Đặc điểm cơ bản của hệ thống ĐKRB là thực hiện được điều khiển bám theo một quỹ đạo phức tạp đặt trước trong không gian, tuy nhiên khi dịch chuyển thì trọng tâm của các chuyển động thành
Trang 1Theo quá trình phát triển của xã hội, nhu cầu nâng cao sản xuất và chất
lượng sản phẩm ngày càng đòi hỏi ứng dụng rộng rãi các phương tiện tự động
hóa sản xuất Xu hướng tạo ra những dây chuyền và thiết bị tự động có tính linh
hoạt cao đã hình thành và phát triển mạnh mẽ…Vì thế ngày càng tăng nhanh
nhu cầu ứng dụng người máy để tạo ra các hệ sản xuất tự động linh hoạt
Robot ứng dụng rộng rãi và đóng vai trò quan trọng sản xuất cũng như
trong đời sống Robot là cơ cấu đa chức năng có khả năng lập trình được dùng
để di chuyển nguyên vật liệu, các chi tiết, các dụng cụ thông qua các truyền
động được lập trình trước Khoa học robot chủ yếu dựa vào các phép toán về đại
số ma trận
• Robot có thể thao tác như con người và có thể hợp tác với nhau một
cánh thông minh
• Robot có cánh tay với nhiều bậc tự do và có thể thực hiện được các
chuyển động như tay người và điều khiển được bằng máy tính hoặc có
thể điều khiển bằng chương trình được nạp sẵn trong chip trên bo mạch
điều khiển robot
Các Robot đã dược sử dụng để phục vụ cho các máy móc công nghiệp
ngay từ khi kỹ thuật này ra đời Mô hình Robot đầu tiên ra đời vào năm 1960
Năm 1961 robot công nghiệp (Industrial Robot : IR) ra đời Càng ngày ngành
robot càng phát triển, nó đem lại những thay đổi quan trọng trong chế tạo sản
phẩm và nâng cao năng suất chất lượng ở rất nhiều ngành công nghiệp Theo [4]
thì :
Robot công nghiệp là một cơ cấu tay máy nhiều chức năng, với chương
trình làm việc thay đổi được, dùng để thực hiện một số thao tác sản xuất
Sử dụng RBCN, các xí nghiệp công nghiệp thu được nhiều lợi ích như:
tăng thời gian hoạt động của máy móc, tăng độ linh hoạt, có khả năng định trước
được công việc sản xuất và tăng sản lượng nhờ làm ổn định quá trình Việc tự
động hóa nhờ robot cũng khắc phục được tình trạng thiếu nhân công, đồng thời
Trang 2tăng được độ an toàn và công thái học cho công nhân Việc tiết kiệm nhân công
đã hạ được giá thành sản phẩm, một ưu điểm quyết định khả năng cạnh tranh
Giá thành của robot đang giảm đi trong khi tính năng của nó được gia tăng và
công nghệ ngày càng dễ sử dụng RBCN và máy CNC có thể kết hợp với nhau
thành một hệ thống và có thể lập trình điều khiển bằng máy tính để cho chúng
hoạt động theo công nghệ đã đặt ra
Robot đóng vai trò quan trọng trong tự động hoá linh hoạt như công tác
vận chuyển bổ trợ cho máy CNC, trong dây chuyền lắp ráp, sơn hàn tự động,
trong các thao tác lặp đi lặp lại, trong các vùng nguy hiểm Một robot có thể
chuyển động từ vị trí này sang vị trí khác để cung cấp chi tiết đồng thời vẫn giao
tiếp với các thiết bị ngoại vi như bộ PLC, bàn điều khiển hoặc hệ thống mạng
truyền thông công nghiệp Ưu điểm quan trọng nhất của kỹ thuật robot là tạo
nên khả năng linh hoạt hóa sản xuất Việc sử dụng máy tính điện tử - robot và
máy điều khiển theo chương trình đã cho phép tìm được những phương thức
mới mẻ để tạo nên các dây chuyền tự động cho sản xuất hàng loạt với nhiều
mẫu, loại sản phẩm Kỹ thuật robot công nghiệp và máy vi tính đã đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo ra các dây chuyền tự động linh hoạt (Hệ sản xuất hàng
loạt FMS)
Để hệ ĐKRB có độ tin cậy, độ chính xác cao, giá thành hạ và tiết kiệm
năng lượng thì nhiệm vụ cơ bản là hệ ĐKRB phải đảm bảo giá trị yêu cầu của
các đại lượng điều chỉnh và điều khiển Ngoài ra, hệ ĐKRB phải đảm bảo ổn
định động và tĩnh, chống được nhiễu trong và ngoài, đồng thời không gây tác
hại cho môi trường như: tiếng ồn quá mức quy định, sóng hài của điện áp và
dòng điện quá lớn cho lưới điện v.v
Khi thiết kế hệ ĐKRB mà trong đó sử dụng các hệ điều chỉnh tự động
truyền động, cần phải đảm bảo hệ thực hiện được tất cả các yêu cầu về công
nghệ, các chỉ tiêu chất lượng và các yêu cầu kinh tế Chất lượng của hệ thống
được thể hiện trong trạng thái tĩnh và trạng thái động Trạng thái tĩnh yêu cầu
quan trọng là độ chính xác điều chỉnh Trạng thái động thì có yêu cầu về độ ổn
định và các chỉ tiêu về chất lượng động là độ quá điều chỉnh, tốc độ điều chỉnh,
Trang 3thời gian điều chỉnh và số lần dao động Đối với hệ ĐKRB, việc lựa chọn sử
dụng các bộ biến đổi, các loại động cơ điện, các thiết bị đo lường, cảm biến, các
bộ điều khiển và đặc biệt là phương pháp điều khiển có ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng điều khiển bám chính xác quỹ đạo của hệ
Các công trình nghiên cứu về hệ thống ĐKRB tập trung chủ yếu theo hai
hướng là sử dụng các mô hình có đặc tính phi tuyến có thể ước lượng được để
đơn giản việc phân tích và thiết kế hoặc đề ra các thuật toán điều khiển mới
nhằm nâng cao chất lượng đáp ứng của Robot
Đặc điểm cơ bản của hệ thống ĐKRB là thực hiện được điều khiển bám
theo một quỹ đạo phức tạp đặt trước trong không gian, tuy nhiên khi dịch
chuyển thì trọng tâm của các chuyển động thành phần và mômen quán tính của
hệ sẽ thay đổi, điều đó dẫn đến thông số động học của hệ cũng thay đổi theo quỹ
đạo chuyển động và đồng thời xuất hiện những lực tác động qua lại, xuyên chéo
giữa các chuyển động thành phần trong hệ với nhau Các yếu tố trên tác động sẽ
làm cho hệ ĐKRB mang tính phi tuyến mạnh, gây cản trở rất lớn cho việc mô tả
và nhận dạng chính xác hệ thống ĐKRB Do vậy, khi ĐKRB bám theo quỹ đạo
đặt trước phải giải quyết được những vấn đề sau:
• Khắc phục các lực tương tác phụ thuộc vào vận tốc, gia tốc của quỹ
đạo riêng các chuyển động thành phần và quỹ đạo chung của cả hệ như:
lực quán tính, lực ly tâm, lực ma sát v.v
• Khi trọng tâm của các chuyển động thành phần và của cả hệ thay đổi
theo quỹ đạo riêng và chung kéo theo sự thay đổi của các thông số động
học của hệ, điều đó đòi hỏi phải có sự biến thiên các tham số đưa vào bộ
điều khiển tương ứng để vẫn đảm bảo sự cân bằng, ổn định và bền vững
đồng thời vẫn bám theo được quỹ đạo đặt
Với công cụ toán vi phân người ta đã có thể phân tích tính điều khiển
được, tính quan sát được cho hệ phi tuyến Ngoài ra người ta sử dụng các thuật
toán khác phục vụ việc thiết kế điều khiển tuyến tính hoá chính xác hệ phi tuyến
[10] như: Tuyến tính chính xác quan hệ vào-ra; Tuyến tính chính xác quan hệ
vào-trạng thái; Tuyến tính chính xác quan hệ vào-ra và điều khiển tách kênh;
Trang 4Tuyến tính chính xác quan hệ vào - trạng thái và điều khiển tách kênh Những
phương pháp điều khiển này thực sự hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng
điều khiển cho hệ phi tuyến
Các phương pháp điều khiển thông thường sử dụng biện pháp phân tích
gián tiếp thông qua mô hình làm việc của hệ, song lại không cung cấp được
thông tin một cách đầy đủ về toàn bộ hệ thống Còn đối với những phương pháp
phân tích trực tiếp thì ngoại trừ tiêu chuẩn Lyapunov cho việc phân tích tính ổn
định và phương pháp mặt phẳng pha giới hạn ở hệ phi tuyến có hai biến trạng
thái, cho tới nay chưa có một phương pháp cụ thể nào khác
Phương pháp điều khiển ĐLH ngược cần phải biết chính xác thông số
của đối tượng, trong khi đối tượng thực tế lại có thông số thay đổi và nhiễu
không xác định trong môi trường làm việc Do đó, việc thực hiện các bộ điều
khiển theo phương pháp này gặp nhiều khó khăn về độ chính xác, hay nói cách
khác là khó thực hiện được trong thực tế
Phương pháp điều khiển phân ly phi tuyến có nhược điểm là hệ thống
điều khiển có tính phi tuyến cao, do đó độ phức tạp trong điều khiển là khá lớn,
khó có khả năng thực hiện trong thực tế
Phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình chuẩn chỉ thực hiện
đơn giản cho mô hình tuyến tính với giả thiết bỏ qua sự liên hệ ĐLH giữa các
chuyển động thành phần trong hệ Ngoài ra, sự ổn định của hệ thống kín cũng
đang là vấn đề khó giải quyết với tính phi tuyến cao của mô hình chuẩn
Phương pháp điều khiển thích nghi theo sai lệch có luật điều khiển thích
nghi được đơn giản hoá bằng cách áp dụng phương pháp điều khiển thích nghi
suy giảm phân ly, do đó phương pháp này luôn tồn tại sai lệch quỹ đạo trong
quá trình điều khiển thực và như vậy sẽ không phù hợp với yêu cầu của hệ thống
điều khiển chính xác quỹ đạo
Phương pháp điều khiển kiểu trượt có ưu điểm là tính bền vững cao, đặc
tính động học của hệ chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn mặt trượt Tại thời điểm
đầu của quá trình quá độ, hệ thống điều khiển này rất nhạy cảm với các nhiễu và
sai lệch để có thể bám vào quỹ đạo trượt vốn biến đổi theo thời gian nên thường
Trang 5xuất hiện tình trạng lập bập, điều này sẽ gây ra những rung động không mong
muốn trong hệ điều khiển Để giảm bớt hiện tượng này thì cần phải giảm độ
chính xác điều chỉnh tuy nhiên thời gian quá độ tăng
Phương pháp điều khiển trượt có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc
thiết kế bộ điều khiển có các tính năng theo yêu cầu đề ra Tính ổn định của điều
khiển trượt rất rộng và đồng quy và được ứng dụng trong việc thực hiện các điều
khiển nhảy cấp lý tưởng Phương pháp này đảm bảo được tính bền vững và tính
bất biến đối với tác động bên ngoài
Căn cứ vào các đánh giá nêu trên cùng với yêu cầu nghiên cứu ứng dụng
phương pháp điều khiển hiện đại nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển quỹ
đạo Robot, tác giả của luận văn đã chọn phương pháp điều khiển trượt làm
mục tiêu nghiên cứu Nội dung của đề cương nghiên cứu như sau:
1 Tên đề tài: Nghiên cứu hệ thống điều khiển trượt cho chuyển động tay
máy 3 bậc tự do
2 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài: ứng dụng phương pháp điều
khiển trượt hiện đại cho điều khiển bền vững quỹ đạo Robot
3 Mục đích của đề tài: Xây dựng cấu trúc và thuật toán điều khiển
4 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết:
- Xây dựng mô hình toán học cho Robot 3 bậc tự do
- Xây dựng hệ thống điều khiển quỹ đạo đạt độ chính xác cao
- Đánh giá chất lượng bằng mô phỏng
Nội dung của luận văn đề cập tới vấn đề “Nâng cao chất lượng hệ thống
điều khiển quỹ đạo cho Robot Scara 3 bậc tự do ứng dụng phương pháp điều
khiển trượt phi tuyến” với mục tiêu điều khiển bền vững và bám chính xác quỹ
đạo chuyển động trong không gian yêu cầu Luận văn được trình bày thành 5
chương với nội dung cơ bản của từng chương được tóm tắt như sau:
Mở đầu: Mô tả tổng quan về Robot và hệ điều khiển chuyển động Robot
và đưa ra một số vấn đề cần đề cập cũng như phương pháp chung
để tiếp cận với hướng đi của luận văn: Nâng cao chất lượng hệ
Trang 6thống điều khiển quỹ đạo cho Robot bằng một phương pháp điều
khiển hiện đại
Chương 1 - Tổng quan về điều khiển Robot: Đưa ra mô tả toán học của
hệ Robot với hệ thống các phương trình động học và động lực học của Robot n bậc tự do; đề cập đến những vấn đề chính của điều khiển phi tuyến nhằm định hướng cho nội dung nghiên cứu trong các chương tiếp theo Phân tích chi tiết ưu, nhược điểm của một số phương pháp điều khiển Robot đã và đang được áp dụng trong thực tiễn để nâng cao độ chính xác điều khiển quỹ đạo Robot
Chương 2 - Nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển quỹ đạo cho
robot bằng bộ điều khiển trượt cải tiến: Trình bày cơ sở lý
thuyết của phương pháp điều khiển trượt cải tiến Kiểm chứng về mặt lý thuyết cơ sở thực tiễn của đề tài cũng như tính khả thi của phương pháp điều khiển bền vững ứng dụng phương pháp điều khiển trượt khi áp dụng để điều khiển quỹ đạo Robot
Chương 3 - Mô tả toán học đối tượng - Robot Scara Serpent: Nghiên
cứu một đối đối tượng cụ thể là mô hình Robot Scara Serpent để phục vụ việc nghiên cứu và kiểm chứng các lý thuyết và các phương pháp điều khiển được lựa chọn
Chương 4 - Xây dựng mô hình hệ thống điều khiển: Thiết kế bộ điều
khiển bền vững ứng dụng phương pháp điều khiển trượt để nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển quỹ đạo cho Robot Xây mô hình hệ thống điều khiển trượt cho Robot Scara Serpent Xây dựng mô hình mô phỏng sử dụng phần mềm chuyên dụng
Chương 5 - Mô phỏng: Định hình và kiểm chứng về mặt lý thuyết cơ sở
thực tiễn của đề tài cũng như tính khả thi của phương pháp điều khiển trượt khi áp dụng cho hoạt động bền vững của điều khiển quỹ đạo Robot Scara Serpent 3 bậc tự do
Trang 7Các Robot công nghiệp ngày nay thường được cấu thành bởi các hệ thống
sau:
- Tay máy là cơ cấu cơ khí gồm các khâu, khớp hình thành cánh tay để tạo ra
các chuyển động cơ bản, gồm:
Bệ (thân) - Base
Khớp - thanh nối: joint- link
Cổ tay – wrist: tạo nên sự khéo léo, linh hoạt
Bàn tay - hand, end effector: trực tiếp hoàn thành các thao tác trên đối
tượng
- Cơ cấu chấp hành tạo chuyển động cho các khâu của tay máy Nguồn động
lực của cơ cấu chấp hành là động cơ
- Hệ thống cảm biến gồm các sensor và các thiết bị chuyển đổi tín hiệu cần
thiết khác Các Rôbốt cần hệ thống sensor trong để nhận biết trạng thái của bản
thân các cơ cấu của Rôbốt
- Hệ thống điều khiển hiện nay thường là máy tính để giám sát và điều
khiển hoạt động của Rôbốt, có thể chia ra thành 2 hệ thống:
Hệ thống điều khiển vị trí (quỹ đạo) Hệ thống điều khiển lực
Cấu trúc vật lý cơ bản của một robot bao gồm thân, cánh tay và cổ tay
Thân được nối với đế và tổ hợp cánh tay thì được nối với thân Cuối cánh tay là
cổ tay được chuyển động tự do
Về mặt cơ khí, Rôbốt có đặc điểm chung về kết cấu gồm nhiều khâu,
được nối với nhau bằng các khớp để hình thành một chuỗi động học hở, tính từ
Trang 8thân đến phần công tác Tuỳ theo số lượng và cách bố trí các khớp mà có thể tạo
ra tay máy kiểu toạ độ Đề các, toạ độ trị, tọa độ cầu…
Trong robot thì thân và cánh tay có tác dụng định
vị trí còn cổ tay có tác dụng định hướng cho end effector
Cổ tay gồm nhiều phần tử giúp cho nó có thể linh động
xoay theo các hướng khác nhau và cho phép Rôbốt định
vị đa dạng các vị trí Quan hệ chuyển động giữa các phần
tử khác nhau của tay máy như: cổ tay, cánh tay được thực
hiện qua một chuỗi các khớp nối Các chuyển động bao
gồm chuyển động quay, chuyển động tịnh tiến…
Các rôbốt công nghiệp ngày nay hầu hết thường được đặt trên đế và thân
đế này được gắn chặt xuống nền Gắn vào cổ tay có thể là một bàn kẹp (gripper)
hoặc một số công cụ khác dùng để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (như mũi
khoan, đầu hàn, đầu phun sơn ) và chúng được gọi chung là “end effector”
Sự chuyển động của Robot bao gồm chuyển động của thân và cánh tay,
chuyển động của cổ tay Những khớp kết nối chuyển động theo 2 dạng trên gọi
là bậc tự do Ngày nay robot được trang bị từ 4 đến 6 bậc tự do
Dựa vào hình dáng vật lý hoặc khoảng không gian mà cổ tay có thể di
chuyển tới mà người ta chia robot thành bốn hình dạng cơ bản sau :
Trang 9Hình 1.2 : Hình dạng của các loại robot cơ bản
Các khớp được sử dụng trong robot là khớp L, R, T, V (khớp tuyến tính, khớp
quay, khớp cổ tay quay và khớp vuông) Cổ tay có thể có đến 3 bậc tự do
Bảng 1.3 Các dạng cơ bản của các khớp Robot
Các khớp có thể chuyển động được chính là nhờ được cung cấp năng
lượng bởi các thiết bị truyền động Các robot hiện nay thường dùng một trong ba
phương pháp truyền động sau đây :
Truyền động thuỷ lực
Truyền động khí nén
Truyền động điện
Không gian làm việc của một robot phụ thuộc vào hình dạng và kết cấu
cơ khí của tay máy robot Robot có 3 hình dạng cơ bản của không gian làm việc
là dạng cầu, dạng trụ và dạng khối hộp (lập phương hoặc chữ nhật) Cartesian
Hình dưới mô tả hình dạng của không gian làm việc của robot :
Trang 10∗ Khối A: là khối thu thập và chuyển giao dữ liệu đầu vào
∗ Khối B: là khối não bộ của robot gồm các cụm vi xử lý, giải quyết các
vấn đề về:
- Thiết lập và giải các bài toán động học trên cơ sở bộ thông tin đầu
vào (θs , hs) (cụm Động học thuận)
- Lưu trữ và chuyển giao các kết quả của quá trình giải bài toán
động học thuận (Cụm Cartesian Point Storage)
- Lập trình quỹ đạo đi qua các điểm hình học để hoàn thành toàn bộ
quỹ đạo chuyển động cần có (cụm Mặt phẳng quỹ đạo)
- Giải các bài toán động học ngược để tìm ra các thông số điều khiển
(còn gọi là bộ dữ liệu điều khiển) - (Cụm Động học ngược)
∗ Khối C: là khối điều khiển
∗ Khối D: là khối cơ cấu chấp hành Nó bao gồm nguồn động lực (Motor
Dynamics), các cơ cấu chấp hành (Robot Dynamics) và các bộ cảm
Động học ngược
Mặt phẳng quỹ đạo
Bộ điều khiển Nguồn động lực
Vị trí vật lý
Máy tính
Chạy
Khóa chuyển mạch
Lưu giữ kết quả Chế độ dạy
học
Trang 111.2 Các hệ thống Điều khiển Robot
Hệ thống điều khiển của robot có nhiệm vụ điều khiển hệ truyền động điện
để thực hiện điều chỉnh chuyển động của robot theo yêu cầu của quá trình công
nghệ Hệ thống Điều khiển Robot có thể chia ra:
- Điều khiển vị trí (quỹ đạo) - điều khiển thô
- Điều khiển lực - điều khiển tinh
Tùy theo khả năng thực hiện các chuyển động theo từng bậc tự do mà
phân ra các hệ thống điều khiển dưới đây:
- Điều khiển chu tuyến: chuyển động được thực hiện theo một đường liên tục
- Điều khiển vị trí: đảm bảo cho robot dịch chuyển bám theo một quỹ đạo
đặt trước
Sơ đồ khối mô tả:
Điều khiển chu kỳ: chuyển động được xác định bằng các vị trí đầu và cuối của
mỗi bậc tự do
1.2.1 Các phương thức điều khiển
- Điều khiển theo quỹ đạo đặt (3 phương thức điều khiển):
Điều khiển Robot theo chuỗi các điểm giới hạn
Điều khiển lặp lại ( playback ):
Điều khiển Robot theo kiểu điểm - điểm (PTP)
Robot điều khiển theo quỹ đạo liên tục PCC
Điều khiển ứng dụng kỹ thuật cao (Robot thông minh)
Bộ
Phản hồi
Hình 1.6: Sơ đồ khối điều khiển vị trí Robot
Trang 121.2.2 Điều khiển theo quỹ đạo đặt
1.2.1.1 Điều khiển theo chuỗi các điểm giới hạn
Là phương thức điều khiển bằng cách thiết lập các công tắc giới hạn và
các điểm dừng cơ khí Chuyển động của các khớp nối được bắt đầu và kết thúc
khi gặp các công tắc giới hạn hoặc các điểm dừng cơ khí này Việc thiết lập các
điểm dừng và các công tắc giới hạn tương đương với việc lập chương trình cho
robot, mỗi một công tắc được coi như một phần tử nhớ Phương pháp điều khiển
này thường được dùng trong các loại robot đơn giản
1.2.1.2 Điều khiển lặp lại (playback)
Thường được dùng trong các hệ thống điều khiển phức tạp và quỹ đạo
chuyển động của robot là theo một quỹ đạo đã được tính toán và xác định từ
trước thông qua một chuỗi các vị trí xác định Các vị trí này đã được ghi vào bộ
nhớ của robot và robot phải tự tính toán điều khiển để đạt tới các vị trí mong
muốn này theo các điều kiện tối ưu có thể Robot điều khiển playback được chia
làm hai loại tùy theo phương thức điều khiển:
a Điều khiển kiểu điểm - điểm (PTP):
Phương thức điều khiển kiểu điểm - điểm là phương thức điều khiển mà
việc xác định quỹ đạo chuyển động từ điểm này sang điểm khác là do bản thân
robot xác định tuỳ theo điều kiện cụ thể Quỹ đạo chuyển động của robot được
ghi từ trước trong bộ nhớ chỉ là một chuỗi vị trí các điểm mong muốn Robot sẽ
tự tìm cách lần lượt đạt tới các điểm mong muốn đó bằng cách so sánh tọa độ
hiện tại với tọa độ của điểm mong muốn và tính toán xây dựng quỹ đạo điều
khiển chuyển động theo hướng làm giảm sự sai lệch đó Dạng quỹ đạo này phù
hợp cho các robot có hoạt động “gắp”, “nhả”
b Phương pháp điều khiển quỹ đạo liên tục : PCC - Path Continuos
Control:
Là phương thức điều khiển mà quỹ đạo chuyển động của robot tới các
điểm đã xác định Trong quá trình hoạt động robot phải điểu khiển hệ thống bám
Trang 13theo quỹ đạo được ghi trong bộ nhớ Quỹ đạo liên tục có thể được cho dưới
dạng các điểm liên tục hoặc cho dưới dạng các điểm cần phải đi qua với các
tham số về vận tốc, gia tốc, thời gian.v.v và được xây dựng bằng các đa thức nội
suy bậc cao Quỹ đạo liên tục được đòi hỏi trong các nguyên công công nghệ như
sơn, hàn, cắt mà tay máy thực hiện việc trực tiếp
1.2.1.3 Điều khiển kiểu robot thông minh:
Ứng dụng để điều khiển cho những robot ngoài việc có thể thực hiện được
chương trình đặt trước, nó còn có khả năng tùy biến thực hiện các hành động
phù hợp với các cảm nhận từ môi trường Robot thông minh có thể thay đổi
chương trình phù hợp với điều kiện làm việc của môi trường nhận được từ các
sensor (quang, nhiệt, vị trí, tốc độ, từ trường, âm thanh, tần số…) sử dụng logic
mờ và mạng nơron Robot loại này có khả năng giao tiếp với con người hoặc với
hệ thống máy tính chung để có thể đưa ra các xử lý thông minh Hiện nay trên
thế giới đã xuất hiện các robot thông minh có thể hiểu được các lệnh đơn giản
của con người, có thể giao tiếp, giúp đỡ để thực hiện các công việc phức tạp
trong nhà máy
1.2.3 Các hệ thống điều khiển hệ tuyến tính
Khi khảo sát đặc tính động học của một đối tượng điều khiển hay một hệ
thống, thông thường các đối tượng khảo sát được xem là tuyến tính, dẫn đến cho
phép mô tả hệ thống bằng một hệ phương trình vi phân tuyến tính Sử dụng
nguyên lý xếp chồng của hệ tuyến tính, ta còn có thể dễ dàng tách riêng các
thành phần đặc trưng cho từng chế độ làm việc để nghiên cứu với những công
cụ toán học chặt chẽ, chính xác mà lại rất đơn giản, hiệu quả Sử dụng mô hình
tuyến tính để mô tả hệ thống có nhiều ưu điểm như:
- Mô hình đơn giản, các tham số mô hình tuyến tính dễ dàng xác định
được bằng các phương pháp thực nghiệm mà không cần phải đi từ
những phương trình hoá lý phức tạp mô tả hệ
- Các phương pháp tổng hợp bộ điều khiển tuyến tính rất phong phú và
không tốn nhiều thời gian để thực hiện
Trang 14- Cấu trúc đơn giản của mô hình cho phép theo dõi được kết quả điều
khiển một cách dễ dàng và có thể chỉnh định lại mô hình cho phù hợp
với yêu cầu thực tế
Chính vì những ưu điểm này của mô hình tuyến tính mà lý thuyết điều
khiển tuyến tính và mô hình tuyến tính đã có được miền ứng dụng rộng lớn
1.2.4 Các hệ thống điều khiển hệ phi tuyến
Trong thực tế phần lớn các đối tượng được điều khiển lại mang tính động
học phi tuyến (đặc biệt là robot là đối tượng có tính phi tuyến mạnh - có thể thấy
rất rõ ngay trong hệ thống điều khiển Robot luận văn này sẽ trình bày), tức là
không thoả mãn nguyên lý xếp chồng; và không phải đối tượng nào, hệ thống
nào cũng có thể mô tả được bằng một mô hình tuyến tính, cũng như không phải
lúc nào những giả thiết cho phép xấp xỉ hệ thống bằng mô hình tuyến tính được
thoả mãn Hơn thế nữa độ tối ưu tác động nhanh chỉ có thể tổng hợp được nếu ta
sử dụng bộ điều khiển phi tuyến Các hạn chế này bắt buộc người ta phải trực
tiếp nghiên cứu tính toán động học của đối tượng, tổng hợp hệ thống bằng
những công cụ toán học phi tuyến
Để nghiên cứu và nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển quỹ đạo
Robot, chương này sẽ tổng hợp và nêu lên một số phương pháp điều khiển các
hệ phi tuyến như đã được trình bày chi tiết trong [8], [10] và [11] và ứng dụng
có hiệu quả vào hệ thống điều khiển Robot Sau đây là một số phương pháp điều
khiển ổn định hệ thống phi tuyến:
1.2.4.1 Phương pháp tuyến tính hoá trong lân cận điểm làm việc
Bản chất của tuyến tính hoá xấp xỉ mô hình hệ thống xung quanh điểm
làm việc x đó là thay đổi một đoạn đường cong v f(x,u) trong lân cận điểm x v
bằng một đoạn thẳng tiếp xúc với đường cong đó tại điểm x Như vậy, việc v
tuyến tính hoá một hệ phi tuyến xung quanh điểm làm việc đồng nghĩa với sự
xấp xỉ gần đúng hệ phi tuyến trong lân cận điểm làm việc bằng một mô hình
tuyến tính
Xét hệ phi tuyến có mô hình trạng thái:
Trang 15)u,x(fdt
xd
Cy~
u~
Bx~
Adt
)u,x(gyy~= − v 0
Hệ (1.1) được chứng minh là ổn định (tiệm cận Lyapunov) tại xv khi hệ
(1.2) là ổn định, khi và chỉ khi các giá trị riêng của ma trận A có phần thực âm
Trường hợp hệ (1.2) không ổn định thì có thể áp dụng phương pháp thiết kế bộ
điều khiển phản hồi trạng thái R tĩnh để ổn định hóa hệ (hình 1.7), tức là xác
định ma trận R sao cho ma trận A – BR có các giá trị riêng nằm bên trái trục ảo
Các phương pháp thiết kế thường hay được sử dụng nhất là bộ điều khiển
cho trước điểm cực của Rosenbrock, hay của Roppenecker hoặc của Ackermann
nếu là hệ SISO tuyến tính Ta cũng có thể sử dụng phương pháp thiết kế bộ điều
khiển tối ưu của bài toán LQR (Linear Quadratic Regulator) để tìm R
Bộ điều khiển R được thiết kế nhờ mô hình tuyến tính (1.2) song lại làm
việc thực với mô hình phi tuyến (1.1), trong đó hai mô hình chỉ tương đương với
nhau trong một lân cận L đủ nhỏ nào đó xung quanh điểm làm việc xv, u Nếu 0
như R chỉ có thể đưa lại cho hệ phi tuyến tính ổn định với miền ổn định O nhỏ
Trang 16(giống như L) thì điều đó hoàn toàn không có ý nghĩa ứng dụng trong thực tế
Chỉ khi O tương đối lớn (lớn hơn rất nhiều so với L) thì chất lượng ổn định mà
R mang lại mới có ý nghĩa Do vậy cần thiết phải kiểm tra lại chất lượng mà R
đã thực sự mang đến cho hệ phi tuyến, trong đó ưu tiên hàng đầu là chất lượng
ổn định của hệ
1.2.4.2 Điều khiển tuyến tính hình thức
Xét hệ thống phi tuyến mà mô hình trạng thái của nó có dạng:
x)tu,x(Bx)tu,x(Adt
xd
(1.3)
Trong đó A(x,u t),B(x,u t),C(x,u t) là các ma trận thích hợp có phần tử
là hàm số của x , u và thời gian t
Dạng mô hình (1.3) có tên gọi là mô hình tuyến tính hình thức, vì trong
trường hợp đặc biệt, khi mà các ma trận trong mô hình (1.3) không còn phụ thuộc
x , u và trở thành A(t), B(t), C(t) thì nó chính là mô hình của hệ tuyến tính
(không dừng)
Bài toán điều khiển tuyến tính hình thức ở đây là tìm cách can thiệp vào hệ
thống, chẳng hạn như bộ điều khiển phản hồi trạng thái (hình 1.8) để hệ có được
chất lượng như mong muốn
x)tu,x(Rw
u= − (1.4)
Chất lượng mong muốn đầu tiên là tìm bộ điều khiển (1.4) để sao cho với
nó, hệ kín với mô hình trạng thái:
x)tu,x(Bx)tu,x(Adt
x
x)tu,x(R
-
Hình 1.8: Điều khiển tuyến tính hình thức bằng bộ điều khiển phản hồi trạng thái
u
Trang 17)tu,x(R)tu,x(B)tu,x(Adt
x
4444
4444
có ma trận A~(t)không còn phụ thuộc x , u Khi đó (1.5) trở thành tuyến tính
Việc thiết kế bộ điều khiển phản hồi trạng thái như trên có thể được thực
hiện thông qua các phương pháp thiết kế như: Phương pháp thiết kế định hướng
hình thức theo giá trị riêng, Phương pháp thiết kế Sieber [11]
1.2.4.3 Điều khiển bù phi truyến
Xét đối tượng phi tuyến được mô tả bởi hệ phương trình trạng thái:
=xCy
uB)x(nPxAdt
xd
(1.6)
Trong đó: A ∈ Rn x n, B ∈ Rn x r, C ∈ Rs x n, P ∈ Rn x q là các ma trận hằng
không suy biến n(x) là vectơ có q phần tử phụ thuộc x , đại diện cho các thành
phần phi tuyến trong hệ
Mục đích điều khiển là thiết kế bộ điều khiển h(u,y) sao cho hệ kín có
được chất lượng mong muốn và chất lượng này không phụ thuộc vào thành phần
phi tuyến n(x(t)) Việc thiết kế gồm hai bước như sau:
Bước 1: Nhận dạng thành phần phi tuyến bằng một mô hình tuyến tính
Bước 2: Thiết kế bộ điều khiển h(u,y) để loại bỏ thành phần phi tuyến trong hệ
kín và mang lại cho hệ một chất lượng mong muốn.
Thiết kế bộ điều khiển R theo nguyên lý phản hồi trạng thái x~(t) và n~(t)
có tín hiệu ra z của R được xét như sau (hình 1.9):
n~
Rx~
Rn~
Mô hình quan sát
Trang 18Tóm tắt các bước xác định Rn, Rx như sau:
- Xác định ma trận BP giả nghịch đảo bên trái nào đó của B, sử dụng công
tuyến tính này có được chất lượng như mong muốn (phương pháp điểm
cực đặt trước, phương pháp tối ưu tuyến tính)
- Xác định R = (Rx, Rn)
Từ đây ta có thể xây dựng nên các phương pháp điều khiển robot trong thực tế
1.2.5 Các phương pháp điều khiển Robot
Cho đến nay trong thực tế, nhiều phương pháp và hệ thống điều khiển
Robot đã được thiết kế và sử dụng, trong đó các phương pháp điều khiển chủ
yếu là:
- Điều khiển động lực học ngược
- Điều khiển phản hồi phân ly phi tuyến
- Các hệ thống điều khiển thích nghi
+ Điều khiển thích nghi theo sai lệch
+ Điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu (MRAC)
Đối tượng
Mô hình quan sát
Trang 19+ Điều khiển động lực học ngược thích nghi
+ Điều khiển trượt Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các phương pháp điều khiển Robot để biết
được ưu nhược điểm của từng phương pháp
1.2.5.1 Phương pháp điều khiển động lực học ngược
Nguyên lý của phương pháp này là chọn một luật điều khiển phù hợp để
khử thành phần phi tuyến của phương trình động lực học và phân ly đặc tính
động lực học của các khớp nối
) q ( G ) q , q ( h ) ( q ).
q ( H ) (
Nếu ta biết các tham số của Robot ta có thể tính được các ma trận H,h,G
từ đó có luật điều khiển
)q(G)q,q(hU)q(H
cân bằng Mdk=M với điều kiện H(q) ≠ 0
và q U
==== (vectơ điều khiển phụ )
Như vậy động lực học hệ thống kín sẽ được phân tích thành hệ phương
Với Robot n khớp nối tương đương với n hệ con độc lập
chọn U là tín hiệu điều khiển phụ có cấu trúc PID Lúc đó:
p m D m
dt ) q q ( K ) q q ( K ) q q ( K q
++ K e
q&d P
∫
0 I
qq&
Trang 20K D p . L
====
εεεε ++++
εεεε ++++
εεεε ++++
các hệ số KD,Kp,KI được chọn theo điều kiện ổn định của Lyapunov để sai
số giữa quỹ đạo chuyển động chuẩn và quỹ đạo chuyển động thực hội tụ tại
điểm 0 không phụ thuộc vào điều kiện ban đầu
Ưu điểm của phương pháp này là khử được tính phi tuyến và sự ràng buộc
trong phương trình động lực học
Nhược điểm của nó là phải biết được đầy đủ chính xác các thông số cũng
như đặc tính động lực học Robot, đồng thời cũng phát sinh tính toán phụ Thuật
toán tính toán điều khiển U sẽ liên quan các phép tính lượng giác nên phải thực
hiện một số phép nhân ma trận vectơ và ma trận phụ Thời gian tính toán lớn là
một yếu tố ảnh hưởng đến sự hạn chế của phương pháp này Phương pháp này
chỉ thường áp dụng trong phòng thí nghiệm hầu như chưa áp dụng vào thực tế
1.2.5.2 Phương pháp điều khiển phản hồi phân ly phi tuyến
phương pháp này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết của điều khiển phân
ly cho hệ thống phi tuyến bằng phản hồi tuyến tính hoá tín hiệu ra
Từ phương trình động lực học :
) q ( G ) q , q ( h ) ( q ).
q ( H ) (
Y====Y ( q )
ma trận H không đơn nhất nên ta có thể viết lại như sau
)]) q ( G [ )]
q , q ( h ([
)]
q ( H [ ) ( M )]
q ( H [ ) (
q ==== −−−−1 −−−− −−−−1 . ++++ (1.13)
Phương trình này gồm các phương trình vi phân cấp hai cho mỗi biến, vì
lẽ đó qua hai lần vi phân phương trình đầu ra thì hệ số của tín hiệu U sẽ khác 0
Lúc này tín hiệu U sẽ xuất hiện trong phương trình đầu ra:
) X ( G ) ( U ).
X (
H
)]) q ( G [ )]
q , q ( h ([
)]
q ( H [ ) ( M )]
q ( H [ ) ( y
1 i
1 i i
H ==== −−−−
Trang 21q , q ( h ([
)]
q ( H [ ) X (
T q t ), q ( ) X
Tín hiệu M(t) của bộ điều khiển được chọn sao cho đảm bảo hệ thống
E(t) )
X ( G(q) ) q h(q, (q).
H - -H(q)
E(t)]
) X ( ) X ( G ).[
X ( H ) ( M
*
*
====
Λ
−−−−
α ++++
Từ phương trình (1.14) ta nhận thấy tín hiệu điều khiển Mi(t) cho khớp i
chỉ phụ thuộc vào các biến động lực học và tín hiệu vào E(t)
Thay M(t) từ phương trình 1.14 vào phương trình 1.12 ta được:
(((( ( X ) E(t)))))
H
- G(q) ) q h(q, ) q ( G ) q , q ( h ) ( q ).
q (
α được chọn theo tiêu chuẩn ổn định
1.2.5.3 Phương pháp điều khiển thích nghi theo sai lệch
Dựa trên cơ sở lý thuyết sai lệch, Lee và Chung [15] đã đề xuất thuật
toán điều khiển đảm bảo Robot luôn bám quỹ đạo chuyển động đặt trước với
phạm vi chuyển động rộng và tải thay đổi rộng Phương pháp điều khiển
thích nghi theo sai lệch được xây dựng trên cơ sở phương trình sai lệch
tuyến tính hoá lân cận quỹ đạo chuyển động chuẩn Hệ thống điều khiển
gồm hai khối: Khối tiền định (truyền thẳng - feedforward) và khối phản hồi
(feedback) như hình (1.12)
Đối tượng điều khiển
Quỹ đạo
chuyển động chuẩn
Phương trình Neuton-Euler
x m (t)
+
Trang 22động chuẩn theo phương trình Newton-Euler Khối phản hồi thực hiện tính
toán thành phần mô men sai lệch theo luật tối ưu một nấc nhằm bù sai lệch
vị trí và tốc độ của khớp dọc theo quỹ đạo chuyển động chuẩn Khối đánh
giá tham số thực hiện theo sơ đồ nhận dạng bình phương tối thiểu thời gian
thực đệ quy các tham số và hệ số phản hồi của hệ tuyến tính hoá được cập
nhật và chỉnh định ở mỗi chu kỳ mẫu Mô men tổng đặt lên cơ cấu chấp
hành sẽ gồm hai thành phần: mô men danh định được tính theo phương trình
Newton-Euler từ khối tiền định và mô men bù sai lệch sẽ được tính bởi khối
phản hồi thực hiện theo luật tối ưu một cấp
Phương pháp điều khiển thích nghi theo sai lệch có hai ưu điểm cơ
bản: Nó cho phép chuyển từ vấn đề điều khiển phi tuyến về điều khiển tuyến
tính quanh quỹ đạo chuẩn Việc tính toán mô men danh định cũng như mô
men sai lệch được thực hiện độc lập và đồng thời
Tuy nhiên phương pháp này gặp khó khăn do khối lượng tính toán quá
lớn và do đó thời gian tác động sẽ chậm, khó tối ưu trong việc điều khiển
Robot
1.2.5.4 Phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu
Trong số các phương pháp điều khiển thích nghi (điều khiển thích nghi
thông qua điều chỉnh hệ số khuếch đại, điều khiển thích nghi tự chỉnh, diều
khiển thích nghi theo mô hình chuẩn) thì phương pháp điều khiển thích nghi
theo mô hình chuẩn (Model Reference Adaptive Control - MRAC) được sử
dụng rộng rãi nhất và tương đối dễ thực hiện Nguyên lý cơ bản của điều khiển
thích nghi theo mô hình chuẩn dựa trên sự lựa chọn thích hợp mô hình chuẩn và
Trang 23thuật toán thích nghi Thuật toán thích nghi được tính toán dựa trên tín hiệu vào
là sai lệch giữa đầu ra của hệ thống thực và mô hình chuẩn từ đó đưa ra điều
chỉnh hệ số khuếch đại phản hồi sao cho sai lệch đó là nhỏ nhất Sơ đồ khối
chung của hệ thống điều khiển thích nghi theo mô hình chuẩn được trình bày
trên hình 1.13
Phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình chuẩn có một số ưu điểm
quan trọng là nó không bao gồm mô hình toán học phức tạp và không phụ thuộc
vào tham số môi trường Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thực hiện được cho
mô hình đơn giản tuyến tính với giả thiết bỏ qua sự liên hệ ĐLH giữa các khớp
của Robot Hơn nữa sự ổn định của hệ thống kín cũng là một vấn đề khó giải
quyết với tính phi tuyến cao của mô hình ĐLH Robot
1.2.5.5 Phương pháp điều khiển ĐLH ngược thích nghi
Là phương pháp tổng hợp các kỹ thuật nhằm tự động chỉnh định các
bộ điều chỉnh trong mạch điều khiển nhằm thực hiện hay duy trì ở một mức
độ nhất định chất lượng của hệ khi thông số của quá trình được điều khiển
không biết trước hoặc thay đổi theo thời gian Việc phân tích các hệ thống
điều khiển có chất lượng cao luôn là vấn đề trọng tâm trong quá trình phát
triển của lý thuyết điều khiển tự động nói chung và vấn đề nâng cao chất
lượng hệ thống điều khiển bám chính xác quỹ đạo chuyển động của Robot
nói riêng Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn phân loại mà có các hệ điều khiển
thích nghi khác nhau: Hệ có tín hiệu tìm hay không có tín hiệu tìm; hệ điều
khiển trực tiếp hay gián tiếp; hệ cực trị hay hệ giải tích; hệ có mô hình mẫu
hay hệ không có mô hình mẫu; hệ tự chỉnh hay hệ tự tổ chức vv đang được
Cơ cấu điều chỉnh
Đối tượng điều khiển
Mô hình chuẩn
tín hiệu đặt
Bộ điều chỉnh
- Đầu ra y
y m
Hình 1.13: Hệ thống điều khiển thích nghi theo mô hình chuẩn
Trang 24phát triển và và áp dụng để tổng hợp các hệ thống điều khiển quỹ đạo với
chỉ tiêu chất lượng cao Phương pháp tổng quát hóa các hệ thích nghi có ý
nghĩa rất lớn trong việc bao quát một số lượng lớn các bài toán thích nghi,
đơn giản được việc tìm hiểu nguyên lý cơ bản của ngay cả các hệ phức tạp,
trên cơ sở đó xây dựng các bài toán mới, các thiết bị cụ thể mới
Sơ đồ khối tổng quát của một hệ thích nghi như ở hình 1.14:
Vấn đề điều khiển bám chính xác quỹ đạo Robot là một vấn đề luôn
nhận được sự quan tâm chú ý Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật
về phần cứng và phần mềm đã cho phép giảm thời gian tính toán, điều đó
dẫn tới những động lực cho việc thúc đẩy sự phát triển của các hệ thống điều
khiển quỹ đạo thích nghi cho Robot
1.2.5.6 Điều khiển trượt [3], [8], [21], [23]
Điều khiển ĐKCĐ bất biến với nhiễu loạn và sự thay đổi thông số có thể sử
dụng điều khiển ở chế độ trượt Điều khiển kiểu trượt thuộc về lớp các hệ thống
có cấu trúc thay đổi (Variable Structure System - VSS) với mạch vòng hồi tiếp
không liên tục Phương pháp điều khiển kiểu trượt có đặc điểm là tính bền vững
rất cao do vậy việc thiết kế bộ điều khiển có thể được thực hiện mà không cần
biết chính xác tất cả các thông số Chỉ một số các thông số cơ bản hoặc miền
giới hạn của chúng là đủ cho việc thiết kế một bộ điều khiển trượt (Variable
Structure Controller - VSC)
ĐTĐK CCĐK
Trang 25Xét ở trên hình 1.15 mô tả một đối tượng điều khiển gồm hai khâu tích phân
được điều khiển bởi một rơle 2 vị trí :
ydtdy
2
2 1
parabol với đường chuyển đổi:
e = - y1 = 0 (trục y2)
Quỹ đạo pha này ứng với chế độ tự dao động trong hệ rơ le: dao động với
biên độ không đổi khi mất cả tín hiệu vào
x(t) = 0 (Hình 1.16)
Thật vậy, khi cho một xung lượng
dương rất bé x(t) ở đầu vào, lúc đầu hệ
chưa làm việc, phản hồi không có tín
Trang 26Sau khi qua mạch phản hồi, đổi dấu và trở về đầu vào rơ le với đại lượng âm,
do đó đầu ra rơle sẽ là -K và quá trình cứ thế tiếp diễn, tạo nên dao động bất tận
b Điều chỉnh theo chế độ trượt:
Một hệ điều chỉnh làm việc theo chế độ trượt với luật chuyển đổi ở mạch phản
hồi trạng thái có sơ đồ khối như hình 1.17 :
Đại lượng điều khiển u từ cơ cấu điều khiển (CCĐK) chỉ có hai giá trị
umax và umin Luật chuyển đổi được thực hiện bằng phần tử phi tuyến:
u = umax nếu s(xs) > 0
u = umin nếu s(xs) < 0 Trong đó: s(xs) = ke.e – ksT.xs
Cơ cấu điều khiển sẽ thực hiện chức năng chuyển đổi với thời gian trễ rất bé
Để hệ trở về trạng thái cân bằng, ta có thể dùng phản hồi nội như sơ đồ
Trang 27hồi lớn, chuyển động sẽ thực hiện theo
chế độ trượt theo đường chuyển đổi, chứ
không theo quỹ đạo pha ở hệ rơle thực
(có vùng kém nhạy nhất định), chuyển
động sẽ theo đường gãy khúc (lập bập)
theo đường chuyển đổi ở chế độ trượt,
hệ có hành vi như một hệ tuyến tính và
chất lượng của hệ thống được nâng cao Đó là một dạng của những hệ có cấu
trúc biến đổi
Hệ trượt có ưu điểm quan trọng là có tính bền vững khi thông số của hệ
biến đổi, tuy nhiên việc ứng dụng trong thực tế có hạn chế như cơ cấu làm việc
ở chế độ rung nặng nề và khi hệ bậc cao phải dùng một số khâu vi phân Thay
thế cho rơ le làm việc ở chế độ nặng nhọc là các cơ cấu điện tử (các bộ rung)
cho phép làm việc với tần số cao đã khắc phục được nhược điểm nói trên
c Thiết kế một bộ điều khiển kiểu trượt:
Gồm có hai bước:
Thứ nhất là phải chọn một mặt trượt, trong đó sai lệch e giữa tín hiệu đặt
và tín hiệu ra có duy nhất một giá trị 0
Thứ hai, chọn luật điều khiển tín hiệu vào sao cho hệ thống điều khiển kín
luôn được duy trì trên mặt trượt
Ta xét một đối tượng SISO một tín hiệu vào u(t), một tín hiệu ra y(t) mô tả
bởi: y&= (y,y&)+u (1.19)
và được viết đưới dạng mô hình trạng thái kiểu:
xx2
2 1
Hình 1.19: Quỹ đạo pha với
đường chuyển đổi S = - (y 1 +αy 2 )
= 0
Trang 28trong đó y = x1 và u ≤umax Giả sử đối tượng bị một nhiễu tức thời tác động đưa
nó ra khỏi điểm làm việc 0
0x
0xx
= Bài toán đặt ra là tìm tín hiệu điều
khiển u(t) để đưa được đối tượng trở về điểm làm việc
Đặt: e(t) = x10 - x1(t) (1.21)
và xét hàm chuyển đổi, ký hiệu bằng s(e), có dạng như sau:
s(e) = e + λe& , λ > 0 (1.22)
Ta thấy, khi x1(t) = x10 thì với e(t) = x10 - x1(t) = 0 cũng sẽ có s(e) = 0,
ngược lại phương trình vi phân s(e) = 0 với điều kiện ban đầu e(0) = 0 chỉ có
một nghiệm e(t) = 0 duy nhất, do đó cũng có x20 = 0
Bởi vậy bài toán trên trở thành bài toán tìm u(x1, x2) để đưa được s(e) về
giá trị 0, hay u(x1, x2) phải được chọn sao cho khi s(e) > 0 thì có s&(e)<0 để s(e)
có chiều hướng giảm và ngược lại khi s(e) < 0 thì s&(e)>0 để s(e) có chiều
hướng tăng, tức là phải thoả mãn:
0 ) e ( s ).
e (
Ngoài ra, để quá trình về 0 được nhanh, giá trị modul s&(e) đặc trưng cho
tốc độ tăng, giảm giá trị của s(e) phải đạt được giá trị cực đại Điều kiện (1.23)
được gọi là điều kiện trượt (sliding condition) Đường s(e) = 0 được gọi là
đường trượt (sliding line) hay đường chuyển đổi
−
<
=
0eekhi)
x,x(x
0eekhi)
x,x(fxu
2 1 2
2 1 2
&
&
λλ
λλ
(1.26)
Trang 29Từ (1.21) và để cho x1(t) → x10 có tốc độ cao, tín hiệu điều khiển u(t) phải
có giá trị nhỏ nhất khi e+λe& < 0, ngược lại nếu e+λe& > 0 thì u(t) phải có giá
x,x(
x,umax
0eekhi)
x,x(f
x,uminu
2 1
2 max
2 1
2 max
&
&
λλ
λλ
(1.27)
và nếu như điều kiện
)x,x(f
x
max ≥ +
λ với mọi t (1.28) được thoả mãn thì với (1.22) sẽ có:
0eekhiu
Để được (1.22) ta chọn bộ điều khiển hai trạng thái Bộ điều khiển hai
trạng thái kết hợp với khâu hiệu chỉnh s = e+λe& tạo nên bộ điều khiển trượt
theo công thức (1.23) được xem như là bộ điều khiển có đặc tính tổng thể tốt
nhất, nếu như xét đến cả sự tồn tại sai lệch tĩnh của hệ thống Bộ điều khiển
trượt thường được dùng để loại bỏ sự tác động nhiễu dạng xung vào hệ làm hệ bị
bật ra khỏi điểm làm việc bằng cách đưa nhanh hệ về điểm trạng thái cũ
Có thể minh họa nguyên lý điều khiển kiểu trượt bằng hình 1.20, trong
trường hợp hệ vô hướng, khi đó mặt trượt suy biến thành đường trượt Đường
trượt trong mặt phẳng e & 0 e thường được chọn là đường thẳng có phương trình:
ee
Trên hình 1.20, đường thẳng đi qua gốc toạ độ tức s = 0, nếu điều kiện
trượt là s.s. > 0 thì đường trượt có tính hấp dẫn Một khi quỹ đạo của hệ thống
điều khiển bám được vào đường trượt thì nó sẽ nhanh chóng trượt dọc theo
đường trượt về gốc toạ độ, tại đó các giá trị ee & sẽ đồng thời đạt giá trị 0, tức là ,
hệ ổn định
s > 0
Trang 30Khi hoạt động ở chế độ trượt, hệ có các ưu điểm nổi bật sau đây:
- Đảm bảo tính bền vững: Khi hoạt động ở chế độ trượt, sự thay đổi của
các tham số động học của đối tượng điều khiển trong phạm vi nhất định sẽ
không làm giảm các chỉ tiêu chất lượng của hệ thống Sở dĩ như vậy là điều kiện
cần và đủ cho chế độ trượt được thể hiện ở dạng các bất đẳng thức Sự thay đổi
các tham số động học trong phạm vi cho phép của các bất đẳng thức sẽ không
làm mất đi chế độ trượt của hệ
- Đảm bảo tính bất biến đối với tác động bên ngoài: Nếu trong hệ thống
điều khiển với cấu trúc biến đổi, đảm bảo điều kiện cần và đủ cho chế độ trượt
với tác động điều khiển cùng mức với tác động bên ngoài, hệ thống sẽ hoạt động
với chỉ tiêu chất lượng không thay đổi, không phụ thuộc vào các tác động bên
ngoài, chỉ phụ thuộc vào mặt trượt Đây chính là khả năng bất biến của hệ thống
1.3 Kết luận
Các phương pháp điều khiển được nêu ra trên đây là những phương pháp
điều khiển có tính khả thi và đã được áp dụng ở một số lĩnh vực cụ thể trong
thực tế Qua phân tích tổng quan các phương pháp điều khiển Robot ở trên, ta có
thể rút ra những nhận xét sau:
Vấn đề nâng cao chất lượng và tăng độ chính xác điều khiển bám quỹ đạo
của hệ thống ĐKRB chủ yếu dựa vào việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp
điều khiển, do vậy cần có các công trình nghiên cứu cụ thể
Mỗi phương pháp được áp dụng lại có những ưu, điểm khác nhau và được
áp dụng tuỳ theo từng ứng dụng cụ thể, tuỳ thuộc vào bài toán kinh tế cần giải
quyết Những phương pháp điều khiển đơn giản lại mắc phải nhược điểm về độ
chính xác hoặc tốc độ di chuyển v.v Còn với những phương pháp điều khiển
Trang 31phức tạp có chất lượng cao, độ chính xác điều khiển lớn thì thường mắc phải
nhược điểm về tốc độ xử lý hay giải pháp kinh tế
Điều khiển trượt là phương pháp điều khiển tiếp cận rất mạnh mẽ để điều
khiển các hệ thống phi tuyến và bất định Đó là phương pháp điều khiển bền
vững và có thể áp dụng cho hệ bất định và có tham số bị thay đổi lớn Với tay
máy robot khi các tham số của hệ thay đổi liên tục; lực, vị trí, mô men, mô men
quán tính… và các tác động qua lại làm cho mô hình robot trở nên phi tuyến
mạnh thì phương pháp điều khiển trượt tỏ ra có ưu thế vượt trội, cho việc điều
khiển chuyển động bền vững và bám theo quỹ đạo đặt của robot
Trên cơ sở phân tích ở trên ta nhận thấy phương pháp điều khiển trượt rất
thích hợp cho điều khiển robot, tuy vậy phương pháp này còn bộc lộ nhược điểm
cần phải giải quyết: Tín hiệu điều khiển không liên tục (đảo dấu liên tục), là
nguyên nhân gây ra hiện tượng rung (dao động với tần số khá cao xung quanh
mặt trượt), đó là do luôn tồn tại thời gian nhảy cấp xác định bởi thời gian trễ và
quán tính của bộ phận truyền động mà các hiện tượng nhảy cấp lập bập thường
xảy ra
Trong thực tế, do quán tính của các thành phần có liên quan làm cho hiện
tượng rung, lập bập đó xẩy ra với tần số thấp hơn Tuy nhiên hiện tượng rung
vẫn làm giảm đi tính ưu việt của chế độ trượt lý tưởng Vì vậy khi thiết kế chọn
phương pháp điều khiển trượt ta sẽ phải cố gắng để khử hiện tượng này bằng
cách sử dụng bộ điều khiển trượt cải tiến và ưu việt hơn sẽ trình bày ở chương
sau
Trang 32Khi tổng hợp bộ điều khiển quỹ đạo cho Robot sử dụng các hệ điều chỉnh
tự động cần phải đảm bảo hệ thực hiện được tất cả các yêu cầu về công nghệ,
các chỉ tiêu chất lượng và các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật Bất cứ một hệ điều
chỉnh tự động nào cũng đòi hỏi đại lượng điều chỉnh phải bám chính xác tín hiệu
điều khiển và tác động nhanh; đó là các chỉ tiêu quan trọng của hệ điều khiển
quỹ đạo cho Robot Trên cơ sở phân tích các sai lệch, tính bền vững, độ ổn định
và ưu nhược điểm của từng phương pháp điều khiển có thể áp dụng cho điều
khiển robot đã nêu ở chương 1, ta có thể chọn được bộ điều khiển thích hợp để
nâng cao chất lượng về độ chính xác và độ tác động nhanh của điều khiển bám
chính xác quỹ đạo
Các phương pháp điều khiển kinh điển nhiều khi không đáp ứng được các
yêu cầu công nghệ của một đối tượng điều khiển phức tạp có thông số biến thiên
trong một phạm vi nhất định v.v Các phương pháp điều khiển tối ưu, điều
khiển thích nghi, điều khiển với cấu trúc biến đổi v.v đang được phát triển và
áp dụng để tổng hợp các hệ thống điều khiển có các chỉ tiêu chất lượng cao
Nội dung chính của luận văn này đề xuất một phương pháp tổng hợp bộ
điều khiển trượt cho điều khiển quỹ đạo Robot Ưu điểm của phương pháp này
là đã tận dụng được các ưu điểm của phương pháp điều khiển thích nghi và bền
vững; cho phép chuyển hệ phi tuyến MIMO về hệ tuyến tính hoá phân ly bậc hai
đơn giản nhằm hạn chế sai lệch quỹ đạo khi có nhiễu tải và sự thay đổi các
thông số của mô hình, nâng cao tính ổn định và bền vững của hệ thống điều
khiển robot
2.2 Cơ sở lý thuyết của phương pháp điều khiển bền vững
Lý thuyết điều khiển bền vững ra đời vào những năm 80 khi người ta
nhận thấy những khiếm khuyết không thể bỏ qua của các phương pháp điều
khiển thích nghi đối với một số đối tượng điều khiển chẳng hạn trong các quá
Trang 33trình phản ứng hoá học hay điều khiển robot Điều đầu tiên mà các nhà thiết kế
nghĩ tới là tận dụng các ưu điểm và lịch sử phát triển của phương pháp tổng hợp
hệ điều khiển đầu tiên ra đời trên cơ sở sửa đổi, điều chỉnh các luật điều khiển
thích nghi được xây dựng trước đó cho các đối tượng lý tưởng (không có sai
lệch giữa mô hình và đối tượng thực) và được gọi là luật điều khiển thích nghi
bền vững (robust adaptive control laws) Đối tượng của việc điều chỉnh này là
làm cho các đặc tính điều khiển sau khi điều chỉnh có sai lệch ít nhất so với các
đặc tính lý tưởng trước đó mặc dù tồn tại các sai lệch trong khâu xây dựng mô
hình
Mục đích của công việc thiết kế điều khiển là đáp ứng các yêu cầu về chất
lượng điều khiển của đối tượng thực trên cơ sở các mô tả toán học của hệ thống
Một bộ điều khiển được gọi là bền vững khi nó đáp ứng các yêu cầu về chất
lượng điều khiển không chỉ của đối tượng theo như mô tả toán học (chỉ đạt độ
chính xác nhất định) mà có khả năng đáp ứng cho một lớp đối tượng có đặc tính
cơ bản (mô tả toán học) như đối tượng cần điều khiển (family of plants) Phần
đặc tính của đối tượng không được đưa vào mô tả toán học gọi là phần sai lệch
không xác định (uncertainly) thường đặc tính hoá theo một vài chuẩn toán học
để đưa về phân tích , xác định miền giá trị chứa sai lệch
Trong nhiều trường hợp, sai lệch không xác định của hệ thống thường có
các dạng đặc biệt do chúng xuất phát từ hàng loạt các thông số vật lý hoặc từ
việc giảm bậc của các hàm toán học phức tạp bậc cao, như vậy chúng có thể
được biểu diễn cùng với mô hình đối tượng Sai lệch loại này gọi là sai lệch của
mô hình đối tượng có cấu trúc Ví dụ đối với một hệ SISO, việc mô tả sai lệch
đơn trong không gian trạng thái:
u ) v ( B x ) v ( A x
T
.
(2.1)
được thể hiện bởi vector tham số V và vector hằng số C Thông thường bài toán
điều khiển bền vững với sai lệch có cấu trúc hay được xét với lớp các mô hình
tuyến tính gần đúng như trên cho đối tượng đo các thuận lợi trong lý thuyết điều
khiển tuyến tính
Trang 34Ký hiệu tập các giá trị thích hợp của vector tham số V thì bài toán điều
khiển bền vững cho đối tượng có đối tượng có mô hình tuyến tính như trên được
phát biểu như sau: Tổng hợp bộ điều khiển R sao cho hệ thống thoả mãn yêu cầu
chất E với mọi tham số mô hình v của đối tượng thuộc miền V cho trước
Đặc trưng cho tiêu chuẩn chất lượng E trong miền thời gian thường là vị
trí các giá trị riêng thuộc ma trận hệ thống trong mặt phẳng phức được xác định
bằng nghiệm của phương trình đặc tính
Det(λI - A) = 0 (2.2)
I: Ma trận đơn vị Như vậy nhiệm vụ của bài toán điều khiển bền vững là tổng hợp bộ điều
khiển R sao cho các giá trị riêng của ma trận hệ thống nằm trong một miền D
cho trước trong mặt phẳng phức khi tham số mô hình v chạy trên miền V
Nếu tập D bao gồm các sai lệch ∆S giữa đối tượng thực và mô hình S(p)
không thể thể mô tả dưới dạng tham số phương trình hay mô hình toán học thì
nó được gọi là tập sai lệch có cấu trúc
Sai lệch không có cấu trúc thường được phân ra làm hai loại căn cứ vào
quan hệ của chúng với đối tượng bao gồm sai lệch cộng, sai lệch nhân và sai
lệch hệ số ổn định
Giả sử mọi đối tượng có hàm truyền thực tế lý tưởng là G(s) thế nhưng
chỉ có thể mô hình hoá được các phần tử cơ bản đặc trưng bởi hàm truyền đạt
G0(s)
Xét ổn định của hệ thống trong miền tần số:
- Sai lệch cộng
G(s) = G0(s) + ∆a(s) (2.3)
Trong đó ∆a(s) ổn định thì ∆a(s) gọi là sai lệch cộng Cấu trúc của ∆a(s)
thường không biết nhưng ∆a(s) được giả định thoả mãn chặn trên của một miền
tần số nào đó:
∆a(jw≤δa(w) ∀w
(2.4) Với δ
Trang 35Trong đó ∆m(s) ổn định thì ∆m(s) gọi là sai lệch nhân Tương tự như trên,
∆m(s) được giả định thoả mãn chặn trên của một miền tần số nào đó
{∆m(jw)}≤ δm(w) ∀w (2.7)
với δm(w) là hàm đã biết nào đó có thể xác định bằng thực nghiệm
Từ phương trình (2.6) và (2.7) có thể xác định lớp các đối tượng :
) (
) ( ) (
0
jw G
jw G jw G
) ( ) (
1 0
1 0
s s
D
s s
N
∆ +
∆ +
(2.9)
G0(s) =
) (
) (
0
0
s D
s
N (2.10)
Trong đó N0(s) và D0(s) là các hàm truyền hợp thức và nguyên tố cùng
nhau, ∆1(s), ∆1(s) giả thiết ổn định và được gọi là sai lệch hệ số ổn định
Ta sử dụng định nghĩa: Hai hàm truyền hợp thức là nguyên tố cùng nhau khi và
chỉ khi chúng có điểm zero chung không giới hạn ở lân cận phải mặt phẳng
phức
H 2.1a
Trang 36Hình 2.1 Sơ đồ khối mô hình đối tượng có tính đến các sai lệch không cấu trúc
H 2.1a : sai lệch cộng H 2.1b : sai lệch nhân H 2.1c : sai lệch hệ số ổn định
Đối với các đối tượng điều mà mô hình của chúng ta tuyến tính hoá được
mô tả trong không gian trạng thái và các sai lệch thuộc dạng có cấu trúc Khi đó
mục tiêu của bài toán điều khiển bền vững là xét bộ điều khiển R ở hai dạng tĩnh
điền hình phản hồi trạng thái hoàn toàn và phản hồi đầu ra Phương pháp
Konigoski được sử dụng cho các hệ MIMO có miền sai lệch D cho trước và
phương pháp cơ bản cho tổng hợp các bộ điều khiển bền vững được mô tả trong
không gian trạng thái
Với các hệ phi tuyến hay các hệ tồn tại sai lệch không cấu trúc thì thường
phải sử dụng các không gian chuẩn như chuẩn Hardy để mô tả đối tượng và xét
tính ổn định của hệ Ngoài ra còn có một số phương pháp ứng dụng cho hệ phi
tuyến như phương pháp điều khiển trượt của các trạng thái hệ thống zsi(x,t) = 0
với x là vector trạng thái Thông qua một luật điều khiển phi tuyến, nếu hệ thống
khỏi mặt phẳng đã được xác định thì nó sẽ có xu hướng bị kéo trở lại do vậy đặc
tính động học của hệ thống phụ thuộc vào việc chọn mặt phẳng trượt
Trang 37Trong thực tế người ta đã kiến nghị sử dụng 3 phương pháp để nâng cao
chất lượng điều khiển và ổn định bền vững với nhiễu hệ thống là phương pháp
điều khiển lớp biên dùng mô hình điều khiển trượt (Sat), phương pháp dùng
hàm điều khiển tích phân bão hòa Sat_PI và phương pháp điều khiển trượt bậc
cao dùng luật điều khiển HOSMC
2.3 Lý thuyết ổn định của Lyapunov áp dụng cho điều khiển phi tuyến hệ
Robot
Điều khiển bền vững có thể phân tích bằng cách sử dụng công cụ là tín
hiệu vào ra ổn định hoặc không gian trạng thái Trong cách nghiên cứu theo tín
hiệu vào ra, sự ổn định của bộ điều khiển Robot sử dụng thuyết khuếch đại nhỏ
hay thuyết trọng lực Trong cách nghiên cứu theo không gian trạng thái, phần
lớn các thiết kế sự dụng thuyết ổn định của Lyapunov
Bộ điều khiển bền vững trong Robot được phân chia thành hai cách dựa
trên việc sử dụng thuyết ổn định Lyapunop hay bền vững các tín hiệu vào ra:
Ổn định Lyapunov tại điểm cân bằng 0 nếu với ε > 0 bất kỳ bao giờ
cũng tồn tại δ phụ thuộc ε sao cho nghiệm x(t) của phương trình trên
với x(0) = x0 thoả mãn:
||x0||<δ → ||x(t)|| < ε, ∀t ≥ 0
Ổn định tiệm cận Lyapunov tại điểm cân bằng 0 nếu với ε > 0 bất kỳ
bao giờ cũng tồn tại δ phụ thuộc ε sao cho nghiệm x(t) của phương
trình trên với x(0) = x0 thoả mãn:
0)(
Trang 382.4 Tiêu chuẩn Lyapunov:
Tính ổn định tại 0 cho ta một hướng đơn giản để tính ổn định cho hệ tại 0
Bằng cách nào đó người ta có một đường cong khép kín v bao quanh gốc toạ độ
0 Vậy để kiểm tra tính ổn định tại 0 hay không người ta xem quỹ đạo pha x(t) đi
từ điểm trạng thái đầu x0 cho trước nhưng tuý ý nằm trong miền bao bởi một
trong các đường cong v này theo hướng từ ngoài vào trong hay không
- Nếu x(t) không cắt đường cong họ v nào theo chiều từ trong ra ngoài thì
Ta xem xét hệ động học sau: x(n) = a(X) + B(X).u (2.11)
trong đó đại lượng vô hướng x là đầu ra mong muốn, đại lượng vô hướng u là
tín hiệu điều khiển đầu vào, [ (n 1)]T
x
x x
phi tuyến không biết chính xác và B(X) là ma trận biểu diễn độ khuếch đại điều
khiển không biết chính xác
Trạng thái ban đầu Xd(0) phải là: Xd(0) ≡ X(0) (2.12)
d x~ x~ x~
X X
Ngoài ra, ta định nghĩa bề mặt biến thiên theo thời gian s(t) trong không
gian trạng thái R(n) bằng phương trình vô hướng S(X;t) = 0 trong đó: S(X;t) =
với λ là một hằng số dương Ví dụ nếu n = 2 thì S = & x~ + λ x~ tức s là tổng mức ảnh
hưởng của sai lệch vị trí và sai lệch vận tốc
Việc giữ giá trị vô hướng S bằng 0 có thể giải quyết được bằng cách chọn
luật điều khiển u trong (2.11) sao cho ở bên ngoài s(t) ta có:
S)
t,X(S
dt
d
2
Trang 39trong đó η là hằng số dương (2.14) cho thấy rằng khoảng cách đến bề mặt s,
được tính bằng S2,giảmxuống theo quỹ đạo hệ thống
Vì thế nó buộc các quỹ đạo hệ thống hướng tới bề mặt s(t) như minh họa
trong hình 2.3 dưới đây
Bắt đầu từ điểm xuất phát ban đầu nào đó, quỹ đạo trạng thái chạm đến
mặt phẳng trượt, sau đó sẽ trượt dọc theo mặt trượt và hướng đến xd với tốc độ
hàm mũ, với hằng số thời gian 1/λ (hình 2.4)
Tóm lại, từ phương trình (2.13) chọn một hàm S, sau đó chọn luật điều
khiển u trong (2.11) sao cho S2 duy trì một hàm Lyapunov của hệ thống kín, bất
chấp sự thiếu chính xác của mô hình và sự có mặt của nhiễu loạn Trình tự thiết
kế do đó sẽ bao gồm 2 bước:
+ Bước một, chọn luật điều khiển u thỏa mãn điều kiện trượt (2.14)
+ Bước hai, luật điều khiển không liên tục u đã được chọn trong bước một
được làm nhẵn một cách thích hợp để có sự dung hòa tối ưu giữa dải thông điều
khiển và tính chính xác của quỹ đạo, đồng thời khắc phục hiện tượng chattering
X = & là ma trận biểu thị trạng thái của hệ thống
2.5.1.1 Các giả thiết của (2.15)
• Giả thiết có phương trình động lực học của Robot như sau:
)t(du)
q(B)q,q(a
q&= & + +
Trang 40&
&) C(q,q).q g(q);
q,q(
n
Rd(t) B(q)
−
= H− (q).h(q,q); H− (q);
)q,q(
ngoài chưa biết
• Hàm a(X) không được biết chính xác nhưng có ngưỡng giới hạn
) X ( a ) X ( a ) X ( a~ − ≤ ∆ max là một hàm xác định (2.16)
• Gọi bx là giá trị riêng của B(X), bx min và bx max lần lượt là giá trị riêng
nhỏ nhất và lớn nhất của B(X) Đặt βx = (bx max/bx min)1/2, ta được:
x 1
x
) X ( B ) X ( B
~
β
2.5.1.2 Các bước xây dựng bộ điều khiển trượt
Sai lệch quỹ đạo:
d
d
x x e
x x e
) 1 n (
Để có được điều đó, xét một hàm năng lượng V ( x ) = 1 2 S T S > 0 của hệ
thống kín Giả sử có điểm cân bằng tại điểm x = 0 tại đó V(x) cực tiểu Nếu
chứng minh được:
V & ( x ) = S T S & < 0 (2.21)
thì điểm x = 0 được gọi là điểm ổn định
Theo nguyên lý ổn định Lyapunov, chọn một hàm:
0 S S 2 1 )