng cả một nền văn hoá dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc Trò chơi dân gian không chỉ nâng cánh cho tâm hồn các em, giúp các em phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, rèn luyện sức khoẻ, tạo phản ứng nhanh nhạy, khéo léomà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình đồng đội, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước
Thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề khác nhau của GDTC học đường (bao gồm cả nội, ngoại khóa), trò chơi dân gian, trò chơi vận động [4], [40], [41], [42], [53], [61] Tuy nhiên, vấn đề vận dụng các hình thức vận động giải trí vào việc phát triển thể chất có định hướng của học sinh tiểu học thì chưa có công trình nào nghiên cứu
Hiểu được nhu cầu của các em, đánh giá đúng vai trò, tác động của hoạt động vận động giải trí để có những định hướng đúng đắn và hơn thế nữa, hướng dẫn tạo điều kiện để các em tham gia nhiều hơn các hoạt động giải trí dưới hình thức vận động góp phần vào việc phát triển lành mạnh về thể chất của các em là niềm trăn trở của chúng tôi Đó cũng chính là lý do chúng tôi chọn tên đề tài
luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học dưới tác động của hoạt động vận động giải trí tại các quận nội thành Thành phố
Trang 17Hồ Chí Minh” Hoạt động vận động giải trí ở đây được hiểu là một trong những
loại hình của “hoạt động vận động ngoài trời”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát nhu cầu và thực trạng các
hoạt động vui chơi giải trí nói chung, vận động giải trí nói riêng, đánh giá đúng tác động của vận động giải trí đối với sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM làm cơ sở cho những kiến nghị đề xuất trong việc định hướng và phát triển hoạt động vận động giải trí góp phần phát triển thể
chất, nâng cao tầm vóc thể trạng của các em
Mục tiêu nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án đã thực hiện 03 mục tiêu nghiên cứu sau đây:
Nhu cầu và thực trạng hoạt động vận động giải trí của học sinh tiểu học tại các quận nội thành thành phố
Để thực hiện mục tiêu này, luận án đã nghiên cứu các nội dung sau:
- Nhu cầu vui chơi vận động của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM
- Thời lượng vui chơi vận động hàng ngày của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM
- Giờ học thêm hàng ngày của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM
- Hình thức, nội dung hoạt động vận động giải trí của học sinh
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động vận động giải trí (sân bãi, trang thiết bị, chi phí )
Thực trạng thể chất của học sinh tiểu học nội thành TP.HCM
TP.HCM
Để thực hiện mục tiêu này, luận án đã nghiên cứu các nội dung sau:
- Thực trạng thể chất của học sinh tiểu học nội thành TP.HCM
Trang 18- Các giải pháp tăng cường hoạt động giải trí vận động cho học sinh tiểu học nội thành TP.HCM
Đánh giá tác động của hoạt động vận động giải trí đối với sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM
Để thực hiện mục tiêu này, luận án đã nghiên cứu các nội dung sau:
- Thể chất của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM trước thực nghiệm
- Tác động của hoạt động vận động giải trí đối với sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học tại các quận nội thành TP.HCM
Giả thiết khoa học của đề tài:
Nếu học sinh tiểu học thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện hoạt động vận động giải trí ngoài trời (vận động ngoài trời), chắc chắn thể chất của
họ sẽ tăng trưởng mạnh, chưa kể đến tăng trưởng về sức khỏe tinh thần và nhân cách Tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ gợi mở để tiếp cận môn học mới “vận động ngoài trời” như các nước tiên tiến
Đây chính là giả thiết khoa học mà luận án đã tập trung nghiên cứu để làm sáng tỏ thông qua kết quả nghiên cứu và bàn luận của luận án
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và các ngành chức năng về vấn đề giáo dục thể chất và vận động giải trí của trẻ
1.1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về vấn đề giáo dục thể chất
và vận động giải trí của trẻ
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu nhi là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó càng được giữ gìn và phát huy, trở thành vấn đề có tính chiến lược, là mục tiêu quan trọng, nhất quán trong đường lối Cách mạng Việt Nam, đặc biệt là từ sau ngày thành lập nước 1945
Ngày 1/6/1950 Hồ Chủ Tịch viết: “Bác thương các cháu lắm, Bác hứa với các cháu rằng đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể sẽ cố gắng làm cho các cháu dần dần được no
ấm, được vui chơi, được học hành,được vui sướng…[47]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề chăm sóc thiếu nhi thật giản dị, thật gần gũi và hết sức thiết thực Quan điểm của Người thể hiện tính nhân văn sâu sắc,
là mệnh lệnh từ trái tim, là kim chỉ nam cho hành động của các cấp chính quyền
Trang 20khu vực và quốc tế Đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo cơ hội cho thiếu nhi phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ, tinh thần, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định như: Chỉ thị số 03/2000/CT-TTg ngày 24/01/2000 củ
-cơ sở đối với công tác BVCSGD trẻ em; Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì thiếu nhi Việt Nam giai đoạn 2001-2010; Chỉ thị số 13/2001/CT-TTg ngày 31/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng kết 10 năm thi hành luật BVCSGD trẻ em; Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu nhi; Quyết định 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2011 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình quốc gia bảo vệ thiếu nhi giai đoạn 2011 – 2015 và Nghị định Số 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu nhi
Đặc biệt là chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, Chỉ thị số 03/2000/CT-TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí cho thiếu nhi và việc triển khai thực hiện Nghị định Số 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ đã tạo những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của các cấp chính quyền đoàn thể đối với hoạt động vui chơi giải trí của trẻ em
Nghị định Số 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu nhi quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em, sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu nhi nói chung,
Trang 21chăm sóc đời sống văn hoá, vui chơi, giải trí cho thiếu nhi nói riêng Trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng Bộ, ngành Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là
Bộ trực tiếp có trách nhiệm chăm lo việc vui chơi giải trí hoạt động TDTT cho
trẻ em: “Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch ưu tiên và khuyến khích đầu tư đáp ứng nhu cầu văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tăng cường thể lực, vui chơi, giải trí, du lịch phù hợp với sự phát triển của thiếu nhi và tình hình
phát triển kinh tế - xã hội” [32] Nghị định cũng chỉ rõ:”… Trường hợp chưa có
điều kiện xây dựng công trình dành riêng cho thiếu nhi trên địa bàn thì quy định phải dành ít nhất 20% thời gian sử dụng các công trình chung để phục vụ nhu cầu phù hợp của thiếu nhi hoặc có khu vực dành riêng cho thiếu nhi với trang thiết bị phù hợp. …Trong kinh phí hoạt động thể thao quần chúng, dành một
phần kinh phí cho hoạt động thể thao quần chúng của trẻ em”
Nhằm bảo vệ và chăm sóc thế hệ trẻ, từ năm 2010, Chính phủ đã có Quyết định số 37 quy định tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em Theo đó, để đạt chuẩn, mỗi xã, phường phải đạt 25 tiêu chí, trong đó có tiêu chí xây dựng sân chơi cho trẻ em Còn theo chương trình hành động quốc gia vì thiếu nhi giai đoạn 2011-2020 thì mục tiêu đã được đặt ra: Đến năm 2020, có 45% xã, phường
có điểm vui chơi dành cho trẻ em; 40% huyện và 100% tỉnh có nhà văn hóa thiếu nhi; quy hoạch mạng lưới các trung tâm vui chơi, giải trí, các nhà thiếu nhi cấp tỉnh và cấp huyện, điểm vui chơi giải trí cấp xã hoặc liên xã dành cho trẻ em…
Chỉ thị 20-CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thiếu nhi trong tình hình mới đã chỉ những hạn chế trong công tác chăm sóc, giáo dục
và vảo vệ thiếu nhi như: “Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu nhi vẫn còn một số hạn chế, yếu kém Hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo
Trang 22dục và bảo vệ thiếu nhi chưa hoàn thiện Nhiều mục tiêu cụ thể quan trọng trong chương trình hành động quốc gia vì thiếu nhi Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 thực hiện chưa đạt… Các điểm vui chơi và các hình thức giải trí phù hợp với thiếu nhi còn thiếu” [1]
Chỉ thị cũng đặt ra yêu cầu các cấp Ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quán triệt và thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em: “ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, cần xác định các mục tiêu chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thiếu nhi là một trong những nội dung trọng tâm của mục tiêu xã hội
Khi lập các dự án xây dựng khu dân cư, khu nhà ở phải dành diện tích thích hợp để xây dựng trường học, công trình vui chơi, giải trí cho trẻ em
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thiếu nhi theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội Khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động và công trình dành cho trẻ em” [1]
ủa thành phố HCM và các ngành chức năng về vấn đề giáo dục thể chất và vận động giải trí của trẻ
Quán triệt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Thành ủy, HĐND, UBND TP.HCM đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em như: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân TP.HCM về đầu tư, xây dựng và phát triển cơ sở vui chơi giải trí cho thiếu nhi trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 4794/KH-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2010 của Ủy ban Nhân dân thành phố về triển khai Quyết định số 37/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em; Kế hoạch số 1476/KH-UBND ngày 02 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban Nhân dân thành phố về triển khai tổ chức thực hiện Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6
Trang 23năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình hành động quốc gia vì thiếu nhi bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 4759/QĐ-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban Nhân dân thành phố
về phê duyệt chương trình bảo vệ thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2011 - 2015 theo Quyết định số 267/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị 06 - CT/TU ngày 03/8/2012 của Ban Thường vụ Thành ủy; Kế hoạch 2118/KH-UBND ngày 08/5/2013 của Ủy ban Nhân dân thành phố về “Tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu nhi và xây dựng, phát huy vai trò của Đội Thiếu niên Tiền phong TP.HCM” [57]
Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo thành phố, sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả của các Sở ban, ngành, đoàn thể và Ủy ban Nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn, công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu nhi của thành phố đã đạt được những kết quả tích cực
Một trong những mục tiêu của kế hoạch của UBND TP.HCM nhằm triển khai chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thiếu nhi trong tình hình mới và Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 03 tháng 8 năm 2012 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường sự lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu nhi và xây dựng, phát huy vai trò của Đội Thiếu niên Tiền phong TP.HCM là 100% quận - huyện; phường - xã, thị trấn có xây dựng các sân chơi miễn phí phục vụ thiếu nhi [18] [29]
Thực hiện quyền vui chơi, giải trí lành mạnh của thiếu nhi đòi hỏi phải thay đổi quan niệm cũ coi “vui, chơi, giải trí” là hoạt động của những kẻ “vô công r nghề”, những trẻ “hư”, sang quan niệm mới coi vui chơi, giải trí lành mạnh là một
Trang 24yếu tố để thiếu nhi khôn lớn, phát triển tốt hơn về thể chất và tinh thần Các quốc gia trên thế giới xác định rằng, trong thời đại văn minh trí tuệ thì mọi người, kể cả thiếu nhi sẽ phải làm việc nhiều hơn bằng trí óc, làm việc bằng nội lực nhiều hơn lao động chân tay, nên con người sẽ mỏi mệt hơn, căng thẳng hơn, dễ dẫn đến stress hơn thì việc vui chơi, giải trí là liều thuốc bổ tạo nên sự thoải mái về tinh thần, cân bằng về sức khoẻ Vì vậy, thực hiện quyền vui chơi, giải trí của thiếu nhi chính là chuẩn bị tâm lý, sự năng động, sự thích nghi trong một xã hội công nghiệp với hoạt động trí óc là chủ yếu
Vấn đề quan trọng để thực hiện quyền thiếu nhi về vui chơi, giải trí là việc
tổ chức vui chơi, giải trí một cách khoa học, có văn hoá để mọi thiếu nhi đều được "chơi mà học, học mà chơi" để trẻ phát triển nhân cách toàn diện Vui chơi, giải trí gắn liền trong học tập, trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao ở mọi nơi, mọi lúc phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ em Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của thiếu nhi và thực hiện quyền thiếu nhi được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao là mục tiêu, biện pháp quan trọng của chiến lược con người
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí phải hướng vào mục tiêu bồi dưỡng về trí tuệ, thể lực, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, hướng tới chân, thiện, mỹ Phát huy những giá trị di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc, đồng thời giáo dục thiếu nhi chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Phát hiện và bồi dưỡng kịp thời các năng khiếu, tài năng của thiếu nhi về văn hoá, văn nghệ, thể thao
Tóm lại: Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như Thành ủy, Ủy ban Nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, mà bắt đầu từ lứa tuổi mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học , trong đó giáo dục phổ thông có vai trò đặc biệt quan trọng Hệ thống chỉ thị, nghị quyết, quyết định và các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước, từ Trung ương đến Cơ sở về cơ bản đã hoàn
Trang 25chỉnh và cho phép chúng ta có đầy đủ cơ sở pháp lý triển khai trong thực tiễn Tuy nhiên, đây lại là khâu yếu nhất trong cả quy trình đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Đây là vấn đề đề tài luận án sẽ góp phần giải quyết một phần nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện trong trường tiểu học tại TP.HCM hiện nay
1.2 Các khái niệm, quan điểm và học thuyết liên quan đến vấn đề giải trí vận động
1.2.1 Một số khái niệm, quan điểm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trước hết, cần tìm hiểu khái niệm về giải trí Theo định nghĩa được ghi trong Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng thú” [54] Theo Đoàn Văn Chúc: “giải trí là hoạt động của con người tạo hứng thú, giúp con người sảng khoái, lấy lại tinh thần, bù đắp sự mệt mỏi và căng thẳng của trí não Đồng thời giải trí là nguồn động lực thúc đẩy tái tạo sức lao động, để con người phát triển toàn diện về lực - trí - mỹ” Theo Wikipedia: “Giải trí: là dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các hoạt động khác, nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang hoạt động
tự nguyện” [67]
Theo Bùi Trọng Toại: “Thể thao giải trí: là một dạng thể thao đặc thù nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí của bản thân, ít tính toán đến thắng bại, có sức hút đặc biệt, nhất là giới trẻ, không chỉ mang lại niềm vui chiến thắng đối phương trong các cuộc thi đấu hay khắc phục khó khăn mà còn tốt cho sức khỏe
v thể chất, vừa tốt cho sức khỏe về tinh thần [48] TDTT giải trí: là một loại hình hoạt động vận động theo sở thích như tham quan, du lịch, đi bộ, xe đạp, leo núi, chèo thuyền…với lượng vận động không quá nặng và quy định không quá chặt chẽ Đây thực sự là một hình thức giải trí tốt thông qua sự vận động tích cực theo sở thích để điều chỉnh, tối ưu hóa trạng thái tâm – sinh lý của cơ thể
Trang 26tương đối nhanh, nhằm tạo đà cho những hoạt động cơ bản trong đời sống từng người, cho dù chúng không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển thể chất [51]
Trong chương trình giáo dục thể chất cho học sinh mẫu giáo và tiểu học, thì một trong những phương tiện và nội dung được nhắc đến nhiều đó là trò chơi vận động Theo Kenhman A.V và cộng sự: Trò chơi vận động là loại vận động tích cực, đây là một trong những phương tiện GDTC tốt nhất cho trẻ mầm non, rất phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung và tạo cho các em có điều kiện s ng tạo và phát triển tư duy của mình một cách độc lập trong những trường hợp cụ thể Trò chơi vận động có ý nghĩa giáo dục rất lớn và chiếm một phần quan trọng trong thể dục cơ bản.[17]
Thể chất: là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể, được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và ảnh hưởng, tác động của điều kiện sống bao gồm cả giáo dục, rèn luyện cùng tự giữ gìn, tập luyện của từng người [51]
Giáo dục thể chất: một bộ phận hữu cơ của giáo dục toàn diện nhằm tác động có hệ thống phát triển những năng lực thể chất toàn diện của con người GDTC thực chất là dạy cho con người cách điều khiển vận động hợ
năng, k xảo vận động Mặt khác GDTC trực tiếp phát triển thể lực chung (nhanh, mạnh, bền, khéo, dẻo) và thể lực chuyên môn có ý nghĩa thực dụng đối với hoạt động TDTT và chữa bệnh [54]
Như vậy, qua tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu có liên quan, đề tài không tìm được khái niệm vận động giải trí một cách hoàn chỉnh Do vậy, theo
quan điểm của đề tài luận án, vận động giải trí, có thể hiểu là loại hình vận động vừa có tính giải trí cao, vừa mang tính định hướng trong công tác giáo dục và phát triển thể chất, phù hợp đặc điểm hình thái, tâm sinh lý, thể lực lứa tuổi của đối tượng tham gia
Trang 271.2.2 Lý thuyết cổ điển về hoạt động chơi của trẻ
Theo một số lý thuyết cổ điển, chơi là hoạt động không mục đích, tự nhiên sẵn có của sinh vật nhằm giải tỏa năng lượng dư thừa (Lý thuyết Năng lượng Thặng dư – Surplus energy theory - Schiller 1873, Spencer 1875), hoặc là hoạt động thư giãn nhằm nạp lại năng lượng đang thiếu hụt (Lý thuyết Thư giãn – Relaxation theory, Lazarus 1883, Patrick 1916) Hai lý thuyết trên đều xem hoạt động chơi không mang mục đích quan trọng nào và có thể thay thế bằng hoạt động khác [28]
Lý thuyết Tiền tập luyện (Pre - exercise theory - Groos – 1898) thì cho rằng chơi là hành vi bản năng Những nội dung chơi được xây dựng từ những hành vi của người lớn Chơi được coi như là sự chuẩn bị cho công việc trong tương lai Như vậy lý thuyết này ngầm nhìn nhận chơi là hoạt động có mục đích
và tiến đến việc xem xét nội dung cần chuyển tải trong các hoạt động chơi của trẻ
Cũng đánh giá hoạt động chơi như là hành vi mang tính bản năng có ý nghĩa, lý thuyết Tóm lược (Recapitulation Theory - G 'Stanley Hall - 1906 Wundt - 1913) xem xét hoạt động chơi không chỉ là phạm trù hành vi của cá thể riêng biệt nhưng liên quan đến những hành vi trong quá trình tiến hoá của cả giống loài Các giai đoạn chơi của trẻ phản ánh các giai đoạn phát triển của nhân loại, đi từ đơn giản đến phức tạp Chơi trở thành hoạt động thoát ly có tính bản năng được di truyền lại, giúp sinh vật dần dần thoát khỏi những kỹ năng không còn cần thiết nữa Theo đó, con người thoát ra khỏi những hành vi nguyên thủy, chơi chuẩn bị cho những hành vi mang tính thời đại Như vậy, lý thuyết này bắt đầu chú ý nghiên cứu về các giai đoạn chơi ở trẻ trong các độ tuổi khác nhau
1.2.3 Lý thuyết đương đại về hoạt động chơi của trẻ
Xác định bản chất hoạt động chơi là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu về lĩnh vực hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi con trẻ Nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hoạt động chơi của
Trang 28con người đã tìm hiểu và đưa ra những lý thuyết về hoạt động vui chơi của trẻ
em, trong đó có những lý thuyết quan trọng về sự phát triển tâm lý và nhận thức
của trẻ
Trong lý thuyết Phát triển nhận thức (Cognitive development theory), Jean Piaget [78] cho rằng trẻ em là những người học đầy năng động và tự động Bản thân trẻ em có tính tò mò tự nhiên đối với thế giới xung quanh chúng Chúng luôn năng nổ tìm kiếm thông tin để có thể lý giải và hiểu về thế giới đó Chúng thường trải nghiệm những vật thể mà c
đó, hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ [36], [78]
Lý thuyết Văn hoá xã hội (Sociocultural theory) do
chơi hay trò chơi như là một hiện tượng tâm lý có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ L.X.Vưgôtxki nhấn mạnh hoạt động chơi giúp trẻ phát triển các kỹ năng xã hội [63]
Các nhà tâm lý phát triển lý thuyết của L.X.Vưgôtxki cho rằng hoạt động chơi của trẻ chuẩn bị cho chúng cuộc sống trưởng thành bằng việc luyện tập các hành vi giống như người lớn [64], [65]
Trang 291.2.4 Tác động của hoạt đông vui chơi giải trí đối với trẻ
Các hoạt động vui chơi đóng vai trò thiết yếu cho sự phát triển khỏe mạnh của trẻ Nghiên cứu cho thấy rằng 75% sự phát triển của não diễn ra sau sinh Các hoạt động mà trẻ tham gia vừa kích thích vừa tác động đến các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh Quá trình này ảnh hưởng đến sự phát triển của các kỹ năng vận động, khả năng ngôn ngữ, kỹ năng xã hội, nhận thức cá nhân, tình cảm, sự sáng tạo, cũng như khả năng học và giải quyết vấn đề
Theo các nhà tâm lý học và giáo dục học hiện đại, mặc dù có yếu tố sinh học trong nhu cầu vui chơi của trẻ em, nhưng trò chơi của trẻ em không phải do thừa năng lượng nên mới chơi hay hoạt động, chính mâu thuẫn giữa nguyện vọng của trẻ muốn được trực tiếp tham gia vào cuộc sống của người lớn, với khả năng của chúng chưa được chuẩn bị đầy đủ nên đã nẩy sinh trò chơi Tham gia vào trò chơi là một hình thức đặc thù độc đáo của trẻ em để giải quyết mâu thuẫn đó Nhu cầu được chơi, được vận động đối với trẻ em là bất biến.Trò chơi vận động cùng với dụng cụ, thiết bị đồ chơi đối với các em như là “Cơm ăn, nước uống” hàng ngày, chính những thứ đó, là phương tiện rất hữu hiệu góp phần giáo dục nhận thức, khả năng giao tiếp, đạo đức và đào tạo các em trở thành con người phát triển toàn diện [7], [37]
Các lý thuyết đương đại coi hoạt động chơi có ảnh hưởng quan trọng đến
sự phát triển của trẻ Hầu hết các nhà chuyên môn hiện nay đều cho rằng hoạt động chơi là phương thức cần thiết để trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh và sống thích ứng với thế giới đó Thậm chí các nhà khoa học nhận định: chơi chính là học
Mặc dù trẻ không chủ ý chơi để học, nhưng trẻ thật sự học từ qua những cuộc chơi đầy vui thích Nhiều nghiên cứu cho thấy hoạt động chơi liên quan đáng kể đến:
- Khả năng tư duy logic: Bằng việc trải nghiệm những thao tác lập đi lập lại
và hệ quả của nó thông qua những cuộc chơi, trẻ học được quy luật nhân quả và
Trang 30dần dần có thể phỏng đoán được hệ quả của một hành vi sắp diễn ra
- Khả năng sáng tạo: Đây là dạng tư duy cấp cao, Bác sĩ nhi khoa, nhà phân tâm học nổi tiếng D.W Winnicott cho rằng “Chỉ qua hoạt động chơi và trong hoạt động chơi, trẻ mới được tự do sáng tạo”
- Khả năng giải quyết vấn đề: “Chơi cho phép đứa trẻ giải quyết ở dạng biểu tượng những vấn đề chưa được giải quyết trong quá khứ Chơi là công cụ quan trọng để chúng chuẩn bị cho bản thân những nhiệm vụ trong tương lai” - Bruno Bettelheim, nhà tâm lý học trẻ em
- Khả năng phối hợp, cộng tác với người khác: Những trò chơi mà trẻ có thể cùng chơi với bạn đồng trang lứa, với người lớn hay với tập thể nhóm giúp trẻ biết điều chỉnh hành vi trong giới hạn phù hợp với người cùng chơi, biết chờ đợi đến lượt mình, tôn trọng lượt chơi của người khác, duy trì được sự vui thích khi chơi hoà hợp với người khác
- Khả năng làm chủ cảm xúc: “Chơi là con đường chính đề học cách tự chủ cảm xúc Nó cho trẻ không gian an toàn đề trải nghiệm theo ý muốn, tạm hoãn những luật lệ và chế ngự thực tế xã hội vật lý Trong hoạt động chơi, trẻ trở thành “quan” (master) hơn là “dân” (subject)…chơi cho phép trẻ chuyển từ bị động sang chủ động đối mặt những điều xảy ra xung quanh chúng”[38],
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng, giáo dục trẻ phải theo lối “ Học mà chơi, chơi mà học” Quan điểm này phản ánh rất rõ đặc điểm tâm
lý và con đường nhận thức của trẻ Giáo dục thông qua trò chơi đạt hiệu quả cao nhờ tính hấp dẫn, thu hút, lôi cuốn các em tham gia một cách tự nhiên Trò chơi, nếu được sử dụng hợp lý sẽ trở thành một kênh cung cấp kiến thức, một phương tiện kiểm tra kiến thức cho trẻ một cách nhẹ nhàng [12]
Đối với trẻ em, việc chơi được coi là quan trọng gần như ngang bằng với việc học Đây là một hoạt động vô cùng cần thiết đối với mỗi đứa trẻ Khi cha
mẹ cho trẻ vui chơi hợp lý, thể chất và tinh thần sẽ được phát triển lành mạnh, tư duy lạc quan và phản ứng với môi trường xung quanh cũng nhanh
Trang 31Theo Erik Erikson tuổi thiếu niên (6 - 12) bắt đầu một mình bước vào
xã hội với các cuộc giao tiếp và ganh đua với bạn bè tại trường học và các nơi khác tập phát triển các tài năng và năng khiếu riêng nhờ các sinh hoạt chung và tiếp xúc Nếu giai đoạn này thành công, sẽ có nhiều nghị lực và kinh nghiệm để đương đầu với những khó khăn và khủng hoảng sau này trong cuộc đời Nếu không phát triển trong giai đoạn này, trong tương lai, sẽ dễ cảm thấy mình thua kém bạn bè, nhất là khi gặp những thử thách khó khăn [72]
Trong quá trình tham gia các trò chơi, trẻ học được cách quản lý và chuyển đổi những cảm xúc không tích cực, giảm bớt căng thẳng và vui vẻ, hòa đồng kết nối với những người xung quanh Không những thế, vui chơi còn giúp trẻ kết nối các mối quan hệ với bạn bè từ các hành động chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
Cũng có một vài ý kiến lo ngại đối với những trò chơi mang tính đối kháng, sợ rằng chúng có thể phát triển ở trẻ hành vi bạo lực Điều lo ngại đó là không có cơ sở Theo nhà tâm lý học T.G Power: "Các chuyên gia cần phải cẩn thận khi đánh đồng trò chơi tranh đua mang tính thể lực giống với đánh nhau thật và cũng không nên cho rằng trẻ chơi trò chơi đó là hung hăng Khi trẻ chơi trò chơi giúp tăng cường vận động, thì chúng ta nên cho chúng nhiều cơ hội để tham gia vui chơi và cho chúng chơi trò chơi trẻ yêu thích Những hoạt động này
có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động, trí tuệ và nhận thức một cách toàn
Trang 32diện" Giả vờ hung hăng không hẳn là hành vi mang tính hung hăng Hành vi hung hăng đồng nghĩa với việc bạn đang có ý định làm hại người khác Nhưng trò chơi tranh đua mang tính thể lực bao gồm việc chơi đánh giả thì không làm hại đến bất cứ ai cả Trò chơi này đòi hỏi khả năng kiềm chế bản thân Nó giống như một bài thực hành khả năng tự kiểm soát bản thân của trẻ trong nhiều tình huống khác nhau” [75], [76]
Như vậy, rất khó để đi đến kết luận trò chơi tranh đua mang tính thể lực làm trẻ trở nên hung hăng hơn Ngay cả người lớn đôi khi cũng thấy khó phân biệt giữa đánh nhau thật và đánh nhau giả vờ Trong khi đó, những nghiên cứu cho thấy trẻ 5 tuổi đã có thể phân biệt sự khác nhau giữa bạo lực và vui chơi, giữa bị đánh thật và giả vờ chơi đánh nhau
Trò chơi tranh đua mang tính thể lực có liên quan đến sự khác biệt giới tính của trẻ Sự khác biệt này xuất phát từ yếu tố bẩm sinh và được phát triển trong quá trình học hỏi của trẻ Các trẻ trai có xu hướng chơi trò chơi năng động hơn so với trẻ gái Khi chơi trò chơi tranh đua mang tính thể lực, trẻ cần có thể lực tốt để chạy nhảy, la hét, rượt đuổi và cố gắng hết sức để chống lại đối phương
Vai trò quan trọng nhất của việc chơi là giúp trẻ trở nên năng động, biết đưa ra các lựa chọn và rèn luyện để thành thạo các kỹ năng Trẻ
nghiệm nhiều loại nội dung khác nhau (nghệ thuật, âm nhạc, ngôn ngữ, toán học, quan hệ xã hội) vì từng loại hình đều quan trọng cho sự phát triển của não
bộ vốn phức tạp nhưng thống nhất ở trẻ.Trò chơi nào có thể nối kết các trải nghiệm về giác quan - vận động, nhận thức, và tình cảm - xã hội đều cung cấp môi trường phát triển lý tưởng cho não bộ [73]
Tóm lại: Qua nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm, quan điểm, học thuyết
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đề tài đề xuất khái niệm vận động giải trí,
đó là: loại hình vận động vừa có tính giải trí cao, vừa mang tính định hướng trong công tác giáo dục và phát triển thể chất, phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, thể
Trang 33lực lứa tuổi học sinh tiểu học Vận động giải trí là một phương tiện hữu hiệu và
quan trọng để phát triển nhận thức và tư duy của học sinh tiểu học Khi tham gia chơi một trò chơi cụ thể, thường các em phải tập trung chú ý cao, chấp hành những yêu cầu về luật chơi, cách chơi và vai chơi Mỗi em bằng kinh nghiệm của mình đều có thể tự vận động, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ chơi Chính cái quá trình đó đã phát triển và kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của các em, thông qua hoạt động vui chơi có tổ chức, sẽ nâng các em lên “tầm cao” mới
1.3 Đặc điểm phát triển thể chất lứa tuổi học sinh tiểu học
Theo PGS.TS Nguyễn Toán cho rằng: Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện) [49], [50]
Thể hình: hay còn gọi là hình thái, cấu trúc của cơ thể, bao gồm trình độ phát triển, những chỉ tiêu tuyệt đối về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tư thế
Còn năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan với những khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các tố chất vận động (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo, sự khéo léo ) và những năng lực vận động cơ bản của con người (đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, mang vác ) [9], [10], [13], [43]
Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng, tâm lý của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với các bệnh tật [51]
1.3.1 Đặc điểm phát triển hình thái của học sinh tiểu học
Hình thái là một trong các yếu tố quan trọng thể hiện mức độ phát triển thể chất Các chỉ tiêu hình thái nói lên sự phát triển của cơ thể như: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, vòng bụng, độ dầy lớp mỡ dưới da… trong đó, chiều cao đứng có độ di truyền rất cao ở nam giới (đạt 75%), còn cân nặng có độ di truyền thấp hơn (68%) Trong độ tuổi phát triển, chỉ tiêu về chiều cao đứng thường tỷ lệ
Trang 34thuận với cân nặng và một số chỉ tiêu khác Mặt khác, chu vi các vòng của cơ thể thường tỷ lệ với sự phát triển về chiều cao đứng và cân nặng Hình thái cơ thể cân đối cho phép các tố chất thể lực phát triển đồng đều
Sự phát triển và tăng trưởng của trẻ em theo lứa tuổi, giới tính ở mỗi giai đoạn có điểm khác nhau Lứa tuổi nhi đồng đặt những nền tảng đầu tiên cho sự hoàn chỉnh của con người Lúc này các em đang tiếp nhận những tri thức đầu tiên từ xã hội và có bước phát triển đột phá về nhận thức Các em thích tìm hiểu, khám phá các hiện tượng xung quanh bản thân mình Mặt khác, cấu tạo và hoạt động của các cơ quan trong cơ thể đều có những thay đổi Một số cơ quan dần dần hoàn thiện tạo điều kiện cho sự phát triển cơ thể Lứa tuổi 9 – 10 đang chuẩn bị tâm thế để bước sang lứa tuổi phát triển tiếp theo là lứa tuổi dậy thì
Hệ xương: Xương của các em chưa phát triển đầy đủ, tổ chức sụn chiếm
tỷ lệ cao nên xương của các em còn rất yếu, đặc biệt là xuơng cột sống Hệ xương của các em nói chung còn mềm, các chất liên kết xương tương đối kém, diện khớp của các em tương đối dày, khả năng duỗi của gân lớn, nhưng độ vững chắc của các khớp còn yếu, dễ bị trật khớp khi có tác động mạnh từ bên ngoài Đồng thời tránh những hình thức vận động căng thẳng, dễ gây tổn thương đến các đầu xương, cần chú ý rèn luyện tư thế đúng cho các em, sử dụng các bài tập phải hợp lý, có tính đến sức khoẻ của các em [20]
Hệ cơ: Cơ củ ắt đầu phát triển và không đồng đều Tỷ
lệ Protit trong cơ còn ít, vì thế cơ dễ bị mỏi mệt khi hoạt động TDTT với thời gian nhất định Khi giảng dạy TDTT cho đối tượng này cần chú ý phát triển sức mạnh các nhóm cơ nhỏ, các cơ duỗi và sự phối hợp hoạt động của các nhóm cơ
1.3.2 Đặc điểm phát triển chức năng của học sinh tiểu học
Hệ thần kinh: Lứa tuổ ế bào não trưởng thành rất nhanh Khi trẻ lên 6 tuổi có trọng lượng não bằng 85% của não ở người
ởng nhanh, các đuôi gai của tế bào thầ
ển nhiều hơn, các sợi thần kinh liên lạc tăng cao, hình thành đường
Trang 35dây mới nhiều hơn ở não, làm cho chức năng của não hoàn thiện nhanh Các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh, nhưng độ linh hoạt thần kinh còn yếu, khi ức chế có điều kiện lại hình thành chậm Vì vậy, trong quá trình tập luyện TDTT không nên đưa các bài tập, động tác phức tạp hoặc đơn điệu quá
TDTT, giáo viên cần có nội dung tập luyện phải phong phú, phương pháp giảng dạy, tổ chức học phải linh hoạt, không cứng nhắc đơn điệu, giảng giải, làm mẫu
có trọng tâm chính xác đúng lúc, đúng chỗ Vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai cũng tăng dần, khả năng tư duy hình tượng trực quan tương đối mạnh Đây cũng
là thời kỳ bắt đầu hình thành thế giới quan, nên cần thường xuyên bồi dưỡng cho các phẩm chất, ý chí, tôn trọng trật tự, kỷ luật [16]
Hệ tuần hoàn. ứa tuổi này hoạt động còn kém do tim còn nhỏ
ổi chất cao vì tim đập nhanh, mặt khác chức năng hoạt động của hệ tuần hoàn còn yếu, dễ bị kích thích, sức bền kém
Cơ tim còn yếu, vòng tuần hoàn ngắn, dễ mệt mỏi nhưng cũng dễ hồi phục Tần số tim cao, sự điều tiết của hệ giao cảm chiếm ưu thế, nên khi tập luyện nhịp tim tăng lên, tăng thích ứng lưu lượng tâm thu/phút, nhưng sự biến đổi huyết áp lại không rõ Vì vậy, không nên cho các em tập và vui chơi quá lâu một bài tập hoặc một động tác với cường độ lớn, cần thay đổi nội dung hoạt động trong một buổi tập Những bài tập chạy có tác dụng rất tốt đến sự phát triển hệ tim mạch [5], [24]
Hệ hô hấp: ứa tuổi này, đường hô hấp còn hẹp, lực cơ hô hấp yếu, trong khi nhu cầu cần ô xy lại cao, do đó hít thở còn gặp khó khăn khiến cho các
em hay thở bằng mồm Dung tích sống tăng dần, lượng thông khí phổi nhỏ, nhưng tỷ lệ của chúng trên trọng lượng cơ thể lại tương đối lớn, nên vấn đề thở của các em rất quan trọng Cần dạy cho các em thói quen hít, thở bằng mũi với các động tác thể dục và các bài tập trò chơi vận động, hít thở sâu để rèn luyện
cơ quan hô hấp
Trang 36Trao đổi chất và năng lượng. ứa tuổi này quá trình đồng hoá chiếm ưu thế so với dị hoá Quá trình trao đổi chất đạm, đường, mỡ, nước và các khoáng chất có ý nghĩa rất quan trọng đối với các em Các tuyến giáp trạng, tùng, ức phát triển mạnh và tác động đến sự tăng trưởng của xương một cách mạnh mẽ, làm tăng tỷ lệ các phần cơ thể [20]
1.3.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của học sinh tiểu học
Sự phát triển khả năng vận động và các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển cơ thể nói chung và của từng cơ quan chức năng nói riêng Ở mỗi lứa tuổi, tốc độ phát triển thể lực cũng khác nhau Từng tố chất thể lực tăng trưởng tự nhiên theo từng lứa tuổi Quá trình phát triển của cơ thể theo lứa tuổi có thể chia làm hai giai đoạn [16], [21], [22], [26], [35], [52], [59]:
- Giai đoạn thứ nhất: các tố chất thể lực tăng nhanh, liên tục
- Giai đoạn thứ hai: các tố chất thể lực tăng chậm hoặc dừng lại hoặc có thể giảm xuống
Các tố chất thể lực phát triển không đồng bộ, mỗi tố chất phát triển theo một nhịp độ riêng vào từng thời kỳ khác nhau Trình tự phát triển các tố chất thể lực theo thứ tự sau: sức nhanh, sức mạnh, sức bền Quy luật này ở nam, nữ đều giống nhau
Phát triển thể lực có tầm quan trong đặc biệt trong huấn luyện thể
ến tố chất thể lực là nói đến một tổ hợp gồm: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, năng lực phối hợp vận động, mềm dẻo
Sức nhanh:
Sức nhanh là thời gian tiềm tàng của phản ứng, tần số động tác và tốc độ của một động tác đơn lẻ.Trong hoạt động thể lực, sức nhanh thường biểu hiện một cách tổng hợp
Sức nhanh là tố chất phát triển sớm, chủ yếu vào lứa tuổi nhỏ Giai đoạn tốt nhất để phát triển tốc độ là từ 6 – 13 tuổi, sau đó tố chất này ít phát triển Các
Trang 37em từ 8 – 10 tuổi mới tập nên tập chạy cự ly ngắn với tốc độ tối đa Tập luyện TDTT có tác dụng làm giảm nhanh thời gian phản ứng rõ rệt, nhất là lứa tuổi 9 –
12 Phát triển động tác đơn lẻ hiệu quả nhất là vào 9 – 10 tuổi Trong lứa tuổi này sức nhanh chưa chịu ảnh hưởng của vấn đề giới tính, nam và nữ phát triển như nhau Như vậy, sức nhanh phát triển nhiều từ 6 - 13 tuổi (đặc biệt từ 6 - 11 tuổi) đối với nam, sau đó phát triển chậm lại Ở nữ, sức nhanh phát triển nhiều
từ 6 - 10 tuổi, sau đó cũng phát triển chậm lại
Do vậy, huấn luyện sức nhanh cần tiến hành ngay trong giai đoạn này Trong huấn luyện sức nhanh thời gian vận động không quá 7 – 8 giây và nghỉ giữa các lần lặp lại phải đủ để hồi phục hoàn toàn Các bài tập tốc độ nên thực hiện đầu buổi tập ngay sau phần khởi động
Sức mạnh:
Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ Sức mạnh căng cơ phát ra phụ thuộc vào: Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ; Chế độ co của các đơn vị vận động (sợi cơ) đó và chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co
Trong quá trình phát triển cơ thể, nhờ sự hoàn thiện hệ thần kinh, sự thay đổi cấu tạo và bản chất hóa học của cơ, khối lượng và sức mạnh cơ bắp biến đổi đáng kể Tỷ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơ thay đổi theo lứa tuổi Sức mạnh của nhóm cơ duỗi thân mình, đùi, cơ co bàn chân phát triển mạnh, trong khi các nhóm cơ như duỗi bàn tay, cẳng tay, cổ… phát triển yếu hơn Do đó, mỗi lứa tuổi lại có tỷ lệ phân bổ sức mạnh giữa các nhóm cơ đặc trưng của mình Sức mạnh ở nam phát triển tương đối đều từ 6 - 17 tuổi và từ 17 - 20 tuổi phát triển chậm lại Sức mạnh ở nữ phát triển tương đối đều từ 6 -14 tuổi và từ 14 - 20 tuổi phát triển chậm lại
Với lứa tuổi này các em chưa phát triển sức mạnh nhiều, chủ yếu phát triển sức mạnh nhóm cơ chân Do vậy, trong quá trình giảng dạy, huấn luyện cần phải sắp xếp một cách khoa học Các bài tập chỉ nhằm phát triển toàn diện,
Trang 38không nên dùng các bài tập phát triển sức mạnh chuyên môn
Sức bền:
Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó với cường độ cho trước Hay nói cách khác, sức bền là một khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nhất định
Ở lứa tuổi 9 – 10 do hệ tuần hoàn, hệ hô hấp chưa hoàn thiện nên sức bền của các em còn hạn chế, chủ yếu phát triển sức bền tĩnh lực Hiện nay, người ta giải thích vấn đề này theo các góc độ khác nhau Một số ý kiến cho rằng tuổi thiếu niên – nhi đồng có thể chịu được lượng vận động sức bền
Sức bền biến đổi rất rõ rệt dưới tác động của tập luyện.Vì vậy, các em có tập luyện sức bền phát triển khác hẳn so với các em không tập luyện Khi 10 tuổi, các em được tập luyện có sức bền hơn bạn cùng lứa khoảng 14%
Trong quá trình giảng dạy, huấn luyện nên lựa chọn các bài tập hoặc trò chơi kích thích tính hứng thú say mê tập luyện của các em Thay đổi phương pháp giảng dạy liên tục, tránh lặp lại các bài tập quá nhiều Sử dụng chủ yếu các bài tập phát triển sức bền tĩnh lực và sức bền ưa khí trong tập luyện cho các em
Nâng cao tố chất này ở lứa tuổi nhỏ tương đối dễ dàng vì hệ cơ, hệ xương – khớp còn mềm dẻo, có tính đàn hồi tốt Năng lực phối hợp vận động bắt đầu phát triển mạnh lúc 5 – 6 tuổi và phát triển cao nhất từ 7 – 10 tuổi Từ 10 – 12 tuổi ổn định dần và sau đó hơi giảm xuống Chỉ số này ít ổn định và có độ dao động lớn trong cùng độ tuổi
Trang 39Việc phát triển năng lực phối hợp vận động cần xuất phát từ yêu cầu của môn thể thao, từ các bài tập chuyên môn và từ trình độ phát triển của người tập Đối vớ thuật động tác phức tạp, đòi hỏi có trình độ phối hợ
ải cần rèn luyện một cách liên tục và có hệ thống, bởi vì ngưng tập luyện hoặc để cách quãng thì năng lực này sẽ giảm sút nhanh chóng Khả năng phối hợp vận động phát triển nhiều từ 6 - 13 tuổi (đặc biệt từ 6 - 11 tuổi) đối với nam, sau đó phát triển chậm lại Ở nữ, khả năng phối hợp vận động phát triển nhiều từ 6 - 10 tuổi, sau đó cũng phát triển chậm lại
Trong quá trình giảng dạy, huấn luyện cần phải sắp xếp một cách khoa học Tập luyện sức nhanh, sức mạnh, sức bền cần kết hợp các năng lực phối hợp vận động Vì nó ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhanh chóng và chính xác các động tác TDTT Trước các bài tập phải khởi động kỹ, các bài tập năng lực phối hợp vận động phải được thực hiện trước các bài tập phát triển tố chất thể lực khác
Mềm dẻo:
Mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn
Mềm dẻo có liên quan mật thiết với sự hoạt động của khớp xương, sự đàn hồi của dây chằng.Theo các nhà sinh lý học thì giai đoạn phát triển tố chất này tốt nhất là từ 5 – 13 tuổi, vì hệ thống gân, cơ, khớp mềm, dễ co dãn Cùng với thời gian mềm dẻo, khéo léo giảm dần, ở tuổi 16 trở đi không còn khả năng phát triển tố chất mềm dẻo nữa
Mức độ phát triển mềm dẻo, khéo léo có liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện lâu dài làm tăng độ linh hoạt của hệ thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các nhóm cơ khác nhau Do đó, sẽ hoàn thiện sự phối hợp giữa các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng
Trang 401.3.4 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh tiểu học
Giai đoạn lứa tuổi học sinh tiểu học là giai đoạn mà các quá trình nhận thức từ cảm giác đến tư duy của các em có một sự phát triển toàn diện
Cảm giác đã hòa vào trong dạng nhận thức cảm tính phức tạp nhất là tri
giác đến nỗi không thể nghiên cứu riêng 2 quá trình đó Các loại cảm giác ở trẻ khá phát triển, những cảm giác bên ngoài bao gồm: nhìn (thị giác), nghe (thính giác), ngửi (khứu giác), nếm (vị giác), da (xúc giác) Những liên hệ cảm giác vận động tinh tế và chính xác được hình thành, những liên hệ này đảm bảo tính chính xác của hành động và sự kiểm tra bằng mắt các hành động đó [8], [14], [15]
Tri giác Vào đầu lứa tuổi học sinh tiểu học, sự tri giác của các em còn
mang tính tổng thể, chưa đạt đến trình độ tri giác phân biệt, vì vậy các em thường tri giác đại thể ít đi sâu vào chi tiết, các em chưa biết phân tích có hệ thống những thuộc tính và phẩm chất của các đối tượng tri giác [19]
Đầu lứa tuổi tiểu học, sự tri giác của các em mang tính không chủ định là chủ yếu, các em dễ bị thu hút bởi những hình ảnh, đồ vật có nhiều màu sắc rực rỡ, những hoạt động náo nhiệt So với lứa tuổi mẫu giáo, thị giác của trẻ tiểu học nhạy bén hơn, các em từ 7 đến 10 tuổi đã phân biệt được những màu cơ bản nhưng chưa phân biệt được sắc điệu của mỗi loại màu Tri giác thời gian còn chậm so với tri giác không gian Đến cuối lứa tuổi tiểu học tri giác chủ định của các em đã phát triển, gắn liền với sự phát triển quan sát của các em
Tư duy Đầu lứa tuổi học sinh tiểu học, tư duy trực quan hành động chiếm
ưu thế Việc học tập của các em chủ yếu dựa trên sự phân tích, so sánh, đối chiếu các đối tượng, hình ảnh trực quan Những khái quát về sự vật hiện tượng của các em còn mang tính trực tiếp, cảm tính, các em thường dùng những hình tượng, biểu tượng bên ngoài, những hình tượng, biểu tượng ấn tượng do cảm giác mang lại nên gây khó khăn trong việc hình thành khái niệm cho các em Tư duy của các em vẫn còn bị cái tổng thể chi phối, tư duy phân tích chỉ mới bắt