1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền

13 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 870,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN MẠC NGHĨA NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỨC ĐỘ PHONG PHÚ CỦA CÁC LOÀI CÁ BỐNG HỌ ELEOTRIDAE TRÊN TUYẾN SÔNG TIỀN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÍ NGUỒN LỢI THỦY SẢN 20

Trang 1

NGUYỄN MẠC NGHĨA

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỨC ĐỘ PHONG PHÚ CỦA CÁC LOÀI CÁ BỐNG HỌ

ELEOTRIDAE TRÊN TUYẾN SÔNG TIỀN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÍ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

2014

Trang 2

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỨC ĐỘ PHONG PHÚ CỦA

CÁC LOÀI CÁ BỐNG HỌ ELEOTRIDAE TRÊN TUYẾN SÔNG TIỀN

Bậc đào tạo: Đại học

Chuyên ngành: Quản lý nguồn lợi thủy sản

Năm: 2014

Số trang: 12 trang

SVTH : Nguyễn Mạc Nghĩa - MSSV: 4115135

Email: nghia115135@student.ctu.edu.vn -0907547321

GVHD: Ths Võ Thành Toàn - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ

Email: vttoan@ctu.edu.vn - 0918543361

ABSTRACT

A study on the species composition and abundance of the Eleotridae family in Tien river was conducted from September to November 2014 Fish samples were collected from trawl and also from the local markets provinces from three sampling sites in each province Catch per unit effort (CPUE) was determined by the trawl net every one month Results showed that two species

different among sampling times and locations, and ranged from 0 to 755 ind.ha-1 The high

3.5 to 16 meters, the salinity by 0‰ in studied areas should only appeared Eleotris melanosoma

TÓM TẮT

Nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ Eleotridae

được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2014 dọc theo tuyến Sông Tiền Mẫu được thu bằng lưới kéo và thu ở các chợ địa phương, mỗi khu vực thu 3 điểm CPUE được xác định bằng lưới

kéo,với chu kỳ thu mẫu 1 tháng/lần Kết quả có 2 loài cá xuất hiện gồm: Cá bống trân (Butis

các điểm (0-755 cá thể.ha-1

), CPUEw của cá có biến động lớn ở các đợt thu mẫu (0-2309,5 g.ha-1) Kết quả cho thấy pH dao động từ 5,8-6,9, nhiệt độ nước ít biến động (28,2-33,2oC), vận tốc nước

từ 0 đến 0,015 m/s, độ sâu của nước thấp nhất là 3,5 m và cao nhất là 16 m và độ mặn bằng 0‰ trong suốt đợt khảo sát nên chỉ phát hiện có cá bống trứng

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu

Họ Eleotridae là họ cá bống có thành phần loài lớn với 31 giống 177 loài

(www.fishbase.org Truy cập ngày 25/02/2014) Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) họ

Eleotridae có 7 loài gồm: cá bống trứng (Eleotris melanosoma), cá bống trân (Butis butis), cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata), cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus), cá bống đen (Bostrichus scalaris), cá bống răng cưa (Butis koilomatodon), cá bống trân (Butis humeralis) (Tran Dac Dinh et al., 2011) Sông Mê Kông là sông dài thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 10 về

tổng lượng dòng chảy (hàng năm đạt khoảng 475 tỷ m3, lưu lượng trung bình khoảng 15.000m3/s) Hạ lưu vực sông Mê Kông là một trong những vựa cá nước ngọt lớn nhất trên thế

Trang 3

giới với khoảng 850 loài cá và sản lượng khoảng 4 triệu tấn mỗi năm Vựa cá này là nguồn cung cấp protein động vật phong phú cho cư dân khu vực và sinh kế cho hàng triệu cư dân trong vùng (www.VNMK.gov.vn Lưu vực sông Mê Kông, Truy cập ngày 25/02/2014) Sông Mê Kông khi chảy xuống hạ lưu Cambodia vào Việt Nam chia thành 2 nhánh chính là Sông Tiền và Sông Hậu,

từ đó chia ra nhiều nhánh nhỏ đổ ra Biển Đông

Cá bống là nhóm cá có thành phần loài lớn nhất với 220 giống và 1.500 loài (Hoese, 2000), 600 loài phân bố ở vùng biển nông nhiệt đới và ôn đới Ở ĐBSCL họ Eleotridae có 7 loài

gồm: cá bống trứng (Eleotris melanosoma), bống trân (Butis butis), bống tượng (Oxyeleotris

marmorata), bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus), bống đen (Bostrichus scalaris), bống răng

cưa (Butis koilomatodon) và bống cấu (Butis humeralis) (Tran Dac Dinh et al., 2011) Trong các

loài cá khai thác được, họ cá bống Eleotridae cũng đóng vai trò quan trọng; chúng có vòng đời

và phân bố phụ thuộc vào hệ sinh thái của sông Mêkong (Poulsen et al., 2003) Có rất nhiều loài

cá bống đến đây đẻ trứng và hoàn thành vòng đời của mình (Balaber et al., 2000), trước đây chỉ

có 4 loài đã được Mai Đình Yên (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và

Nguyễn Nhật Thi (2000) mô tả về hình thái Gần đây, Trần Đắc Định và ctv (2013) cho thấy có 7

loài cá bống thuộc họ Eleotridae phân bố ở vùng ĐBSCL Tuy nhiên, cho đến nay chưa có kết quả nghiên cứu nào về sự phân bố của chúng dọc trên tuyến sông Tiền Vì vậy, nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ Eleotridae phân bố trên sông Tiền đã được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm xác định thành phần loài cá và mức độ phong phú của họ bống Eleotridae phân bố trên tuyến sông Tiền, góp phần làm đa dạng và là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu và giảng dạy đối với các nhóm loài cá bống nói chung và cá bống họ Eleotridae nói riêng

1.3 Nội dung nghiên cứu

Có 3 nội dung nghiên cứu gồm:

1) Xác định thành phần các loài cá và mức độ phong phú tương đối của họ cá bống Eleotridae phân bố trên tuyến sông Tiền

2) Xác định biến động một số yếu tố sinh thái có liên quan đến phân bố của cá bống (nhiệt độ,

độ mặn, pH, độ sâu, dòng chảy,…)

3) Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng của một số loài cá bống kinh tế thuộc họ Eleotridae

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Mẫu cá bống được thu từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2014, chu kỳ thu mẫu 1 tháng/lần ở tuyến sông Tiền, tập trung vào con nước triều cường của các tháng, mỗi tỉnh thu 3 điểm (Hình 2.1) Vị Trí điểm thu được xác định bằng GPS (Global Position System), gồm ba khu vực sau: + Đồng Tháp: Điểm 1(N:10o19.475' ; E:105o41.597'), Điểm 2(N:10o19.550'; E:105o42.183'), Điểm 3 (N:10o

19.394' ; E:105o41.527')

+ Vĩnh Long: Điểm 4 (N:10o12.517' ; E: 106o7.579'), Điểm 5 (N: 10o12.034' ; E: 106o8.585'), Điểm 6 (N:10o

12.437' ;E: 106o8.032')

+ Trà Vinh: Điểm 7 (N:10o03.114' ; E:106o17.556'), Điểm 8 (N: 10o03.196' ;E: 106o17.425'), Điểm 9(N: 10o

02.538' ;E: 106o16.571')

Trang 4

Hình 1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu trên tuyến Sông Tiền

2.2 Phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu

2.2.1 Thành phần loài: Thành phần loài cá

được thu mẫu bằng lưới kéo (ghe cào) và thu ở

các chợ địa phương tại Bến Tre thuộc tuyến

Sông Tiền Mẫu sau khi thu được bảo quản lạnh

và đưa về phòng thí nghiệm nguồn lợi thủy sản,

Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ phân

tích Ngư cụ thu mẫu để xác định mức độ phong

phú cá bống là lưới cào khung với chiều rộng

khung lưới là 0,5 m và chiều cao khung lưới là

4,5 m (Hình 2.2) Hình 2: Ghe lưới cào dung trong thu mẫu

Thu ngẫu nhiên các cá thể để xác định các chỉ tiêu hình thái bên ngoài gồm: tia vi đuôi (C); tia vi lưng (D); tia vi ngực (P); tia vi bụng (V); tia vi hậu môn (A) và xác định các tỉ lệ: Dài chuẩn/Dài đầu; Dài chuẩn/Cao thân; Dài đầu/Đường kính mắt; Dài đầu/Dài mõm; Dài đầu/Khoảng cách 2 mắt; Dài cuống đuôi/Cao cuống đuôi; Cao thân/Cao cuống đuôi(hình 3) Từ

đó, việc định danh loài này được dựa theo các công trình đã được công bố như: Mai Đình Yên và

ctv (1992); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và Trần Đắc Định và ctv (2013)

Địa điểm thu mẫu

Trang 5

Hình 3: Các chỉ tiêu đo hình thái (Nguồn:Fish of the Cambodian Mekong,1996)

2.2.2 Mức độ phong phú tương đối (CPUE) và một số chỉ tiêu môi trường nước

CPUE được đánh giá qua ba khu vực khảo sát dọc theo tuyến Sông Tiền (Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh) Mỗi khu vực thu 3 điểm vào tháng 9 và tháng 11 năm 2014 Xác định

mức độ phong phú của cá dựa theo công thức: CPUE=W/v*a (g.ha-1 và cá thể.ha-1); Trong đó: CPUE là sản lượng trên một đơn vị khai thác, W (g) là sản lượng của một mẻ khai thác bằng lưới

kéo, v là hệ số xác suất khai thác được và dựa theo kết quả nghiên cứu của King (1995) (v = 0,5),

a là diện tích quét của lưới kéo (m2) và được xác định theo công thức: a = W*TV*D (FAO, 1992) (W: chiều rộng của lưới, TV: tốc độ dắt lưới và D là thời gian dắt lưới của mỗi mẻ lưới kéo)(trích dẫn bởi Võ Thành Toàn và Hà Phước Hùng, 2013) Ba chỉ tiêu môi trường nước như: pH, nhiệt

độ và độ mặn được xác định bằng pH kế, nhiệt kế, khúc xạ kế tại các điểm thu mẫu

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài cá bống họ Eleotridae và một số chỉ tiêu hình thái

Kết quả nghiên xác định được 2 loài cá bống họ Eleotridae gồm: cá bống trứng (Eleotris melanosoma ), Cá bống trân (B butis) xuất hiện chỉ ở khu vực hạ nguồn của Sông Tiền (Bến Tre)

và ở đây cũng không xác định có cá bống trứng (Bảng 1) Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp

với nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2013)

Bảng 1: Danh sách các loài cá bống đen xuất hiện trên tuyến Sông Tiền thu bằng lưới kéo

St

Tên địa phương

Đồng Tháp

Vĩnh Long

Trà Vinh

Bến Tre

1 Butis butis (Hamilton, 1822) Cá bống trân - - - +

2

Eleotris melanosoma (Bleeker,

3

Oxyeleotris urophthalmus

Ghi chú: (-) không xuất hiện, (+) xuất hiện

+ Loài Butis butis (Hamilton, 1822)

Số mẫu phân tích: 30; Kích thước mẫu: 5,8-10,6 cm

Đặc điểm hình thái: Đầu dẹp, mõm nhọn và dài, hướng lên Miệng trên rộng, hàm dưới

dài hơn hàm trên và dài ra trước, răng hàm bên ngoài lớn hơn những răng bên trong Phần trước thân tròn, phần sau dẹp bên, cuống đuôi thon Lưng hơi lõm xuống ở trán Có 1 cặp xương ở giữa khoảng giữa hai ổ mắt Toàn thân và đầu phủ vảy lược, vảy phần sau to hơn phần trước Có vảy

Trang 6

trên má và giữa hai mắt Hai vây lưng và hai vây bụng tách rời nhau Vây đuôi tròn có màu vàng đen Lưng có nhiều đốm vàng Bụng có nhiều đốm màu da cam Vây lưng màu vàng xám có đốm đen Vây bụng có màu vàng cam Gốc vây hậu môn vàng

Hình 4: Cá bống trân (Butis butis (Hamilton, 1822))

Bảng 2: Số lượng các tia vây của cá bống trân

(C) vây đuôi, (V) vây bụng, (P) vây ngực, (A) vây hậu môn, (D1) vây lưng thứ nhất và (D2) vây lưng thứ hai

Bảng 3: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trân

+ Loài Eleotris melanosoma (Bleeker, 1853)

Số mẫu phân tích: 60; Kích thước mẫu: 4,6-9,6 cm

Hình 5: Cá bống trứng (Eleotris

Melanosoma (Bleeker, 1853))

Đặc điểm hình thái: Cá có đầu ngắn, to, tròn Mõm ngắn, hướng

lên, hàm dưới dài hơn hàm trên và hướng ra trước Răng nhọn, mịn Mắt nhỏ, tròn Thân tròn, phần sau thân dẹp bên, cuống đuôi thon dài Hai vây lưng tách rời nhau Cơ gốc vây ngực phát triển, hai vây bụng không dính liền nhau Đầu và thân cá có màu nâu đen, lưng thường nhạt hơn Có 1 gai cong ngược ở trước xương nắp mang (thường ẩn dưới da) Có 6 hàng nốt cảm giác dưới mắt Hai hàng nốt cảm giác gặp nhau ở cuối xương nắp mang.

Chỉ tiêu

Mai Đình Yên (1992)

Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn & Hà Phước Hùng (2013)

Nghiên cứu này

Stt Chỉ tiêu

Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn & Hà Phước Hùng (2013)

Nghiên cứu này

Trang 7

Bảng 4: Số lượng các tia vây của cá bống trứng

Chỉ

tiêu

Mai Đình Yên

(1992)

Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn & Hà Phước

Hùng (2013)

Nghiên cứu này

(C) vây đuôi, (V) vây bụng, (P) vây ngực, (A) vây hậu môn, (D1) vây lưng thứ nhất và (D2) vây lưng thứ hai

Bảng 5: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trứng

+ Loài Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1885)

Số mẫu phân tích: 30; Kích thước mẫu: 6,3-11,5 cm

Hình 6: Cá bống dừa (Oxyeleotris

urophthalmus (Bleeker, 1885))

Đặc điểm hình thái: Thân hình trụ tròn, phía sau dẹp bên

Mõm tù ngắn, hướng lên Miệng rộng và xiên Hàm dưới nhô ra Mắt tròn nhỏ, khoảng cách hai mắt rộng, gần bằng chiều dài mõm Không có râu Cuống đuôi thon dài Vẩy

cá rất nhỏ, phủ khắp thân và đầu Đầu và phần trước thân phủ vẩy tròn, phần sau phủ vẩy lược Hai vây bụng tách rời nhau Vây đuôi tròn Các vây màu vàng hoặc xám đen Phần dưới bụng có màu ửng vàng và có nhiều đốm đen vàng Toàn thân có màu đen bóng, cạnh trên của gốc vây đuôi có một đốm đen viền trắng hoặc vàng Cá thể chưa trưởng thành có các sọc vàng quanh thân

Bảng 6: Số lượng các tia vây của cá bống dừa

Chỉ

tiêu

Mai Đình Yên

(1992)

Trương Thủ Khoa & Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn & Hà Phước Hùng (2013)

Nghiên cứu này

(C) vây đuôi, (V) vây bụng, (P) vây ngực, (A) vây hậu môn, (D1) vây lưng thứ nhất và (D2) vây lưng thứ hai

Trương Thủ Khoa &

Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn &

Hà Phước Hùng (2013) Nghiên cứu này

5 Dài đầu/Khoảng cách 2 mắt 3,5 (3,0-4,6) 3,2 (2,6-4,8) 2,6 (1,5-3,8)

6 Dài cuống đuôi/Cao cuống đuôi 1,7 (1,6-1,9) 2,0 (1,0-2,9) 2,4 (1,8-3,0)

Trang 8

Bảng 7: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống dừa

3.2 Biến động các yếu tố môi trường và sản lượng (CPUE)

Năm yếu tố môi trường nước được xác định ở 3 địa điểm nghiên cứu dọc theo tuyến Sông Tiền qua 3 lần thu mẫu, kết hợp với thu mẫu nguồn lợi cá bống cho thấy có sự biến động của bốn yếu tố là pH dao động từ 5,9-8,1, nhiệt độ dao động từ 30-34,4oC, vận tốc nước từ 0-0,015 m/s, độ sâu của nước từ 3,5-16 m còn độ mặn hầu như không có sự biến động và bằng 0‰ (Hình 3.4, Hình 3.5, Hình 3.6 và Hình 3.7) Trong đó, độ mặn của nước bằng 0‰ trong suốt thời gian khảo sát và kết quả nghiên cứu này phù hợp với nhận định của Võ Thành Toàn (2013), khi

độ mặn bằng 0 thì chỉ xuất hiện cá bống trứng

Bảng 8: Biến động pH nước ở tuyến sông Tiền

Bảng 9: Biến động nhiệt độ nước ở tuyến sông Tiền

Trương Thủ Khoa &

Trần Thị Thu Hương (1993)

Võ Thành Toàn &

Hà Phước Hùng (2013)

Nghiên cứu này

5 Dài đầu/Khoảng cách 2 mắt 3,39 (3,13-3,57) 3,3 (1,8-6,0) 3,2 (1,9-4,8)

6 Dài cuống đuôi/Cao cuống đuôi 1,47(1,28-1,53) 2,0(1,2-3,6) 2,4(1,9-3,5)

Trang 9

Bảng 10: Biến động vận tốc nước ở tuyến sông Tiền

Bảng 11: Biến động độ sâu nước ở tuyến sông Tiền

Kết quả khảo sát bằng lưới kéo cho thấy chỉ có loài cá bống trứng xuất hiện và xuất hiện ở

các điểm 1, 2 và 3, các điểm còn lại cũng có xuất hiện nhưng không đáng kể.Kết quả cũng cho

thấy CPUEn của loài cá này có sự biến động lớn, cao nhất là 755 cá thể.ha-1 và thấp nhất là 0 cá

thể.ha-1 (Hình 3.8).Và kết quả cũng cho thấy số lượng cá thể.ha-1 chiếm số lượng nhiều nhất ở các

điểm thu 1, 2, 3 có sự sai khác này là do thời gian khai thác có sự khác nhau giữa các địa điểm và

được thu vào nhánh sông nhỏ, số lượng cá thể ít ở các điểm thu 4, 5, 6, 7, 8, 9 là do quá trình khai

thác trên sông lớn không thể thu cả nhánh sông và thu ngẫu nhiên Trong khi đó, CPUEw của cá

bống trứng có sự biến động giữa các đợt thu mẫu, biến động lớn nhất là đợt thu tháng 9, 10, cao

nhất là điểm 2 (2309,5 g.ha-1) (Hình 3.8)

Hình 7: CPUEn,w trung bình của cá bống trứng ở các điểm thu qua 3 tháng khảo sát

0

100

200

300

400

500

600

700

800

Điểm

Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11

0,0 500,0 1000,0 1500,0 2000,0 2500,0

Điểm

Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11

Trang 10

Hình 8: CPUEn,w trung bình của cá bống trứng ở ba khu vực thu qua 3 tháng khảo sát

3.3 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của các loài cá bống họ Eleotride

Theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004) có một nguyên lý chung đó là sự tăng trưởng của cá và các sinh vật khác có ảnh hưởng đến chiều dài của chúng Quá trình này diễn ra liên tục và đặc trưng cho từng loài, thể hiện qua phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá, tuy nhiên sự tăng trưởng của cá còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (môi trường sống, thức ăn,…)

Bảng 3.8 cho thấy mối tương quan của 2 loài cá bống đen (Eleotridae) ở dọc tuyến sông Tiền Phương trình tương quan chiều dài tổng cộng và khối lượng toàn thân của 2 loài cá bống đen phân bố ở dọc tuyến sông Tiền khá chặt chẽ với hệ số R2 dao động từ 0,920-0,951

Bảng 12: Phương trình tương quan chiều dài-khối lượng của 3 loài cá bống đen

1 Butis butis( Hamilton, 1822) Cá bống trân W=0,0076L3,1080 0,9337 30

2 Eleotris melanosoma (Bleeker, 1853) Cá bống trứng W=0,0115L3,0295 0,9510 739

3 Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1885) Cá bống dừa W=0,0112L3,0415 0.9646 33

3.3.1 Tương quan chiều dài và khối lượng của cá bống trân (Butis butis (Hamilton, 1822))

Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá bống trân được xác định dựa vào số liệu của 30 mẫu thu được Trong đó, chiều dài tổng cộng dao động từ 5,8-10,6 cm và trọng lượng toàn thân từ 1,7-10,49 g là phương trình hồi quy W=0,0076*L3,1080

với R2=0,9337 (Hình 3.10), cho thấy sự tương quan này là tương tự nhau và rất chặt chẽ (R2>0,9)

0

100

200

300

400

500

600

700

800

Đồng Tháp Vĩnh Long Trà Vinh

0,0 500,0 1000,0 1500,0 2000,0 2500,0

Đồng Tháp Vĩnh Long Trà Vinh

Ngày đăng: 16/11/2015, 23:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu trên tuyến Sông Tiền - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 1 Sơ đồ địa điểm thu mẫu trên tuyến Sông Tiền (Trang 4)
Bảng 1: Danh sách các loài cá bống đen xuất hiện trên tuyến Sông Tiền thu bằng lưới kéo - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 1 Danh sách các loài cá bống đen xuất hiện trên tuyến Sông Tiền thu bằng lưới kéo (Trang 5)
Hình 3: Các chỉ tiêu đo hình thái (Nguồn:Fish of the Cambodian Mekong,1996) - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 3 Các chỉ tiêu đo hình thái (Nguồn:Fish of the Cambodian Mekong,1996) (Trang 5)
Bảng 3: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trân - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 3 Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trân (Trang 6)
Hình 4: Cá bống trân (Butis butis (Hamilton, 1822 )) - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 4 Cá bống trân (Butis butis (Hamilton, 1822 )) (Trang 6)
Bảng 5: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trứng - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 5 Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống trứng (Trang 7)
Bảng 8: Biến động pH nước ở tuyến sông Tiền - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 8 Biến động pH nước ở tuyến sông Tiền (Trang 8)
Bảng 7: Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống dừa - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 7 Tỉ lệ mô tả giá trị đo đạc của cá bống dừa (Trang 8)
Bảng 11: Biến động độ sâu nước ở tuyến sông Tiền - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Bảng 11 Biến động độ sâu nước ở tuyến sông Tiền (Trang 9)
Hình 8: CPUE n,w  trung bình của cá bống trứng ở ba khu vực thu qua 3 tháng khảo sát - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 8 CPUE n,w trung bình của cá bống trứng ở ba khu vực thu qua 3 tháng khảo sát (Trang 10)
Hình 9: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống trân (Butis butis) - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 9 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống trân (Butis butis) (Trang 11)
Hình 10: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống trứng - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 10 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống trứng (Trang 11)
Hình 11: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống dừa - nghiên cứu thành phần loài và mức độ phong phú của các loài cá bống họ eleotridae trên tuyến sông tiền
Hình 11 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống dừa (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w