1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA

41 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân khúc thị trường máy nơng nghiệp được xem là nhiều tiềm năng do nền nơng nghiệp Việt Nam đang trên đà cơ khí hĩa đểnâng cao giá trị gia tăng cho hàng nơng sản.Điểm sáng của thị trườn

Trang 1

Định hướng phát triển ngành Cơ khí nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Điện khí hóa nông thôn Việt Nam:

Cơ giới hóa nông nghiệp tại các tỉnh phía Bắc

Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

TRƯỞNG BAN BIÊN TẬP

Hoàng Việt Trung

THƯ KÝ

Nguyễn Kiều Ly

TRỊ SỰNgô Mai Hương

Trang 2

C ơ khí chế tạo máy phục vụ sản

xuất nơng nghiệp (cơ khí nơngnghiệp) là một trong những phânngành Cơ khí cĩ vai trị quan trọng trong việc

cung ứng tư liệu sản xuất cho ngành Nơng

nghiệp Với diện tích đất nơng nghiệp lớn và

phần đơng dân cư tham gia vào sản xuất nơng

nghiệp, cùng với xu hướng cơ giới hố, đưa máy

mĩc ứng dụng vào sản xuất nơng nghiệp thay thế

dần lao động thủ cơng, tăng năng suất lao động

nơng nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch, ngành

Cơ khí nơng nghiệp cĩ nhiều tiềm năng lớn để

phát triển Tuy nhiên, theo nhiều nhà phân tích

ngành Cơ khí nơng nghiệp của Việt Nam cĩ sức

cạnh tranh thấp và chỉ chiếm được một thị phần

khiêm tốn

Tính đến đầu năm 2013, cả nước cĩ gần 500

nghìn máy kéo các loại sử dụng trong nơng

nghiệp, với tổng cơng suất trên 5 triệu mã lực,

tăng gấp 5 lần so với năm 2001; 580 nghìn

máy tuốt đập lúa; 17.992 máy gặt lúa các loại,

tăng trên 16 lần so với năm 2007, riêng Đồng

bằng sơng Cửu Long (ĐBSCL) cĩ 11.400

chiếc máy gặt các loại, trong đĩ cĩ trên 6.600

máy gặt đập liên hợp và trên 4.800 chiếc máy

gặt lúa rải hàng

Phân khúc thị trường máy nơng nghiệp

được xem là nhiều tiềm năng do nền nơng

nghiệp Việt Nam đang trên đà cơ khí hĩa đểnâng cao giá trị gia tăng cho hàng nơng sản.Điểm sáng của thị trường máy nơng nghiệptrong nước là các sản phẩm của Tổng cơng tyMáy động lực và Máy nơng nghiệp (VEAM).Với lợi thế cĩ nhiều doanh nghiệp thành viênmạnh như: Cơ khí An Giang (máy gặt, máyxát), Cơ khí Cổ Loa (máy gặt đập liên hợp,máy kéo), Cơng ty Máy kéo và Máy nơngnghiệp (máy kéo)…nên sản phẩm của VEAM

cĩ sức cạnh tranh cao đối với các doanhnghiệp trong nước Một số doanh nghiệp kháccủa ngành Cơ khí Nơng nghiệp cũng cĩ tiềmnăng là Cơng ty Hữu Tồn, Cơng ty HịaBình, Cơng ty Bơm Hải Dương, Cơng ty Cơkhí Lương thực…

1 Chuỗi giá trị của ngành

Ngành Nơng nghiệp cĩ nhiều loại câytrồng khác nhau và mỗi loại cây sẽ địi hỏinhững loại máy mĩc riêng Tuy nhiên, chuỗigiá trị chung của ngành gồm các khâu cơbản: (1) Canh tác, (2) thu hoạch, (3) vậnchuyển, (4) Chế biến, (5) Bảo quản Cáccơng đoạn này đều cĩ tiềm năng cơ giới hốvới các loại máy mĩc khác nhau Lấy ví dụ

về loại cây trồng phổ biến của Việt Nam làcây lúa, những cơng đoạn quan trọng trongchuỗi giá trị trong ngành cĩ thể ứng dụngmáy mĩc như sau:

Định hướng phát triển ngành Cơ khí nông nghiệp

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Trang 3

2 Các nhóm chiến lược trong ngành

Hai hàng rào di chuyển quan trọng trong

ngành là mức độ đa dạng của dòng sản phẩm

và chất lượng của sản phẩm Dựa vào hai nhân

tố này, ta có thể phác thảo sơ đồ các nhóm

chiến lược trong ngành như sau:

- Chiến lược cạnh tranh: Các doanh nghiệp

trong ngành của Việt Nam đều cố gắng theo

đuổi cùng một chiến lược đó là cạnh tranh

bằng dẫn đầu về chi phí thấp, tương tự như các

doanh nghiệp Trung Quốc, trong khi đó, các

công ty của Nhật Bản như Kubota lại theo đuổi

chiến lược cạnh tranh bằng khác biệt hoá Tuy

nhiên, do nhiều nguyên nhân, chiến lược cạnh

tranh của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đạt

được nhiều thành công đáng kể

- Thị phần nhỏ và tăng chậm cho thấy năng

lực cạnh tranh yếu của sản phẩm trong nước:

Theo số liệu được công bố gần đây, máy nông

nghiệp Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 20%

thị phần, 60% là máy nhập khẩu từ Trung Quốc,

còn lại là Nhật Bản và Hàn Quốc Kết quả khảo

sát thị trường cho thấy, so sánh cùng chủng loại

thì máy sản xuất trong nước đắt hơn máy của

Trung Quốc từ 15-20% Việc thị trường chủ

yếu bị thống trị bởi các sản phẩm ngoại nhập,thị phần của các doanh nghiệp trong nướckhiêm tốn và chậm được cải thiện cho thấy nănglực cạnh tranh yếu của sản phẩm trong nước

- Doanh nghiệp dẫn đầu ngành thương hiệu Việt: Đó là Tổng Công ty Máy động lực và

Máy nông nghiệp (VEAM): Với dòng sảnphẩm rộng, bao trùm tất cả các khâu trongchuỗi giá trị của ngành nông nghiệp (chủ yếu

là phục vụ cho cây lúa), tích hợp dọc và hoạtđộng lâu năm, VEAM được xem là có lợi thếcạnh tranh đáng kể trên thị trường Xét về nănglực phát triển công nghệ, đây cũng là công tytrong nước có năng lực phát triển công nghệtốt nhất khi sở hữu những cơ sở nghiên cứukhoa học uy tín và tập trung được đội ngũ nhân

sự hàng đầu về cơ khí nông nghiệp

- Các công ty trong ngành nỗ lực đa dạng

hoá sản phẩm: Đây là bước đi đúng để xâm

nhập vào nhóm chiến lược có độ rộng sảnphẩm đa dạng và chất lượng trung bình, đemlại năng lực cạnh tranh tốt hơn Trong điềukiện các doanh nghiệp chỉ chiếm được một thịphần khiêm tốn trong một dòng sản phẩm thìviệc các doanh nghiệp có nhiều dòng sản phẩm

Bảng 1: Sơ đồ các loại máy móc

Canh Tác Thu hoạch Chế biến

Trang 4

giúp cho doanh thu cộng gộp đủ lớn để cho tỷ

suất lợi nhuận khả quan Những doanh nghiệp

này thâm nhập ngành từ những phân khúc có

nhu cầu cao và dễ chế tạo (máy bơm, máy cắt

cỏ, máy phun thuốc), sau đó, tích tụ vốn, tạo

nguồn lực để nghiên cứu và tiến vào những

dòng sản phẩm khó hơn, tiến tới thiết lập một

dòng sản phẩm rộng ở nhiều khâu của sản xuất

nông nghiệp

- Năng lực phát triển công nghệ trong đó có

hoạt động nghiên cứu và phát triển đóng vai trò

quyết định với năng lực cạnh tranh: Năng lực

thiết kế và cải tiến thường xuyên sản phẩm,

nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành, phù

hợp với điều kiện sử dụng thực tế sẽ đóng vai

trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp

đáp ứng nhu cầu người mua, giúp người mua

giảm chi phí hoặc nâng cao năng suất lao động

Tuy nhiên, điều này phụ thuộc rất lớn vào tính

liên kết của doanh nghiệp với khách hàng cũng

như năng lực phát triển sản phẩm, trình độ nhân

sự kỹ thuật và mức độ đầu tư cho phát triển

công nghệ

- Nhiều công ty trong ngành có tỷ suất lợi

nhuận tốt: Khác với suy nghĩ của nhiều người,

thực ra đây là ngành có tỷ suất lợi nhuận khá

tốt và nhiều công ty trong ngành kinh doanh

hiệu quả, ngay cả trong bối cảnh kinh tế khó

khăn như năm 2011 Do đó, nhiều người cho

rằng do sản xuất máy móc nông nghiệp có tỷ

suất lợi nhuận thấp khiến các công ty không

mặn mà gắn bó với ngành là chưa thoả đáng

Chính vì tiềm năng to lớn của ngành nên ngành

đã thu hút được nhiều doanh nghiệp thuộc lĩnh

vực tư nhân tham gia như Công ty Hữu Toàn,

là đầu tư thay thế Điều này không phải xuất phát

từ thiếu vốn mà từ việc các công ty nhận thấy rủi

ro đầu tư khi lo ngại sản phẩm sản xuất ra khôngthể cạnh tranh được với hàng nhập ngoại, đặc biệt

là từ Trung Quốc

Như vậy, quy mô đầu tư tài sản cố định củacác công ty trong ngành khá khiêm tốn, chủyếu dừng lại ở đầu tư thay thế, ít có đầu tư mởrộng sản xuất Như vậy, các công ty trongngành vẫn chưa dành những nguồn lực thíchđáng cho hoạt động đầu tư phát triển

3 Những nhân tố khiến sản phẩm cơ khí trong nước chưa cạnh tranh được với các sản phẩm nhập khẩu

- Thiếu công nghiệp hỗ trợ hiệu quả, phần lớn linh kiện phải nhập khẩu: Hiện nay nhiều

đánh giá cho rằng Việt Nam thiếu công nghiệp

hỗ trợ hiệu quả cho ngành, các linh kiện đềuphải nhập khẩu, không sẵn có dẫn đến tỷ lệ nộiđịa hoá còn khiêm tốn Điều này khiến cho giátrị gia tăng trong ngành là thấp và giá thànhsản phẩm cao, nhiều sản phẩm mới chủ yếudừng lại ở dạng lắp ráp

- Hạn chế ở năng lực công nghệ và nguồn nhân lực có kỹ thuật cao: Trừ VEAM và một số doanh

nghiệp mạnh thuộc sở hữu nhà nước, đa số cáccông ty trong ngành có năng lực công nghệ cònhạn chế Bên cạnh đó, ngành cũng thiếu hụt khálớn nguồn nhân lực có kỹ thuật cao Hiện có khá

ít các trường đại học trong nước đào tạo chuyênngành Cơ khí và chuẩn đầu ra chưa đảm bảo

Trang 5

- Diện tích đất canh tác còn manh mún: Hạn

chế trong việc ứng dụng cơ giới hoá vào sản

xuất, điều này khiến cho cầu về máy móc nông

nghiệp chưa thực sự tăng trưởng mạnh và tạo

ra một thị phần hấp dẫn

- Những chính sách hỗ trợ của Nhà nước

cho ngành chưa đủ mạnh và còn khó tiếp

cận: Nhà nước đã có chính sách ưu đãi hỗ trợ

nông dân vay vốn mua máy móc trong nước

để phục vụ sản xuất Đây là một hỗ trợ đáng

kể nhằm tạo cầu cho ngành, tuy nhiên, do

năng lực cơ khí trong nước hạn chế nên cầu

tiềm năng này không chuyển hoá thành hiện

thực hơn nữa cơ chế triển khai cũng gặp nhiều

bất cập

4 Phát triển công nghiệp sản xuất thiết

bị chế biến nông - lâm - thủy sản giai đoạn

đến năm 2015, có xét đến năm 2025

Phát triển sản xuất thiết bị chế biến nông

-lâm - thủy sản trên cơ sở phù hợp với Chiến

lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam, gắn

với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp;

Phát triển sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm

- thủy sản dựa trên nội lực là chính, chủ động

tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến thế giới

để chế tạo các thiết bị chế biến nhằm nâng cao

chất lượng nguyên liệu nông - lâm - thủy sản;

Phát triển bền vững, khuyến khích các sản

phẩm tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện

môi trường, gắn kết chặt chẽ với việc phát triển

công nghiệp quốc phòng

4.1 Mục tiêu phát triển

- Đến năm 2025 đưa công nghiệp sản xuất

thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản của Việt

Nam trở thành một ngành có thế mạnh, đáp

ứng phần lớn nhu cầu của thị trường trongnước Phấn đấu đưa Việt Nam trở thành trungtâm sản xuất, xuất khẩu các loại máy móc, thiết

bị chế biến nông - lâm - thủy sản trình độ tiêntiến của khu vực

- Ưu tiên cho phát triển các ngành: Thiết bịchế biến lúa gạo, thiết bị chế biến sắn, thiết bịchế biến cà phê, thiết bị chế biến cao su; Thiết

bị chế biến chè, thiết bị chế biến mía đường,thiết bị chế biến điều, thiết bị chế biến thức ănchăn nuôi, thiết bị sản xuất cồn nhiên liệu,thiết bị chế biến ván nhân tạo, thiết bị chế biếnthủy hải sản

4.2 Quy hoạch phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản giai đoạn đến năm 2025

a) Lựa chọn sản phẩm chủ lực:

- Máy phân loại hạt cà phê, gạo, điềunhân… bằng màu sắc ứng dụng công nghệquang - cơ điện tử công suất 3-5 tấn/giờ

- Máy xát trắng gạo và máy đánh bóng gạocông suất 4-6 tấn/giờ

- Các hệ ép và nấu đường công suất 3.000tấn mía cây/ngày trở lên

- Máy ly tâm tách bã sắn 80 - 100 m3/giờ vàtách mủ tốc độ đến 7.200 vòng/phút

- Dây chuyền chế biến cà phê kiểu ướt côngsuất 4-10 tấn/giờ Máy rang cà phê và máy sấyphun cà phê hòa tan

- Hệ thống thiết bị cắt tách vỏ cứng hạt điềucông suất 1 tấn/giờ

- Dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn chănnuôi công suất 150 tấn/ngày

Trang 6

- Máy lạng gỗ; Máy ép nhiệt thủy lực áp

suất cao; Thiết bị cho dây chuyền ván gỗ MDF,

HDF cỡ công suất trung bình

- Băng tải và tấm tải cho thiết bị cấp đông

siêu tốc thủy sản; Máy lạng da cá; Máy philê

cá; Máy bóc vỏ tôm

b) Định hướng các lĩnh vực thiết bị:

+ Thiết bị chế biến lúa gạo:

- Đến năm 2015 đáp ứng 70% nhu cầu thị

trường thiết bị trong nước Chú trọng sản xuất

thiết bị đa năng sấy gạo và nông sản cỡ trung

bình Đầu tư sản xuất các dây chuyền chế biến

gạo hiện đại công suất 50 tấn giờ để thay thế

dần các dây chuyền nhỏ

- Đến năm 2025 chế tạo hàng loạt các thiết

bị phân loại gạo bằng màu sắc để thay thế thiết

bị nhập ngoại

+ Thiết bị chế biến sắn:

- Đến năm 2015 đáp ứng 80% nhu cầu nâng

cấp thiết bị đang hoạt động Tập trung cho thiết

bị xử lý ô nhiễm môi trường chuyên ngành

- Đến năm 2025 chế tạo được các dây chuyền

chế biến tinh bột sắn công suất lớn, tự động hóa

cao, thời gian chế biến rút ngắn tối thiểu

+ Thiết bị chế biến cà phê:

- Đến năm 2015 đáp ứng 70% nhu cầu thị

trường thiết bị trong nước về nâng cấp thiết bị

chế biến cà phê Kêu gọi đầu tư nước ngoài để

đầu tư các dây chuyền chế biến sâu (cà phê hòa

tan, cà phê cao cấp…)

- Đến năm 2025 chế tạo hàng loạt các loại

thiết bị phân loại cà phê bằng màu sắc để thay

thế nhập ngoại Chế tạo hệ thống thiết bị trích

ly và sấy phun cà phê hòa tan

+ Thiết bị chế biến cao su:

- Đến năm 2015 đáp ứng 60% nhu cầu trongkhâu tự động hóa các dây chuyền chế biến mủcốm, mủ latex công suất từ 10.000 tấn/năm trởlên, chú trọng thiết bị bảo vệ môi trường sảnxuất kèm theo

- Đến năm 2025 chủ động hoàn toàn về chếtạo thiết bị cho sản xuất cao su kỹ thuật + Thiết bị chế biến chè:

- Đến năm 2015 đáp ứng 80% nhu cầu thịtrường thiết bị trong nước về chế biến chè đencánh mảnh công nghệ Orthodox (kiểu côngnghệ Xrilanca), chế biến chè đen cánh nhỏcông nghệ CTC (tập trung cho cỡ công suất 12tấn búp tươi/ngày), chế biến chè xanh (dâychuyền cỡ 1-5 tấn búp tươi/ngày)

- Đến năm 2025 chế tạo được dây chuyềnthiết bị sản xuất các sản phẩm chè đặc sản, chèsạch theo hướng danh trà, nghệ nhân trà côngsuất đến 1.000 kg búp tươi/ngày

+ Thiết bị chế biến mía đường:

- Đến năm 2015 đáp ứng 35% thị phần phụtùng thay thế của thị trường trong nước (ngoàithiết bị phục vụ thông thường như băng tải,thùng chứa, khung dàn…) Chế tạo thiết bị épmía, bốc hơi, nấu đường, lọc chân không, lắng,trợ tinh liên tục, trợ tinh làm lạnh cưỡng bứccho nhà máy đường công suất đến 8.000 tấnmía cây/ngày

- Đến năm 2025 chế tạo được máy ly tâmliên tục và ly tâm gián đoạn theo chu kỳ, thiết

bị che ép, hệ nấu đường… cho các nhà máyđường công suất lớn

+ Thiết bị chế biến điều:

Trang 7

- Đến năm 2015 đáp ứng 70% nhu cầu thị

trường thiết bị trong nước về dây chuyền tách

vỏ cứng và bóc vỏ lụa điều, tiến tới chế tạo

toàn bộ thiết bị dây chuyền công suất lớn có

trình độ tự động hóa cao

- Đến năm 2025 làm chủ việc sản xuất thiết

bị và công nghệ phục vụ chế biến sâu các phụ

phẩm như dầu, bột ma sát từ vỏ điều …

+ Thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi:

- Đến năm 2015 đáp ứng 70% nhu cầu thị

trường trong nước về cung cấp thiết bị lẻ và phụ

tùng nhằm nâng cấp các dây chuyền chế biến hiện

có, kết hợp tính năng thân thiện môi trường

- Đến năm 2025 chế tạo hàng loạt các dây

chuyền quy mô công suất lớn, hiệu quả thu hồi

cao, tiết kiệm năng lượng và nước

+ Thiết bị sản xuất cồn nhiên liệu:

- Đến năm 2015 cung cấp thiết bị lẻ và linh

kiện, phụ tùng thuộc công đoạn lên men và

chưng cất rượu cho dây chuyền công nghệ với

nguyên liệu từ tinh bột và mật rỉ đường mía

- Đến năm 2025 chế tạo tháp tinh chế cồn

nhiên liệu và chế tạo thiết bị công nghệ sản

xuất cồn nhiên liệu từ phụ phẩm sinh khối

nông - lâm nghiệp và công nghệ tinh lọc cồn

nhờ chất xúc tác

+ Thiết bị chế biến ván nhân tạo:

- Đến năm 2015 đáp ứng 40% nhu cầu thiết

bị ván lạng và ván ghép thanh tre

- Đến năm 2025 chế tạo được thiết bị sản

xuất ván MDF và HDF (thiết bị tạo liệu, phối

trộn, rải lớp…) quy mô công suất lớn, đảm bảo

tính kinh tế với độ tin cậy cao và giá cạnh

tranh, thay thế nhập khẩu

+ Thiết bị chế biến thủy sản:

- Đến năm 2015 đáp ứng 70% nhu cầu thiết

bị sơ loại nguyên liệu, máy phân cỡ, rửa, máycắt đầu, vây, đuôi, máy bóc vỏ, lạng da, philê

cá, chế biến tôm, các thiết bị sấy, trộn, nghiền,hấp… với tính năng hao hụt thấp, tiết kiệmnăng lượng, giảm lao động trên sản phẩm.Đồng bộ hóa hệ thống thiết bị chế biến cá tra,

cá basa

- Đến năm 2025 chế tạo được thiết bị cấpđông nhanh, dây chuyền chế biến các thực phẩmdùng ngay từ thủy sản, thiết bị tuyển chọn, thiết

bị hấp sấy, thiết bị đóng gói bảo quản

c) Phát triển công nghiệp hỗ trợ:

- Đến năm 2015 đáp ứng 55% nhu cầu nộiđịa về phôi đúc, rèn và hàng quy chuẩn chấtlượng tương đương khu vực, phấn đấu cungcấp 55-60% phụ kiện lò hơi, cung cấp 100%thiết bị phụ (băng tải, gầu tải, ống tải, kho, silôchứa nguyên liệu, cân tĩnh, cân băng tải, quạtgió cưỡng bức, thiết bị hút lọc bụi…) Khuyếnkhích sản xuất ổ bi, bánh răng, hộp giảm tốc,

xi lanh thủy lực, dụng cụ đo lường, dụng cụcắt gọt kim loại, phụ tùng khác của máy chếbiến nông - lâm - thủy sản, khuôn mẫu Tỷtrọng chi phí nguyên vật liệu trong nước trêngiá thành của thiết bị chế biến đạt trên 50%

- Đến năm 2025 đáp ứng trên 50% nhucầu trong nước về nồi hơi (chủ yếu là nồi hơi

áp lực cao) với tỷ trọng giá trị nguyên vậtliệu sản xuất trong nước trên giá thành đạtkhoảng 75%

4.3.Các chính sách và giải pháp chủ yếu

a) Về thị trường:

Ưu tiên đưa thiết bị chế biến nông lâm

Trang 8

-thủy sản vào chương trình xây dựng và phát

triển thương hiệu hàng năm

- Hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp để

xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng

quốc tế Doanh nghiệp có doanh thu sản xuất

công nghiệp của các sản phẩm thiết bị chế

biến nông - lâm thủy sản tối thiểu bằng 50%

tổng doanh thu sản xuất công nghiệp của

doanh nghiệp được hỗ trợ giới thiệu sản phẩm

miễn phí theo Thông tư số 03/2008/TT-BCT

ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Bộ Công

thương

- Xây dựng các Trung tâm trình diễn cơ khí

hóa nông nghiệp

- Điều tra, dự báo nhu cầu thị trường thiết

bị trong và ngoài nước, lựa chọn một số sản

phẩm mũi nhọn để có kế hoạch nhập mẫu, chế

tạo thử nghiệm, sản xuất

b) Về đầu tư:

- Ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ

cao, công nghệ thân thiện với môi trường,

công nghệ tiêu tốn ít tài nguyên vật chất, tạo

nên sản phẩm có chất lượng và giá cả cạnh

tranh

- Dự án sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm

- thủy sản sử dụng vốn nhà nước được xem xét,

cho áp dụng hình thức chỉ định thầu hoặc giao

thầu theo quy định của pháp luật hiện hành

- Đẩy nhanh việc thực hiện các dự án sản

xuất máy nông nghiệp thuộc ngành công

nghiệp ưu tiên Tập trung đầu tư chiều sâu, đổi

mới công nghệ, trang thiết bị

c) Về nghiên cứu khoa học và chuyển giao

công nghệ:

- Doanh nghiệp trong nước chế tạo thiết bịchế biến nông - lâm - thủy sản được hỗ trợ từnguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học

- công nghệ quốc gia đối với các chi phíchuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết

kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nướcngoài, đào tạo nguồn nhân lực

- Hỗ trợ để tư nhân tham gia vào các hoạtđộng nghiên cứu, sáng tạo Khuyến khích các

cơ sở nghiên cứu mở rộng liên doanh, liên kết

- Đổi mới đào tạo nghề, đào tạo theo nhucầu của xã hội Ưu tiên nâng cấp các cơ sởđào tạo nhân lực cho công nghiệp hỗ trợ

- Thông qua các chương trình khuyếncông để huấn luyện cho cán bộ kỹ thuật và

cả nông dân

5 Kết luận

Để ngành cơ khí chế tạo máy phục vụ sảnxuất nông nghiệp phát huy tốt vai trò trongquá trình CNH, HĐH nông nghiệp:

- Nhà nước nên có chính sách cụ thể hơnnhư: Đưa các sản phẩm của ngành như: Động

Trang 9

cơ cỡ nhỏ, máy cày 2 bánh, máy cày 4 bánh,

máy gặt đập liên hợp vào danh mục các sản

phẩm trọng điểm quốc gia với các chính sách

ưu đãi trong quá trình đầu tư sản xuất và phân

phối sản phẩm

- Riêng đối với các doanh nghiệp sản xuất

phụ trợ cho ngành công nghiệp Chế tạo máy

nông nghiệp, Nhà nước cần có chính sách ưu

đãi về: Tín dụng, thuế doanh nghiệp và chính

sách thuê mướn đất đai

- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về chủ

trương người Việt Nam dùng hàng Việt Nam trên

các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời có

chính sách ưu tiên xem xét hàng Việt Nam là tiêu

chí hàng đầu trong các Chương trình cũng như

các Dự án hỗ trợ trong nông nghiệp

- Với tiến trình hội nhập WTO của Việt Nam

thì việc nhập khẩu các máy móc, trang thiết bị

nông nghiệp từ nước ngoài với chất lượng thấp

đang làm thiệt hại cho phía Nhà nước cũng như

nông dân Do vậy, Nhà nước cần nhanh chóng

xây dựng hàng rào kỹ thuật (TBT) là hết sức

cần thiết để ngăn chặn hàng hóa kém chất

lượng nhập khẩu tràn lan cũng như làm động

lực cho các nhà sản xuất trong nước tiếp tục

đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm

Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách bảo

hộ, bảo vệ sản xuất trong nước không để nước

ngoài chiếm lĩnh thị trường nội như nước ta

hiện nay Do vậy, việc Nhà nước tạo đơn

hàng, đưa ra những điều kiện thuận lợi cho

doanh nghiệp cơ khí trong nước là rất cần

thiết trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

mà nước ta mới làm được phần nhỏ

- Cần thiết xây dựng một Trung tâm chế tạo

và sửa chữa cơ khí lớn tại miền Bắc đủ sức đểchế tạo sữa chữa các thiết bị lớn như: Chế tạothiết bị siêu trường, siêu trọng cho côngnghiệp hoá chất, dầu khí, phân đạm

- Để chủ động và không tụt hậu, đồngthời để giám sát việc nhập khẩu công nghệ,thiết bị lạc hậu của nước ngoài tràn vàonước ta, Chính phủ cho xây dựng mới hoặcđầu tư nâng cấp các Viện thiết kế hiện cócủa Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, BộGiao thông Vận tải (máy công cụ ) trởthành các viện đầu ngành vừa làm nhiệm vụnghiên cứu & phát triển và thực hiện hoạtđộng tư vấn thiết kế trong một số lĩnh vực

cơ khí đáp ứng nhu cầu phát triển cơ khí cho

cả nước

- Chính phủ cần sớm ban hành ngay quyhoạch đầu tư phát triển đối với một số sảnphẩm cơ khí trọng điểm như: Chế tạo thiết

bị đồng bộ, sản xuất máy động lực & máynông nghiệp

- Nhà nước cần có các chính sách thích

hợp như hỗ trợ vốn cho nông dân, các đơn

vị sản xuất cơ khí từng địa phương Quantâm công tác nghiên cứu, đào tạo huấn luyệncán bộ kỹ thuật cũng như công nhân ngành

Cơ khí chế tạo máy nông nghiệp…./

Nguồn:Agroviet.gov.vn; vietnamplus.com.vn; Vaas.vn; Trích:“QH phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến Nông-Lâm-Thủy sản giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2025”…

Biên tập: Lê Tú, Ngô Hương

Trang 10

1 Thực trạng điện khí hĩa nơng thơn

Điện khí hĩa nơng thơn là một trong những

động lực quan trọng gĩp phần chuyển đổi cơ

cấu nơng nghiệp, tạo nên việc làm cho lao

động nơng thơn để phát triển kinh tế nơng

thơn Chương trình điện khí hĩa nơng thơn của

Việt Nam được phát triển qua các giai đoạn

khác nhau

- Giai đoạn phục hồi sau chiến tranh (1976

- 1985), khi tỷ lệ các hộ gia đình cĩ điện tăng

từ 2,5% lên 9,3%, nền kinh tế Việt Nam trong

quá trình hồi phục sau 30 năm hầu như chiến

tranh liên miên Hệ thống điện là sự kết hợp

của các hệ thống đơn lẻ và kém phát triển, và

cung cấp điện chỉ cĩ ở các khu vực thành thị

và cho các ngành cơng nghiệp lớn Cung cấp

dịch vụ điện cho các hộ nơng thơn chỉ là ưu

tiên thứ cấp so với cấp điện cho các mục đích

sản xuất, cụ thể là cho tưới tiêu thủy lợi ở các

khu vực nơng nghiệp

- Giai đoạn chuẩn bị (1986-1993) là giai

đoạn thực hiện tiến trình “Đổi mới”, đã cĩ một

tác động quan trọng đối với mọi mặt của nền

kinh tế Việt Nam.Trong thời kỳ này, tỷ lệ các

hộ gia đình cĩ điện đã tăng từ 10% lên 14%

Mặc dù khơng cĩ bước nhảy lớn trong gia tăng

tỷ lệ hộ cĩ điện trong thời gian này, nhưng các

quyết định chính sách đã được đưa ra và các

bước thực hiện sau đĩ đã cĩ tác động lớn đến

điện khí hĩa nơng thơn

- Giai đoạn cất cánh (1994-1997) đã chứng

kiến sự tăng trưởng điện khí hĩa mạnh mẽ với

tỷ lệ hộ cĩ điện tăng từ 14% đến 61% Một đặcđiểm đáng chú ý của tiến trình điện khí hĩanơng thơn trong thời gian này được đặc trưngbởi tiến trình dựa trên nhu cầu mạnh mẽ, theocách tiếp cận từ dưới lên Theo những thơngtin cĩ được, người dân thực sự mong muốn cĩđiện và họ đã sẵn sàng trả tiền để được cĩ điện.Chính quyền địa phương và Trung ương đãhưởng ứng nhu cầu mạnh mẽ về điện của xãhội Thật vậy, đến giữa những năm 1990, tốc

độ kết nối điện đã trở thành một trong chỉ sốquan trọng trong đánh giá phát triển kinh tế xãhội hàng năm của tất cả các xã, huyện, tỉnh.Đáp ứng nhu cầu kết nối điện tăng cao đã trởthành khả thi với việc hồn thành và đi vàohoạt động của tổ máy cuối cùng của Nhà máyThủy điện Hịa Bình cũng như các nhà máyđiện tương đối lớn khác và tuyến đường dâytruyền tải điện 500kV, làm cho nguồn điện phát

bổ sung được chuyền tải trên tồn quốc Pháttriển quan trọng khác trong giai đoạn này cịn

cĩ sự thành lập Tổng Cơng ty Điện lực ViệtNam vào năm 1995 và thiết lập các mục tiêuđiện khí hĩa tồn quốc rõ ràng của Chính phủvào năm 1996 Trong thời gian này, Chính phủ

và Ngân hàng Thế giới (WB) bắt đầu cùng nhauchuẩn bị dự án đầu tiên của ngành năng lượng.Sau một thời gian tăng trưởng nhanh chĩngtrong cuộc điện khí hĩa, các nguồn tài chính

cĩ thể tiếp cận được hầu hết đã bị cạn kiệt vàcác vấn đề liên quan tới quản lý, vận hành lướiđiện nơng thơn đã bắt đầu xuất hiện Những bất

Điện khí hóa nông thôn Việt Nam:

Thực trạng và giải pháp điều hành

Trang 11

cập xuất hiện trong hai lĩnh vực quan trọng: Tổ

chức thể chế và tiêu chuẩn kỹ thuật cho lưới

điện nông thôn Vai trò của Tổng Công ty Điện

lực Việt Nam và các công ty điện lực (PCs)

trong phân phối điện được giới hạn ở phạm vi

đưa điện đến trung tâm các xã và không có

chính sách quốc gia nào quy định về việc làm

thế nào để kết nối từ các điểm này đến các hộ

gia đình hoặc tổ chức thể chế tiếp theo sẽ là gì

Do đó, một loạt các tổ chức quản lý và vận

hành phân phối điện đã xuất hiện Sự linh hoạt

do có nhiều hình thức đầu tư và xây dựng lưới

điện hạ áp đã đóng góp vào tốc độ xây dựng

nhanh chóng các lưới điện trong một thời gian

ngắn Mặt khác, sự đa dạng của các tổ chức

được phép xây dựng mạng lưới hạ áp cũng có

nghĩa rằng có sự khác nhau trong năng lực thể

chế của họ và trong cách thức quản lý, vận

hành và duy tu bảo dưỡng lưới điện hạ áp

Hiệu quả thấp trong vận hành của một số mạng

lưới, kết hợp với thiếu kiểm soát tài chính đối

với hoạt động của hệ thống, lần lượt đã ảnh

hưởng tới lượng tiền điện mà người tiêu dùng

phải trả Không có một tiêu chuẩn kỹ thuật tối

thiểu cho mạng lưới hạ áp nghĩa là các lưới

điện được xây dựng trong giai đoạn này được

xây dựng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật khác

nhau và hầu hết là không tối ưu Điều này đã

dẫn đến các vấn đề cần phải giải quyết trong

các giai đoạn tiếp theo

- Giai đoạn 1998 -2004 có sự chuyển dịch theo

hướng quản lý tốt hơn Mặc dù tăng trưởng tốc

độ tiếp cận điện từ 61% hộ gia đình lên 87% trong

một khoảng thời gian 7 năm - đã bị chậm lại so

với giai đoạn trước; Hai lý do chính giải thích tốc

độ điện khí hóa nông thôn chậm lại là:

+ Tất cả các nguồn tài chính có trong giaiđoạn trước đã cạn kiện, các xã và các hộ giađình có khả năng tài chính thì đã có điện rồi.Hầu như tất cả các lưới điện hạ áp (HA) địaphương được xây dựng đến nay được chi trảbởi các cộng đồng địa phương và được các banquản lý điện xã (CEG) hoặc các hợp tác xãquản lý

+ Có vấn đề với việc lập kế hoạch, thực hiện

và quản lý điện nông thôn, những vấn đề phảiđược giải quyết trước khi tiếp tục thực hiệnchương trình

Thời kỳ này diễn ra một loạt các can thiệpquan trọng của Chính phủ đối với chương trìnhđiện khí hóa nông thôn của đất nước Trongthời gian này, Chính phủ Việt Nam đã thôngqua một số Nghị định và quy định trong đó đề

ra các nguyên tắc tài chính để cải cách lĩnh vựcphân phối điện nông thôn Những nguyên tắcnày phù hợp với những nguyên tắc đã đượcthông qua ở các lĩnh vực khác của ngành:Khuyến khích đa dạng hóa quản lý và sở hữu

và quản lý ngày càng được tăng cường Năm

1998, Chính phủ đã phê duyệt chương trìnhquốc gia về xóa đói giảm nghèo, được gọi là:

“Chương trình 135” cho 1.870 xã khó khănnhất ở vùng sâu vùng xa, vùng tách biệt vàmiền núi Một trong những mục tiêu củachương trình này là phát triển các dịch vụ cơ

sở hạ tầng như điện, đường, trường học và cáctrạm y tế ở các xã đó Nhiều xã đã lựa chọn sửdụng kinh phí từ chương trình này để phát triển

hệ thống điện HA ở các xã của mình

Một hành động quan trọng của Chính phủ làthiết lập mức giá trần cho các hộ gia đình sửdụng điện nông thôn vào năm 1998 Quyết

Trang 12

định này có thể được xem là nỗ lực đầu tiên để

thiết lập kiểm soát tài chính đối với kinh doanh

cung cấp điện nông thôn Quyết định này cho

phép các đơn vị phân phối địa phương (LDUs)

tận dụng mức giá điện bán buôn đã có trợ giá

là 360đồng/kwh để giữ lại lợi nhuận cho vận

hành các hệ thống này, đồng thời cũng thiết lập

một mức giá trần là 700đồng/kwh và không

cho phép các đơn vị này bán quá mức giá đó

Một quyết định quan trọng khác được đưa

ra trong tháng 2 năm 1999, với việc ban hành

Quyết định 22/1999/QĐ-TTg công bố phê

duyệt “Đề án Điện khí hóa nông thôn đến năm

2000” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập Quyết

định 22, mang tên chính thức là:”Quyết định

của Thủ tướng Chính phủ về Đề án Điện nông

thôn” đã có tác động quan trọng đối với

chương trình điện khí hóa nông thôn của Việt

Nam Lần đầu tiên, cơ chế phân định trách

nhiệm và tài chính của điện khí hóa nông thôn

đã được chính thức hóa; Các nỗ lực điện khí

hóa nông thôn được làm với phương châm:

“Nhà nước và Nhân dân, Trung ương và Địa

phương cùng làm” là một trong những nội

dung chính của Quyết định 22 Năm 2001,

Chính phủ ban hành Nghị định

45/2001/NĐ-CP về “Hoạt động và sử dụng điện lực” Nghị

định đã có một chương dành riêng cho điện khí

hóa nông thôn Ngoài ra, theo Nghị định 45, tất

cả các đơn vị hoạt động trong ngành Điện được

quy định phải có giấy phép hoạt động

Tháng 12 năm 2004, Luật Điện lực đầu tiên

của quốc gia được thông qua và ban hành tài

liệu chính sách điện khí hóa nông thôn Một

sáng kiến quan trọng khác của Chính phủ vào

thời gian này là thiết lập mức giá trần cho

khách hàng nông thôn, đây là một bước tiến tới

thiết lập kiểm soát tài chính đối với kinh doanhcung cấp điện nông thôn Dự án năng lượngnông thôn (REP) với tài trợ tín dụng IDA (Hiệphội Phát triển Quốc tế) 150 triệu USD, đã đượcphê duyệt trong thời gian này Bộ tiêu chuẩn

kỹ thuật cho lưới điện nông thôn ở Việt Nam,với tư cách là một phần của công tác chuẩn bịcho dự án này, đã được xây dựng và bộ tiêuchuẩn này được chính thức áp dụng trongnhững năm sau đó

Có một sự chuyển dịch đáng kể trong thuxếp thể chế và nguồn tài chính cho điện khíhóa nông thôn EVN đã bắt đầu chương trìnhthí điểm vận hành lưới điện HA và bắt đầu tiếpnhận lưới điện trung áp (TA) do các tổ chứckhác đầu tư xây dựng Theo mô hình dịch vụđại lý, được hình thành trong REF, các thànhviên của cộng đồng địa phương thay mặt chocác Công ty Điện lực thực hiện vận hành vàduy trì lưới điện HA, thực hiện các sửa chữađơn giản và đảm nhận công tác thu tiền điện.Điều này giúp đảm bảo trách nhiệm trong cộngđồng địa phương, giảm thiểu việc không thanhtoán, giảm tổn thất hệ thống và làm giảm đáng

kể chi phí vận hành và quản lý lưới điện chocác công ty điện lực

Trong khi đó, chất lượng và độ tin cậy trongcung cấp điện đã nổi lên như một vấn đề quantrọng Từ năm 2005 đến 2008, Chính phủ đãchọn tập trung vào chất lượng và quản lý,ngoài việc tiếp tục mở rộng kết nối điện Đặctrưng của giai đoạn này là thực thi các quyđịnh; Chuyển trọng tâm từ mở rộng sang khôiphục cải tạo lưới điện và hỗ trợ trực tiếp củaChính phủ vào mở rộng kết nối lưới điện, đặcbiệt là đối với các khu vực dân tộc thiểu số vàvùng sâu, vùng xa Trọng tâm của Chính phủ

Trang 13

không chỉ tập trung vào tăng tỷ lệ hộ có điện

mà còn phải đảm bảo hiệu quả và giải quyết

các bất cập về thể chế trong lĩnh vực này

- Giai đoạn từ năm 2009 trở đi có thể là giai

đoạn củng cố cho chặng đường cuối cùng,

đánh dấu sự tập trung vào đảm bảo tính bền

vững của kinh doanh cung cấp điện nông thôn,

trong khi vẫn thúc đẩy trách nhiệm lớn hơn,

làm việc để xác định các chiến lược thích hợp

nhất để mở rộng tiếp cận cho những người

chưa có điện và đảm bảo khả năng chi trả của

điện của người nghèo

Mốc quan trọng của thời kỳ này là Quyết

định 21/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng chính

phủ, ban hành tháng 2 năm 2009, quy định một

biểu giá thống nhất cho tất cả người tiêu dùng,

cùng với biểu giá điện bậc thang (IBT) và một

bậc thang điện mới cho sinh hoạt cơ bản

Quyết định này cũng cho phép các PCs, hiện

nay đổi tên thành các Tổng công ty điện lực,

tiếp quản các LDUs có năng lực tài chính yếu

Trên thực tế, đã diễn ra sự hợp nhất quan trọng

đối với kinh doanh phân phối và bán lẻ điện

nông thôn, bằng việc các LDUs nhỏ và năng

lực tài chính yếu đang được các PCs lớn hơn

hấp thụ Quy định hệ thống điện phân phối của

Việt Nam đã được phê duyệt trong năm 2010

Nó quy định các quyền và nghĩa vụ của các

PCs và khách hàng của họ, bao gồm quy định

về các nghĩa vụ đối với chất lượng dịch vụ và

bảo vệ người tiêu dùng

+ Tính đến năm 2010, 99% số xã và 96% số

hộ gia đình ở Việt Nam đã được kết nối với

lưới điện Để tiếp tục các nhiệm vụ phía trước

bao gồm khôi phục cải tạo lưới điện ở khoảng

3000 xã, xác định cách thức phù hợp nhất đểđạt được các mục tiêu điện khí hóa cho tất cảcác hộ gia đình trên toàn quốc, bảo đảm tínhbền vững của vận hành lưới điện nông thôn vàtiếp tục đảm bảo khả năng chi trả tiền điện chongười nghèo

+ Tính đến hết năm 2012, cả nước đã có100% số huyện có điện, tỷ lệ hộ sử dụng điệntrong cả nước đạt 97,5%; số hộ dân nông thôn

có điện đạt 96,8% Việt Nam đang nằm trongnhóm đầu của châu Á về điện khí hóa nôngthôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo

2 Điện khí hóa giúp nông thôn thay đổi

Những năm qua, Ðảng và Nhà nước luônquan tâm, dành nhiều nguồn lực đầu tư xâydựng, nâng cấp hệ thống điện ở khu vực nôngthôn, góp phần thay đổi tập quán và quy môcanh tác, thâm canh, tăng năng suất, chuyểndịch cơ cấu cây trồng, xóa đói, giảm nghèo,nâng cao dân trí, đẩy nhanh quá trình xây dựngnông thôn mới (NTM)

Kết quả khảo sát của các chuyên gia chothấy, quá trình điện khí hoá đã đóng góp 30 -40% vào việc phát triển kinh tế tại khu vựcnông thôn, góp phần tích cực vào việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế của các hộ đồng bào dântộc, tạo điều kiện thuận lợi trong phát triểnnông nghiệp, góp phần phát triển mạnh cácngành, nghề thủ công Hoạt động sản xuất củangười dân nông thôn chuyển dần sang sản xuấthàng hoá, dịch vụ, góp phần thực hiện chươngtrình xoá đói giảm nghèo một cách có hiệu quả.Điện cũng góp phần nâng cao đời sống văn hoátinh thần của đồng bào các dân tộc, tăng thêmhiểu biết về các chủ trương, chính sách củaĐảng, cách thức nâng cao đời sống vật chất

Trang 14

cũng như bảo vệ sức khoẻ của người dân Kết

cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được cải

thiện, nhiều công trình được đầu tư, xây dựng

mới, nhất là hệ thống giao thông nông thôn,

điện, thuỷ lợi, trường học, trạm y tế xã, chợ

khu vực

Theo đánh giá của Bộ Công Thương và WB,

quá trình điện khí hóa nông thôn ở Việt Nam

đã đóng góp khoảng 30 đến 40% vào việc phát

triển kinh tế cho khu vực này Hàng loạt dự án

cấp điện cho các thôn, buôn ở Tây Nguyên,

đồng bào Khmer (ở Trà Vinh và Sóc Trăng) với

vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, đã đem lại hiệu

quả thiết thực

Nhờ có điện, cuộc sống của đồng bào dân

tộc ở các xã Ia Ka, (huyện Chư Păh, tỉnh Gia

Lai), xã Ðác Năng (TP Kon Tum), Ðác Kan

(huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) đã thay đổi

rõ rệt: Đào giếng và sắm máy bơm tưới vườn,

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư cây cao su,

cà phê năng suất cao, đầu tư cơ sở chế biến

nông sản, cải thiện rõ rệt thu nhập, xóa đói,

giảm nghèo; Sắm các thiết bị điện, trang bị

tivi Nhờ có điện, đã nâng cao việc tiếp thu

các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà

nước, kiến thức trong sản xuất, góp phần nâng

cao dân trí Hiện tỷ lệ người dân Khmer sử

dụng điện ở tỉnh Sóc Trăng đạt hơn 80% Cũng

nhờ được sử dụng điện lưới, nông dân ở các

tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang đã áp dụng ngay

vào sản xuất, như thắp đèn để “kích” thanh

long ra trái vụ, tạo thu nhập lớn

Bên cạnh những hiệu quả xóa đói giảm nghèo

bước đầu mà điện khí hóa nông thôn mang lại,

“phủ sóng” điện đến với các vùng nông thôn cũng

có những tác động quan trọng trong việc đẩy

mạnh xây dựng nông thôn mới Theo thống kêcủa EVN, với 100% số huyện có điện lưới quốcgia và điện tại chỗ, bức tranh kinh tế, xã hội củanhiều vùng miền đã thay đổi đáng kể trong nhữngnăm qua Nhiều địa phương đã sử dụng điện chiếusáng cho khu vực trung tâm xã, trạm y tế, trườnghọc Đây là những yếu tố đầu tiên và quan trọngnhất để tiến đến xây dựng mô hình nông thônmới Điển hình như tại huyện Nông Cống (ThanhHóa), 300 làng, xã đã khai trương xây dựng làngvăn hóa phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng, khôiphục lại những giá trị văn hóa truyền thống Bêncạnh đó, người dân còn đồng lòng đóng góp, xâydựng hệ thống đường bê tông, đèn chiếu sáng ngõxóm Người dân đồng lòng, xây dựng nông thônmới chỉ còn là vấn đề thời gian

3 Những khó khăn trước mắt

Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với việchoàn thành tiêu chí điện nông thôn vẫn là vốn.Theo Quyết định số: 800/QÐ-TTg, ngày4/6.2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệtChương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 đã xácđịnh: Đến năm 2015, 20% số xã đạt chuẩnNTM; năm 2020, 50% số xã đạt chuẩn NTM.Trong đó, đến năm 2015, có ít nhất 85% số xãđạt chuẩn NTM về tiêu chí điện, năm 2020 đạt95% Ðây là giai đoạn phấn đấu quyết liệt vàcần số vốn đầu tư rất lớn cho việc hiện đại hóalưới điện hạ áp nông thôn Do vậy, Chính phủ

và các bộ, ngành cần có cơ chế, hướng dẫn huyđộng vốn theo phương châm “Nhà nước vànhân dân, Trung ương và địa phương cùnglàm” Ðặc biệt, cần ưu tiên bố trí nguồn vốnngân sách, vốn ODA, nguồn vốn vay ưu đãi

Trang 15

trong nước giao cho EVN thực hiện nâng cấp

cải tạo lưới điện, nhằm bảo đảm phục vụ tốt

yêu cầu cấp điện cho sinh hoạt và sản xuất của

các xã xây dựng NTM Theo EVN, việc đầu tư

cho một xã đồng bằng đạt tiêu chí NTM về

điện, Nhà nước phải đầu tư trung bình từ 5 đến

10 tỷ đồng Ðối với địa phương miền núi, vùng

sâu, vùng xa, con số này còn cao hơn nhiều

Thậm chí, cá biệt có địa bàn vùng xa, dân cư

sống không tập trung, theo tính toán của đơn

vị tư vấn, nếu đầu tư lưới điện hoàn chỉnh thì

suất đầu tư cho một hộ có thể lên tới hàng trăm

triệu đồng Hơn nữa, những hộ ở khu vực này

chủ yếu là hộ nghèo, khó khăn, lượng điện

năng sử dụng trung bình thấp (chưa đến 30kW

giờ/tháng theo khảo sát của WB), điều kiện địa

hình phức tạp, đường điện kéo dài, tổn thất

điện năng lớn, suất đầu tư cho một hộ từ lưới

điện quốc gia quá lớn so mức bình quân chung

(15 đến 20 triệu đồng/hộ), hiệu quả không cao

Ngoài ra, việc xử lý bất cập trong quản lý, kinh

doanh điện nông thôn cũng đang gặp nhiều khó

khăn Trước năm 2000, hệ thống lưới điện nông

thôn - hệ thống hạ áp ở các xã trên cả nước do bốn

nhóm mô hình kinh doanh quản lý và vận hành,

gồm: chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý (ban

quản lý điện của xã, huyện), cai thầu và phòng

điện trực thuộc tỉnh, công ty điện lực tỉnh trực tiếp

quản lý hệ thống bán lẻ điện Trong các mô hình

trên, chiếm đa phần là các ban quản lý điện của

cấp xã Những mô hình quản lý trên bộc lộ rất

nhiều hạn chế, nhất là về năng lực kỹ thuật và tài

chính, dẫn tới thiết kế và xây dựng mạng lưới hạ

áp chất lượng kém, hao tổn và thất thoát điện

năng rất lớn (có nơi lên đến 50%) Năng lực tài

chính yếu do không có tư cách pháp lý để huy

động và vay vốn, nên không có điều kiện duy tu,nâng cấp lưới hạ áp Tài chính thiếu minh bạch

do bán điện không có hóa đơn, chứng từ, khôngchịu bất kỳ trách nhiệm hoặc kiểm soát tài chínhnào Tất cả gánh nặng do quản lý kém và mập mờ

về tài chính trên được các ban quản lý điện củađịa phương tính hết vào giá điện và thế là ngườitiêu dùng ở nông thôn phải dùng điện giá cao Hệlụy xảy ra nghịch lý, người nông dân thu nhậpthấp nhưng phải mua điện với giá cao ngấtngưởng, hơn nhiều lần so với người dùng điện ởthành thị Theo thống kê của WB, năm 1998, chỉ

có 47,5% số khách hàng thanh toán ở mức giáthấp hơn 700 đồng/kWh theo quy định (Chínhphủ phê duyệt mức giá trần bán cho hộ gia đình

sử dụng điện nông thôn vào năm 1998), còn lạiđều phải trả cao hơn, có nơi cao gấp nhiều lần

4 Giải pháp thiết thực

Để đạt được kết quả tích cực trong chươngtrình điện khí hóa nông thôn, đầu tiên phải kểđến sự chỉ đạo và ủng hộ của Đảng, Nhà nước,Chính phủ và sự vào cuộc mạnh mẽ của cáccấp từ Trung ương đến địa phương với phươngchâm Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùngnhau san sẻ gánh nặng về tài chính

Chính phủ cần tích cực triển khai tái cơ cấungành điện để có thể thu hút đủ nguồn vốncũng như xây dựng được một cơ chế để hỗ trợ5% số hộ dân còn lại có điện Với tỷ lệ hộnghèo ở Việt Nam vẫn khá cao, trong chủtrương đầu tư ngành điện hiện nay, vấn đề giábán điện cần phải tính toán kỹ lưỡng, nhất làgiá điện công ích Giá điện cho các hộ khôngthuộc diện nghèo cần được tính toán trênnguyên tắc có thể trang trải nguồn vốn banđầu, đảm bảo sự đầu tư bền vững

Trang 16

Ngành Điện cần phối hợp với ban chỉ đạo

các địa phương trong việc quy hoạch khu vực

dân cư, hoặc nghiên cứu đầu tư để các hộ dân

tại những “vùng lõm” sử dụng các dạng năng

lượng mới và năng lượng tái tạo như thủy điện

nhỏ (dưới 10MW), máy phát điện cá nhân,

điện mặt trời, điện gió để giải quyết nguồn

điện tại chỗ Chuyên gia WB từng nêu thí dụ

về hiệu quả đầu tư thủy điện nhỏ không nối

lưới một số nơi ở Mường Tè (Lai Châu) chỉ

với suất đầu tư từ 700 đến 1.000 USD/hộ

Các tỉnh, thành phố dành một phần ngân sách

địa phương, đồng thời huy động các nguồn lực

khác để phối hợp các tổng công ty/công ty điện

lực triển khai hoàn thành mục tiêu của tiêu chí

điện nông thôn Vận động nhân dân tích cực

tham gia thực hiện tiêu chí số 4 như: Đóng góp

đền bù, tự giải phóng mặt bằng khi đầu tư các

công trình điện, tham gia thực hiện và bảo vệ

hành lang lưới điện, các công trình điện; Đầu tư

hệ thống điện gia đình và sử dụng điện sinh hoạt,

sản xuất bảo đảm an toàn Ðối với các xã đạt tỷ

lệ số hộ sử dụng điện, EVN cần tiếp tục chỉ đạo

các đơn vị trực thuộc lập đề án, ưu tiên bố trí

nguồn vốn phù hợp để cải tạo, nâng cấp, nâng

cao chất lượng điện năng

Các tỉnh, thành cần dựa vào đề án tổng thể

của địa phương về quy hoạch hạ tầng thiết yếu

cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa,

công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

theo các tiêu chí mà Chính phủ quy định, để

có kế hoạch hành động đồng bộ xây dựng hệ

thống cung cấp điện phù hợp, bảo đảm đáp

ứng đủ nhu cầu điện với chất lượng ổn định,

an toàn, đồng thời tránh lãng phí nguồn điện

Ngành Điện (EVN) cần thể hiện vai trò chủlực trong quá trình điện khí hóa nông thôn Vớikinh nghiệm của mình, việc tham gia của EVN

là tác nhân chính giúp lưới điện nông thôn đápứng được các yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm chấtlượng điện và sự bền vững dài hạn cho hệthống Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay,điện khí hóa nông thôn đã đạt chỉ tiêu cơ bản

về số lượng và chuyển trọng tâm đầu tư sangchất lượng phân phối

Đối với việc đầu tư cho điện nông thôn, nơi

có khả năng sinh lời ít, thì trách nhiệm củaEVN vẫn là chủ lực, trong mối quan hệ và hỗtrợ chặt chẽ của chính quyền địa phương, cộngđồng dân cư, tránh tình trạng “vênh nhau” giữacác bên Chẳng hạn hiện nay, do quản lý phầntrung áp thuộc về ngành điện, hạ áp thuộc vềchính quyền địa phương, nên trong nhiều dự

án, sự phối hợp không đồng bộ về kỹ thuật vàtiến độ thi công giữa hai bên khiến có nơi phầntrung áp được thực hiện xong nhưng đànhngừng dang dở chưa rõ thời hạn việc đấu nối

vì phần hạ áp chưa xong và ngược lại, gâynhiều lãng phí Ngoài ra, xã hội hóa, chia sẻchi phí, trách nhiệm, quyền lợi của các bêntham gia được cho là một bài học kinh nghiệmquý báu của quá trình điện khí hóa nông thôn Việt Nam đang tiến gần “đích” 100% hộ dânnông thôn có điện Mục tiêu điện khí hóa nôngthôn vào năm 2020 chỉ đạt được khi có sự chungtay nỗ lực của Chính phủ, doanh nghiệp và ngườidân; Sự huy động và kết hợp nhiều nguồn lực./

Nguồn: Website Chinhphu.vn; Ven.vn; site Tạp chí Cộng sản; Kinh nghiệm điện khí hóa nông thôn của Việt Nam tháng 3/2011 của Ngân hàng thế giới.

Web-Biên tập: Bích Thủy

Trang 17

1 Thực trạng hệ thống phân phối phân bĩn

Trước năm 1995 việc cung ứng phân bĩn phụ

thuộc vào các doanh nghiệp nhà nước Tổng Cơng

ty Vật tư Nơng nghiệp được thành lập theo Quyết

định số 412/QĐ-NN-TCCB ngày 30 tháng 12

năm 2005 của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển

Nơng thơn, mơ hình hoạt động theo Quyết định

số 70/TTg của Thủ tướng Chính phủ Tổng cơng

ty Vật tư Nơng nghiệp cĩ mạng lưới trên địa bàn

cả nước, gồm 9 cơng ty thành viên, trong đĩ cĩ 3

cơng ty khu vực (Hải Phịng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí

Minh) Dưới các cơng ty là các chi nhánh, cửa

hàng, điểm bán hàng và các nhà phân phối phân

bĩn nằm ở các điểm nút cung ứng phân bĩn trên

cả nước Khi đĩ, Tổng cơng ty Vật tư Nơng

nghiệp là đơn vị chủ lực kinh doanh phân bĩn hĩa

học lớn nhất trong cả nước, thời kỳ cao điểm

chiếm 25% thị phần phân bĩn

Hiện nay đã hình thành mạng lưới phân phối

phân bĩn khá phức tạp, các cơng ty thành viên

của Tổng cơng ty Vật tư Nơng nghiệp đã cổ phần

hĩa Hơn 300 doanh nghiệp sản xuất phân bĩn

nhưng chưa cĩ đơn vị nào tự xây dựng được

mạng lưới phân phối riêng mà phải ủy thác cho

các cơng ty thương mại, nhiều cấp phân phối, chi

nhánh, cửa hàng bán lẻ

Hệ thống phân phối phân bĩn chủ yếu là hệ

thống phân phối đa cấp Trong đĩ, nhà cung ứng

phân bĩn bao gồm các nhà sản xuất phân bĩn ở

trong nước và các nhà nhập khẩu Tham gia khâu

trung gian bán buơn là các doanh nghiệp làm

tổng đại lý, đại lý bán buơn, doanh nghiệp

thương mại thuộc các thành phần kinh tế và các

hộ kinh doanh cá thể nằm ở các trung tâm tỉnh,

huyện lỵ, thị trấn và dường như giá bán và chất

lượng phân bĩn ở những khâu lưu thơng cuối

nguồn này khơng được họ thực sự quan tâm

Nhà máy Đạm Phú Mỹ từ năm 2004 đến năm

2007 thiết lập hệ thống phân phối gồm 9 doanhnghiệp lớn như Cơng ty Cổ phần Vật tư Nơngnghiệp Nghệ An, Cơng ty Cổ phần xuất nhậpkhẩu Hà Anh, Cơng ty Vật Nơng nghiệp CầnThơ… Đến năm 2008 bắt đầu thử nghiệm hệthống phân phối mới gồm 5 cơng ty thành viênphân phối phân bĩn tại các vùng miền sản xuấtnơng nghiệp trọng điểm và tự tuyển chọn nhàphân phối, cửa hàng bán lẻ trực tiếp ở huyện, xãnhằm đưa phân bĩn tới tay người sử dụng vớimức giá trần được quy định

Nhà máy Phân đạm và Hĩa chất Hà Bắc lậpkênh phân phối qua 14 nhà phân phối như Cơng

ty CP XNK Hà Anh, các Cơng ty Vật tư Nơngnghiệp Bắc Giang, Lạng sơn, Thái Nguyên,…Cơng ty Superphosphat và Hĩa chất Lâm Thaoxây dựng hệ thống phân phối qua các Cơng ty Vật

tư Nơng nghiệp các tỉnh, người ra cịn cĩ kênhcung ứng phân bĩn qua Hội Nơng dân Việt Nam.Cơng ty Phân lân Nung chảy Văn Điển tổ chứcmạng lưới phân phối phân bĩn khá linh hoạt Ởcác tỉnh miền Bắc phân bĩn được bán thẳng đếnhợp tác xã; tại miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ

cĩ các văn phịng đại diện để phân phối phân bĩn

Ở khâu bán lẻ các hộ kinh doanh cá thể ở cáchuyện, xã, thơn kinh doanh mặt hàng phân bĩnchiếm lực lượng đơng đảo, hệ thống này đã tạođiều kiện cho nơng dân mua phân bĩn một cáchthuận lợi

Nĩi chung, hệ thống phân phối của các doanhnghiệp mới chỉ dừng lại ở khâu trung gian – phânphối cấp I nên vẫn cịn phải qua nhiều cấp mớiđến tay người nơng dân

Quy hoạch hệ thống phân phối mặt hàng phân bón

giai đoạn 2011-2020

Trang 18

Theo khảo sát tại 3 địa bàn huyện ở An Giang

(cũng có thể suy rộng mô hình phân phối phân

bón ở đồng bằng sông Cửu Long) cho thấy: Nhà

phân phối cấp I bán khoảng 85-90% lượng phân

bón cho nhà phân phối cấp II và cấp III, còn

10-15% bán trực tiếp cho nông dân, chủ yếu là các

trang trại có diện tích canh tác hơn 2 ha trở lên,

có tiền mặt để thanh toán và mua hàng một lần để

sử dụng cho cả vụ sản xuất Khoảng 35-40%

lượng phân bón do nông dân mua trực tiếp từ nhà

phân phối cấp II, đó là những hộ nông dân có diện

tích canh tác hơn 1 ha, trả được một phần tiền

mặt Khoảng 50% lượng phân bón do nông dân

mua ở nhà phân phối cấp III, thường là nông dân

sản xuất nhỏ, có diện tích đất dưới 1 ha, thiếu vốn,

mua hàng nhiều đợt và mua ở nhiều nhà phân

phối cấp II khác nhau Khoảng 65-70% lượng

phân bón bán trả chậm, đến cuối vụ thu hoạch

mới trả tiền

Nhận xét về mạng lưới phân phối phân bón

Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

có công ty thành viên phân phối phân bón hoạt

động tương đối tốt Nhưng nói chung hệ thống

phân phối phân bón hình thành có tính chất tự

phát, chưa có mô hình kinh tế rõ rệt, hoàn thiện

mạng lưới cung ứng còn chồng chéo, qua nhiều

tầng lớp trung gian, làm tăng chi phí từ 10-20 đ/kg

qua mỗi cấp (chi phí về vận chuyển, bốc xếp, lưu

kho phân bón chiếm khoảng 10-15%); Thiếu sự

liên kết giữa các nhà sản xuất trong khâu phân

phối; khả năng kiểm soát giá cả của doanh nghiệp

đối với các nhà phân phối còn yếu; Không kiểm

soát được hàng chất lượng kém

Việc vận chuyển cùng một loại phân bón từ

Nam ra Bắc và ngược lại cũng gây tốn kém và

đẩy giá bán lên cao.Vì vậy cần tổ chức lại hệ

thống phân phối phân bón mang tính khoa học,

hợp lý, đơn giản hóa từ nơi sản xuất hoặc doanh

nghiệp nhập khẩu đến người sử dụng

Hệ thống phân phối sản phẩm phân bón đã có

sự chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường,nhiều thành phần kinh tế tham gia nhập khẩu vàphân phối phân bón, làm cho thị trường sôi động,linh hoạt, giúp người nông dân nhanh chóng tiếpcận được nguồn phân bón phục vụ sản xuất nôngnghiệp, kể cả những hộ chưa có tiền ngay để muaphân bón

Tuy nhiên, hệ thống phân phối phân bón cầnđược vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, có cơ chế đảm bảo chất lượng

và giá cả Hệ thống kho tàng, vận tải, chưa đượccác doanh nghiệp quan tâm đầu tư nhằm đạt hiệuquả cao trong cung ứng phân bón Do vậy, cần

có các trung tâm phân phối ở các vùng, giảm hệthống nhà phân phối các cấp và các nhà bán lẻ…

để giảm cho phí vận tải, an toàn, đảm bảo chấtlượng đến người tiêu dùng Ngoài ra cũng cần

có chính sách hỗ trợ hệ thống phân phối đến cácvùng sâu, vùng xa

2 Quy hoạch hệ thống phân phối mặt hàng phân bón

Quy hoạch hệ thống phân phối mặt hàng phânbón cần được xem xét tới các yếu tố: Sự hìnhthành các vùng kinh tế nông nghiệp; Nhu cầu vềphân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp; Đặcđiểm của hoạt động kinh tế vùng và tập quán muabán của nông dân; Hệ thống tiêu thụ, thu muanông sản; tình hình kinh tế-xã hội của từng vùng.Nước ta đã hình thành 7 vùng kinh tế, nhu cầutiêu thụ phân bón của từng vùng được tính trên

cơ sở diện tích gieo trồng từng loại cây đến năm

Trang 19

Vùng Urê phosphat Super- Lân nung chảy DAP NPK KCL Cộng

Cả nước 2.673.26 600 1.100.00 389.13 3.000.00 725 8487.39

Trung du và miền núi

phía Bắc 313.75 90 165 11 368.89 90.08 1.038.72Đồng bằng sông Hồng 326.64 240 107 18.5 435.32 99.44 1.226.90Bắc Trung Bộ 251.56 80.8 96.3 10 195.07 71.1 715.23Duyên hải

Nam Trung Bộ 174.68 56.5 74 15.3 297.86 48.54 666.88Tây Nguyên 387.14 39.2 457.7 102 394.16 116.74 1.496.94Đông Nam Bộ 384.45 30 81.4 98 312.36 93.84 1.000.05Đồng bằng

sông Cửu Long 824.64 63.5 118.6 134.33 996.34 205.26 2.342.67

Bảng 1: Nhu cầu phân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp năm 2015

Hồng 318.67 159.84 107 12.34 504.97 89.5 1.192.32Bắc Trung Bộ 255.56 53.81 96.3 10.67 226.28 63.99 706.61Duyên hải Nam

Trung Bộ 170.42 37.63 74 10.21 345.52 43.69 681.47Tây Nguyên 377.69 26.11 457.7 68.04 457.23 105.06 1.491.83Đông Nam Bộ 375.06 19.98 61.4 65.37 362.34 84.46 988.61Đồng bằng sông

Cửu Long 804.5 42.63 118.6 82.59 1.175.75 187.23 2.411.30

Trang 20

Hệ thống phân phối phân bón thường gắn

chặt với hệ thống sản xuất nông nghiệp nên khi

tổ chức hệ thống phân phối phân bón cần quan

tâm tới các mắt xích của hệ thống tiêu thụ hàng

nông sản, nhưng dòng chảy hàng hóa theo

chiều ngược lại với chiều hướng tiêu thụ hàng

nông sản

Ngoài ra, một phần do điều kiện kinh tế

nhưng phần lớn do tập quán của các hộ nông dân

ở các tỉnh phía Nam thường mua nhiều phân

bón, sau khi thu hoạch mới trả tiền

2.2 Những nguyên tắc chung về quy hoạch

hệ thống phân phối mặt hàng phân bón

- Tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng phân

bón dựa trên thông tin hai chiều cung – cầu và

định hướng theo thị trường mục tiêu, nghĩa là

phải có mức độ cung cấp dịch vụ phân phối tối

ưu nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu nông dân về

nguồn cung, chất lượng hàng hóa, thời hạn giao

hàng và giá cả cạnh tranh cho người trồng trọt;

- Phát triển hệ thống phân phối mặt hàng phân

bón một cách tổng thể, tạo điều kiện cho việc

quản lý và can thiệp vào thị trường của Nhà

nước khi cần thiết một cách có hiệu quả nhất;

- Phát triển hệ thống phân phối phân bón phải

đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nghĩa là phải

đảm bảo phân chia thị phần của các thành viên

trong hệ thống không chồng chéo, hoạt động

chuyên môn hóa và có tổng cho phí lưu thông

thấp nhất;

- Hệ thống phân phối mặt hàng phân bón

nhằm thiết lập và tăng mối quan hệ hợp tác toàn

diện, lâu dài giữa các thành viên trong hệ thống

và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trách nhiệm của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sản xuất phân bón lấy mục

tiêu lợi nhuận của người nông dân cũng là mục

đích của chính nhà sản xuất phân bón, do vậynhà sản xuất có trách nhiệm xây dựng hệ thốngphân phối hoặc phối hợp với các doanh nghiệpkhác hình thành mạng lưới phân phối đảm bảođược các tiêu chí trên Trước hết, cấu tạo đượcnhững trung tâm phân phối vùng, miền dưới cáchình thức khác nhau, như công ty thành viên;trung tâm phân phối… có thể theo cơ cấu đa sởhữu, hình thức hoạt động như một tổng nhà phânphối ở những vùng sản xuất nông nghiệp quantrọng Mỗi vùng sản xuất nông nghiệp quantrọng sẽ có từ 1-3 trung tâm phân phối mặt hàngphân bón Trên cơ sở phát triển 5 công ty thànhviên của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chấtDầu khí và 3 văn phòng đại diện của công tyLiên doanh phân bón Việt Nhật Tập đoàn NamViệt (An Giang) cũng đang chuẩn bị thành lậpcông ty phân phối phân bón và các mặt hàngkhác tại Châu Phú Như vậy, trung tâm phânphối vùng có thể được thành lập bởi các doanhnghiệp sản xuất, nhập khẩu phân bón, công tyvật tư nông nghiệp cấp tỉnh và các thành phầnkinh tế khác dưới sự bảo trợ của Nhà nước

Hoạt động của trung tâm phân phối vùng

Trung tâm phân phối vùng là nơi tập trungcác sản phẩm phân bón có khối lượng lớn, tiếpnhận từ các doanh nghiệp sản xuất hoặc nhậpkhẩu để phân phối tới các khách hàng là nôngtrường, trang trại, hợp tác xã, các nhà phân phốicấp I Trung tâm có hệ thống kho tàng an toàn,

có bộ phận quản lý chuyên nghiệp và hoạt độngkinh doanh theo tiêu chí đáp ứng đủ yêu cầu củasản xuất nông nghiệp về số lượng, chủng loạiphân bón, chất lượng tốt, kịp thời vụ với giá cảhợp lý ở từng vùng, miền trên cơ sở chiết khấucủa doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và bù đắpđược các chi phí về thuê mặt bằng, khấu hao, lãivay ngân hàng, công lao động…

Ngày đăng: 17/11/2015, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sơ đồ các loại máy móc - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 1 Sơ đồ các loại máy móc (Trang 3)
Bảng 2: Nhu cầu phân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp năm 2020 - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2 Nhu cầu phân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp năm 2020 (Trang 19)
Bảng 1: Nhu cầu phân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp năm 2015 - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 1 Nhu cầu phân bón của từng vùng kinh tế nông nghiệp năm 2015 (Trang 19)
Bảng 2: Số lượng máy sấy và tỷ lệ lúa được sấy năm 2012 của các tỉnh ĐBSCL - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 2 Số lượng máy sấy và tỷ lệ lúa được sấy năm 2012 của các tỉnh ĐBSCL (Trang 39)
Bảng 1: Mức độ cơ giới hóa khâu thu hoạch - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Bảng 1 Mức độ cơ giới hóa khâu thu hoạch (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w