=> Đề tài: “Vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh tại các hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định” - Đề tài có mục tiêu: Tìm hi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh tại các hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực
Ninh tỉnh Nam Định
Tên sinh viên : Nguyễn Thị Thu Hằng
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Minh Đức
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trungthực và kết quả nghiên cứu chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình báo cáo đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo được ghi rõ nguồn gốc
Sinh viênNguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đãđược sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân Nhần đây tôi xinbày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến;
Tập thể quý thầy cô giáo trong khoa kinh tế và phát triển nông thôn đãtận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy giáo Th.S Nguyễn Minh Đức,người đã tận tình hưỡng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điềukiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn UBND thị trấn Cổ Lễ đã giúp đỡ và tạo điều kiện chotôi trong quá trình nghiên cứu tại cơ sở, bà con tại 3 đội sản xuất đã giúp đỡtôi trong quá trình thu thập thông tin để nghiên cứu và hoàn thành luận vănnày
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bề đã chia sẻ, giúp đỡ tôitrong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp củamìn
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của cáctập thể, cá nhân đã giành cho tôi
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4TÓM TẮT
- Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ đặc biệtquan với các nước đang phát triển như Việt Nam Tuy vậy, hiện nay, nôngnghiệp Việt Nam với chủ thể chủ yếu là kinh tế hộ nông dân vẫn chưa pháttriển Chúng ta cũng biết, hành vi của con người là yếu tố ảnh hưởng có tínhchất quyết định tới hiệu quả của hoạt động Nhưng hành vi của con người lại
bị điều khiển bởi vốn con người hay lượng kiến thức và các kỹ năng mà conngười có được Vậy, có phải, nông nghiệp ta rơi vào tình trạng chưa pháttriển là do việc đầu tư vốn con người vào sản xuất và tiêu thụ các sản phẩmnông nghiệp của ta còn nhiều bất cập? Trong những năm qua, việc sản xuất
và tiêu thụ đào cảnh tại các hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninhtỉnh Nam Định có nhiều thay đổi tích cực, đi cùng đó là sự tích luỹ nhiều vềlượng kiến thức mới, về kinh nghiệm, kỹ năng trồng và bán đào của hộ
=> Đề tài: “Vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất và
tiêu thụ đào cảnh tại các hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định”
- Đề tài có mục tiêu: Tìm hiểu vai trò của vốn con người đối với sựphát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh tại thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninhtỉnh Nam Định, phát hiện các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra biện pháp nhằmnâng cao vốn con người, làm phát triển sản xuất, tiêu thụ đào cảnh và kinh tếnông hộ địa phương một cách bền vững
- Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ 23/01/2009 đến25/5/2010, nhưng thu thập các thông tin trong khoảng thời gian từ 2007 đến
2009
- Về phương pháp nghiên cứu:
Trang 5+ Dựa vào đặc điểm địa phương, có đội 3 trồng đào lâu nhất sau đóđến đội 7 và cuối cùng là đội 1 Về số lượng, trong tổng hộ trồng đào, tỷ lệ
hộ trồng từ 4-8 năm chiếm nhiều nhất, tiếp đến hộ trồng 1-3 năm, còn tỷ lệ
hộ trồng từ 9-14 năm chiếm ít nhất Nên chúng tôi tiến hành chọn mẫu nhưsau: Chọn 60 hộ đại diện, trong số đó, gồm 10 hộ có kinh nghiệm 9-14 năm
ở đội III, 38 hộ có kinh nghiệm 4-8 năm ở đội VII, 12 hộ có kinh nghiệm 1-3năm ở đội I Các hộ trong mỗi nhóm có sự khác nhau về trình độ học vấn,giới tính, tuổi tác, và mức độ tiếp cận với các nguồn thông tin
+ Đề tài thu thập thông tin bằng bảng hỏi, nội dung liên quan đếnHQKT cây đào, sự hiểu biết và các quyết định trong sản xuất và tiêu thụ đàocủa hộ
+ Để xử lý thông tin, đề tài sử dụng phần mền excel, với mục đíchnhóm hộ theo các tiêu chí và tính HQTB của mỗi nhóm
+ Để phân tích thông tin, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tảvới mục đích thấy được tình hình chung về sự phát triển sản xuất và tiêu thụđào cảnh tại địa phương Đồng thời sử dụng phương pháp so sánh nhằm sosánh HQKTTB các nhóm hộ thu được khi có đầu tư vốn con người khácnhau
- Qua nghiên cứu, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau:
Một là: Trong những năm qua, tình hình sản xuất và tiêu thụ đào cảnhtại thị trấn Cổ Lễ có nhiều sự phát triển, biểu hiện cụ thể: là sự tăng lên vềdiện tích canh tác, sử dụng đa dạng hơn các loại giống, chất lượng sản phẩm
và giá cả được nâng cao, thị trường tiêu thụ và đối tượng khách hàng được
mở rộng…
Thứ hai: Khi phân nhóm mẫu nghiên cứu theo các yếu tố cấu thànhvốn con người ở các hộ trồng đào một cách độc lập hay phối hợp hai hoặcnhiều yếu tố với nhau và so sánh HQKT giữa các nhóm thì một xu hướng
Trang 6chung được đưa ra ở đây là: HQKT trung bình của các nhóm hộ đạt cao hơnkhi nhóm hộ đó có kết quả bình xét về tiêu chí đó cao hơn
Thứ ba: Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vốn con người của hộtrồng đào như tuổi tác, giới tính, và sự chủ động tiếp cận các nguồn thông tincủa chủ hộ, sự cung cấp những kiến thức về sản xuất và tiêu thụ đào của các
cơ quan nông nghiệp địa phương tới hộ trồng đào và vai trò của cây đào đốivới nguồn thu nhập của hộ
Thứ tư: Để nâng cao vốn con người trong các hộ trồng đào trước hết,bản thân hộ họ phải tự chủ động tiếp cận với các nguồn thông tin về sảnxuất, tiêu thụ đào song bên cạnh đó các cơ quan nông nghiệp địa phươngcũng cần tạo điều kiện giúp đỡ để người trồng đào được tiếp cận với nhữngnguồn thông tin về sản xuất và tiêu thụ này
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
CC: Cơ cấu
TTNT: Tiểu thủ công nghiệp
UBND: Uỷ ban nhân dân
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
2.1.1 Mục tiêu chung 3
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung 3
1.4.2 Phạm vi không gian 4
1.4.3 Phạm vi về thời gian 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Lý luận về nguồn lực con người, nguồn nhân lực, nguồn lao động 5
2.1.2 Lý luận về “ vốn con người” 9
2.1.4 Vai trò của vốn con người đối với phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 19
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 22
2.2.1 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới và tại Việt Nam 22
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan 27
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số xã hội 30
3.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của địa phương 34
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36
3.2.3, Phương pháp xử lý số liệu 39
Trang 93.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 39
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐÀO CẢNH TẠI THỊ TRẤN CỔ LỄ 40
4.2.1 Vai trò trình độ học vấn đối với hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 46
4.2.2 Vai trò của số năm kinh nghiệm đối với sự phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 49
4.2.3 Vai trò việc chủ động tiếp cận nguồn thông tin đối với sự phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 52
4.2.4 Vai trò trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm trồng đào của chủ hộ trong phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 55
4.2.5 Vai trò của việc tiếp cận nguồn thông tin và số năm kinh nghiệm trong sự phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 56
4.2.6 Vai trò của trình độ học vấn và việc tiếp cận với các nguồn thông đối với sự phát triển sản xuất và tiêu thụ của đào cảnh 57
4.3 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỐN CON NGƯỜI TRONG CÁC HỘ TRỒNG ĐÀO 61
4.3.1 Giới tính 61
4.3.2 Tuổi tác 61
4.3.2 Sự tiếp cận thông tin và vai trò của cây đào trong thu nhập của hộ 62
4.4 CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO VỐN CON NGƯỜI CỦA CÁC HỘ TRỒNG ĐÀO 65
4.4.1 Chủ vườn đào cần chủ động, tích cực hơn trong việc tiếp cận các nguồn thông tin về sản xuất và tiêu thụ đào cảnh 65
4.4.2 Chính quyền địa phương cần tạo điều kiện giúp người trồng đào được tiếp cận các nguồn thông tin 66
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68
5.1 KẾT LUẬN 68
Trang 105.2 KHUYẾN NGHỊ 69 5.2.1 Phía những người trồng đào 69
5.2.2 Phía Nhà Nước 69
Trang 11PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong tiến trình pháttriển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, cho dù đó là quốc gia đã hay đangphát triển Bởi đây là ngành sản xuất lương thực thực phẩm, cung cấp nhữngsản phẩm thiết yếu, cơ bản và không thể thiếu của sự sống con người, nó đápứng phần lớn nhu cầu đầu vào cho ngành công nghiệp, đặc biệt là côngnghiệp chế biến Nông nghiệp phát triển sẽ đảm bảo an toàn lương thực quốcgia, ổn định xã hội cũng như sự phát triển các ngành công nghiệp khác
Đối với các nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
và hiện đại hoá như Việt Nam, khi mà phần đông dân số sống ở nông thônphụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ còncần thêm nhiều sự hỗ trợ về nguồn lực của nông nghiệp như tiền vốn, thịtrường hay lao động… và để có thể phát triển ngành, quốc gia một cáchmạnh mẽ thì sự phát triển nông nghiệp nông thôn trong tiến trình đổi mới ởcác nước này là việc cần thiết và quan trọng hơn so phát triển nông nghiệpnông thôn trong quá trình tiến lên của các nước đã bước vào thời kỳ côngnghiệp, hậu công nghiệp Hay nói một cách khác, phát triển nông nghiệp làvấn đề cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam, cũng như với các nước đangphát triển nói chung
Nếu so với nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như HànQuốc, Nhật Bản… và xét về các nguồn lực phục vụ sản xuất nông nghiệp,thì ngoài trình độ của nông dân Việt Nam có nhiều bất cập còn lại các nguồn
Trang 12lực khác như số lượng lao động, diện tích và chất lượng đất đai, cũng nhưtình hình thời tiết khí hậu, thuỷ văn… là những yếu tố cực kỳ quan trọng đểphát triển tốt một nền nông nghiệp thì Việt Nam ta thuận lợi hơn các quốcgia đó Mặt khác nông nghiệp Việt Nam còn được Đảng và Nhà Nước rấtquan tâm, ban hành nhiều chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, khoa học côngnghệ,…nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp ViệtNam hiện nay với chủ thể sản xuất trực tiếp chủ yếu là kinh tế hộ vẫn chưaphát triển Cụ thể như, như đến năm 2007, ở nông thôn, cá biệt một số tỉnhmiền núi, tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, số
hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: tại Lai Châu hiện nay là 55,32%; ĐiệnBiên 40,77%; Hà Giang 39,44% và Bắc Kạn 37,8% Dù khu vực nông thônchiếm tới 90% số hộ thuộc diện nghèo của cả nước, nhưng tốc độ giảmnghèo ở nông thôn vẫn chậm hơn thành thị tới 20%
Như chúng ta đã biết, con người, thông qua hành vi của mình sẽ làchủ thể thực hiện và là yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định tới hiệu quảđạt được của các hoạt động Vốn con người cũng như lượng kiến thức mỗingười có được sẽ điều kiển hành vi của chính người đó Vậy có tình trạngnêu trên là do trình độ của nông dân ta thấp hay nông nghiệp ta còn yếu kém
là vì còn nhiều bất cập ở vốn con người trong sản xuất và tiêu thụ các sảnphẩm nông nghiệp? Nếu đúng thì biểu hiện cụ thể của nó như thế nào? Vàlàm thế nào để nâng cao vốn con người từ đó phát triển nông nghiệp và kinh
tế hộ nông dân một cách bền vững
Trong những năm qua tình hình sản xuất và tiêu thụ đào cảnh tại các
hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định có nhiều thayđổi tích cực, song song với đó là sự tích luỹ nhiều về lượng kiến thức mới,
về kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ đào mà hộ có được từhọc tập và quá trình lao động thực tiễn
Trang 13Xuất phát từ những thắc mắc và lý do trên, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất và
tiêu thụ đào cảnh tại các hộ nông dân ở thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định”
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất vàtiêu thụ đào cảnh tại thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định, pháthiện các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra biện pháp nhằm nâng cao vốn conngười, làm phát triển sản xuất, tiêu thụ đào cảnh và kinh tế nông hộ địaphương một cách bền vững
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu vai trò của vốn con người đối với sự phát triển sản xuất
và tiêu thụ đào cảnh
- Đối tượng phân tích: Cấp thị trấn
- Các chủ thể cung cấp thông tin: Hộ nông dân trồng đào, cán bộ cơ
sở địa phương, những người có thể cho biết những thông tin chung về cácđiều kiện ảnh hưởng đến, cũng như tình hình của sản xuất và tiêu thụ đàocảnh tại địa phương
Trang 141.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vai tròcủa những kiến thức hay sự hiểu biết, kỹ năng của chủ vườn đào đối với sựphát triển trong việc sản xuất và tiêu thụ đào cảnh
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Lý luận về nguồn lực con người, nguồn nhân lực, nguồn lao động
2.1.1.1 Nguồn lực con người
Trước khi bàn về khái niệm “nguồn lực con người”, cần tìm hiểu kháiniệm “nguồn lực” Có thể nói rằng, cho đến nay chưa có tài liệu nào chínhthức định nghĩa khái niệm “nguồn lực” Qua tìm hiểu các nhà khoa học thấy,dưới dạng tổng quát, khái niệm “nguồn lực” được hiểu là toàn bộ các yếu tố
cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang, và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển vàtrong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội củamột quốc gia, dân tộc Nghĩa là, khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quátrất rộng, nó hàm chứa không chỉ yếu tố đã và đang tạo nên sức mạnh trênthực tế, mà cả những yếu tố mới ở dạng tiềm năng, không chỉ nói lên sứcmạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi có thể cung cấp sứcmạnh, phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng, đồng thời nói lên
sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó
Khái niệm “nguồn lực con người” được sử dụng từ những năm 60 củathế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, và giờ đây kháthịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò và vị trí của conngười trong sự phát triển Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng tương đốirộng rãi kề từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay Tuy nhiên, cho đếnthời điểm này chưa có tài liệu nào chính thức đưa ra định nghĩa về khái niệm
“nguồn lực con người”, mặc dù các bài viết về nguồn lực con người, vềnguồn nhân lực, về tài nguyên con người không phải ít
Trang 16Tìm hiểu các nghiên cứu gần đây, chúng tôi thấy khái niệm về nguồnlực con người rất đa dạng, được đề cập đến từ những góc độ khác nhau.Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sảnxuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và pháttriển của lực lượng sản xuất và do đó, nó quyết định năng suất lao động vàtiến bộ xã hội Con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơbản của xã hội Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìnnhận như một phương diện chủ yếu đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất vàdịch vụ Trong lý luận về vốn, con người được đề cập như một loại vốn (vốnngười, “tư bản người”), một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất vàkinh doanh Với cách tiếp cận này, ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn lựccon người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghềnghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu Như vậy, ở đây nguồn lực con người đượccoi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền, côngnghệ, tài nguyên thiên nhiên…
Liên hợp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự khi cho rằng nguồn lựccon người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người cóquan hệ tới sự phát triển của đất nước Quan niệm này xem xét nguồn lựccon người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnhcủa nó đối với sự phát triển xã hội
Ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sựphát triển kinh tế - xã hội mang mã số KX-07 do GS, TSKH Phạm MinhHạc làm chủ nhiệm, cho rằng nguồn lực con người được hiểu là số dân vàchất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,năng lực và phẩm chất Còn gần đây, trong dịp gặp gỡ các nhà doanhnghiệp, các nhà khoa học – công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, khi đềcập đến vấn đề tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà
Trang 17-khoa học – công nghệ và các cơ quan chính phủ để nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh của nền kinh tế, trong lời phát biểu của mình thủ tưởng Phan VănKhải cũng đã khẳng định “Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động,trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta”
Từ một số cách tiếp cận và với những nội dung nêu trên, ta có thể nóirằng nguồn lực con người không chỉ là lực lượng lao động hay nguồn laođộng mà là tập hợp các yếu tố Dưới dạng tổng quát, chúng tôi cho rằng
“nguồn lực con người” là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chấtlượng con người với tất cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự pháttriển của xã hội Với cách hiểu như vậy, khái niệm “nguồn lực con người”
có nội dung rộng lớn, nó bao gồm những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, lịch sử loài người trước hết là lịch sử lao động sản xuất, vìvậy khái niệm “nguồn lực con người” trước hết cũng được biểu hiện ra làngười lao động, là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ cótrong tương lai gần)
Thứ hai, khái niệm “nguồn lực con người” phản ánh khía cạnh cơ cấudân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đãqua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế, cơ cấu trình độ lao động,
cơ cấu độ tuổi lao động trong lĩnh vực lao động, cơ cấu nguồn lao động dựtrữ…Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sứcmạnh của nguồn lực con người
Thứ ba, khái niệm “nguồn lực con người” chủ yếu phản ánh phươngdiện chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lượng lao động trong hiệntại và trong tương lai gần (dưới dạng tiềm năng), thể hiện qua hàng loạt yếu
tố đó là: Sức khoẻ cơ thể và sức khỏe tâm thần, mức sống, tuổi thọ, trình độgiáo dục và đào tạo về văn hoá và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học
Trang 18vấn, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹnăng lao động… trong đó trí lực, thể lực, đạo đức là những yếu tố quantrọng nhất, quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.Nghĩa là nói đến nguồn lực con người là phải nói đến sức lao động (thể lực
và trí lực) của con người, nói đến chất lượng con người, bao gồm cả thể chất
và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phongcách làm việc… Nói cách khác, đó là toàn bộ những năng lực và phẩm chấtsinh lý - tâm lý - xã hội của con người tạo nên nhân cách trong mỗi cá nhân.Phát huy nguồn lực con người chính là nuôi dưỡng và khai thác có hiệu quảnhững năng lực phẩm chất đó
Thứ tư, khái niệm “nguồn lực con người” còn hàm chứa cả sự liên hệ,tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại trong nó, sự ảnh hưởng qualại giữa nguồn lực con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội,giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác Mặt khác, nó cũng nói lên
sự biến đổi và xu hướng của sự tiến bộ về số lượng, chất lượng,cơ cấu dân
cư và lực lượng lao động
Thứ năm, khái niệm “nguồn lực con người” còn chỉ ra rằng con ngườiđược xem xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong
hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội Là một nguồn lực, cũng nhưcác nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ…), con ngườitạo ra sức mạnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của mộtquốc gia, dân tộc Song, nguồn lực con người khác các nguồn lực khác ởchỗ, có nó, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tíchcực đối với sự phát triển xã hội, vì thế nó là nguồn lực của mọi nguồn lực.Mặt khác, nó không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển của xãhội, mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội, là đối tượng màchính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục vụ Nghĩa là, nếu các nguồn
Trang 19lực khác chỉ la phương tiện của sự phát triển xã hội, thì nguồn lực con ngườilại vừa là phương tiện (phương tiện đặc biệt) vừa là mục tiêu của chính sựphát triển xã hội.
Như vậy khi nói đến nguồn lực con người và vai trò của nó phải xemxét con người với tư cách vừa là chủ thể vừa là khách thể của các quá trìnhkinh tế - xã hội Là chủ thể con người khai thác, sử dụng các nguồn lực kháchiện có, đồng thời qua đó góp phần tạo ra các nguồn lực mới, đề duy trì sựtồn tại và phát triển xã hội Là khách thể, con người trở thành đối tượngđược khai thác cả về thể lực và trí lực cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Dĩ nhiên, hai tư cách này tồn tại không tách rời nhau vì lẽ khi khai thác cácnguồn lực khác con người tất yếu phải sử dụng trí lực và thể lực của mình đểquyết định mục tiêu, cách thức, nội dung và hiệu quả khai thác các nguồnlực
2.1.1.3 Nguồn lao động (hay lực lượng lao động)
Là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế có tham gia laođộng (đang có việc làm) và những người chưa có việc làm nhưng đang tíchcực tìm việc làm Cũng như nguồn nhân lực, nguồn lao động được thể hiện ở
Trang 20và sự phát triển của quốc gia Vậy vốn con người là gì và tầm quan trọng thếnào là vấn đề cần phải làm rõ.
Trong từ điển kinh tế, vốn (capital) được định nghĩa là giá trị của tưbản hay hàng hoá đầu tư được sử dụng vào kinh doanh mang lại lợi ích.Theo định nghĩa này vốn là vốn hữu hình nhưng vốn con người theo MincerJacob (1974) cũng giống như vốn hữu hình, vốn con người thì con ngườiphải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc
về mỗi người và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập TheoNguyễn Văn Ngọc (2006) thì vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ sựhiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xãhội Như vậy về mặt nội dung thì không có gì khác nhau vì những hiểu biết
và kinh nghiệm được hình thành và tích luỹ trong quá trình học tập và laođộng
Theo tạp chí của Đảng cộng sản Việt Nam thì Vốn con người là “mặtchất” của nguồn nhân lực, cũng như là “mặt chất” của nguồn lao động Vốncon người bao gồm năng lực, tri thức và kỹ năng của con người Phần lớnvốn con người thông qua giáo dục đào tạo để hình thành tri thức và các kỹnăng xã hội của con người
Như vậy, vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệmtích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động.Vốn con người cũng hao mòn và tốn chi phí để đầu tư hình thành Nguồnvốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vàosản xuất và được phản ánh thông qua năng suất lao động và hiệu quả côngviệc của họ Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưngvốn con người là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vàotăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước
2.1.2.2 Phân biệt vốn con người và vốn hữu hình
Trang 21Giữa hai loại vốn này có một đặc điểm chung nhất đó là: Chúng tănglên nhờ hoạt động đầu tư của chủ thể và theo thời gian đều bị hao mòn Hoạtđộng đầu tư làm tăng vốn hữu hình nhờ mua sắm, trang bị thêm máy móc,nhà xưởng … còn hoạt động đầu tư vào vốn con người nhờ đầu tư học hành.
Sự hao mòn của chúng ở đây cùng là hao mòn vô hình dưới sự ảnh hưởngcủa tiến bộ khoa học công nghệ Tiến bộ công nghệ làm tư bản hữu hình lạchậu và mất giá, còn những kiến thức tích luỹ được cũng bị lạc hậu trong qúatrình đó nếu không được cập nhật thường xuyên thông qua quá trình đào tạolại hay tiếp tục tự học tập để bổ sung tự hoàn thiện
Nhưng chúng cũng có những điểm khác nhau nhất định như: Thứnhất, vốn con người là vốn vô hình gắn với người sở hữu nó, và chỉ được sửdụng khi người chủ của nó tham gia vào quá trình sản xuất Loại vốn nàykhông thể mang cho vay hay thế chấp như vốn hữu hình Thứ hai, vốn nàygắn với người sở hữu không chia sẻ và đầu tư dàn trải tránh rủi ro được Thứ
ba, vốn con người dễ dịch chuyển hơn và động hơn
2.1.2.3 Yếu tố cấu thành vốn con người
Vốn con người được cấu thành từ 3 nhân tố chính (1) năng lực banđầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người,(2) những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích luỹthông qua quá trình đào tạo chính quy, (3) các kỹ năng, khả năng chuyênmôn, những kinh nghiệm tích luỹ được từ quá trình sống và làm việc Nănglực ban đầu nhận được từ cha mẹ và các điều kiện của gia đình và xã hội khichăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở Khi đi học để có năng lực thìngười ta phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trongcuộc sống làm việc nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao
2.1.2.4 Vai trò của vốn con người
Trang 22a, Vai trò của vốn con người thể hiện của thông qua nguồn lực con người
Như chúng ta đã biết, xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối quyếtđịnh sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lựclượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất hay nói cách khác,gồm yếu tố người và yếu tố vật của quá trình sản xuất Yếu tố vật ở đây tưliệu lao động và đối tượng lao động trong đó tư liệu lao động là những yếu
tố mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động và phục vụ quátrình sản xuất như công cụ lao động, phương tiện vận chuyển, nhà kho, nhàxưởng,… Trong tư liệu lao động, công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất
vì nó trực tiếp dẫn truyền sự tác động của con người và đối tượng lao động
và nhờ đó mà con người “nối dài” cánh tay mình để tác động vào giới tựnhiên Tư liệu lao động phản ánh trình độ phát triển của sản xuất xã hội, nó
là cơ sở quyết định sự phát triển sản xuất, là thước đo khả năng chinh phục
tự nhiên của con người Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyếtđịnh trong lực lượng sản xuất chính là con người Về điều này, Ph Ăngghen
đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệulao động, dù là tư liệu cơ giới hoá hay bất kỳ tư liệu nào khác, cũng không
đủ mà còn cần có những con người có năng lực tương xứng để sử dụng
những tư liệu đó Sở dĩ như vậy là vì, thứ nhất, nếu không có con người với
thể lực, trí lực và những năng lực phẩm chất cần thiết khác thì dù tư liệu laođộng có sức mạnh đến đâu và đối tượng lao động có phong phú như thế nào
cũng không có tác dụng, quá trình sản xuất không được thực hiện Thứ hai,
trừ đối tượng lao động gồm những loại có sẵn trong tự nhiên (thiên nhiên 1),còn tất cả các yếu tố khác trong lực lượng sản xuất từ công cụ lao động,phương tiện vận chuyển…đến đối tượng lao động đã qua chế biến (thiênnhiên 2) đều do con người sáng tạo (dĩ nhiên là trên cơ sở thiên nhiên 1)
Trang 23Thứ ba, mọi sự biến đối và phát triển của lực lượng sản xuất đều do con
người Do bản chất hoạt động của con người sáng tạo và để thoả mãn nhucầu hàng ngày càng cao, con người không ngừng cải tiến, sáng chế ra những
tư liệu lao động mới có năng suất và hiệu quả hơn, đồng thời liên tục mởrộng phạm vi đối tượng lao động, tạo ra thiên nhiên thứ hai phong phú.Cùng với điều đó, tri thức của người lao động (sự hiểu biết, năng lực sángtạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động…) cũng không ngừng được nângcao
Dưới góc độ công nghệ, con người cũng là thành tố giữ vai trò chiphối, quyết định kết cấu, sự vận hành và hiệu quả của công nghệ Thôngthường công nghệ được biểu hiện là sự kết hợp giữa “phần cứng” và “phầnmền” với một tỷ lệ nào đó Tuy nhiên, khi xem xét dưới góc độ hệ thống củacác yếu tố cấu thành thì, công nghệ được coi là tổ hợp của bốn thành phần
có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện một quá trình sản xuất nào
đó Bốn thành tố đó là: 1) máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật liệu; 2) conngười, thể hiện ở kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm có liên quan đến nghềnghiệp; 3) thông tin liên quan đến bí quyết, quy trình, phương pháp dữ liệu,thiết kế, sơ đồ, bản vẽ, công thức…; 4) tổ chức, quản lý, điều phối, tiếp thị…
Mỗi thành phần công nghệ nói trên có vai trò và chức năng riêng củamình Thành phần máy móc thiết bị là xương sống nhưng nó lại do conngười chế tạo ra, lắp đặt và vận hành Thành phần thông tin là cơ sở hướngdẫn người lao động đưa ra các quyết định vận hành thiết bị trong quá trìnhsản xuất Thành phần tổ chức có nhiệm vụ bố trí sắp xếp, điều phối, liên kếtcác thành phần của công nghệ, kích thích người lao động để nâng cao hiệuquả hoạt động sản xuất Phải nói rằng, thành phần nào cũng quan trọng và tấtyếu, song thành phần con người giữ vị trí quan trọng nhất và được ví nhưchìa khoá của công nghệ Bởi vì, các thành phần khác dù có hiện đại, phức
Trang 24tạp, tinh vi đến đâu thì cũng đều do con người sáng tạo ra, vả lại, nếu không
có con người thì hết thảy chúng đều không có ý nghĩa Thực tế, cho thấycùng một thiết bị nhập về nhưng ở các cơ sở sản xuất khác nhau thì lại cho
ra các sản phẩm với chất lượng khác nhau Nói cách khác, để có một sảnphẩm đảm bảo chất lượng, được thị trường chấp nhận, thì việc có thiết bị,máy móc tốt chưa đủ mà còn phải có con người có tay nghề phù hợp, nắmđược bí quyết, có một bộ máy quản lý năng động, đủ sức tổ chức sản xuất cóhiệu quả, đáp ứng được yêu cầu thị trường… Điều này đòi hỏi một quanđiểm toàn diện, đồng bộ, đồng thời đặc biệt quan tâm yếu tố con người trongxây dựng và phát triển công nghệ ở thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay, khi công nghệthật sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trênthị trường quốc tế, khi tỷ lệ “phần mềm” trong công nghệ ngày càng làm giatăng giá trị sản phẩm
Xét dưới góc độ nguồn lực, trong quan hệ với các nguồn lực khác,nguồn lực con người cũng tỏ rõ vai trò quyết định của mình Điều này thểhiện ở chỗ các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,
… tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và ýnghĩa khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ýthức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, cóchí tuệ và ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại vớinhau, tạo thành sức mạnh tổng lực, cùng tác động vào quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo,khai thác của con người và hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi íchcủa con người, nếu con người biết tác động và chi phối chúng
Ai cũng biết rằng, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải có vốn,hơn thế nữa phải có lượng vốn rất lớn Do đó, cả nhà nước lẫn mọi doanh
Trang 25nghiệp đều bằng mọi biện pháp để thu hút vốn phục vụ cho quá trình sảnxuất và kinh doanh Tuy nhiên, vốn chỉ phát huy tác dụng, trở thành nguồnlực quan trọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những conngười có năng lực và phẩm chất, biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quảcao Thiếu những năng lực và phẩm chất cần thiết thì dù có nhiều vốn cũngkhông đem lại hiệu quả, thậm chí còn gây nên những tổn thất to lớn đến tàisản của mỗi cá nhân, tập thể và tài sản quốc gia Điều đó cũng có nghĩa là,vốn chỉ có sức mạnh một khi thông qua trí tuệ và lao động của con người Vìthế, sẽ là sai lầm nếu chỉ biết kêu gọi vốn đầu tư, thu hút vốn bằng mọi giá
mà không quan tâm đào tạo những người có đủ năng lực tương xứng vớinguồn vốn đó
Tự nhiên là nơi mà con người và xã hội tồn tại Giữa xã hội và tựnhiên thường xuyên diễn ra sự trao đổi vật chất được thực hiện trong quátrình lao động sản xuất – như C Mác đã chỉ ra Do vậy, tài nguyên thiênnhiên và vị trí địa lý của mỗi nước là những nguồn lực tự nhiên, quan trọng,
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và mọi sinh hoạt nói chung, đến quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởngcủa những nguồn lực này còn tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượngsản xuất mà trước hết là ở khả năng khai thác và sử dụng chúng Trí tuệ vànăng lực của con người càng phát triển, khả năng nhận thức và cải biến tựnhiên của con người càng cao thì trình độ chinh phục tự nhiên của con ngườicàng lớn Nói cách khác, nếu con người biết cách khai thác thì sự giàu có vềtài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về vị trí địa lý sẽ là những nguồn lựcquan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là tronggiai đoạn đầu của sự phát triển Ngược lại, nếu con người chỉ biết khai tháctheo kiểu “tước đoạt tự nhiên”, không biết tái tạo tự nhiên thì sẽ làm cho tựnhiên cạn kiệt, gây nên thảm hoạ về môi trường sinh thái và đến một lúc nào
Trang 26đó, như Ph Ăngghen nói, tự nhiên sẽ “trả thù” lại con người Bởi vì, “…Nếucanh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn mộtcách có ý thức thì sẽ để lại sau nó đất hoang…”
Như vậy, các nguồn lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđều quan trọng, nhưng xét đến cùng, nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và laođộng của con người thì mọi nguồn lực đều trở nệ vô nghĩa, thậm chí ngay cảkhái niệm “nguồn lực” cũng không còn lý do để tồn tại Sự khẳng định nàykhông chỉ nói lên vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quan hệ
so sánh với các nguồn lực khác, mà còn phản ánh một đặc điểm quan trọnghàng đầu của nó, đó là: nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất mà nhờ
nó, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cựcđối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với ý nghĩa đó, nguồn lựccon người là yếu tố tất yếu, không thể thay thế được
b, Sức mạnh trí tuệ của vốn con người trong điều kiện hiện nay
Kể từ khi loài người ra đời, ở mọi quá giai đoạn lịch sử, trí tuệ luôn vóvai trò to lớn đối với cuộc sống con người và sự phát triển xã hội Để tồn tại
và phát triển, con người phải hoạt động, phải tác động vào tự nhiên, cải biến
tự nhiên thành của cải xã hội để thoả mãn chu cầu của mình, tức là phải laođộng Trong quá trình lao động, hoạt động của con người luôn được chỉ đạo,hướng dẫn, điều kiển bởi ý thức, đặc biệt là tri thức, vì tri thức là cái cốt lõicủa ý thức, là phương thức tồn tại của ý thức Sức mạnh của tri thức, của trítuệ được phản ánh qua sự phát triển của lịch sử xã hội mà trước hết là ở sựphát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ được vật chất hoá qua sự pháttriển không ngừng và mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Sự phát triển này làkết quả của chính hoạt động có ý thức của con người được tích luỹ qua cácthế hệ Nói cách khác, lực lượng sản xuất càng phát triển hiện đại bao nhiêuthì càng nói lên sức mạnh kỳ diệu của trí tuệ con người bấy nhiêu, nghĩa là,
Trang 27trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thểhoá trở thành lực lượng vật chất Chính nhờ sức mạnh của trí tuệ mà conngười đã bay vào vũ trụ bằng đôi cánh của tư duy, chứ không phải bằng sứcmạnh của cơ bắp, đã tạo nên những nền văn minh nông nghiệp, văn minhcông nghiệp, văn minh hậu công nghiệp, làm thay đổi hẳn bộ mặt trái đất.
Đó chính là vai trò và sức mạnh của ý thức, của trí tuệ đối với hoạt độngthực tiễn của con người trong việc nhận thức và cải biến xã hội
Ngày nay, những tiến bộ khoa học – công nghệ do trí tuệ con ngườitạo ra đang làm thay đổi mạnh mẽ sản xuất và lịch sử phát triển của xã hội,trí tuệ trở thành yếu tố khởi động cho guồng máy sản xuất hoạt động theodạng thức mới Đó là nền sản xuất tự động hoá với sự gia tăng nhanh chónghàm lượng trí tuệ, sử dụng các thiết bị máy móc hiện đại, vận hành đơn giản,nhưng hiệu suất lại tăng lên gấp bội, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm hao phí
và hạn chế ô nhiễm môi trường Nếu những năm đầu của thế kỷ XX tỷ lệ laođộng chân tay trong sản phẩm là 9/10 thì bước vào những năm 90, tỷ lệ đó
đã giảm xuống chỉ còn 1/5, nhưng khối lượng sản phẩm đạt được đã tăng lêngập 50 lần so với 80 năm về trước Theo dự kiến, đến năm 2010, tỷ lệ laođộng chân tay chỉ còn 1/10 Hiện nay, riêng ngành công nghiệp vi điện tử,nguyên liệu chỉ chiếm 1- 3% giá thành, sức lao động cơ bắp chiếm 12%, còn85% thuộc về tri thức, bí quyết công nghệ, chế thử… Nghĩa là, những côngnghệ sản xuất hiện đại có chứa hàm lượng trí tuệ, chất xám rất cao đang trởthành xu thế phổ biến Điều này đang diễn ra ở các nền kinh tế của các nướccông nghiệp phát triển, nơi mà nguồn lợi thu được từ lao động chất xámchiếm tới 1/2 tổng tài sản quốc gia, ví như ở Nhật Bản, riêng nguồn lợi dotin học mang lại đã chiếm tới 40%
Nhờ sức mạnh của trí tuệ, thông qua khoa học và công nghệ mà conngười ngày càng cải tạo thiên nhiên có hiệu quả hơn, tạo ra những đối tượng
Trang 28lao động mới vốn không có sẵn trong tự nhiên Đó là việc tạo ra những vậtliệu, nguyên liệu và nhiên liệu mới, hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào việckhai thác các nguồn tài nguyên truyền thống trong tự nhiên Hay ngoài việc
sử dụng các vật liệu tự nhiên, con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu nhântạo mới thay thế có hiệu quả cho các vật liệu tự nhiên khi mà các vật liệu tựnhiên đang bị cạn kiệt dần Ngoài ra, cuộc cách mạng về công nghệ sinh họcvới những thành tựu của nó cũng đang được áp dụng rộng rãi trong các lĩnhvực công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá chất, bảo vệ môi trường sinh thái…Đặc biệt nó không chỉ tạo ra những giống cây trồng vật nuôi có nhiều ưuđiểm mong muốn, mà còn góp phần hoàn thiện con người hơn về mặt sinhhọc Như vậy, cuộc cách mạng về năng lượng và công nghệ vật liệu mới , vềcông nghệ sinh học… do trí tuệ con người tạo ra đang làm thay đổi căn bảngiá trị của các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều này cho phép lý giải tạisao có khá nhiều nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, khó khăn về điềukiện tự nhiên, nhưng lại không nghèo về tư liệu lao động và đối tượng laođộng, nói một cách khác là không nghèo về lực lượng sản xuất và nền sảnxuất xã hội khá phát triển…
Trí tuệ hoá lao động trở thành xu thế phổ biến Điều này không chỉ thểhiện qua hàm lượng trí tuệ, chất xám chiếm chiếm tỷ trọng lớn trong giáthành sản phẩm, mà còn phản ánh qua sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nềnkinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu Các ngành có trình độ công nghệ caonhư điện tử, vi điện tử, quang dẫn, siêu dẫn, công nghệ sinh học… được tậptrung phát triển, các lĩnh vực sản xuất phi vật chất ngày càng chiếm tỷ trọngđáng kể trong nền kinh tế quốc dân Cùng với điều đó, cơ cấu lao động cũngthay đổi theo hướng trí tuệ tăng nhanh, tầng lớp trí thức, nhân viên và côngnhân, nông dân có tri thức ngày càng đông đảo Đặc biệt là phương thứchoạt động của con người thay đổi một cách căn bản, từ chỗ tập trung chủ
Trang 29yếu vào khai thác nguồn lực tự nhiên và lao động cơ bắp sang khai thác phổbiến nguồn lao động trí tuệ Đó là quá trình thay vì tiêu hao các nguồn vậtchất khổng lồ bằng việc sử dụng kho thông tin và tri thức ngày càng có giátrị áp đảo Với sự giàu có chưa từng thấy và không ngừng gia tăng các giá trịtrí tuệ, giờ đây đối tượng khai thác được chuyển vào chính bản thân conngười Vì lẽ đó, ngày nay sự giàu có của một nước đồng nghĩa với sự giàu
có của trí tuệ, sức mạnh của một nước đồng nghĩa với sức mạnh của trí tuệ
Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, yếu tố vốn hữuhình tuy còn giữ vai trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn côngnghiệp hoá Thay vào đó là vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn conngười ngày càng lớn hơn Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty
vì được tính vào giá trị của họ, và hình thành nên vốn vô hình của quốc gia.Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong qúa trình phát triểnkinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn conngười là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các laođộng “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm, (2) đó là “kiến thức đểtạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế” (Mincer Jacob,1989) Ngoài ra, người ta đã đưa vốn con người như một yếu tố đầu vào đểphân tích tăng trưởng kinh tế và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giốngnhư vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn Tuy nhiên, nếu đầu tưhình thành vốn con người chưa tốt không hiệu quả thì nguồn vốn này khôngtác động tích cực mà lại làm giảm tăng trưởng Theo cách tiếp cận thu nhậpGDP của nền kinh tế bằng tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế,khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêu này Borjas,George (2005) thông qua mô hình giáo dục chỉ ra ảnh hưởng tích cực củagiáo dục tới thu nhập
Trang 30Tóm lại trong điều kiện ngày nay, trí tuệ con người giữ vai tròquyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, nó là tài nguyên của mọi tài nguyên
và trí tuệ hoá lao động đang trở thành xu thế phổ biến Đây không chỉ là mộtđặc điểm quan trọng của trí tuệ, mà còn nói lên vị trí và sức mạnh của trí tuệ,của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Vì vậy, để thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hơn lúc nào
hế, chúng ta phải nhanh chón nâng cao năng lực trí tuệ, vốn văn hoá, kỹnăng và trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho người lao động
2.1.3 Vai trò của vốn con người đối với phát triển sản xuất và tiêu thụ đào cảnh
2.1.3.1 Kỹ thuật sản xuất
T1 âm lịch trồng, 1tháng cắt tỉa 1 lần thì bón 1 lần, nếu định cắt tỉa thìbón phân trước 3 ngày để cây có lực sẽ nhanh mọc nhánh, cắt tỉa xong thì lạiphun thuốc kích thích ra mầm
Bón lót lúc làm đất, bón thúc lúc thấy cây vàng yếu là bón
Trừ sâu định kỳ, nửa tháng phun một lần, phun với liều lượng nhẹ15/8 khoanh gốc, từ đây không được chăm bón, không tưới phân, chỉphun thuốc sâu thôi
1/11 tuốt lá, lúc này không phun thuốc nữa
2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ đào cảnh
a, Điều kiện thời tiết, tự nhiên, đất đai:
Đất đai là yếu tố không thể thiếu cũng như không thể thay thế trongsản xuất nông nghiệp, để cây trồng cho năng suất, chất lượng sản phẩm caoyêu cầu con người phải có những phân bổ phù hợp “đất nào cây ấy”, đàocảnh cũng vậy, là loại cây rất kén đất, không phải phần đa các loại đất đềutrồng được đào, muốn có đào đẹp yêu cầu đất phải là loại pha cát, khôthoáng nhưng phải đủ ẩm Nếu đất trũng, quá ẩm, cây sẽ bị úng và chết trong
Trang 31thời gian ngắn, còn đất khô không ẩm thì cây không lớn được, còi cọc, hoakém, và không cho năng suất, chất lượng
Nếu như với nhiều loại nông sản, cho sản phẩm sớm, hay muộn so vớichính vụ thì sản phẩm vẫn có thể tiêu thụ được, thậm chí giá cả còn cao hơn
vụ chính, đối với đào cảnh, cho hoa nở đúng tết nguyên đán là yếu tố đầutiên quyết định kết quả, sự thành công cũng như thất bại của người trồng đàotrong một năm vất vả Cũng như các loại cây trồng khác, trồng đào được coi
là nghề “đánh bạc với trời” Hoa nở vào dịp tết hay không? lại phụ thuộc chủyếu vào diễn biến nhiệt độ của thời tiết Nhiệt độ thích hợp vào thời giancuối năm tạo điều kiện thích hợp cho đào ra hoa là 17 – 18oC Nếu nhiệt độbiến đổi liên tục, thời gian gần tết trời rét đậm, rét hại nhiều nụ đào thường
bị “két”, không phát triển và bung hoa ra được, còn nếu trời ấm nắng nhiều,
nụ lại phát triển rất nhanh, hoa sẽ nở và tàn sớm trước tết Sự bất lợi của thờitiết, đặc biệt là vấn đề về nhiệt độ quá ấm hay quá lạnh đều gây khó khăn vàtổn thất cho người trồng đào, kể cả với những người đã có kỹ thuật, kinhnghiệm nhiều năm trong nghề
b, Con người:
Cây đào, nếu không có bàn tay con người chăm sóc, sẽ có tán xấu, rahoa không đúng dịp, không cho giá trị thẩm mỹ cũng như giá trị kinh tế Vìthế, để một cây đào có dáng đẹp, hoa nhiều, tiêu thụ vào dịp tết, đòi hỏingười trồng đào phải có những kiến thức, kinh nghiệm nhất định trong tạodáng, tạo thế và xử lý ra hoa Chẳng hạn, từ một cây đào giống có tán lá tựnhiên (đối với đào tơ) hoặc đã được tạo sẵn (đối với đào trồng lại năm 2,năm 3…), người trồng đào sẽ phải duy trì, củng cố hoặc phát triển tạo thếcây mới đẹp hơn trên cơ sở hiểu biết được hình dáng các loại thế cây cơ bảnqua học hỏi ở tài liệu, kinh nghiệm của người khác và thực tế sản xuất củabản thân Ví dụ: Thế long giáng hình con rồng sà xuống mặt đất, thế phu thê:
Trang 32hai cành cấp 1 quấn quýt lấy nhau, thế quần tụ: tán cao (biểu tượng của cha)tạo bởi thân chính, cao, các tán phụ biểu tượng cho các con, cháu) bao xungquanh tạo bằng những cành thấp nhỏ hơn Thế phức tạp sẽ tốn nhiều thờigian, công phu nhưng lại có giá trị kinh tế cao khi bán ra thị trường Còn xử
lý nở hoa đúng dịp tết là một bí quyết riêng của người trồng đào, nó phụthuộc vào bề dày kinh nghiệm, tay nghề của từng người, tuy thường có một
số biện pháp riêng biệt hay phối hợp với nhau nhưng phải còn tuỳ năm(nhuận hay thường), tuỳ thời tiết (thuận hoặc không), tuỳ cây (sinh trưởngtốt hay xấu) mà linh động áp dụng
Trang 33với đào cảnh nơi đây ngày càng nhiều cả về số và chất lượng, chính là mộtthử thách, gây khó khăn trong việc phát triển đào cảnh nơi đây.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới và tại Việt Nam
2.1.1.1 Trên thế giới:
Trước đây, sự giàu có, sức mạnh của một quốc gia, một dân tộcthường được hiểu đồng nghĩa với sự phong phú, giàu có của các nguồn tàilực, hoặc được đánh giá thông qua khối lượng các nguồn tài nguyên thiênnhiên Còn ngày nay, nhờ thành tựu to lớn của khoa học công nghệ, sự giàu
có của mỗi nước không chỉ đơn giản đo bằng lượng của cải tài nguyên thiênnhiên, một nước nghèo về của cải tự nhiên vẫn có thể trở thành một nướcgiàu mạnh nếu ở đó có được chiến lược phát triển đúng cùng với nguồn lựccon người có chất lượng cao và được khai thác hợp lý Các nước côngnghiệp mới châu Á là những chững cứ xác thực cho điều này Các nước vàvùng lãnh thổ - Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Kông và Đài Loan (cả nước NhậtBản trước đây) đều không có mỏ than hay mỏ sắt nhưng lại xây dựng đượcngành luyện kim hùng hậu vào bậc nhất thế giới, trong khi những nước cónhiều mỏ sắt hay mỏ than (như Libêria, Ghinê, Côlômbia…) thì cho đến nayvẫn không xây dựng được công trình nào tương tự Hay vào những năm 50của thế kỷ trước, thu nhập bình quân/đầu người của Hàn Quốc và Ghana làtương đương, nhưng đến những năm 90, Hàn Quốc đã phát triển vượt 6 lần
Sự thành công của của các nước công nghiệp mới Châu Á do nhiều nguyênnhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân mang tính đặc trưng chung, đó là
họ đã sớm nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con người vàđầu tư thoả đáng cho chiến lực con người, đi trước một bước về giáo dục vàđào tạo, coi đó là chìa khoá của cánh cửa tăng trưởng, là điều kiện bảo đảmcho sự thắng lợi của công nghiệp hoá và đã thành công trong việc nâng cao
Trang 34dân trí, coi trọng trí thức, nâng cao năng suất và chất lượng lao động bằng tríthức Chẳng hạn, để chuẩn bị cho công nghiệp hoá, Hàn Quốc đã có kếhoạch “trí tuệ hoá” toàn dân Nhờ vậy, ngay từ năm 1960 họ đã đạt được100% lao động có văn hoá cấp 1, đến năm 1980 thì 94% người lao động đãtốt nghiệp cấp 2, và năm 1980 họ đã đạt được mặt bằng học vấn là 8,0 lớp;chi phí cho giáo dục của họ thường chiếm trên 20% tổng chi ngân sách Hay
ở Đài Loan, trong 30 năm từ 1952 đến 1981 tổng giá trị sản phẩm quốc dântăng 26,4 lần nhưng chi phí cho giáo dục tăng hơn 90 lần… Có thể nói rằng,nền kinh tế của các nước và vùng lãnh thổ nay có sự phát triển nhanh phầnlớn nhờ vào sự phát triển nhanh của giáo dục và khoa học kỹ thuật
2.1.1.2 Kinh nghiệm của Việt Nam
Nói chung, người Việt Nam có tư chất thông minh, sáng tạo, có khảnăng vận dụng và thích ứng nhanh, đó là ưu thế nổi trội của nguồn lực conngười nước ta Tuy nhiên, phải khách quan thừa nhận rằng năng lực chuyênmôn, trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghềnghiệp của người lao động nước ta còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được cácyêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguyên nhân chính là
do mặt bằng dân trí ở nước ta còn thấp Cho đến nay đại bộ phận lao độngnước ta chưa được đào tạo đầu đủ, đến cuối năm 2003 số người được đào tạomới chỉ chiến 17,5% tổng số lao động cả nước và ở nước ta, mặc dù tàinguyên thiên nhiên cũng không đến nỗi nghèo, vị trí địa lý khá thuận lợinhưng do cách thức và trình độ khai thác lạc hậu nên hiệu quả rất thấp,không những thế mà còn để lại những ảnh hưởng xấu tới môi trường sinhthái đến mức phải cảnh báo
Điển hình trong nông nghiệp, tại sao ở các quốc gia khác, nông dânchỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại tạo ra nền nông nghiệp với sản lượng
và chất lượng sản phẩm rất cao, trong khi ở nước ta, trên 70% dân số sống
Trang 35bằng nghề nông nhưng giá trị sản xuất không cao? Câu trả lời chỉ có thể là,
vì họ được đào tạo bài bản, được học làm nông dân, còn ở nước ta, bà convẫn sản xuất chủ yếu theo kinh nghiệm, sự hỗ trợ của khoa học công nghệ và
cơ khí còn hạn chế Vẫn biết rằng, có trình độ, kiến thức, nông dân sẽ cócách làm chuyên nghiệp, hiệu quả hơn, nhưng trên thực tế ở nguồn lực conngười nước ta hiện nay, số lượng nông dân được đào tạo chiếm tỷ lệ khôngnhiều, nếu không muốn nói là trình độ nguồn nhân lực của ngành nôngnghiệp đang có vấn đề Theo GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện khoahọc kỹ thuật Nông nghiệp miền nam cho biết, hiện số nông dân đạt trình độgiỏi ở nước ta chỉ chiếm khoảng 10%, trung bình 20%, còn lại là yếu kém.Trong khi đó, kỹ thuật canh tác lại rất tuỳ tiện Nguồn lao động nông nghiệpqua đào tạo chỉ chiếm 24%, khu vực nông thôn nơi trực tiếp sản xuất lại chỉ
có 13% Có thể thấy, Hàn Quốc với chỉ 2.7 triệu ha đất nông nghiệp nhưng
họ đã làm nên kỳ tích, trong khi Việt Nam có đến 9,4 triệu ha đất nôngnghiệp nhưng giá trị sản xuất không bằng họ Theo điều tra mới nhất củaTrường Cao đẳng Nông – Lâm Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng tuy là vựalúa của miền Bắc nhưng chỉ có gần 20% nông dân biết canh tác lua đúng kỹthuật, hơn 80% còn lại làm theo kinh nghiệm “cha truyền con nối” nên rấttốn công sức, phân bón, giống mà năng suất không cao Theo GS.TS VõTòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang nhận định: “Ởnhiều nước không phải cứ làm nông nghiệp là thành nông dân, người ta chỉtrở thành nông dân thật sự khi được đào tạo bài bản, được cấp bằng hẳn hoi,còn ở Việt Nam, điều này hoàn toàn ngược lại, nông dân là đối tượng khôngđược học nghề nhiều nhất” Theo ông Trần Đức Viên, Hiệu trường TrườngĐại Học nông nghiệp Hà Nội cho biết, ngay tại Bắc Ninh, một trong nhữngtỉnh có truyền thống canh tác lúa nhưng vẫn có tới 17% số nông dân khôngbiết trồng lúa theo yêu cầu mới
Trang 36Với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, ngày nay sự trợ lực quốc tếđược coi là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của nhữngnước đang phát triển Nó là những nguồn lực bên ngoài quan trọng, gópphần đắc lực giúp các nước đang phát triển vượt qua những khó khăn banđầu, tạo đà cho sự phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những trợ giúp về kinh tếcủa các nước phát triển cho các nước đang phát triển trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ có mức độ và thường kèm theo những sức ép về
chính trị và kinh tế trên tinh thần có đi có lại Trong Báo cáo về phát triển
của thế giới, năm 1991, Ngân hàng thế giới đã cảnh tỉnh: “Một cuộc cải cách
mà không do chính mình vạch ra thì ít có cơ may thành công Nhữngchương trình cải cách mà sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào nguồn tài chínhdành cho chúng chứ không phải phụ thuộc vào lợi ích của đất nước thìthường bị thất bại do không có sự cam kết thực hiện của chính quyền” Nóicách khác, sẽ là ảo tưởng và thất bại nếu cho rằng nguồn lực nước ngoài làyếu tố quyết định quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rằng chỉ cần mởrộng “cửa” là viện trợ nước ngoài sẽ tuồn vào và do vậy tự khắc nền kinh tế
sẽ “thần kỳ” Sự phát triển của Nhật Bản cũng như của các nước côngnghiệp mới châu Á (Xingapo, lãnh thổ Hồng Kông, Hàn Quốc, lãnh thổ ĐàiLoan) và các nước Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan cho thấy, biện trợ chỉ làyếu tố ngoại sinh, thứ yếu, còn tiềm lực con người của mỗi quốc gia mới làyếu tố nội sinh, chi phối, quyết định Bởi vì những tác nhân bên ngoài chỉphát huy tác dụng thông qua các yếu tố bên trong, đặc biệt là yếu tố conngười Sự thần kỳ của Nhật Bản là kết quả của sự kết hơp kỹ thuật phươngTây gắng với văn hóa Nhật Bản biết lao động có kỹ thuật và kỷ luật cao, vớinhững giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp cùng chính sách sử dụng hữuhiệu nguồn lực con người thì dù có được viện trở 6 tỷ đôla hay hơn nữanước Nhật cũng không thể trở thành một cường quốc kinh tế như hiện nay
Trang 37Ngày nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới các hình thức khác nhauđang là phương thức có tính phổ biến trong hợp tác kinh tế quốc tế Cácnước đang phát triển muốn thông qua con đường này để thu hút vốn đầu từ,tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý Song mức độ tiếp thu và hiệuquả của nó lại phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của đội ngũ lao động Điềunày ít nhiều đã được minh chứng thông qua thực tiễn hoạt động đầu tư trựctiếp của nước ngoài vào nước ta trong những năm vừa qua Chẳng hạn, dothiếu hiểu biết hoặc yếu kém về phẩm chất đạo đức của một số cán bộ ViệtNam trong các xí nghiệp liên doanh, phía Việt Nam đã nhập khẩu nhiều thiết
bị máy móc lạc hậu không đảm bảovề yêu cầu chất lượng với giá cao, hay
do hạn chế về trình độ chuyên môn và ngoại ngữ nên người lao động ViệtNam chưa chủ động khai thác tốt, có hiệu quả những công nghệ và kinhnghiệm quản lý tiên tiến,… Thực tế cho thấy, hàng trăm nước lạc hậu có thể
kế thừa những kinh nghiệp đồ sộ và sự trợ giúp bên ngoài của những nướcphát triển, nhưng số nước thành công không nhiều Xin nhấn mạnh rằngnguồn lực bên ngoài tuy quan trọng nhưng chỉ là sự hỗ trợ, giúp đỡ, khôngthể thay thế cho vị trí quyết định của nguồn lực bên trong Về nguyên tắc,việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải dựa vào cácnguồn lực trong nước là chủ yếu Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳkhoá VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Để công nghiệp hoá,hiện đại hoá, cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với việc sử dụng vốn cóhiệu quả Trong đó, nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn từ bênngoài là quan trọng” Nói một cách tổng quát, sự trợ lực quốc tế (trong đóhợp tác và đầu tư nước ngoài là chủ yếu) là nguồn lực bên ngoài quan trọng
vì nó tạo ra “cú huých” kinh tế, nhất là với các nước bước vào công nghiệphoá, hiện đại hoá từ điểm xuất phát thấp như nước ta, nhưng sức mạnh của
“cú huých” đó đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào là còn phụ
Trang 38thuộc vào yếu tố con người của nước tiếp nhận nguồn lực đó Trong tác
phẩm Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, nhà sử học Mỹ nổi tiếng
Paul Kennedy cũng cho rằng: “Sức mạnh của một quốc gia – dân tộc…trước hết bao gồm bản thân quốc gia đó: những con người với những tàinăng, nghị lực, tham vọng, kỷ luật, sáng kiến của họ”
2.2.2 Một số nghiên cứu có liên quan
2.2.2.1 Các nghiên cứu về vai trò vốn con người và thu nhập của lao động
Sự nhìn nhận giáo dục là một sự đầu tư bắt nguồn từ thời Adam Smith(1776) trong tác phẩm The Wealth of Nations, vào cuối thế kỷ 18 Từ lâucác nhà kinh tế đã quan tâm đến vai trò của vốn con người trong phát triểnkinh tế và trong các quá trình sản xuất (Becker – giáo sư Đại Chicago, giảiNobel kinh tế 1992, khai triển vào năm 1962, Kendrick, học 1976, Schultz,1961)
Cơ sở lý thuyết vốn con người là những sự đầu tư vào con người đểgia tăng năng suất lao động của họ (Từ điển kinh tế hiện đại Macmillan,1992) Những sự đầu tư này bao gồm đào tạo trong trường và đào tạo trongquá trình làm việc Lý thuyết vốn con người là nền tảng của nhiều phát triểncủa các lý thuyết vốn kinh tế Những đóng góp này có thể được tóm tắt nhưsau: “Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinhtế: (1) đó là các kỹ năng được đào tạo bởi giáo dục và đào tạo, vốn conngười là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các laođộng “thô” không có kỹ năng để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo
ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế” (Mincer Jacob,1989) Từ nghiên cứu của Mincer Jacob (1974) log W = β0 + β1S+ β2t + β3t2
+ biến khác Với W là mức thu nhập, s là số năm học tập, t cho biết kinh
Trang 39nghiệm thực tế mấy năm, t2 là bình phương về kinh nghiệm, đã có nhiều ướclượng lợi nhuận từ giáo dục và chỉ ra rằng mối quan hệ giữa giáo dục và thunhập là dương Nhìn chung, kết quả của các nghiên cứu này chỉ ra rằng lợisuất giáo dục nằm trong khoảng từ 0.05 đến 0.15 Cũng có những nghiêncứu không dựa trên hàm Mincer Jacob tiếp cận dựa vào hàm Cobb –Douglas từ đó chỉ ra ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập quốc dân.
Ở Việt Nam, cách tiếp cận này đươc Đinh Phi Hổ (2003) áp dụng để nghiêncứu ảnh hưởng của kiến thức nông nghiệp tới thu nhập của nông dân ở Đồngbằng Sông Cửu Long, kết quả cho thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức độkiến thức và thu nhập là 0,272 Trong khi đó Nguyễn Chí Thiện chỉ ra ảnhhưởng của cách tiếp cập thị trường của nông dân tới thu nhập là 0,09 Nhìnchung các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra mối quan hệ dương khá chặt giữayếu tố vốn con người và thu nhập
2.2.2.2 Nghiên cứu về vốn con người và thu nhập:
Nghiên cứu về vốn con người và thu nhập của hộ sản xuất cà phê ởTây Nguyên của Bùi Quang Bình trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵngchỉ ra rằng: Trong sản xuất cà phê vai trò của chủ hộ là rất quan trọng, đây làngười đưa ra các quyết định kinh doanh của hộ Trình độ mọi mặt - vốn conngười của chủ hộ sẽ ảnh hưởng tới tính đúng đắn của các quyết định Để ướclượng mức độ ảnh hưởng yếu tố vốn con người tới thu nhập của hộ sản xuất
cà phê, nghiên cứu đã sử dụng mô hình của Mincer Jacob Và để xây dựng
mô hình, biến phụ thuộc thu nhập của hộ được đại diện bằng doanh thu của
hộ, số năm đi học – hay trình độ học vấn sẽ được tính số lớp học phổ thông
đã hoàn tất Nếu người chủ hộ nào tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại họcthì số năm đi học sẽ bằng số năm phổ thông cộng với số năm học trung cấphay đại học Riêng biến kinh nghiệm các nhà nghiên cứu sử dụng số năm mà
mà chủ hộ thực tế tham gia kinh doanh cà phê Để đánh giá ảnh hưởng của
Trang 40yếu tố giới tính của chủ hộ trong mô hình có thêm biến giả (sex) Kết quả sử
lý số liệu điều tra cho thấy mô hình thoả mãn các kiểm định và không viphạm giả thiết phương sai thay đổi và hệ số tương quan trung bình Với các
hệ số tương quan cho thấy thu nhập của hộ sản xuất phụ thuộc vào trình độhọc vấn của chủ hộ Hệ số tương quan là 0,0246 nghĩa là khi học vấn tănglên một điểm thì thu nhập tăng 0,246 điểm Số năm kinh nghiệm kinh doanhcũng ảnh hưỏng thuận chiều, chủ hộ có nhiều năm kinh doanh - nhiều kinhnghiệm thì thu nhập của hộ cao điểm hơn Hệ số tương quan bằng 0,577nghĩa là nếu chủ hộ có số năm kinh nghiệm tăng 1 điểm thì thu nhập của hộtăng 0,577 điểm Tuy nhiên mức tăng sẽ chậm lại Giới tính của chủ hộ cũngảnh hưởng tới thu nhập của hộ, nếu chủ hộ là nam giới thì thu nhập của hộ
sẽ cao hơn 0,237 điểm Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là kinh doanhcây công nghiệp dài ngày như cà phê đòi hỏi người kinh doanh phải có trình
độ kỹ thuật, tổ chức và quản lý mà điều này phụ thuộc vào trình độ học vấncủa người kinh doanh Những người có học vấn cao thì khả năng tiếp cận,tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật và quản lý vào kinh doanh tốt hơn.Kinh nghiệm cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trongquá trình kinh doanh Các chủ hộ nhiều kinh nghiệm sẽ biết ra các quyếtđịnh liên quan đến tiết kiệm chi phí sản xuất, chăm sóc bảo quản và thờiđiểm mua bán… cũng tốt hơn Kinh doanh cà phê là công việc nặng nhọc vànhiều biến động thì nam giới thích hợp hơn so với phụ nữ