1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau

15 343 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 164,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN PHẠM THỊ CHÂM SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM RỪNG CÓ VÀ KHÔNG CÓ CHỨNG NHẬN SINH THÁI TẠI CÀ MAU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

PHẠM THỊ CHÂM

SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM RỪNG CÓ VÀ KHÔNG CÓ CHỨNG NHẬN

SINH THÁI TẠI CÀ MAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014

Trang 2

SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM RỪNG CÓ VÀ KHÔNG CÓ CHỨNG NHẬN SINH THÁI

TẠI CÀ MAU

Phạm Thị Châm, Nguyễn Thanh Phương và Võ Nam Sơn Khoa thủy sản-Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014 tại 2 huyện Năm Căn và

Ngọc Hiển của tỉnh Cà Mau Nghiên cứu này tập trung đến các chỉ tiêu tài chính của

mô hình tôm rừng chứng nhận và không có chứng nhận tại Cà Mau Thông tin số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn 60 hộ nuôi tôm Kết quả nghiên cứu cho thấy, mực nước trung bình trong mương nuôi là 1,3 m và độ sâu trung bình của trảng là 0,5 m (p<0,05) Tỷ lệ rừng của mô hình tôm rừng có chứng nhận (TR-CN) trung bình là 56,5% cao hơn tôm rừng không có chứng nhận (TR-KCN) là 45,5% (p<0,05) Mật độ thả tôm chung đối với TR-KCN khoảng 18,6 con/m 2 /năm thấp hơn TR-CN (22,6 con/m 2 /năm)(p<0,05) và nguồn giống từ các trại giống địa phương chiếm 63,3% đối với TR-CN và 70,0% đối với TR-KCN Năng suất tôm sú bình quân của mô hình TR-CN 218,0 kg/ha/năm, và TR-KCN là 192,2 kg/ha/năm Lợi nhuận của mô hình TR-CN khoảng 69,1 triệu đồng/ha/năm và TR-KCN là 56,2 triệu

đồng/ha/năm Hiệu quả chi phí của mô hình TR-CN là 3,99 lần và TR-KCN là 3,69

lần Những khó khăn của hai mô hình nuôi là thiếu vốn sản xuất, tình trạng dịch bệnh, kỹ thuật nuôi còn hạn chế và năng suất thấp

Từ khóa: Tôm sú-rừng, chứng nhận sinh thái, hiệu quả kỹ thuật-tài chính

Title: Comparation of cost-benefit efficiency of eco-certified shrimp-mangrove

system and non-eco-certified shrimp-mangrove system in Ca Mau province

Abstract

The research was carried out from August to December 2014 in two districts of Nam Can and Ngoc Hien Ca Mau province to indentify the productivity and cost-benefit of

of eco-certified/and non-eco-certified shrimp-mangrove systems in Ca Mau province Primary data information was collected by interviewing 60 shrimp farmers The study results showed that the average water level in the ditch was 1,3 m feed and an average depth of 0,5 m of grassland The ration of forest of eco-certified shrimp-mangrove system was 56,5% higher than that of non-eco certified shrimp-shrimp-mangrove system (45,5%, p<0,05) Stocking desity of non-eco-certified shrimp-mangrove system was 18,6 ind/m 2 /year lower than that of eco-certified shrimp-mangrove system (22,6 ind/m 2 /year); and seed source used from local hatcheries was 63,3% in the eco-certified shrimp-mangrove system, and was 70% in the non-eco-certified shrimp mangrove system The yield of black tiger shrimp of eco-certified shrimp mangrove system was 218,0 kg/ha/year; and the yield of non-eco certified shrimp-mangrove system was 192,2 kg/ha/year The profit of eco-certified shrimp-shrimp-mangrove system was 69,1 million/ha/year and that of non-eco certified shrimp-mangrove system was 56,2 million/ha/year Ratio of TR/TC of eco-certified shrimp-mangrove system was 3,99 times, meanwhile that of non-eco certified shrimp-mangrove system was 3,69 times The difficulties of farming in two models was lack of capital to investment production, technical and poor seed quality resulting in low shrimp yield

Key words: Black tiger shrimp – mangrove, eco-certified shrimp-mangrove system,

production efficiency

Trang 3

1 GIỚI THIỆU

Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam, việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã góp phần tạo nên hình ảnh Việt Nam với các nước trên thế giới Sản lượng thủy sản ước đạt 5.918 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước Kim ngạch xuất khẩu Thủy sản đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm 2012, giá trị xuất khẩu tôm đạt 2,5 tỷ USD, tăng gần 33,0% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm 44,0% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản (Tổng cục Thống

kê, 2013) Tôm sú đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm

2013 Cà Mau là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi tôm sú lớn nhất cả nước (rất ít nuôi thâm canh/bán thâm canh) Năm 2013 diện tích nuôi tôm sú của tỉnh là 266.228

ha (chiếm 90,0% diện tích nuôi trồng toàn tỉnh), giảm 0,2% so cùng kỳ, sản lượng tôm 148.14 nghìn tấn, đạt 101,47% kế hoạch, tăng 5,6% so cùng kỳ (Cục Thống kê

Cà Mau, 2013) Trong những năm qua nghề nuôi tôm biển, đặc biệt là tôm sú

(Penaeus monodon) ở Cà Mau đã có những bước phát triển vượt bậc, nhiều mô hình

nuôi đạt được năng suất cao đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản trong và ngoài tỉnh Tôm sú nguyên liệu của Cà Mau có chất lượng rất cao, do được nuôi từ các mô hình nuôi quảng canh cải tiến trong đó có tôm rừng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng hoạt động NTTS là sự suy thoái ngày càng nhanh chóng môi trường sinh thái Bên cạnh đó, chất lượng con giống không ổn định, môi trường ngày càng ô nhiễm, tác động của biến đổi khí hậu, năng suất thấp và thị trường xuất khẩu còn hạn chế (Nguyễn Trung Chánh, 2008) Để khắc phục những tác động trên và hướng đến sự phát triển bền vững, mô hình nuôi tôm sú sinh thái ở Cà Mau ngày càng được quan tâm ứng dụng và phát triển, mục

đích là sản xuất ra sản phẩm thủy sản sạch đáp ứng nhu cầu thủy sản ngày càng cao

và đồng thời bảo vệ được môi trường Do đó, nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú-rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại Cà Mau nhằm cung cấp thông tin góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất của nghề nuôi tôm sú-rừng là rất cần thiết

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014 tại huyện Ngọc Hiển

và Năm Căn của tỉnh Cà Mau Nội dung nghiên cứu bao gồm: (1) Khảo sát hiện trạng kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú có chứng nhận sinh thái và không có chứng nhận sinh thái; (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất

và lợi nhuận của hai mô hình; (3) Phân tích những thuận lợi và khó khăn của hai mô hình nuôi và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính-kỹ thuật của hai mô hình

2.2 Phương pháp thu số liệu

Số liệu thứ cấp: Được tổng hợp từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các cơ quan ban ngành địa phương cấp huyện trên địa bàn nghiên cứu

Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình nuôi

tôm tại địa bàn tỉnh, trong đó có 30 hộ nuôi không có chứng nhận sinh thái và 30 hộ

có chứng nhận sinh thái bằng bảng câu hỏi đã soạn sẵn để có những thông tin chính như sau:

- Thông tin chung: Tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm nuôi tôm

Trang 4

- Kỹ thuật: Diện tích, độ sâu mặt nước, tỷ lệ rừng, mật độ thả giống, cỡ tôm thu hoạch, sản lượng thu hoạch

- Tài chính: Chi phí, thu nhập, lợi nhuận

- Những thuận lợi và khó khăn của hai mô hình

Công thức tính:

- Tổng chi phí: TC = TFC+TVC

Trong đó: TFC: Tổng chi phí cố định (triệu đồng/ha/năm)

TVC: Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/năm)

- Tổng thu nhập (TR): TR = Q 1 P 1 + Q 2 P 2 +…+ Q i P i

- Tổng lợi nhuận (PR): PR = TR – TC

- Hiệu quả chi phí: TR/TC (lần/ha/năm)

- Tỷ suất lợi nhuận: PR/TC (lần/ha/năm)

2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu thu thập được phân tích

bằng thống kê mô tả qua việc tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất,

tỷ lệ phần trăm và các giá trị thống kê khác, nhằm mô tả đặc điểm nghiên cứu, các thông tin về nông hộ, so sánh các chỉ tiêu tài chính và phân tích các yếu tố ảnh hưởng

đến lợi nhuận của hai mô hình Mối tương quan giữa các biến định lượng được xác định bằng phương pháp kiểm định Pearson (p<0,05) Sử dụng kiểm định biến độc lập

T, “independent Test” (p<0,05) để đánh giá sự khác biệt về thống kê của hai mô hình nuôi tại địa bàn nghiên cứu Tỷ lệ phần trăm được chuyển sang dạng arcsin trước khi kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Sử dụng phần mềm SPSS for Windows (Version 16) để xử lý và phân tích số liệu

3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Thông tin chung

Mô hình nuôi tôm sú trên địa bàn nghiên cứu thực chất là mô hình kết hợp giữa nuôi tôm sú và trồng rừng (tôm rừng) với hình thức nuôi tự nhiên, không cho tôm ăn, đa phần cải tạo một lần trong năm và định kỳ thả con giống Năm 2013, diện tích NTTS

ở huyện Năm Căn là 25.705 ha, Ngọc Hiển là 24.222, trong đó diện tích nuôi tôm

rừng ở huyện Năm Căn là 6.278,65 ha cao hơn so với diện tích nuôi ở huyện Ngọc Hiển với 3.432,35 ha (Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, 2013) Sự kết hợp giữa trồng rừng và nuôi tôm sẽ giúp mang lại nhiều lợi ích như có được nhiều sản phẩm là tôm, cây rừng và rất nhiều cây, con sống trong rừng Rừng cung cấp nhiều thức ăn tự nhiên cho tôm cá và là nơi cư trú lý tưởng của tôm cá, giúp cho nghề nuôi tôm phát triển lâu bền (Tạp chí Thủy Sản Việt Nam, 2012)

Những hộ nuôi tôm rừng không có chứng nhận sinh thái (TR-KCN) có độ tuổi trung bình 50±9 tuổi và độ tuổi trung bình của những hộ nuôi tôm rừng có chứng nhận sinh thái (TR-CN) là 48±12 tuổi Các hộ nuôi tôm có trình độ học vấn tương đối thấp, tỷ

lệ mù chữ còn khá cao trong kết quả khảo sát này (23,3% đối với mô hình TR-KCN

và 16,7% đối với mô hình TR-CN) Tỷ lệ cấp I trở lên của TR-KCN khoảng 76,7% thấp hơn TR-CN (83,3%) Số người trong gia đình của mô hình TR-KCN là 4,6±1,1 người và TR-CN là 4,3±1,1 người Hầu hết hộ đều tận dụng lao động trong gia đình

để phục vụ công việc nuôi tôm (trung bình 1,9±0,9 người ở nhóm hộ TR-KCN và

1,6±0,5 người ở nhóm hộ TR-CN)

Trang 5

Bảng 1: Đặc điểm nông hộ của hai mô hình

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

Đa số hộ nuôi trên địa bàn tỉnh đều ở độ tuổi trung niên nên có nhiều kinh nghiệm

trong nuôi tôm với số năm kinh nghiệm ở mô hình TR-KCN trung bình 20,2 năm và

mô hình TR-CN là 16,2 năm Kết quả khảo sát cho thấy, kinh nghiệm nuôi tôm của nông hộ do tích lũy từ bản thân, học hỏi bạn bè, hàng xóm và tham gia tập huấn là chủ yếu Đối với mô hình nuôi TR-KCN: Tự rút kinh nghiệm là chủ yếu chiếm tỷ lệ 76,7%, một số ít tham gia tập huấn với 16,7% và học hỏi từ người thân, bạn bè, hàng xóm chiếm tỷ lệ 6,7% Đối với mô hình TR-CN: Hầu hết hộ nuôi đều tham gia tâp huấn với tỷ lệ 93,3% Tự rút kinh nghiệm và học hỏi là 3,3%

Các hộ nuôi TR-KCN có hình thức sở hữu đất là sổ xanh (96,7%), còn lại 3,3% là sổ

đỏ Ở mô hình nuôi TR-CN thì số hộ có hình thức sở hữu đất là sổ xanh và sổ đỏ đều

chiếm tỷ lệ là 50,0%, 100% đối tượng nuôi có thả giống ở cả hai mô hình là tôm sú

và cua biển

3.2 Khía cạnh kỹ thuật của hai mô hình nuôi

Tổng diện tích trung bình của mỗi hộ nuôi TR-KCN khoảng 3,3 ha thấp hơn so với

mô hình TR-CN 5,1 ha (p<0,05) Diện tích mặt nước dao động từ 1,0 đến 7,0 ha, số

hộ có diện tích mặt nước trên 2,0 ha chiếm tỷ lệ khá cao (53,3% hộ nuôi TR-KCN và 83,3% đối với hộ nuôi TR-CN) Diện tích mặt nước trung bình của nông hộ TR-CN

là 2,7 ha dao động trong khoảng từ 1,0-7,0 ha, cao hơn so với mô hình TR-KCN 1,9

ha dao động trong khoảng từ 1,0-5,5 ha và có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Tỷ lệ mương bao ở mô hình TR-KCN trung bình là 50,9% cao hơn so với mô hình TR-CN 46,2% và có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Bảng 2)

Tỷ lệ rừng kết hợp với nuôi tôm của mô hình TR-KCN trung bình 44,5% thấp hơn so với mô hình TR-CN 56,6% (p<0,05) (Bảng 2) Đối với mô hình nuôi TR-KCN tỷ lệ rừng kết hợp với nuôi tôm nhiều nhất là 70,0% rừng, thấp nhất là 30,0% rừng, trong khi đó mô hình nuôi TR-CN có tỷ lệ cao hơn và ổn định hơn dao động trong khoảng

từ 50,0-70,0% Do các hộ nuôi TR-CN tuân thủ theo tiêu chuẩn của Naturland và

được tập huấn, quản lý của công ty sản xuất tôm sinh thái

Tất cả các hộ khảo sát đều có cải tạo ao hằng năm, chủ yếu tập trung vào tháng 7 và tháng 8, phương thức sên máy là chủ yếu (80% ở những hộ nuôi TR-KCN và 96,7%

ở những hộ TR-CN, còn lại là sên tay và áp dụng cả 2 phương thức trên đối với nuôi

TR-KCN là 20,0% và TR-CN là 3,3% , 100% hộ sử dụng bờ bao làm nơi đổ bùn ở cả hai mô hình

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=60)

Số lao động gia đình

Trang 6

Bảng 2: Đặc điểm kết cấu công trình của mô hình nuôi

Ghi chú: Những ký tự khác nhau cùng một dòng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, kiểm định

được sử dụng là kiểm định “Independent T-Test” (p<0,05) Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch

chuẩn

Con giống trong tỉnh được cả hai nhóm khảo sát ưa chuộng hơn con giống ở các tỉnh khác với tỷ lệ hộ mua là 70,0% ở hộ TR-KCN và 63,3% hộ TR-CN, lý do là giá trong tỉnh rẻ hơn và có thể mua trả chậm vào cuối vụ trả Chọn giống qua kiểm dịch PCR là một phương pháp hạn chế rủi ro trong nuôi tôm Ở mô hình nuôi TR-KCN có

đến 90,0% hộ có kiểm dịch con giống, chứng tỏ người dân ý thức được vai trò quan

trọng của con giống đến hiệu quả mô hình nuôi Còn ở mô hình TR-CN, 100% hộ kiểm dịch giống trước khi thả nuôi Bởi vì đây là một trong những tiêu chí của nuôi sinh thái Kết quả khảo sát này gần giống với kết quả khảo sát của Nguyễn Trung Chánh (2008), có 98,0% hộ nuôi TR-CN và 84,0% hộ nuôi TR-KCN chọn giống qua kiểm dịch PCR

Hầu hết hộ nuôi ở hai mô hình đều thả tôm giống nhiều lần trong năm, số lần thả giống phụ thuộc vào lượng tôm trong ao còn nhiều hay ít và nguồn vốn của mỗi hộ

Số lần thả giống trung bình của mô hình nuôi TR-KCN là 5,0 lần/năm và của mô hình nuôi TR-CN là 4,5 lần/năm Hầu hết hộ nuôi tập trung thả giống lần đầu vào tháng 9 và tháng 10 là chủ yếu (do sên vét vào tháng 7 và tháng 8) Cua thả cùng lúc với tôm sú, số lần thả giống cua trung bình là 5,1 lần/năm đối với mô hình TR-KCN

và 4,8 đối với mô hình CN Mật độ cua thả trung bình trong năm ở mô hình TR-CCN là 0,4 thấp hơn so với mô hình TR-CN là 0,5 và có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Mật độ thả tôm sú trung bình trong năm ở mô hình TR-CN là 22,6 con/m2/năm (4-35 con/m2/năm) cao hơn đáng kể so với mô hình TR-KCN là 18,6 con/m2/năm (3-25 con/m2/năm) (p<0,05) (Bảng 3) Theo Nguyễn Trung Chánh (2008) mật độ thả nuôi tôm sú mô hình TR-CN là 12,7 con/m2/năm và TR-KCN là 11,5 con/m2/năm Như vậy, kết quả nghiên cứu này cao hơn quy định của tiêu chuẩn Naturland (2009), mật

độ thả nuôi tối đa là 15 con/m2

/năm

Có 100% hộ nuôi có thay nước trong quá trình nuôi, nguồn nước thay dựa vào thủy triều, các hộ dân lấy trực tiếp từ sông Lượng nước thay trung bình ở mô hình TR-KCN là 60,0±25,0 cm/lần dao động trong khoảng từ 35-130 cm cao hơn so với mô hình TR-CN là 64,0±0,2 cm/lần (30-100 cm) Đa phần hộ nuôi chỉ sử dụng vôi, dây thuốc cá để xử lý nước và diệt cá tạp trong quá trình cải tạo Mô hình TR-KCN có 90% hộ sử dụng dây thuốc cá diệt cá tạp và 23,3% hộ sử dụng vôi để cải tạo ao Mô hình TR-CN có 83,3% hộ sử dụng dây thuốc cá và 26,7% hộ dùng lưới kéo để bắt cá

và diệt tạp trong ao nuôi tôm

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=60)

Độ sâu mực nước trảng (m) 0,5±0,2 0,5±0,1 0,5±0,1

Độ sâu mực nước mương (m) 1,3±0,2a 1,4±0,2b 1,3±0,2

Tỷ lệ rừng/tổng diện tích nuôi

tôm (%)

44,5±13,0a 56,5±7,6b 50,5±12,2

Trang 7

Bảng 3: Mật độ thả nuôi tôm sú và cua của hai mô hình nuôi

Ghi chú: Những ký tự khác nhau cùng một dòng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, kiểm định

được sử dụng là kiểm định” Independent T-Test” (p<0,05) Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch

chuẩn

Tất cả hộ nuôi thuộc 2 nhóm khảo sát đều xuất hiện bệnh trong quá trình nuôi, các loại bệnh thường gặp như đốm trắng, đóng rong, đỏ thân, đen mang Trong đó, mức

độ xuất hiện bệnh đốm trắng là cao nhất (86,7-93,0% số hộ), kế đến là bệnh đen

mang (50,0-53,3% số hộ) Đa số người nuôi sử dụng biện pháp thay nước để phòng trị bệnh Kết quả nghiên cứu của Lâm Thái Xuyên (2011) bệnh đốm trắng trong mô hình nuôi tôm là (73-87% số hộ), bệnh đen mang (60-77%)

Cả hai mô hình đều nuôi theo phương pháp thu tỉa thả bù, số ngày nuôi và thu hoạch lần đầu của mô hình TR-KCN là 131,0 ngày chênh lệch không nhiều so với mô hình TR-CN (134,0 ngày) Sau đó định kỳ thu hoạch theo con nước cường (ngày 15 và 30 âl) hàng tháng Số lần thu hoạch trên năm của hai nhóm khảo sát là tương đương nhau 15,1-15,3 lần/năm lần lượt đối với mô hình TR-CN và mô hình TR-KCN Số ngày thu hoạch trung bình 3,7 ngày/lần ở mô hình TR-KCN và 4,4 ngày/lần ở mô hình TR-CN Kích cỡ tôm thu hoạch trung bình ở hộ nuôi TR-CCN là 19,3 con/kg nhỏ hơn so với những hộ TR-CN là 17,5 con/kg (Bảng 4)

Sau khi thu hoạch, nông hộ bảo quản bằng cách ngâm hoặc ướp với nước đá Trong

mô hình nuôi TR-CN theo yêu cầu của Naturland người nuôi tuyệt đối không được

sử dụng các chất kháng sinh, hóa chất trong bảo quản tôm Phần lớn hộ khảo sát ở cả hai mô hình thường bán cho thương lái thu gom vì sau khi thu hoạch tôm mỗi ngày theo con nước thì sẽ có thương lái đến tận nhà để thu mua và trả bằng tiền mặt, số còn lại bán tôm cho vựa Theo khảo sát có 90% hộ nuôi TR-KCN bán tôm cho thương lái, và 10% bán cho đai lý thu gom, vựa Riêng những hộ TR-CN thì có 96,7% nông hộ bán cho tổ chức chứng nhận sinh thái thông qua những thương lái thu gom riêng của tổ chức Bên cạnh đó, khi tham gia vào mô hình sinh thái nông hộ sẽ

được hưởng chiết khấu sinh thái là 6% trên tổng sản lượng bán cho tổ chức Người

nuôi nhận được khoản tiền này sau khi bán tôm từ 3-4 tháng

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=60) Tôm sú

Mật độ tôm thả/đợt (con/m2/đợt) 7,7±5,3a 12,2±6,4b 9,9±6,2 Mật độ chung (con/m2/năm) 18,6±6,1a 22,6±7,8b 20,6±7,2

Cua biển

Trang 8

Bảng 4: Thu hoạch tôm của hai mô hình

Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

Kết quả khảo sát cho thấy năng suất thủy sản chung, năng suất tôm sú, năng suất cua

và thủy sản khác của mô hình TR-CN đều cao hơn so với mô hình TR-KCN và không có sự khác biệt về thống kê Năng suất tôm sú trung bình của mô hình TR-KCN là 192,2 kg/ha/năm thấp hơn so với mô hình TR-CN là 218,0±113,7 kg/ha/năm nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Như vậy, kết quả nghiên cứu này gần giống với kết quả của Nguyễn Trung Chánh (2008) năng suất TR-CN là 218,1kg/ha/năm, TR-KCN là 179,8 kg/ha/năm nhưng thấp hơn kết quả nghiên cứu của Lâm Thái Xuyên (2011) với năng suất trung bình TR-CN là 239,0 kg/ha/năm và TR-KCN là 229,1 kg/ha/năm

Bảng 5: Năng suất và tỷ lệ sống của hai mô hình

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

3.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình

Cả hai mô hình chỉ đầu tư chủ yếu về con giống, cải tạo ao nên chi phí đầu tư không cao Tổng chi phí của mô hình nuôi TR-KCN là 20,9 triệu đồng/ha/năm thấp hơn so với mô hình TR-CN 23,1, kết quả kiểm định cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Trong đó chi phí biến đổi ở mô hình TR-CN là 21,3 triệu

đồng/ha/năm chiếm 92,1% trong tổng chi phí và cao hơn mô hình TR-KCN 19,1

triệu đồng/ha/năm với 91,4% trong tổng chi phí, còn lại khoản chi phí cố định chỉ

chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu chi phí của hai mô hình (Bảng 6)

Xét về cơ cấu chi phí của hai mô hình thì chi phí cải tạo ao chiếm cao nhất 48,0% (TR-KCN) và 40,0% (TR-CN), kế đến là chi phí giống tôm sú, chi phí giống cua, chi phí nhiên liệu và chi phí thuốc cá,vôi So sánh chi phí con giống tôm sú giữa hai nhóm khảo sát thì chi phí con giống ở mô hình TR-KCN là 5,5 triệu đồng/ha/năm

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=60) Thời điểm thu hoạch lần đầu sau

khi thả giống (ngày)

131,0±14,7 134,0±20,4 133,0±17,7

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=60) Năng suất (kg/ha/năm)

Năng suất thủy sản chung 406,9±140,8 463,5±196,4 435,2±172,4

Trang 9

chiếm 29,0% trong tổng chi phí biến đổi và thấp hơn so với mô hình TR-CN là 7,3 triệu đồng/ha/năm chiếm 34,0% trong tổng chi phí biến đổi, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Điều này có thể giải thích là nuôi tôm theo tiêu chuẩn sinh thái đòi hỏi phải thả giống tốt và có nguồn gốc rõ ràng dẫn đến chi phí giống tôm cao Mặc dù chi phí giống tôm sú của mô hình TR-CN cao hơn mô hình TR-KCN, nhưng giá thành sản xuất tính trên 1kg tôm của mô hình TR-CN là 62,9 nghìn đồng/kg thấp hơn mô hình TR-KCN là 71,6 nghìn đồng/kg Trong khi giá tôm trung bình là 282,6 nghìn đồng/kg ở mô hình KCN thấp hơn so với mô hình

TR-CN 302,6 nghìn đồng/kg Điều này cho thấy ưu điểm của nuôi tôm tiêu chuẩn sinh thái

Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình nuôi

Ghi chú: Những ký tự khác nhau cùng một dòng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, kiểm định

được sử dụng là kiểm định” Independent T-Test” (p<0,05) Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch

chuẩn

Thu nhập trung bình của mô hình TR-KCN là 77,1 triệu đồng/ha/năm thấp hơn so với mô hình TR-CN 92,2 triệu đồng/ha/năm nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Trong đó, thu nhập mang lại từ tôm sú là cao nhất và giá trị

từ đối tượng này mang lại cho mô hình TR-CN cao hơn so với TR-KCN (65,3 triệu

đồng/ha/năm so với 54,8 triệu đồng/ha/năm) Bên cạnh đó thì thu nhập mang lại từ

cua biển là khá cao (13,4 triệu đồng/ha/năm đối với mô hình TR-KCN và 15,8 triệu

đồng/ha/năm ở mô hình TR-CN) Thu nhập từ cua chiếm 17,4% ở mô hình TR-KCN

và 17,1% ở mô hình TR-CN Tôm tự nhiên và các loại cá khác chỉ chiểm tỷ trọng

(n=30)

TR-CN (n=30)

Chung (n=30) Tổng chi phí (tr.đ/ha/nam) 20,9±6,5 23,1±6,6 22,1±6,6 Chi phí cố định (tr.đ/ha/nam) 1,7±2,8 1,8±1,1 1,8±2,2 Chi phí biến đổi (tr.đ/ha/nam) 19,2±5,8 21,3±6,5 20,3±6,2

Tổng thu nhập (tr.đ/ha/nam) 77,1±29,9 92,2±40,9 84,7±36,3

Tổng lợi nhuận (tr.đ/ha/nam) 56,2±31,8 69,1±42,7 62,7±37,2

Giá thành tôm sú (1.000 đ/kg) 71,6±48,0 62,9±66,6 67,3±57,7

Trang 10

Ngoài ra ở các mô hình còn thu hoạch được một số đối tượng không thả giống khác như: Tôm tự nhiên (TR-KCN là 6,6 triệu đồng/ha/năm và TR-CN là 8,2 triệu

đồng/ha/năm), các sản phẩm khác như cá chẽm, cá phi và cá đối Nhìn chung, các

khoản thu từ TR-CN đều cao hơn TR-KCN Nhưng tỷ trọng thu nhập ở hai mô hình

có sự chênh lệch không đáng kể, thu nhập từ tôm sú chiếm phần lớn tổng thu nhập của hai mô hình (71,2% ở mô hình TR-KCN và 70,7% đối với mô hình TR-CN) trong tổng cơ cấu thu nhập (Bảng 6)

Đối với người nuôi trồng thủy sản lợi nhuận cao và ít rủi ro luôn là điều mong đợi

của người dân Nhìn chung lợi nhuận của hai mô hình nuôi trên địa bàn nghiên cứu là khá cao Ở mô hình TR-CN là 69,1 triệu đồng/ha/năm cao hơn mô hình TR-KCN 56,2 triệu đồng/ha/năm, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả cho thấy không có hộ nuôi thua lỗ ở mô hình TR-CN Đối với mô hình TR-KCN

có tỷ lệ hộ lời là 96,7% và chỉ có 3,3% hộ nuôi bị thua lỗ với mức lỗ là 5,2 triệu

đồng/ha/năm Xét về hiệu quả sử dụng đồng vốn, thì ở mô hình TR-CN hiệu quả sử

dụng đồng vốn 3,99 lần, có nghĩa là khi đầu tư 1 đồng vốn thì thu được 3,99 đồng, trong khi mô hình nuôi TR-KCN chỉ mang lại doanh thu là 3,69 lần Do đó tỷ suất lợi nhuận so với chi phí bỏ ra ban đầu ở mô hình TR-CN là 2,90 lần cao hơn mô hình TR-KCN 2,68 lần (Bảng 6) Từ bảng phân tích cho thấy, nếu xét về khía cạnh hiệu quả sử dụng đồng vốn trên một đơn vị tiền bỏ ra thì mô hình nuôi TR-CN mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình TR-KCN

3.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của hai mô hình 3.4.1 Phân nhóm nông hộ có và không sử dụng dây thuốc cá

Có 86,7% số hộ sử dụng dây thuốc cá và 13,3% hộ không sử dụng Năng suất tôm sú trung bình ở những hộ nuôi có sử dụng dây thuốc cá là 203,1 kg/ha/năm thấp hơn so với những hộ không sử dụng dây thuốc cá 218,2 kg/ha/năm Do trình độ kỹ thuật còn hạn chế, người dân không sử dụng đúng liều lượng dẫn đến hiệu quả sử dụng không cao, chất lượng dây thuốc cá không đảm bảo có thể sẽ làm môi trường nước trong vuông nuôi bị ô nhiễm nếu sử dụng quá liều Tuy nhiên kích cỡ tôm bình quân ở mô hình có sử dụng dây thuốc cá là 18,5 con/kg, tôm tuy nhỏ hơn nhưng đồng đều hơn

so với mô hình không sử dụng dây thuốc cá với kích cỡ tôm bình quân là 17,9 Tỷ suất lợi nhuận của hộ có sử dung dây thuốc cá là thấp hơn do tốn thêm khoản chi phí thuốc cá và mức độ rủi ro ở mô hình có sử dụng dây thuốc cá cao hơn với 3,3% hộ lỗ (Bảng 7)

Bảng 7: Ảnh hưởng của việc sử dụng dây thuốc cá đến mô hình nuôi

Có sử dụng dây

thuốc cá (n=52)

Không sử dụng dây

thuốc cá (n=8) Năng suất tôm sú (kg/ha/năm) 203,1±97,8 218,2±107,7

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là trung bình±độ lệch chuẩn

3.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận tôm nuôi

Diện tích mặt nước: Diện tích mặt nước có tương quan thuận với mật độ thả

tôm/đợt, mật độ thả cua đợt (p<0,01), và tương quan nghịch với giá thành tôm, lợi

Ngày đăng: 16/11/2015, 23:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đặc điểm nông hộ của hai mô hình - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 1 Đặc điểm nông hộ của hai mô hình (Trang 5)
Bảng 2: Đặc điểm kết cấu công trình của mô hình nuôi - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 2 Đặc điểm kết cấu công trình của mô hình nuôi (Trang 6)
Bảng 3: Mật độ thả nuôi tôm sú và cua của hai mô hình nuôi - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 3 Mật độ thả nuôi tôm sú và cua của hai mô hình nuôi (Trang 7)
Bảng 5: Năng suất và tỷ lệ sống của hai mô hình - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 5 Năng suất và tỷ lệ sống của hai mô hình (Trang 8)
Bảng 4: Thu hoạch tôm của hai mô hình - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 4 Thu hoạch tôm của hai mô hình (Trang 8)
Bảng 6: Các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình nuôi - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 6 Các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình nuôi (Trang 9)
Bảng 7: Ảnh hưởng của việc sử dụng dây thuốc cá đến mô hình nuôi - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 7 Ảnh hưởng của việc sử dụng dây thuốc cá đến mô hình nuôi (Trang 10)
Bảng 8: Ma trận tương quan Person giữa các yếu tố - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 8 Ma trận tương quan Person giữa các yếu tố (Trang 12)
Bảng 10: Khó khăn của hai mô hình nuôi - so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm rừng có và không có chứng nhận sinh thái tại cà mau
Bảng 10 Khó khăn của hai mô hình nuôi (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w