1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO Công tác văn hoá, thể thao và du lịch năm 2012 Phương hướng, nhiệm vụ năm 2013

205 356 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT QUẢ THỤC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, với phương châm “Đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy sức mạnh tong hợp, vượt qua thách th

Trang 1

1

Mục lục

1.Báo cáo công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2012 Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2013

Phụ lục 1: Các chỉ tiêu, số liệu cơ bản năm 2007, 2012

Phụ lục 2: Danh sách văn bản quy phạm pháp luật, văn bản, đề án ban hành năm

3.Quyết định số 52/QĐ-BVHTTDL ngày 05 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt chủ đề công tác và các nhiệm vụ đột phá của Ngành văn hóa, thể thao và du lịch năm 2013

4.Quyết định số 5078/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Kế hoạch công tác năm 2013

5.Quyết định số 5007/QĐ-BVHTTDL ngày 24 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt Danh mục các văn bản, đề án trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2013

6.Quyết định số 41/QĐ-BVHTTDL ngày 05 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2013

7.Báo cáo kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013 (Phụ lục)

8.Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Đề án “Tuyên truyền giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010-2020”

9.Quyết định số 54/QĐ-BVHTTDL ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vê việc phê duyệt Nội dung phong trào thi đua năm

Trang 2

Số: 19/BC-BVHTTDL Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2013

BÁO CÁO

Công tác văn hoá, thể thao và du lịch năm 2012

Phương hướng, nhiệm vụ năm 2013

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Phần thứ Nhất TÌNH HÌNH THỤC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2012

I.KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH

Bước vào năm thứ hai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, năm 2012 tình hình

an ninh chính trị và kinh tế quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, với những nhân tố khó lường: Những căng thẳng trong quan hệ quốc tế và xung đột lợi ích trên biển của một

số nước Đông Bắc Á, biến động chính trị tại Trung Đông và Bắc Phi, khủng hóang tài chính và nợ công tại Châu Âu càng làm suy thoái kinh tế thể giới thêm trầm trọng

Xu hướng chi tiêu công và tiêu dùng xã hội ngày càng thắt chặt, trở nên phổ biến cấp

độ toàn cầu Bối cảnh kinh tế khó khăn của thể giới năm 2012 đã kéo dài sự ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp và sự tăng trưởng kinh tế đất nước Ở trong nước, cùng với những khó khăn do tác động bởi tình hình kinh tế thể giới, những động thái gây căng thẳng trên Biển Đông, những yếu kém trong quản lý kinh tế-tài chính của hệ thống ngân hàng và một số tập đoàn kinh tế lớn bị các thể lực thù địch, phản động ra sức lợi dụng để xuyên tạc, kích động chống phá

Đan xen với những khó khăn, thách thức do điều kiện khách quan đềm lại, những điều kiện thuận lợi, nhất là những thuận lợi từ trong nước vẫn là những yếu tố căn bản cho

sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Đó là truyền thống và bản lĩnh dân tộc trước hoàn cảnh khó khăn, là niềm tin của nhân dân vói Đảng, với những thành tựu to lớn

Trang 3

3

sau hơn 25 năm đối mới đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, bảo đảm ổn định chính trị, duy trì môi trường an ninh xã hội và không khí chính trị tích cực trong các tầng lớp nhân dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, các mục tiêu cơ bản về phát triển kinh tế-xã hội năm 2012 đều đạt khá, kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế, GDP ước đạt 5,2%, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cơ bản được bảo đảm

Bối cảnh quốc tế và trong nước đó vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động đến nền kinh

tế đất nước và tư tưởng, đòi sống tinh thần của nhân dân, vừa đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, thách thức đồng thời là cơ hội cho sự phát triển của Ngành văn hóa, thể thao và

du lịch cả nước

II KẾT QUẢ THỤC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, với phương châm

“Đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy sức mạnh tong hợp, vượt qua thách thức, phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình hiệu quả, bền vững”, năm

2012, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã có nhiều cố gang vượt qua khó khăn, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị và kế hoạch công tác đề ra:

Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân Nhiều sự kiện văn hóa-du lịch quy mô lớn quảng bá hình ảnh, kêu gọi đầu tư, xúc tiến thương mại trong nước và ngoài nước được tổ chức, tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương và cả nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội của Chính phủ Các lễ kỷ niệm cấp quốc gia kỷ niệm Ngày sinh các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, Nhà nước được triển khai tích cực, chủ động Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản tiếp tục đạt thành tựu nổi bật, với 02 di sản được vinh danh là di sản thể giới,

24 di tích được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt Các chỉ tiêu cơ bản về thể dục, thể thao quần chúng đều đạt được: số người tập luyện TDTT thường xuyên trên toàn quốc ước đạt 25,49%; số gia đình đạt tỷ lệ 16,6% tổng số hộ; cả nước có 45.080 câu ỉạc bộ thể thao với 39.105 giải thể dục thể thao quần chúng được tổ chức trong năm Thể thao thành tích cao tham dự Thể vận hội Olympic London 2012 với 18 vận động viên đạt chuẩn chính thức, nhiều nhất từ trước đến nay; 11 vận độne viên tham dự Paralympic 2012; tham dự các giải quốc tế, giành 271 huy chương vàng, 234 huy chương bạc và 154 huy chương đồng Du lịch Việt Nam ước đón hơn 6,8 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, doanh thu từ du lịch ước đạt 160 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng tương ứng so với năm 2011 là 13,86%, 8% và 23%

Trang 4

4

(1 Nguồn: Báo cảo sổ 284/BC-CP ngày 19/10/2012 của Chính phú về tình hình kinh tế-xã hội năm 2012 và Kế hoạch phát triến kinh tế-xã hội năm 2013)

1 Công tác quản lý nhà nước

1.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước

Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý nhà nước được lãnh đạo Bộ quan tâm, chỉ đạo, bám sát thực tiễn hoạt động của Ngành, bảo đảm chất lượng, tiếp tục hoàn thiện một bước hệ thống quy phạm pháp luật của Ngành, căn bản đáp ứng tốt yêu cầu quản lý nhà nước, tạo hành lang pháp lý

và bảo đảm sự vận hành thông suốt, kịp thời, hiệu quả của bộ máy tổ chức Ngành, từ Trung ưo'ng đến cơ sở Trong năm 2012, Luật Quảng cáo đã được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký lệnh ban hành; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trình Chính phủ ban hành 07 nghị định, 01 nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành 12 quyết định; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành 20 văn bản, đề án; ban hành theo thẩm quyền 25 thông tư trong các lĩnh vực hoạt động Ngành (gồm

05 thông tư liên tịch) và nhiều văn bản quản lý, đề án, chương trình, kế hoạch, chiến lược quan trọng khác (Phụ lục 2)

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh-thành bám sát thực tiễn hoạt động của Ngành đã tham mưu cho UBND các tỉnh-thành ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quản lý nhà nước quan trọng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật của Ngành, kịp thời chuyến tải sự chỉ đạo, điều hành của Bộ đến các địa phương Một số Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tham mưu cho Tỉnh-Thành

uỷ, UBND tỉnh-thành ban hành các nghị quyết chuyên đề, các đề án, quy hoạch phát triển Ngành, kịp thời the chế hoá các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Hà Nội: Xây dựng các Đề án và triển khai một số công việc thực hiện thuộc chương trình “Phát triển văn hóa-xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2011-2015”; Hải Phòng: Quy hoạch phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà; Kế hoạch bảo vệ, quản lý di sản thiên nhiên thể giới-quần đảo Cát Bà; Quảng Ninh: Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển Du lịch giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2030; Ninh Bình: Nghị quyết số 15 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020; Thái Bình: Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011- 2020; Lào Cai: Đề án „Thát triển kinh

tế du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015”; Tuyên Quang: Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Tuyên Quang đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Nam Định: Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Nam Định đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030; Bắc Kạn: Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc Việt Nam đến năm 2020‟' trên địa bàn tỉnh; Tây Ninh: Nghị quyết về đẩy mạnh khai thác tiềm năng, phát triển du lịch giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn đến năm 2020; Bình Phước: Quy

Trang 5

5

hoạch phát triển VHTTDL đến năm 2020, định hướng đến 2025; An Giang: Chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quỵết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị

1.2 Công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ

Bộ trưởng, các Thứ trưởng tập trung chỉ đạo hoàn thiện, ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo, làm căn cứ cho toàn Ngành triển khai thực hiện kế hoạch công tác năm: Kế hoạch công tác năm; Kế hoạch phân bồ ngân sách Nhà nước; Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ; 10 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 19 nhiệm vụ đột phá của Ngành năm 2012; triển khai Nghị quvết số 01/NQ-

CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu, chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 Tập thể lãnh đạo Bộ đã làm việc, báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân về kế hoạch công tác năm của Ngành văn hoá, thể thao và du lịch, trọng tâm là việc xây dựng, tổ chức triển khai các văn bản, đề án và các cơ chế chính sách nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra cho Ngành trong năm 2012 và đến năm 2020

Đồng thời với việc chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI - Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, lãnh đạo Bộ đã trực tiếp chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng: Hoàn thành việc tham mưu, trình Chủ tịch nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú Chỉ đạo, tổ chức thành công các hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của dân tộc; xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Cừ, Võ Chí Công, 110 năm Ngày sinh đồng chí Lê Hồng Phong tổ chức công bố Vịnh Hạ Long là Kỳ quan thiên nhiên mới thể giới Chấn chỉnh tình trạng hát nhép, đàn nhái, trang phục phản cảm của một số nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên, người mẫu; tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo

Trực tiếp chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các văn bản, đề án, dự án được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và các văn bản, đề án khác trong chương trình xây dựng; văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trong năm

2012 Bộ đã trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: 41 văn bản, đề án; được ban hành, thông qua: 21 văn bản, đề án Ký kết chương trình phối họp công tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Thông tin và Truyền thông trong hoạt động thông tin đối ngoại và quảng bá hình ảnh quốc gia giai đoạn 2012-2015; Chương trình phối họp với Bộ Giao thông vận tải phục vụ phát triển du lịch giai đoạn 2013-2015

Trang 6

6

Thực hiện các chuyến công tác về cơ sở và làm việc với lãnh đạo các địa phương, Bộ trưởng, các Thứ trưởng đã chỉ đạo, phối hợp chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển Ngành, trong đó tập trung nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước trong quy hoạch và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển văn hóa, thể dục thể thao, du lịch của các địa phương và một số nhiệm vụ theo chuyên đề với các tỉnh-thành: Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quảng Ninh, Quảng Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Nam Định, Lạng Sơn, Hải Dương, Thanh Hoá, Ninh Bình, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Nam, Ninh Thuận, Cao Bằng,

Hà Tĩnh

Tiếp tục mở rộng mối quan hệ, giao lưu với các nước trên các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và gia đình, thông qua các cuộc tiếp xúc ngoại giao với các quan chức Chính phủ, Đại sứ các nước tại Việt Nam và các tố chức quốc tế: Tiếp và làm việc với Chủ tịch Quốc hội Myanmar; tiếp xã giao Giám đốc cao cấp Diễn đàn kinh tế thể giới Khu vực Châu Á; Đại diện Kênh truyền hình CNN; Tổng thư ký Tổ chức Du lịch Thể giới; Bộ trưởng Văn hóa, Thông tin và Du lịch Lào; Bộ trưởng Du lịch Campuchia; Trưởng đoàn Cơ quan Du lịch Trung Quốc Tham dự Hội nghị Bộ trưởng Văn hóa các nước ASEAN tại Singapore, Bộ trưởng Văn hóa các nước Châu Á tại Bangladesh Gặp mặt các Đại sứ, Trưởng các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài mới được bố nhiệm nhằm tăng cường phối hợp giới thiệu, quảng bá hỉnh ảnh đất nước và con người Việt Nam với nhân dân các nước, đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Dự Hội nghị Đại hội đồng OCA, vận động đăng cai tổ chức Đại hội Thể thao Châu Á lần thứ 18 năm 2019, Hội nghị Olympic Thể thao thể giới lần thứ 2 tại Liên bang Nga; Liên hoan Nghệ thuật Mùa xuân Hữu nghị Bình Nhưỡng lần thứ 28 tại Triều Tiên; EXPO 2012 tại Hàn Quốc

1.3 Kiếm tra, thanh tra, xử lý vỉ phạm

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ và

sự quan tâm ủng hộ của các địa phương, đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt so với các năm trước Hệ thống các văn bản, các chế tài xử lý vi phạm được hoàn thiện một bước, tạo hành lang pháp lý quan trọng đế tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch

Xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2012/NĐ-CP ngày 24/4/2012 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể dục, thể thao; Nghị định số 16/2012/NĐ-CP ngày 12/3/2012 của Chính phủ quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch; ban hành theo thẩm quyền Chỉ thị số 65/CT-BVHTTDL ngày 16/4/2012 về việc chấn chỉnh hoạt động tổ chức biểu

Trang 7

và xử phạt 118 cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm về sao chép phần mềm chương trình máy tính mà không được phép của chủ sở hữu, vi phạm các quy định trong hoạt động lữ hành và kinh doanh lưu trú, vi phạm quy định về quảng cáo; ban hành 118 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính, nộp kho bạc nhà nước tổng số tiền: 2.225.250.000 đồng (hai tỷ hai trăm hai mươi lăm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)

Lĩnh vực văn hóa: Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đã có nhiều chuyển biến tích cực so với các năm trước đây, hiệu quả quản lý nhà nước của Ngành được nâng cao Thành lập các đoàn công tác của Bộ và địa phương thực hiện chiến dịch cao điểm kiểm tra, thanh tra diện rộng việc thực hiện Công điện số 62/CĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Đã tiến hành kiểm tra 3.436 lượt, trong đó Thanh tra Bộ kiểm tra 60 lượt tại 21 tỉnh, thành phố với 60 điểm di tích, lễ hội Tổ chức nhiều đợt kiểm tra công tác quản lý di tích tại ba miền Bắc, Trung, Nam, kịp thời chấn chỉnh những sai phạm trong việc tu bổ, tôn tạo di tích tại Chùa Trăm Gian (Hà Nội) và Đình Ngu Nhuế (Hưng Yên) Công tác thanh tra kiểm tra dịch vụ văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, quyền tác giả và quyền liên quan; trình diễn thời trang, hoạt động quảng cáo, triển lãm nghệ thuật, phòng, chống bạo lực gia đình được chú trọng, kịp thời chấn chỉnh các sai phạm; xử lý nghiêm các trường họp vi phạm, bảo đảm môi trường văn hóa lành mạnh

Lĩnh vực thể dục thể thao: Tập trung kiểm tra hoạt động thể dục thể thao, kinh doanh dịch vụ TDTT; giám sát 59 giải thi đấu thể thao, qua đó kịp thời chấn chỉnh sai phạm, tăng cường công tác quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng giải đấu, nhất là trong thi đấu bóng đá

Lĩnh vực du lịch: Tập trung thanh tra và kiểm tra hoạt động lữ hành và kinh doanh lữ hành chui của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài núp bóng doanh nghiệp trong nước, chủ yếu là thị trường khách du lịch Hàn Quốc, Nga và Nhật Bản

Lực lượng thanh tra chuyên ngành VHTTDL và đội kiểm tra liên ngành đã kiểm tra 19.440 lượt cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, phát hiện 3.838 cơ sở vi phạm Đã xử lý: phạt cảnh cáo 173 cơ sở; đình chỉ hoạt động kinh doanh 46 cơ sở Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính: 22.742.997.000 đồng (hai mươi hai tỷ bảy trăm bốn mươi hai triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng)

Trang 8

8

Đã tổ chức tiếp 90 lượt công dân, không có đoàn đông người, tăng 26% so với năm 2011 (66 lượt); tiếp nhận 219 đơn khiếu nại, tố cáo, tăng 21,5 % so với cùng kỳ năm 2011 (năm 2011 là 172 đơn) Các kiến nghị của công dân đúng thẩm quyền được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng quy định Các phản ảnh không thuộc thấm quyền giải quyết của Bộ, được giải thích, hướng dẫn công dân gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết

Trong giai đoạn 2007-2012: Đã tiến hành 55 cuộc thanh tra hành chính và kiếm tra việc chấp hành pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí tại các đơn vị thuộc Bộ; tiến hành gần 600 cuộc thanh tra chuyên ngành trên cả 3 lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch

Khỏ khăn, hạn chế:

- Việc thực hiện thanh tra, kiêm tra cỏ lúc có nơi còn chưa kiên quyết trong xử

lý vi phạm, thiếu các chế tài xử phạt mạnh, hiệu quả răn đề thấp, các hành vi vi phạm tái diễn, kéo dài, nhất là trong hoạt động biêu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, quảng cáo, bản quyển tác giả và quyên liên quan

- Do đặc thù Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, nội dung quản lý nhà nước rộng, nên một số lĩnh vực công tác thanh tra, kiêm tra chưa được triển khai đểu đặn như lĩnh vực văn hóa dân íộc, phòng, chông bạo lực gia đình, Iighệ thuật biêu diên

2 Các lĩnh vực hoạt động chuyên ngành

2.1 Văn hoá

2.1.1 Bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc

Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 2 (13 di tích) và đợt 3 (11 di tích) và công nhận bảo vật quốc gia đối với 30 hiện vật và nhóm hiện vật Cả nước hiện có 34 di tích quốc gia đặc biệt; 3.174 di tích quốc gia và 6.636 di tích cấp tỉnh Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 quy định thẩm quyền trình tự, thủ tục lập phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Công bố danh mục

Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1) với 33 di sản văn hóa phi vật thể (bao gồm

di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO vinh danh và 10 di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012- 2016) Ban hành 03 Thông tư Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đối bổ sung một số điều của Luật

di sản văn hóa và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 Hoạt động tu bồ di tích từng bước đi vào nền nếp và được nâng cao về chất lượng khi các quy định pháp luật được tuân thủ chặt chẽ hơn Nhiều di tích đã được khai thác và phát huy có hiệu quả, trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, tạo nên nguồn thu lớn Hệ thống bảo tàng Việt Nam đã hình thành mạng lưới với 134 bảo tàng (trong đó có 14 bảo tàng ngoài

Trang 9

9

công lập), lưu giữ gần 3 triệu tài liệu, hiện vật Công tác quản lý và phát triến bảo tàng được đẩy mạnh; các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động chuyên môn liên quan đến lĩnh vực bảo tàng; hệ thống bảo tàng trong toàn quốc tích cực tố chức các cuộc trưng bày, triển lãm nhân dịp các ngày lễ lớn và phục vụ nhiệm

vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Trong hai năm 2011-2012, đã có 40 tỉnh-thành có báo cáo kỗt quả kiêm kê theo loại hình di sản, theo tộc người và theo khu vực địa lý;

đã thống kê được hơn 6.600 di sản văn hóa phi vật thể

Kết quả nổi bật trong 5 năm (2007-2012): Tổng số di sản thê siới ở Việt Nam tính đến nay là 17 (bao gồm: 07 di sản văn hóa và thiên nhiên và 7 di sản văn hóa phi vật thể, 03 di sản tư liệu); 34 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; 238 di tích được xếp hạng di tích quốc gia Có thêm 13 bảo tàng được thành lập và cấp phép hoạt động (10 bảo tàng ngoài công lập); 30 hiện vật và nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là bảo vật quốc gia Nhận thức của cán bộ và các tàng lóp nhân dân về quyền lợi, trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được nâng lên rõ rệt Hệ thống pháp luật về di sản văn hóa ngày càng được hoàn thiện Sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc đã phát huy có hiệu quả đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội; trực tiếp góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, nâng cao nhận thức của toàn xă hội về giá trị, vai trò và ý nghĩa của di sản văn hóa, góp phần tồn vinh hình ảnh và vị thể của đất nước

Khó khăn, hạn chế:

- Vẫn còn xảy ra một số sai phạm trong hoạt động tu bổ di tích do nguyên nhân buông lỏng quản lỷ, sự thiếu hiếu biết, cũng như năng lực còn hạn chế của đội ngũ trực tiếp thi công Hiện tượng trộm cắp cổ vật tại các di tích vẫn diễn ra Việc quản lý

và sử dụng nguồn thu ở phần lớn các di tích còn nhiều bât cập Công tác lập quy hoạch khảo cổ và cắm mốc giới di tích chưa được các địa phương thực sự quan tâm

- Mô hình quản-lý di tích tại địa phương còn nhiều bất cập

- Nhiều bảo tàng chưa thu hút được đông đảo khách tham quan, chưa trở thành một điểm đến của khách du lịch do hoạt động còn thiếu sáng tạo, hấp dẫn

- Sự phân công và phấn cắp quản lý di sản văn hóa phi vật thể chưa đồng bộ và phối hợp chưa tốt Việc kiếm kê di sản văn hóa và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thê tại các địa phương chưa đồng đều về chất lượng và tiến độ do những hạn chế, khó khăn về nhận thức, nhân lực và kinh phí

2.1.2 Nghệ thuật biểu diễn

Công tác quản lý nhà nước được thực hiện chặt chẽ hơn Tập trung chấn chỉnh tình trạng hát nhép, đàn nhép, trang phục phản cảm của một số nghệ sĩ, ca sĩ, diễn

Trang 10

10

viên, người mẫu Các cuộc liên hoan, chương trình nghệ thuật tổ chức kịp thời phục

vụ các ngày lễ, sự kiện của đất nước và đáp ứng nhu cầu của nhân dân

Đã tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05/10/2012 về biếu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành theo thẩm quyền Chỉ thị số 65/CT-BVHTTDL ngày 16/4/2012 về việc chấn chỉnh hoạt động tố chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; các Quy chế Tổ chức, Quy chế chấm thi, khen thưởng các cuộc Liên hoan biếu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp năm 2012

Thực hiện nghiêm công tác kiểm tra thủ tục cấp phép, thấm định nội dung các chương trình ca múa nhạc-sân khấu Chỉ đạo, hướng dẫn, chấn chỉnh kịp thời các cuộc thi hoa hậu, người mẫu, trình diễn thời trang trong nước và quốc tế Cấp phát 3.195.600 tem nhãn kiểm soát cho các hãng sản xuất, phát hành băng, đĩa trên toàn quốc; cấp 234 giấy phép công diễn cho các đơn vị nghệ thuật, đơn vị tổ chức biểu diễn nghệ thuật; cấp 12 giấy phép phát hành băng, đĩa; duyệt 280 chương trình băng, đĩa lưu chiểu; cấp phép cho 60 đoàn nghệ thuật nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn; cho phép 20 đoàn nghệ thuật Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn và giao lưu văn hóa; cấp phép mới và gia hạn cho 200 nghệ sĩ là người Việt Nam về tham gia biểu diễn nghệ thuật trong nước; thẩm định cho phép nhập khẩu 11 chương trình băng, đĩa ca nhạc của nước ngoài; thẩm định và cho phép phổ biến tại Việt Nam 150 ca khúc sáng tác trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam và sáng tác tại nước ngoài; cấp phép tố chức 07 cuộc thi Hoa hậu, hoa khôi, người mẫu

Các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp phát triên ổn định, dàn dựng được 146 chương trình, 18 tiết mục, 21 vở diễn mới, tổ chức 3.173 buổi biểu diễn và chào lưu văn hóa nghệ thuật trong và ngoài nước (trong đó có 370 buổi biểu diễn phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo), ước phục vụ khóang 2.807.618 lượt người xem Các hoạt động nghệ thuật kỷ niệm Ngày Sinh các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của Ban Bí thư được triển khai tích cực, chủ động Phối hợp tổ chức 08 cuộc liên hoan sân khấu chuyên nghiệp: Liên hoan múa Rối quốc tế lần thứ III, Liên hoan Xiếc quốc tế lần thứ IV; Liên hoan Ca Múa Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc đợt I, Liên hoan Nhạc cụ truyền thống các dân tộc Việt Nam lần thứ I; Liên hoan Sân khấu Kịch chuvên nghiệp; Liên hoan Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp và Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ

Các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp ở các địa phương tố chức hàng nghìn buổi biểu diễn trong đó có các buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa phương và phục vụ đồng bào chiến sĩ vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo phục vụ khóang trên

5 triệu lượt người xem trong năm, góp phần tuyên truyền, tôn vinh nghệ thuật truyền thống, định hướng đường lối văn nghệ của Đảng, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân

Trang 11

11

đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa” ở cơ sở Tổ chức có hiệu quả biểu diễn doanh thu phù hợp với nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân, gẳn kết chặt chẽ giữa biếu diễn nghệ thuật với chương trình xúc tiến du lịch và quảng bá nghệ thuật Việt Nam ra thể giới

- Công tác quản lý, cấp phép, hậu kiêm các nghệ sỹ Việt Nam định cư ở người nước ngoài vê nước biểu diễn có lúc, có nơi còn sơ hở, thiến sự phối hợp giữa cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương Vi phạm trong biếu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp chưa được xử lý triệt để, còn thiếu chế tài có sức răn đề, bảo đảm hiệu lực quản lý

- Công tác định hướng, giáo dục nâng cao ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm với To quốc của các nghệ sĩ và việc quan tâm đời song, chế độ đãi ngộ cho văn nghệ sĩ chưa được chủ trọng quan tâm Thiếu những tác phâm nghệ thuật chất lượng cao

- Công tác tố chức các kỳ Liên hoan, hội diên, cuộc thi, sự kiện nghệ thuật còn thiếu tính chuyên nghiệp, khoa học và hiện đại Một so Liên hoan còn mang nặng tính ganh đua thành tích, chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội hóa

2.1.3 Điện ảnh

Đã xây dựng Dự thảo “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc đấu thầu, đặt hàng dự

án sản xuất phim có sử dụng NSNN”; Đề án thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh, Thông tư Liên tịch quy định về phí, lệ phí trong lĩnh vực Điện ảnh Triển khai xây dựng Đề án “Chiến lược phát triển Điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”,

Đề án “Quy hoạch ngành Điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Đề án

“Quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn phim và rạp chiếu phim”, Thông tư Liên tịch Bộ VHTTDL và Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý đặc thù đối với Đội chiếu bóng lưu động Ban hành Thông tư hướng dẫn về thủ tục hành chính trong lĩnh vực điện ảnh; Quyết định công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực điện ảnh, “Chương trình phối hợp công tác trong hoạt động điện ảnh giai đoạn 2012-2015” giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Đài Truyền hình Việt Nam dần hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý, bảo đảm cho hoạt động điện ảnh và truyền hình thực hiện theo đúng quy định

Trang 12

12

Thực hiện tốt trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phim nhập khẩu, phim sản xuất trong nước, phim họp tác liên doanh sản xuất với đối tác nước ngoài, việt kiều và phim phát sóng trên Đài truyền hình, đảm bảo đúng quy định Chỉ đạo các đơn vị sản xuất, phát hành phim trên cả nước thực hiện nghiêm túc mọi quy định của pháp luật trong hoạt động điện ảnh Tổ chức Hội nghị về thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động phát hành nhổ biến phim giai đoạn 2012-2015, đề ra những giải pháp cụ thể để đẩy mạnh hoạt động phát hành phổ biến phim trên toàn quốc Năm 2012, không có phim phát hành trên hệ thống rạp chiếu bóng vi phạm quy định của pháp luật Nhiều tác phẩm của điện ảnh Việt Nam có chất lượng nội dung tư tưởng và nghệ thuật tốt,

có tác dụng tuyên truyền, định hướng về nhận thức chính trị, văn hóa, truyền thống lịch sử, thẩm mỹ và đáp ứng nhu cầu giải trí cho khán giả Công tác xã hội hóa điện ảnh được đẩy mạnh, các hãng phim tư nhân sát cánh cùng hãng phim nhà nước sản xuất được nhiều bộ phim đa dạng về thể loại và đề tài Tổ chức thành công Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội lần thứ II với chủ đề “Điện ảnh Châu Á Thái Bình Dương thống nhất và phát triển” đồng thời tổ chức các hội nghị, hội thảo liên quan, được các nhà hoạt động điện ảnh trong nước, quốc tế và dư luận đánh giá cao

Năm 2012, ngành điện ảnh đã cấp phép phổ biến cho tổng số 26 bộ phim truyện Việt Nam (12 nhựa 35mm, 14 video); 06 phim tài liệu và 11 phim hoạt hình và 35 phim truyện ngán Việt Nam cấm phố biến 02 phim truyện Việt Nam (01 nhựa, 01 video) cấp phép Phổ biến nội bộ, trong phạm vi học tập cho 80 phim truyện ngắn Việt Nam Phim nhập khẩu được cấp phép phổ biến rộng rãi gồm 213 phim truyện nhựa, 79 phim truyện viđềo, 24 bộ phim truyện nhiều tập phát hành trên hệ thống video gia đình, cấm phố biến 7 phim truyện nhựa, 7 phim truyện video

Cùng với các phim sản xuất trong nước và phim nhập phát hành trên hệ thống; rạp chiếu bóng, ngành điện ảnh đã in hàng nghìn bản DVD các bộ phim truyện của Điện ảnh Cách mạng Việt Nam đế cấp phát cho toàn bộ các Trung tâm (Công ty) Phát hành phim và Chiếu bóng khắp 63 tỉnh thành cả nước để phục vụ đông đảo khán giả, đặc biệt là khán giả là đồng bào dân tộc, miền núi vùng sâu vùng xa Đặt hàng sản xuất hàng nghìn DVD các Chương trình băng đĩa hình và các bộ phim truyện dành riêng cho đồng bào các dân tộc, góp phần tăng thêm tiết mục, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân Ở địa phương, các Công ty (Trung tâm) phát hành phim

và chiếu bóng luôn nỗ lực, cố gắng tổ chức thành công các đợt phim chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm và hoàn thành tốt công tác chiếu phim ở địa phương, chủ yếu là hoạt động chiếu bóng lưu động, kết hợp tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, vận động nhân dân đoàn kết, nỗ lực lao động sản xuất nâng cao đòi sống vật chất và ổn định trật tự, an toàn xã hội

Khó khăn, hạn chế:

Trang 13

13

- Về văn bản quản lý nhà nước, do “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc đau thầu, đặt hàng dự án sản xuất phim có sử dụng NSNN” chưa được ban hành nên việc sản xuất phim truyện (đặt hàng và tài trợ) từ nguồn NSNN 2012 bị ngưng trệ Ngành Điện ảnh không chủ động được trong việc đầu tư hoặc đặt hàng sáng tác tạo nguồn kịch bản để sản xuất phim chuấn bị phục vụ nhân dân trong những ngày lễ lớn giai đoạn 2012-2015 Khâu phát hành phim còn nhiều yếu kém, hầu hết do tư nhân chiếm lĩnh

- Kinh phí đê thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia (lĩnh vực điện ảnh) không còn được cấp cho giai đoạn 2012-2015 đã ảnh hưởng trực tiêp đên hoạt động điện ảnh của toàn ngành nói chung và đoi với các nhà hoạt động sản xuất, phát hành, pho biến phim nói chung

- Chưa kiêm soát được một cách chủ động và chưa tham mưu đề xuất được các chỉnh sách phù họp và giải pháp phát triến chung của các đơn vị các cơ sở điện ảnh trực thuộc nhà nước quản lý do mô hình hoạt động của các cơ sở này chưa thống nhất (có cơ sở đôi tên sang Công ty TNHH MTV, có cơ sở cổ phần hỏa, có cơ sở vẫn là Trung tâm hoạt động bằng nguồn kỉnh phí sự nghiệp, hoặc hình thức sự nghiệp có thu)

2.1.3 Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm

Công tác quản lý nhà nước và hoạt động sự nghiệp mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm trên toàn quốc thực hiện đúng kế hoạch, đóng góp tích cực cho sự nghiệp văn hoá nghệ thuật, phục vụ kịp thòi các nhiệm vụ chính trị, góp phần giới thiệu hình ảnh Việt Nam với thể giới

Đã hoàn thành, trình Chính phủ: Nghị định quản lý hoạt động Mỹ thuật, Đề án Quốc hoa Việt Nam Đă ban hành: Thông tư quy định về triển lãm, thi, liên hoan và

sử dụng tác phẩm nhiếp ảnh; Đề án Quy hoạch tượng đài Quốc tổ Hùng Vương và Danh nhân anh hùng dân tộc Đang hoàn thiện:

Đề án sử dụng bộ mẫu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, Dự án trang trí Nhà Quốc hội; Xây dựng Quy hoạch và phát triển ngành Mỹ thuật đến 2020 tầm nhìn 2030; Bảng định mức đơn giá các công trình Mỹ thuật; Đề án lễ phục Việt Nam; Quy chế sử dụng quốc hoa Việt Nam Từ 2007 đến 2012, đã xây dựng được 02 văn bản pháp quy: Thông tư số 01/2009/TT-BVHTTDL về việc hướng dẫn hoạt động triển lãm văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam và đưa triển lãm văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam ra nước ngoài; Quyết định số 90/2008/QĐ-BVHTTDL quyết định ban hành quy chế Tổ chức Trại sáng tác điêu khắc

Công tác quản lý Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm từ Trung ương đến cơ sở được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ đảm bảo đường lôi chính sách của Đảng và Nhà nước Thẩm định, cấp phép và hướng dẫn các địa phương cấp phép đảm bảo đúng

Trang 14

14

luật, định hướng của Đảng; thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, quản lý chặt chẽ các hoạt động từ Trung ương đến cơ sở Chỉ đạo, hướng dẫn, phối họp, tổ chức các cuộc triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh ở trong nước và quốc tế Quản lý chặt hoạt động của các nghệ sĩ tự do trong nước ra nước ngoài triển lãm, nghệ sĩ nước ngoài về Việt Nam hoạt động, nhàm nâng cao chất lượng nghệ thuật và trình độ thẩm mỹ cho công chúng Phối hợp kiểm tra, nhắc nhở việc thực hiện Quy chế Triển lãm Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, Quy chế xây dựng tượng đài tranh hoành tráng ở một số địa phương, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các sai phạm Đã cấp 68 giấy phép triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, xây dựng tượng đài tranh hoành tráng (44 triển lãm Mỹ thuật trong

đó có 04 triển lãm ra nước ngoài, 21 triển lãm Nhiếp ảnh trong đó có 02 triển lãm ra nước ngoài); cấp 03 giấy phép xây dựng tượng đài và tranh hoàng tráng Giai đoạn 2007-2012 đã kịp thời xử lý và ngăn chặn 07 triển lãm có nội dung không phù họp, ảnh hưởng xấu đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng Tổ chức cấp 284 giấy phép Triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng; Thẩm định

178 hồ sơ định mức đơn giá các công trình mỹ thuật

Hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm tập trung vào các ngày lễ lớn, dịp

kỷ niệm và hoạt động giao lưu quốc tế Năm 2012, ở Trung ương đã tổ chức được 07 cuộc triển lâm, trại sáng tác cấp quốc gia và quốc tế: Triển lãm ảnh ý tưởng 2012, Triển lãm ảnh nghệ thuật toàn quốc lần thứ 26; Triển lãm tranh đồ họa 10 nước ASEAN; Triển lãm ảnh lễ hội văn hóa truyền thống Việt Nam tại cộng hòa Pháp; Triển lãm ảnh di sản thể giới của Việt Nam tại tuần văn hóa du lịch Việt Nam tại Nhật Bản; Trại điêu khắc đá quốc tế “Tình hữu nghị Việt Nam - Lào 2012”; Trại sáng tác

và triển lãm của các họa sĩ Ấn Độ tại Việt Nam Thiết kế, trang trí mỹ thuật, chuẩn bị cúp và quà tặng cho lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước, nghệ sĩ nhân dân và nghệ sĩ ưu tú Tổ chức phát động và thông báo về triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc (2003-2013); Tham gia khảo sát tìm địa điểm, thiết kế việc đặt tượng Bác Hồ ở các nước Argentina, Chile, Dominicana Thực hiện dự án trang trí tranh, tượng nhà quốc hội Xuất bản sách ảnh của 03 cuộc triển lãm; biên tập và xuất bản tốt tạp chí Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và hoạt động Website của Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh

và Triển lãm Góp ý dự án cải tạo nâng cấp nội thất các phòng họp tại Phủ Chủ tịch Các Sở VHTTDL, Hội Văn học nghệ thuật ở địa phương đã tổ chức hơn 220 triển lãm

Mỹ thuật; 284 triển lãm Nhiếp ảnh; 13 triến lãm nước ngoài; 55 trại sáng tác Mỹ thuật, Nhiếp ảnh; 460 cuộc thi tranh thiếu nhi, cổ động và nhiều cuộc triển lãm tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn Các hoạt động trên góp phần cổ vũ phong trào thi đua, yêu nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nhu cần văn hóa tinh thần của nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế

Từ 2007-2012, hàng năm tổ chức từ 04 đến 06 cuộc thi, triển lãm, trại sáng tác quy mô quốc gia và quốc tế và xuất bản 05 đầu sách ảnh Tại các cuộc thi, triển lãm quốc gia đã trao 50 giải thưởng cho các nghệ sỹ; tại các cuộc thi quốc tế, lĩnh vực Mỹ

Trang 15

- Kinh phỉ dành cho lĩnh vực Mỹ thuật, Nhiêp ảnh còn hạn hẹp Thiêu kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà triên lăm cho các địa phương trong cả nước

- Công tác tổ chức triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triền lãm còn thiếu tỉnh chuyên nghiệp, khoa học, đẳng bộ Ớ địa phương còn thiếu các nhà triển lãm; Chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội hóa Mức hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân (xem các triển lãm, các tác phâm nhiếp ảnh) còn thấp

- Chưa xây dựng được thị trường mỹ thuật, nhiếp ảnh trong nước, công tác lý luận phê bình và quảng bá còn yếu

2.1.5 Xây dựng văn hóa cơ sở và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

Tiếp tục tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản, đề án quan trọng trên các lĩnh vực: quảng cáo, tổ chức các hoạt động

kỷ niệm, lễ hội, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, khu vui chơi, giải trí trẻ

em và nâng cao hiệu quả hoạt động Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trong tình hình mới, có gẳn kết với Phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, bao gồm 01 Luật, 02 Nghị định, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Luật Quảng cáo được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 01/01/2013, là một bước tiếh lớn trong quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý về hoạt động quảng cáo Công tác quản lý nhà nước về quảng cáo đã được các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường thường xuyên, tiến hành quyết liệt công tác xây dựng, triển khai thực hiện quy hoạch quảng cáo (40/63 địa phương hoàn thành quy hoạch); mô hình cấp phép quảng cáo theo mô hình một cửa liên thông cũng thể hiện nhiều mặt tích cực về cải cách thủ tục hành chính; hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm được tiến hành thường xuyên, liên tục, góp phần chấn chỉnh toàn diện hoạt động quảng cáo tại địa phương

Công tác quản lý nhà nước về việc cưới, việc tang, lễ hội có sự chuyển biến rõ rệt Đề án tổ chức Lễ khai Ấn Đền Trần Nam Định đã phát huy hiệu quả, được nhân

Trang 16

16

dân hưởng ứng đồng thuận Nhiều tỉnh/thành đã có sự quan tâm trong chỉ đạo chấn chỉnh các biểu hiện tiêu cực và tăng cường quản lý và tố chức việc cưới, việc tang, lễ hội với sự tham gia của cả hệ thống chính trị (Hà Nội, Bình Dương, Bắc Ninh, Ninh Bình, Phú Thọ ) Công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan văn hoá lễ hội được đảm bảo tốt hơn, các tệ nạn xã hội thường xảy ra tại lễ hội từng bước được khắc phục

Công tác tuyên truyền với nhiều hình thức sinh động, phong phú, lồng ghép, gán với các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch vào các hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn, sự kiện chính trị của đất nước và của địa phương Các liên hoan, hội thi, hội diễn tuyên truyền lưu động, nghệ thuật quần chúng với chủ đề “Biên giới và Biến đảo Việt Nam”, “Việt Nam quê hương tôi” toàn quốc năm 2012 được tổ chức sôi nổi thu hút đông đảo lực lượng cán bộ văn hóa cơ sở tham gia Các Liên hoan nghệ thuật quần chúng do các địa phương, Bộ, ngành tổ chức cũng tạo nên phong trào văn hóa, văn nghệ rộng khắp cả nước

Hệ thống thiết chế văn hóa các cấp được quan tâm phát triển và định hướng trong vận hành hoạt động Tổ chức Hội nghị giao ban thiết chế văn hóa-thể dục, thể thao các Bộ, ngành, địa phương năm 2012, nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động Nhìn chung, các Trung tâm Văn hóa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, nỗ lực sáng tạo tổ chức hoạt động tại chỗ, lưu động và hướng dẫn phong trào cơ sở

Hoạt động văn học đã bám sát kế hoạch công tác năm 2012, hoàn thành các nhiệm vụ được giao Phối hợp cơ quan hữu quan chấn chỉnh hoạt động Câu lạc bộ thơ ở địa phương Vai trò QLNN về văn học dần được định hình, trong phối hợp chặt chẽ vói úy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt

Nam và Hội Nhà văn Việt Nam triển khai các Đề án thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa:

Thực hiện Quyết định số 1610/QĐ-TTg ngày 16/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020, Phong trào được triển khai ngày càng sâu rộng trong cả nước, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở Các mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện Phong trào được đưa vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chỉ tiêu thực

kế hoạch kinh tế-xã hội các cấp, kế hoạch của các tổ chức đoàn thể hàng năm

Ban Chỉ đạo Trung ương được kiện toàn trên cơ sở hợp nhất Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đòi sống văn hoá và Ban vận động Trung ương Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân

cư UBND các tỉnh, thành phố xâv dựng và ban hành Kế hoạch triển khai Đề án “Phát

Trang 17

17

triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”, xây dựng Kế hoạch thực hiện Phong trào đến năm 2015 Ban Chỉ đạo các cấp đều chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các nội dung, tiêu chí bình xét và công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Làng, thôn, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa”, “Xã đạt chuẩn nông thôn mới” Ban hành Thông tư quy định “Đơn vị đạt chuẩn văn hóa”, „Thường, xã đạt chuẩn văn minh” để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Phong trào Tổ chức, hướng dẫn đăng ký xây dựng và thực hiện quy ước, hương ưó‟c làng, thôn, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa Ưu tiên dành kinh phí trong quỹ khen thưởng của tỉnh, huyện, xã để động viên, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sác thực hiện Phong trào; đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên của BCĐ các cấp

Khó khăn, hạn chế:

- Sự phối hợp giữa các Sở, ngành trong cấp giấy phép thực hiện quảng cáo một cửa liên thông còn khó khăn tại một số địa phương; các vi phạm trong hoạt động quảng cáo trên các phương tiện với các hành vi như: nội dung quảng cáo không đủng nội dung được cấp phép, nội dung quảng cáo không có tiếng Việt; vi phạm không ghi

so giấy phép, thời gian thực hiện, tên và địa chỉ người xin phép

- Ở một số lĩnh vực, nhiệm vụ, công tác tuyên truyên chưa có chất lượng và hiệu quả; còn nhiều khó khăn trong công tác phoi hợp giữa các cơ quan của địa phương trong quá trình triển khai thực hiện

- Các thiết chế văn hoá-thê dục thê thao cơ sở phần lớn bị xuống câp và thiếu đồng bộ về trang thiết bị cho hoạt động sự nghiệp Trang thiết bị cho các thiết chế còn thiếu thổn, không đủ điều kiện hoạt động, nhất là khu vực nông thôn nghèo, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa

- Đội ngữ cán bộ văn hoá, thể dục, thể thao cơ sở còn thiếu và yếu, nhất là ở các xã, phường, thị trấn

- Công tác quản lý, to chức hoạt động ở một so nơi còn nhiều bất cập, nặng cơ chế xin cho, thiếu chủ động, sáng tạo Hiệu quả hoạt động chưa đồng đều, chưa phát huy tốt điều kiện cơ sở vật chất của thiết chế vãn hoá, thể dục, thể thao cơ sở Chưa cỏ chính sách thiết thực cho các đối tượng cụ thê là: công nhân, người cao tuôi, trẻ em

- Nhìn chung hệ thong thiêt chê văn hoá-thể dục thể thao cơ sở vẫn ở tình trạng thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng còn thấp Chim có nhiều công trình văn hoá, công trình thể thao và khu vui chơi giải trí phù hợp với mức song của nhân dân Đầu tư của ngân sách Nhà nước cho văn hóa, thể dục, thể thao còn thấp Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá, thê dục, thể thao rất hạn chế do chỉnh sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực

Trang 18

18

- Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lê hội cần sự quan tâm chỉ đạo liên tục, kiên trì, bền bỉ mới có thê giảm thiếu các biếu hiện tiêu cực

Trong thực hiện Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa:

- Nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền, ngành, đoàn thể (nhất là ở

cơ sở) còn hạn chế; trong công tác lãnh đạo chỉ đạo, tuyên truyền vận động và trỉển khai nội dung Phong trào chưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng và trách nhiệm của mình; đặc biệt Phong trào chưa đồng đểu giữa các khu vực, vùng miền

- Việc công nhận các mô hình văn hóa: Gia đình vãn hóa, Làng (thôn, ấp, bản,

tổ dân phố và tương đương) văn hóa, Cơ quan (đơn vị, doanh nghiệp) vãn hỏa, Xã đạt chuẩn vãn hóa nông thôn mới, Xã (phường, huyện ) điểm văn hỏa, làng văn hóa sức khỏe, làng văn hóa thể thao, dòng họ văn hóa còn bộc lộ chất lượng thiếu bên vững

- Nội dung văn hỏa trong Phong trào chưa thực hiện đầy đủ theo tiêu chí đề ra, hiệu quả đạt được còn thấp, nhất là trong việc ngăn chặn tình trạng suy giảm tư tưởng chính trị, đạo đức, loi song, nếp sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân

- Kinh phí hoạt động hàng năm cho Ban Chỉ đạo cấp cơ sở cồn thấp, chưa đáp ứng kịp thời, còn bất cập

(Ngay từ đầu năm, đã tô chức Hội nghị “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền

cổ động trực quan tại cơ sở” để ra các giái pháp và tập huấn nghiệp vụ cho các bộ văn hóa làm công tác tuyên truyền, thông tin cô động Nhiều hoạt động sinh hoạt chỉnh trị của đất nước với các chủ đề: Biến, Đáo Việt Nam; Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới; kỷ niệm 65 năm Ngày Thương bình- Liệt sỹ, 40 năm Chiến thắng "Hà Nội-Đỉện Điên Phủ trên không”;

Tông kết và trao giải cuộc thi sáng tác kịch ngắn về để tài „„Biển đáo Việt Nam”; Biên tập các lác phàm có chất lượng cao trong cuộc thi sáng tác kịch bản văn học về

đề tài “Biển đảo Việt Nam ” để in sách, phát hành về cơ sở; tổ chức Liên hoan các câu lạc bộ thơ toàn quốc tại Bình Định )

2.1.6 Xây dựng văn hoả vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Định hướng được các mục tiêu, giải pháp cơ bản đế bảo tồn, phát triến văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2011-2020, xây dựng, triển khai Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” Đã có sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức cũng như trách nhiệm của các cấp, các ngành chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương chính sách Các địa phương tích cực triển khai có

Trang 19

Năm 2012 đã tổ chức và phối hợp tổ chức thành công các hoạt động giao lưu văn hóa bao gồm: Liên hoan văn hóa các dân tộc Việt Nam nhân ngàv Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4; Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng Đông Bắc lần thứ VIII tại tỉnh Tuyên Quang; Nhữna ngày văn hóa Tây Bắc tại Hà Nội; Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm-Ninh Thuận năm 2012; Những ngày văn hóa Tây Nguyên tại Hà 'Nội lần thứ 2; Liên hoan nghệ thuật Hát Then, Đàn Tính toàn quốc lần thứ IV tại tỉnh Lạng Sơn; Giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt-Lào, Giao lưu văn hóa nghệ thuật các tỉnh vùng biên giới Việt Nam-Campuchia năm 2012, Liên hoan tổ, đội tuyên truyền văn hóa tuyến biên giới khu vực Miền Trung-Tây Nguyên góp phần phát huy văn hoá truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các dân tộc Ở các địa phương vùng miền núi và dân tộc thiểu số cũng rất chú trọng công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung, văn hóa

Trang 20

20

các dân tộc thiếu số nói riêng Các tỉnh đã ban hành các Chỉ thị, kế hoạch, quyết định,

đề án, dự án, chương trình nhằm bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tại địa bàn trons năm 2012 và những năm tiếp theo, góp phần xây dựng, phát triến và nâns cao đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ Hầu hết các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số đă ban hành kế hoạch thực hiện Đề án 1270 theo Quyết định của UBND tỉnh-thành lập Ban điều hành

Đề án của tỉnh, trong đó tập trung đầu tư cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, tố chức khảo sát, thống kê, đánh giá thực trạng các giá trị văn hóa truyền thống, từng bước kiểm kê di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiếu số ở các địa phương, lập hồ sơ khoa học, từ đó có kế hoạch gìn giữ

và phát huy các giá trị văn hóa; góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu

số

Đến nay tỉnh Khánh Hòa đã hoàn thành công tác kiếm kê văn hóa phi vật thể tại các vùng có đồng bào dân tộc thiếu số cư trú; tỉnh Điện Biên hoàn thành kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc Xinh Mun, Kháng, Phù Lá, SiLa, sưu tầm nghiên cứu và bảo tồn lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số; thành phố cần Thơ hoàn thành công tác kiểm kê đánh giá thực trạng di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Hoa, Khmer; tỉnh Tuyên Quang đã kiểm kê được 147 di sản văn hóa phi vật thể của

08 dân tộc trên địa bàn; tỉnh Bắc Giang kiềm kê di sản văn hóa của dân tộc Tày, Nùng; tỉnh Lào Cai kiếm kê di sản văn hóa dân tộc Dao; tỉnh Thái Nguyên kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc Tày,'Nùng, Cao Lan, Sán Chí ; tỉnh Sóc Trăng triển khai các

đề tài về văn hóa phi vật thể của người Khmer; tỉnh Gia Lai kiểm kê di sản văn hóa người Bana; tỉnh Hà Giang khảo sát, kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc: Mông, Dao,

Lô Lồ, Pu Péo, Bố Y, La Chí, Pà Thẻn ) Các địa phương đều quan tâm thực hiện những đề tài nghiên cứu khoa học về các dân tôc thiểu số trên đia bàn

Hầu hết các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiếu số đã thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, tổ chức tuyên truyền tới đồng bào nhằm từng bước từ bỏ những thói quen lạc hậu, bảo tồn có chọn lọc những phong tục, tập quán tốt đẹp Những kết quả trên đã khẳng định được lòng tin của đồng bào, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần tích cực vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nhiều thuần phong mỹ tục được gìn giữ và phát huy, các hủ tục từng bưó'c được đẩy lùi

Khó khăn, hạn chế:

- Các chính sách, đề án phát triển văn hoá các dân tộc thiêu so vẫn thường đứng biệt lập, ít gan kết với các chương trình, đê án phát triến về kinh tế-xã hội nên hiệu quả không cao, nguồn lực bảo đảm thực hiện còn hạn chế

Trang 21

- Chưa thực sự phát huy được vai trò chủ thê của người dân, của cộng đồng trong việc bảo tổn và phát huy bản sắc văn hỏa của các dân tộc thiêu số Việt Nam

- Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác vãn hoá vùng đồng hào dân tộc thiêu

số tuy nhiệt tình nhưng còn thiếu và yếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực Người có uy tín và các nghệ nhân người dân tộc thiểu so ngày càng ừ dần

2.1.7 Thư viện

Tập trung xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật: Dự án Luật Thư viện đã được Chính phủ thông qua, trình Quốc hội; đồng thời triển khai xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng đẫn thi hành Luật Thư viện Hoàn thiện và chuẩn bị ban hành các Thông tư: hưóna; dẫn tiêu chí và thủ tục thanh lọc tài liệu trong thư viện; Thông tư liên tịch với Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý và sử dụng viên chức đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực thư viện

Công tác quản lý Nhà nước về thư viện ngày càng phát huy hiệu quả, góp phần tăng cường sự quan tâm đầu tư của Nhà nước đối với hoạt động thư viện Quan tâm củng

cố hệ thống thư viện cấp huyện và cơ sở, công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ thư viện, nhất là cán bộ thư viện cơ sở, công tác luân chuyển sách, báo được các thư viện tỉnh, thành phố được thực hiện thường xuyên, đạt hiệu quả Thư viện cơ

sở (xã, làng, thôn, ấp ) phát triển mạnh gắn với phong trào xây dựng làng văn hóa và chương trình xây dựng nông thôn mới Nhiều thư viện tỉnh được đầu tư xây dựng mới, đã được khánh thành và đưa vào sử dụng: Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá Văn hóa đọc được duv trì và có xu hướng phát triển đáng khích lệ thông qua các hoạt độnẹ tuyên truyền, tổ chức Ngày hội Sách và Văn hóa đọc 2012 (23/4); Hội báo Xuân năm Nhâm Thìn, trung bày, triển lãm, tuyên truyền giới thiệu sách, Liên hoan kể chuyện sách phục vụ các ngày lễ lớn của dân tộc tại các tỉnh-thành trong cả nước Hoạt động thư viện có bước phát triển mới: tổng số thư viện/PĐS từ 16.500 đon vị (2007) tăng lên 18.626 (năm 2012); lượt bạn đọc từ 19.000.000 lượt (2007) tăng lên

24.500.0 (năm 2012); lượt, sách báo luân chuyển từ 19.000.000 lượt (2007) tăng lên 24.500.000 lượt (2012); bình quân bản sách/người/thư viện từ 0,3 (2007) tăng lên

Trang 22

22

0,37 (2012) Phối họp với Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai Dự án mở rộng

“Nâng cao năng lực sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam”

do Quỹ Bill và Mẹlinda Gates tài trợ theo đúng tiến độ tại 12 tỉnh láp đặt máy tại gần

311 điểm thư viện (tỉnh, huyện và xã) đưa vào phục vụ nhân dân Thư viện Quốc gia Việt Nam tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cao chất lượng và bổ sung vốn tài liệu Năm 2012, tống số bạn đọc khai thác, sử dụng tài liệu tại chỗ và truy cập trực tuyến là 3.063.700 lượt; luân chuyển 957.550 lượt tài liệu; hỗ trợ 19.584 bản sách, vận động, tiếp nhận, phân chia hơn 15.587 bản sách của các đơn vị tài trợ tới 145 đơn vị thụ hưởng là các thư viện tỉnh, thành phố còn khó khăn, đồn biên phòng và huyện đảo Khó khăn, hạn chế:

- Luật Thư viện chưa được ban hành trong khi đỏ sự phát triển của ngành thư viện hiện nay đang rât cần một văn bản pháp luật cố hiệu lực cao nhất là Luật Tỉm viện đê tạo ra bước phát triên mới của ngành

- Cơ chế, chính sách đôi với hoạt động thư viện, cán bộ thư viện còn nhiều bất cập chưa tạo ra sức bật cho ngành phát triển

- Đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực thư viện còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng với sự phát triến của ngành trong thời kỳ mới

- Trình độ phát triến của thư viện Việt Nam còn có khoảng cách khá lởn so với các nước đang phát triến trong khu vực

(Thông bảo Kết luận số 26-TB/TIV ngày 09 (háng 5 năm 201Ị của Ban Bí thư về việc

sơ kết Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21 thủng 02 năm 2005 của Ban Bí thư (khóa IX) về

“Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29 thủng 5 năm 2012 cua Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triến gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2012 của Chinh phu ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Thông bảo kết luận của Ban Bí thư; Nghị định sổ 02/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng Oỉ năm 2013 Quy định về công tác gia đình.)

2.1.8 Gia đình

Công tác gia đình tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2013 Quy định về công tác gia đình, theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được Chính phủ giao thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình trong phạm vi toàn quốc

Ở Trung ương, công tác tham mưu, xây dựng ban hành văn bản, đề án phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về gia đình đã cơ bản hoàn thiện Đến hết năm 2012, Ngành đã tham mưu Đảng, Nhà nước ban hành nhiều văn bản quan trọng về lĩnh vực gia đình Triển khai Chiến lược phát triển Gia đình Việt Nam, Bộ đã khẩn trương

Trang 23

23

hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ 3 Đề án thành phần, gồm: Nâng cao chất lượng các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020; Kiện toàn, đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác gia đình các cấp đến năm 2020; Xây dựng cơ sở dữ liệu về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; đã ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai Chiến lược (Chỉ thị và Chương trình triển khai Chiến lược của Bộ trưởng)

Tiếp tục chỉ đạo và thực hiện tốt Đề án “Tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình đến năm 2020” Tiến hành sơ kết 03 năm triển khai Đề án (2009-2012) vào đầu tháng 01/2013 Hoạt động truyền thông về công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình được chú trọng, đặc biệt vào các dịp kỷ niệm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6), ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với Phụ nữ (25/11) với hình thức, nội dung đa dạng, có chất lượng: các cuộc thi, hội thi, diễn đàn và các chuyên trang, chuyên mục trên Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các phương tiện thông tin đại chúng khác Công tác bình đẳng giới được quan tâm triển khai: tiến hành nghiên cứu, rà soát nội dung bình đẳng giới trong các hương ước, quy ước tại một số địa phương (Hưng Yên, Thái Bình ) và đề xuất sửa đổi phù hợp, nhằm mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Chú trọng hướng dẫn công tác kiện toàn cán bộ làm công tác gia đình, tổ chức các cuộc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ thực hiện công tác gia đình cấp tỉnh

Triển khai và phát huy sự phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể xã hội: Công đoàn viên chức Việt Nam, Trung ương Hội Người Cao tuối Việt Nam, Bộ Công an (Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ; ký kết mới Chương trình phối hợp giai đoạn 2012-2015 với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung ương Hội LHPN Việt Nam

Phối hợp và huy động các nguồn lực xã hội tham gia như: với Quỹ Dân số Liên họp quốc (UNFPA) về thực hiện Dự án “Xây dựng và ứng phó quốc gia về phòng, chổng bạo lực gia đình giai đoạn 2012-2016”, với Tổ chức Hòa bình phát triển Tây Ban Nha về thực hiện Dự án “Truyền thông thúc đầy phòng, chống bạo lực gia đình”

Hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình dần đi vào nền nếp, nhiều địa phương triển khai tích cực như Hải Dương, Tây Ninh, Bình Dương, Lai Châu, Phú Yên, Đồng Nai ; Bộ có văn bản hướng dẫn tố chức hoạt động của mô hình phòng, chống bạo lực gia đình nhằm đẩy mạnh, nhân rộng các mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình Xác định và thực hiện nhiệm vụ đột phá trong lĩnh vực gia đình về “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiếu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016” Đã xây dựng được Bộ số liệu về số

vụ bạo lực gia đình của 63 tỉnh-thành (đã có số liệu từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2012), là cơ sở quan trọng trong việc đề ra chính sách, kế hoạch, mô hình can thiệp

Trang 24

24

phòng, chống bạo lực gia đình trong những năm tới Sô liệu thống kê theo báo cáo, số

vụ bạo lực gia đình có xu hướng giảm, từ 53.152 vụ năm 2009, 53.863 vụ năm 2010, 46.449 vụ năm 2011, 6 tháng đầu năm 2012 xảy ra 25.383 vụ Nạn nhân của các vụ bạo lực gia đình chủ yếu là phụ nữ, chiếm hơn 60% (số liệu của 56/63 tỉnh, thành) Khó khăn, hạn chế:

- Công tác gia đình là một lĩnh vực rất rộng, liên quan tới nhiều Ban, Bộ, ngành, đoàn thế Cơ chế điều phối, phối hợp giữa chính quyền, công an, đoàn thê và cộng đông trong theo dõi, phát hiện, tư van và xử lý vi phạm còn yêu Vai trò của Thanh tra Sở Văn hóa, Thế thao và Du lịch trong xử lý vi phạm hành chỉnh đối với các vụ bạo lực gia đình còn mờ nhạt

- Nguồn lực của Nhà nước đảm bảo thực hiện công tác gia đình chưa được quan tâm thực sự, còn hạn hẹp, chưa cỏ quy định cụ thê, rõ ràng

- Đội ngũ cán bộ còn thiếu, còn hạn chế về năng lực trình độ chuyên môn, nhất

là cắp xã chưa có cán bộ chuyên trách, cán bộ cơ sở kiêm nhiệm nhiều việc; có nhiều biến động nên việc triển khai công tác gia đình rất khó khăn, kém hiệu quả Trong khỉ, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nảy sinh nhiều nguy cơ gây mất ổn định gia đình như ly thân, ly hôn, kết hôn đồng tỉnh, mất cân bâng giới tính

- Kết quả thực hiện công tác gia đình còn chưa đồng đều giữa các địa phương Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn ở một số địa phương còn mang tỉnh hình thức, chưa cụ thể, chưa bám sát tình hình thực tiên của địa phương

(Theo sổ liệu 2012, trong ngành VHTTDL, cán bộ làm công tác gia đình cấp tỉnh có

180 người, trung bình 2,86 cán bộ/tinh, thành (trong đó 0% được đào tạo về gia đình), về kinh nghiệm: 21,11% cản bộ, công chức sáp nhập từ úy ban Dân Số-Gia đình và Trẻ em cấp tỉnh, 79,44% cán bộ mới tiếp cận Cấp huyện có 813 người được biên chế kiêm nhiệm (7,38% cán bộ, công chức đã tham gia công tác gia đình từ ngành Dân Số-Gia đình và Trẻ em, 92,87% cán bộ, công chức mới tiếp cận Cấp xã

có 11.121 người, 99,47% là cán bộ văn hóa - xã hội, 0,52% là cán bộ không chuyên trách về gia đình và trẻ em, sổ cán bộ này thường xuyên biến động

Hiện nay, cả nước có 11,319 CLB gia đình phát triển bền vững, 11,363 Nhóm PCDLGĐ, 10,986 tổ hòa giải (sổ liệu tính đến tháng 6/2012).)

2.2 Thể dục, thể thao

2.2.1 Xây dựng văn bản quản lỷ nhà nước

Công tác xây dựng, soạn thảo đề án, văn bản quy phạm pháp luật được quan tâm chỉ đạo, hầu hết các văn bản, đề án trong năm 2012 được hoàn thành đúng tiến

độ, đảm bảo chất lượng đề ra Quy mô, chất lượng của các phong trào thể thao quần

Trang 25

25

chúng trong khuôn khổ Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác

Hồ vĩ đại” và các phong trào thể thao trong trường học, lực lượng vũ trang, thể thao dân tộc ngày càng được nâng cao; các chỉ tiêu cơ bản về thể dục thể thao quần chúng được hoàn thành theo đúng kế hoạch Công tác tuyển chọn, đào tạo vận động viên năng khiếu, vận động viên trẻ được các địa phương quan tâm đầu tư; chế độ như tiền công, tiền lương, tiền thưởng và chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với các vận động viên, huấn luyện viên thể thao thành tích cao được cải thiện Các môn thể thao thế mạnh tiếp tục được khẳng định, thành tích thể thao trên đấu trường thế giới được duy trì, một số môn thể thao có bước phát triển (thể dục dụng cụ, bán súng, bơi lội) Thể thao Việt Nam đạt chỉ tiêu tham dự vòng loại Olympic với 18 vận động viên đạt chuẩn ở 11/13 môn thi đấu, cao nhất từ trước tới nay Lần đầu tiên Việt Nam giành quyền đăng cai Đại hội thể thao cấp châu lục - Đại hội thể thao Châu Á lần thứ 18 năm 2019 (ASIAD18-2019)

Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành: Đề án tố chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VII năm

2014 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 670/QĐ-TTg, ngàv

6 tháng 6 năm 2012); Kế hoạch vận động đăng cai Đại hội thể thao châu Á lần thứ 18 năm 2019 tại Việt Nam (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1155/QĐ-TTg, ngày 28 tháng 8 năm 2012) Phối họp ban hành và ban hành theo thẩm quyền: 01 Thông tư liên tịch, 08 Thông tư về thể dục thể thao

2.2.2 Thể dục, thể thao quần chúng

Năm 2012, toàn Ngành đấy mạnh triển khai thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại giai đoạn 2012- 2020” và tiến hành công tác chuẩn bị tố chức Đại hội Thế dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VII năm 2014 Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sâu, rộng trên địa bàn cả nước; với hơn 39.000 giải thể dục thể thao quần chúng được tổ chức Các chỉ tiêu cơ bản về thể dục, thể thao quần chúng đều đạt được: số người tập luyện TDTT thường xuyên trên toàn quốc ước đạt 25,49%; số gia đình đạt tỷ lệ 16,6% tổng số hộ; số câu lạc bộ thể thao: 45.080 câu lạc bộ

Phối hợp tổ chức 34 hội thi, giải thể thao quần chúng, 19 lóp tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho trọng tài, huấn luyện viên, hướng dẫn viên làm công tác thể dục thể thao quần chúng trên cả nước Tham dự các giải thể thao quốc tế năm 2012, các vận động viên thể thao quần chúng giành được 5HCV, 2HCB, 3HCĐ tại các giải Cử tạ người khuyết tật thế giới Malaysia, Đại hội thể thao quốc tế dành cho trẻ em Châu Á tại Sakha (Nga), Kéo co Châu Á và giải cầu lông người khuyết tật Châu Á tại Hàn Quốc; Đoàn Thể thao người khuyết tật thi đấu hoàn thành nhiệm vụ tại Paralympic London 2012 Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 26

26

cử Đoàn học sinh tham dự Đại hội Thể thao học sinh Đông Nam Á năm 2012 tổ chức tại Inđônêsia (Đoàn Việt Nam xếp hạng 4/7 đoàn với thành tích 60 huy chương các loại (27 huy chương vàng, 17 huy chương bạc, 16 huy chương đồng), Đại hội thể thao sinh viên Đông Nam Á tại Lào (Đoàn Việt Nam xếp hạng nhì toàn đoàn với tổng số

119 huy chương (56 HCV - 35 HCB - 28 HCĐ) Đoàn Malaysia xếp thứ nhất (60 HCV, 45 HCB, 70 HCĐ) và tổ chức thành Hội khoẻ Phù đổng toàn quốc lần thứ VIII tại thành phố cần Thơ

Năm năm qua (2007-2012), Phong trào tập luyện thể dục, thế thao của quần chúng đưọ‟c duy trì ổn định, thường xuyên; cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được triển khai liên tục trong những năm qua, đã phát huy hiệu quả thực tiễn và là động lực thúc đẩy phong trào TDTT ở cơ sở phát triển Một số môn thể thao dân tộc thế thao giải trí được quan tâm đầu tư phát triển, được luật hóa và đưa vào thi đấu tại các hội thi thể thao dân tộc Đặc biệt, 02 môn thể thao dân tộc là Đá cầu và Vovinam đã được quốc tế hóa, đưa vào chương trình thi đấu tại SEA Games và Asian Indoor Games Thể thao cho người khuyết tật được quan tâm phát triển, đạt thành tích tốt; số người tập luyện thể thao thường xuyên nâng lên (năm

2007 số người tập luyện TDTT thường xuyên là 21,9%, số gia đình luyện tập TDTT thường xuyên là 14,2%; năm 2012, số người tập luyện TDTT thường xuyên trên toàn quốc ước đạt 25,49%; số gia đình đạt tỷ lệ 16,6% Công tác giáo dục thể chất và thể thao trong trường học đã có những chuyển biến tích cực, duy trì tốt nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khoá theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tích cực đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá, một số môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tính đến năm 2012, có 28.384 trường đảm bảo chương trình giáo dục thể chất; số giải thể dục thể thao quần chúng tổ chức trong cả nước là 39.105 giải

2.2.3 Thể thao thành tích cao

Tập trung xây dựng kế hoạch và triệu tập các đội tuyển vận động viên, huấn luyện viên tập huấn tại các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nang, cần Thơ và Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

để tham dự Olympic London 2012, Đại hội thể thao Bãi biển Châu Á lần thứ 3 tại Trung Quốc và các giải thể thao khu vực, châu lục và thế giới; triển khai công tác đào tạo vận động viên trẻ nhàm chuẩn bị lực lượng vận động viên tham dự SEA Games 27 năm 2013, ASIAD17 năm 2014, Olympic 2016

Đà triệu tập tập huấn 2.922 lượt vận động viên, huấn luyện viên thuộc các đội tuyển và đội trẻ quốc gia cá : môn thể thao (trong đó: 1.429 vận động viên, 263 huấn luyện viên, 35 chuyên gia đội tuyển quốc gia và 1.036 vận động viên, 153 huấn luyện

Trang 27

27

viên, 06 chuyên gia đội tuyển trẻ quốc gia) tại các Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nang, cần Thơ và Trường Đại học Thế dục thể thao Bắc Ninh; phối hợp với các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia và các địa phương tố chức 207 giải thể thao trong nước, quốc tế tại Việt Nam, tổ chức 32 lớp đào tạo, bồi dưỡng HLV, trọng tài thể thao; tham dự 190 giải quốc tế, cử 31 đội tuyến, cá nhân đi tập huấn, đào tạo nước ngoài

Tham dự các giải thể thao quốc tế năm 2012, các vận động viên Việt Nam đã giành được tổng số 271 huy chương vàng, 234 huy chương bạc và 154 huy chương đồng (trong đó: 19HCV, 19HCB, 13HCĐ các giải thế giới; 55HCV, 67HCB, 56HCĐ các giải Châu Á; 174HCV, 125HCB, 54HCĐ tại các giải Đông Nam Á; 23HCV; 231ICB, 31HCĐ tại các giải quốc tế mở rộng khác); 18 vận động viên Việt Nam giành suất chính thức tham dự Olympic London 2012 đă đạt được một số thành tích tốt, tiếp cận được với thành tích có huy chương

Trong 5 năm qua, công tác tuyển chọn, đào tạo vận động viên năng khiếu, vận động viên trẻ có nhiều đổi mới Hệ thống 3 Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nang đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng hoạt động; thường xuyên phục vụ khoảng trên 20 vận động viên cấp cao, vận động viên trẻ của các đội tuyển quốc gia Các cơ sở huấn luvện thể thao của các tỉnh, thành phố và của một số ngành cũng liên tục được đầu tư nâng cấp Các chế độ, chính sách đối với vận động viên, huấn luyện viên như chế độ dinh dưỡng, tiền công, tiền lương, bảo hiểm, khen thưởng đã có nhiều cải thiện trong những năm qua Đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2011/QĐ-TTg ngàv 06 tháng 6 năm 2011 về một số chế độ đối với Huấn luyện viên, Vận động viên thể thao được tập trung tập huấn và thi đấu; tạo điều kiện thuận lợi để chuấn bị lực lượng tham dự các

sự kiện thể thao cấp châu lục và quốc tế như: SEA Games 26, ASIAD 16, Olympic London 2012 Chuyên nghiệp hoá thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp tiếp tục được triển khai thí điểm và bước đầu nhân rộng mô hình ở một số môn (Bóng chuyền, quần vọt, golf, bowling, đua xe đạp, cầu lồng ) Thị trường chuyển nhượng vận động viên, huấn luyện viên, thị trường quảng cáo trong lĩnh vực thế thao bước đầu hình thành và hoạt động sôi động Thành tích thi đấu của thế thao Việt Nam tại các kỳ Đại hội thể thao và các giải thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới đã có bước phát triển, liên tục được xếp hạng trong top 3 các kỳ SEA Games, trong top 20 của Đại hội thể thao Châu Á và giành Huy chương Bạc tại Olympic năm 2008 (môn

Cử tạ) Đăng cai tổ chức nhiều sự kiện thể thao có quy mô lớn , đặc biệt là việc tổ chức Đại hội Thể thao Châu Á Irong nhà lần thứ III (AIG3), Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VI, giúp nước bạn Lào tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games) lần thứ 25 thu được nhiều kết quả tốt cả về chuyên môn cũng như năng lực tổ chức, được các tổ chức, liên đoàn thể thao quốc tế đánh giá cao, góp phần nâng cao uy tín của thể thao Việt Nam

Trang 28

- Thành tích thế thao ở một so môn thê thao cơ bản (Điên kinh, Bơi lội, Thể dục) và các môn trong chương trình Olympic tuy có tiên bộ nhưng nhìn chung còn thấp so với châu lục và thế giới; thành tích của một so môn thể thao thế mạnh có dấu hiệu chững lại; đội tuyển bóng đá quốc gia thi đấu thiếu thuyết phục tại giải Vô địch AFF Suzuki Cup 2012

- Công tác đào tạo lực ỉượng vận động viên trẻ kế cận và chuân bị lực lượng vận động viên tham dự các ãại hội ỉớn chưa đáp ứng được yêu

cầu thực tiến; chế độ dinh dưỡng và trang thiết bị tập luyện, thi đâu cho các vận động viên đội tuyển, tuyến trẻ quốc gia đang gặp rắt nhiều khó khăn do nguồn kinh phí hạn hẹp Chế độ tập luyện, bồi dưỡng cho VĐV còn rất hạn chế

- Công tác quản lý nhà nước thế thao chuyên nghiệp còn bât cập; các hiện tượng tiêu cực trong thi đấu thế thao, đặc biệt là trong bóng đá, tuy đã được hạn chế nhưng vân còn diên biến phức tạp; công tác quản lý, điêu hành các giải bỏng đả chuyên nghiệp bộc ỉộ nhiều bât cập, yêu kém, gây bức xúc trong dư luận

- Hệ thong các cơ sở huấn luyện thế thao thành tích cao còn thiếu thốn, lạc hậu

và bắt đầu có dấu hiệu xuống câp, đặc biệt là tại các Trung tâm Huấn luyện thê thao quốc gia do Trung ương trực tiếp quản lý Các công trình ở một so địa phương chất lượng còn thấp, trang thiết bị lạc hậu nên không đảm bảo cho việc tập huấn vận động viên và thi đấu các môn thế thao Kinh phí sự nghiệp thê dục thê thao thường xuyên hàng năm mới chỉ đáp ứng khoảng 78% so với nhu câu phát triên sự nghiệp

- Hoạt động của các liên đoàn, hiệp hội thế thao có nhiều chuyên biên song chưa thực sự phát huy hết vai trò, hiệu quả hoạt động Phân lớn các liên đoàn trong hoạt động vẫn phải trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước (trụ sở, kinh phí, cán bộ, phương tiện làm việc) Việc tô chức Đại hội theo nhiệm kỳ và thành lập mới các liên đoàn, hiệp hội thê thao quốc gia còn chậm

(SEA Games 24 năm 2007 giành 64HCV, 58HCB, 82HCĐ; SEA Games 25 năm 2009 giành 83HCV, 75HCB, 57HCĐ; SEA Games 26 năm 2011 giành 96HCV, 92HCB, 100HCĐ; ASIAD 16 năm 2010 giành 01HCV, 17HCB, 15HCĐ; Olympic Bắc Kinh năm 2008 giành 01HCB Các giải Vô địch thế giới, Vô địch Châu Á, Vô địch Đông Nam Á )

Trang 29

29

2.3 Du lịch

Công tác quản lý nhà nước về du lịch dần được đối mới: Luật Du lịch và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan hướng dẫn thi hành dẩn hoàn thiện và áp dụng trong thực tế

Lượng khách du lịch tăng trưởng liên tục: số lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam tăng không ngừng, năm 2007 đón được 4,2 triệu lượt khách du lịch quốc tế, năm 2010 đón được 5,04 triệu lượt khách, năm 2011 đón được trên 6 triệu lượt khách, năm 2012, du lịch Việt Nam ước đón hơn 6,8 triệu lượt khách quốc tế

Đầu tư du lịch được đẩy mạnh, đặc biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng dẫn dát phát triển du lịch Đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh Kết cấu

hạ tầng du lịch được quan tâm hỗ trợ đầu tư của Nhà nước và thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư Nhiều công trình giao thông, sân bay được cải tạo và đầu tư mới; cơ sở vật chất các khu du lịch được đầu tư, nâng cấp từng bước tạo điều kiện mở đường cho hoạt động đu lịch

Ngành du lịch tạo ra nhiều việc làm cho xã hội (hàng năm tạo thêm 30- 40 ngàn việc làm trực tiếp) Chất lượng nhân lực du lịch qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn ngày càng được nâng lên nhờ những nỗ lực của ngành và hỗ trợ của quốc tế trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch

Năm 2012, công tác nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và các

đề án lớn tiếp tục được củng cố, hoàn thiện: Triển khai nghiên cứu, rà soát sửa đối, bố sung một số điều của Luật Du lịch; xây dựng, hoàn thiện và trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định sửa đối, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2007/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch; hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt; hoàn thiện 03 đề án chuyên đề “Phát triển du lịch cộng đồng kết hợp với xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn”, "Phát triển

du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020” và “Phát triển du lịch các tỉnh biên giới Việt Nam-Lào và Việt Nam-Campuchia” Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về “Tàu thủy lưu trú du lịch-xếp hạng” và Tiêu chuẩn quốc gia về “Du lịch

và dịch vụ có liên quan-Thuật ngữ và định nghĩa”; Lập dự án xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia 2013 về “Căn hộ du lịch - xếp hạng”

Một số hoạt động chỉ đạo điều hành toàn Ngành được tăng cường: Tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc về Du lịch; kiện toàn Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch và nhân sự Văn phòng Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch; hoàn chỉnh Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch; tố chức Hội nghị lấy ý kiến doanh nghiệp đu lịch phục vụ công tác quản lý nhà nước về Du lịch tại 3 miền

Trang 30

30

Năm 2012, hoạt động du lịch tại các địa phương đă có nhiêu cô găng trong điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, cơ bản hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra Theo báo cáo, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến đạt 3,8 triệu lượt, tăng 8,5%; Quảng Ninh đón 6,4 triệu lượt khách, tăng 9%, trong đó khách quốc tế đạt 2,2 triệu lượt, tăng 6%; Đà Nang đón 2,66 triệu lượt khách, tăng 12% so với năm 2011; Kiên Giang đón 5,58 triệu lượt khách, tăng 10,1% so với năm 2011; khu vực Bắc Trung Bộ đón 12,6 triệu lượt khách, lăng 12% so với năm 2011), doanh thu du lịch đạt trên 7.000 tỷ đồng, tăng 15%; 8 tỉnh Tây Bắc có 10.481.610 lượt khách du lịch, tăng 7% so với năm 2011

Các địa phương tăng cường liên kết giữa các tuyến, điểm du lịch tạo sự đông bộ trong việc thu hút du khách và tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn Cụ thể: Chương trình E»u lịch về cội nguồn năm 2012 của 3 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai; Chương trình họp tác phát triển 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng; Hợp tác phát triển giữa 03 tỉnh Thừa Thiên-Huế - Đà Nang - Quảng Nam và Thành phố Hồ Chí Minh - Lâm Đồng - Bình Thuận; Hợp tác phát triển du lịch của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

2.3.1 Hoại động lữ hành, lưu trú

Số lượng các doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt là các lữ hành quốc tế tăng mạnh,

đã hình thành một số doanh nghiệp lữ hành có quy mô, uy tín và thương hiệu Tính đến 31/12/2012, đã cấp 1.132 giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho các doanh nghiệp, trong đó có 09 doanh nghiệp nhà nước, 371 doanh nghiệp cổ phần, 15 doanh nghiệp liên doanh, 731 công ty TNHH, 06 doanh nghiệp tư nhân Riêng năm 2012, cấp mới 188 giấy phép lữ hành quốc tế, cấp đối 57 và thu hồi 31 giấy phép

Số lượng hướng dẫn viên du lịch tăng đáng kể, việc quản lý hướng dẫn viên du lịch, đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch quốc tế đã có những tiến bộ: Đến nay, tổng cộng 12.193 thẻ hướng dẫn viên du lịch đã được cấp trong cả nước, trong đó có 5.003 thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa và 7.190 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế

Trong năm 2012, đã phối hợp với các tố chức, đơn vị biên soạn tài liệu cập nhật kiến thức cho hướng dẫn viên, xây dựng Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh cho thuyết minh viên du lịch; triển khai 53 kỳ kiếm tra nghiệp vụ hướng dẫn du lịch cho 2.042 học viên; Hoàn thiện việc nâng cấp phần mềm quản lý hướng dẫn viên

du lịch cũng như thực hiện tốt công tác quản lý các chương trình đào tạo, cấp, đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh, chất lượng được nâng lên một bước; nhiều khu du lịch, resorts, khu giải trí, khách sạn cao cấp đạt trình độ quốc tế đã hình thành Đền nay, tống số cơ sở lưu trú

du lịch trên địa bàn cả nước ước tính là 13.500 với 285.0 buồng, trong đó: 57 khách sạn 5 sao với 14.068 buồng; 147 khách sạn 4 sao với 18.257 buồng; 335 khách sạn 3

Trang 31

2.3.2 Xúc tiến, quảng bá

Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong những năm qua đã góp phần tích cực vào nỗ lực đưa hình ảnh một đất nước Việt Nam thân thiện, an toàn và mến khách đến với bè bạn quốc tế; vào nỗ lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, đặc biệt là các giá trị di sản thế giới ở Việt Nam; vào việc khẳng định vị thế Việt Nam trong quá trình hội nhập của đất nước với khu vực và quốc tế với vai trò là thành viên của các tổ chức quốc tế như WTO, UNWTO, APEC, ASEAN ; và tăng cường tình hữu nghị, hiểu biết giữa Việt Nam và các dân tộc trên thế giới

Năm 2012, các hoạt động thông tin, quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam bước sang một giaỉ đoạn mới, được triển khai mạnh mẽ gắn với logo và slogan mới của Ngành du lịch; đâ tham gia 07 Hội chợ du lịch quốc tế:

Travex 2011 tại Indonesia, MITT tại Nea, ITB tại Đức, TTM+ 2012 tại Thái Lan; JATA tại Nhật Bản, CITM tại Trung Quốc và WTM tại Anh; tổ chức chương trình phát động tại một số thị trường trọng điếm và tiềm năng như Australia, Nhật Bản, Trung Quốc đồng thời tổ chức đón các đoàn famtrip từ Nhật Bản và Trung Quốc Việc tham gia các hội chợ du lịch quốc tế và tổ chức phát động thị trường trong năm qua đã góp phần không nhó vào việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

Nhiều địa phương trọng điểm về du lịch như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Đà Nang, Quảng Nam, Khánh Hòa đã tích cực, chủ độn? phối hợp trong công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, tố chức các sự kiện nhằm gây dựng hình ảnh du lịch địa phương ngày càng nổi bật: Liên hoan ấm thực đất phương Nam và Lễ hội trái cây Nam Bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh; Cuộc thi bán pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng

Công tác nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm trong năm 2012 đà được Tổng cục Du lịch quan tâm, triển khai thực hiện, dã hoàn thành nghiên cứu, xây dựng

08 đề án thu hút khách du lịch của 08 thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm đến năm 2015

Trang 32

32

Trong năm 2012, đã chủ trì và phối hợp tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động xúc tiến du lịch trong nước như: Các hoạt động của Năm Du lịch Quốc gia duyên hải Bắc Trung Bộ-Huế 2012; Hội chợ Du lịch Quốc tế í TE thành phố Hồ Chí Minh 2012; Lễ khai trương Du lịch Ba Vì năm 2012; Lễ khởi động Dự án quảng bá các di sản miền Trung tại thành phố Hội An; Các hội thảo xúc tiến du lịch của các địa phương, hợp tác Việt Nam-Lào trong phát triển du lịch; Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ 8 tại Tuyên Quang Website www.vietnamtourism.com đã trở thành cổng thông tin hữu ích của các địa phương, của cộng đồng doanh nghiệp và khách du lịch

Trong năm 2012, số lượt truy cập các website www.vietnamtourism.com lên đến 16,6 triệu lượt và tổng số lượt truy cập của tất cả các website của Tổng cục Du lịch lên đến 37,5 triệu lượt

Năm 2012, Ngành du lịch đã ký kết thêm 5 điều ước, thỏa thuận hợp tác du lịch song phương và đa phương, nâng tổng số điều ước quốc tế song phương lên 37, điều ước quốc tế đa phương lên 8, thỏa thuận quốc tế lên 31 tạo cơ sở pháp lý tăng cường họp tác du lịch với các đối tác trong và ngoài khu vực

Khỏ khăn, hạn chế:

- Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vê du lịch, đặc biệt là Luật

Du lịch, chưa thực sự đi vào cuộc sông; chiến lược, quỵ hoạch, đầu tư du lịch triển khai chưa thực hiện có hiệu quả Hoạt động du lịch gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa lịch sử còn hạn chê, canh quan môi trường du lịch chưa được chủ trọng bảo vệ, ảnh hưởng đến phát triển bển vững

- Công tác quản ỉỷ nhà nước vê du lịch mặc dù đã có nhiều cô găng nhưng còn nhiêu bât cập, hạn chê, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn mới Bộ phận quản lý nhà nước về du lịch ở nhiều địa phương chưa được củng

cố Bên cạnh đó, sự phoi hợp, liên kết giữa các vùng, điềm du lịch quôc gia, giữa các địa phương, các doanh nghiệp du lịch, các ngành vẫn còn hạn chế, chưa được triển khai đồng bộ, còn mang tính hình thức

- Quy hoạch phát triền du lịch cắp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh còn thiếu và chưa đồng bộ; tình trạng đầu tư phát triên du lịch tự phát, khai thác cạn kiệt, thiếu bền vững nguồn tài nguyên du lịch diễn ra khá phô biến

- Việt Nam chưa có được những sản phâm du lịch đặc thù, mang đậm bản sắc dân tộc; chất lượng sản phâm du lịch chưa cao; nhiều khu du lịch, điêm du lịch chưa được đâu tư đúng tầm; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách; chất lượng dịch vụ du lịch còn thấp và thiếu tính hấp dân ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với một so nước

Trang 33

- Thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp, thiếu chuyên gia đâu ngành, lực lượng quản lý tinh thông và lao động trình độ cao

- Công tác quảng bá xúc tiến du lịch chưa được đầu tư tương xứng, còn manh mún, thiếu trọng tâm, trọng điêm; các chương trình hô trợ phát triển du lịch của quốc gia chậm được xác lập và triền khai Công tác xúc tiến quảng bả được triển khai khá sôi động trong và ngoài nước nhưng tính chuyên nghiệp và hiệu quả chưa cao, mới dừng ở quảng bả hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu Một sô địa danh du lịch được quốc tê biêt đến như

Hạ Long, Sapa, Hà Nội, Huế, Hội An, Đà Lạt nhưng hình ảnh van chưa đậm nét

- Thị trường du lịch đã từng bước được lựa chọn theo mục tiêu Tuy nhiên công tác dự báo của nghiên cứu thị trường còn hạn chê Khai thác, thu hút thị trường còn dừng ơ bề nôi, thụ động, chưa phân đoạn và chưa cỏ tiêu điêm tập trung

- Công tác quản lý lữ hành vẫn còn nhiều bất cập, các doanh nghiệp kinh doanh

lữ hành nội địa chưa được các địa phương quản lý chặt chẽ; vấn đề phân hạng, xếp loại các khu du lịch, điếm du lịch và tuyến du lịch theo Luật Du lịch chưa được thực hiện

- Cơ cấu chất lượng buồng khách sạn bât hợp lý, buông khách sạn chất lượng cao chưa nhiều, chất lượng dịch vụ các cơ sở lưu trú thấp, công tác xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch đôi với một sô địa phương còn một so bất cập

- Việc quản lý và thanh, kiêm tra các điểm đến, điếm tham quan du lịch chưa được triên khai triệt đê và hiệu quả Kiêm soát chất lượng dịch vụ, quản lý môi trường

du lịch cả về tự nhiên và xã hội tại một số địa phương chưa được thắt chặt Tình trạng lừa đáo, ép khách, cướp giật của khách du lịch tại những địa bàn du lịch trọng điếm là những vấn nạn kéo dài, chưa được ngăn chặn gâv ảnh hưởng xấu đến chất lượng dịch

vụ, tâm lý du khách và hỉnh ảnh du lịch Việt Nam

(Sau 05 năm, đã tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền gần 200 văn bản QPPL các loại, Cụ thể: 04 Luật, 29 Nghị định, 94 Thông tư các loại (2477 liên tịch); trên 30 QĐ của Bộ trưởng, hàng chục Quyết định, Chỉ thị của Bộ trưởng )

2.4 Các hoạt động nghiệp vụ tông hợp và các lĩnh vực khác

2.4.1 Pháp chế

Trang 34

34

Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), văn bản quản lv nhà nước được chỉ đạo quyết liệt, tập trung thực hiện, hoàn thành khối !ưọ'ng lớn Tiến hành xây dựng các Luật Quảng cáo, Luật Thư viện, Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật Thể dục thế thao, Luật sửa đổi, bố sung một số điều của Luật Du lịch Luật Quảng cáo được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII (với tỉ lệ 97,39%), Luật Thư viện đã trình Chính phủ cho ý kiến, hiện đang tiếp tục xây dựng theo ý kiến của ủy ban thường vụ Quốc hội Chủ trì xây dựng và đã trình Chính phủ ban hành 08 Nghị định (01 Nghị định được ban hành đầu năm 2013); ban hành và phối hợp ban hành theo thẩm quyền 20 Thông tư, 05 Thông tư liên tịch Ben cạnh đó, đâ hoàn thành công tác tổng kết và xây dựng Báo cáo tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; triển khai thi hành pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật: hợp nhất văn bản QPPL của Chủ tịch Nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, văn bản liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị-xã hội và văn bản do Bộ chủ trì, liên tịch ban hành trước ngày 01/7/2012

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tổ chức thường xuyên từ giai đoạn lấy ý kiến dự thảo trước khi ban hành; thông qua các Hội nghị phổ biến các văn bản cho đối tượng là cán bộ, công chức làm công tác tham mưu quản lý của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Phòng Văn hóa- Thông tin các huyện trong cả nước; xuất bản sách, đăng tải các văn bản QPPL trên Trang thông tin điện tử của Bộ Trong năm 2012 đã tiến hành tự kiềm tra và kiểm tra 343 văn bản theo thẩm quyền; phát hiện 06 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật cần xử lý; đồng thời đề nghị các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự kiếm tra và gửi văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trong năm 2012 có liên quan đến lĩnh vực văn hóa, thế thao và du lịch để kiếm tra theo thẩm quyền Tiến hành rà soát, hệ thống hóa các văn bản QPPL, theo dõi tình hình thi hành pháp luật Đã rà soát 622 văn bản QPPL, trong đó văn bản QPPL còn hiệu lực là 440

và số văn bản hết hiệu lực là 182 văn bản Tổng số văn bản kiến nghị sau rà soát là 21 văn bản, trong đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ là 19 văn bản và kiến nghị ban hành mới 02 văn bản

Khó khăn, hạn chế:

- Số lượng, chất lượng cản bộ làm công tác pháp chế còn mỏng, mặc dù đã có nhiều cổ gắng trong những năm gần đây, song còn chưa đáp ứng yêu câu về trình độ, năng lực ơ địa phương, cán bộ làm công tác pháp chế chủ yêu là làm kiêm nhiệm Dân đến, nhiều văn bản quá trình xây dựng mất nhiều thời gian, trong khi nhiều lĩnh vực đòi hỏi của thực tiễn là rất lớn

Trang 35

35

- Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn và tô chức bộ máy của tô chức pháp chê, đã cỏ hiệu lực được hơn một năm, nhưng chưa triển khai được do chờ hướng dẫn

- Chưa chủ động xây dựng lộ trình trung hạn và dài hạn pháp điên hóa các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Ngành Một so Nghị định quá trình xây dựng kéo dài do phải chờ xin ỷ kiến của các cơ quan liên quan hoặc phải chờ vãn bản hiệu lực cao hơn ban hành mới có thê đưa vào Chương trình xây dựng (Nghị định quy định các hình thức ỉưu niệm, tưởng niệm danh nhân)

- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn bị độn%, chưa ảnh hưởng đến các đoi tượng chịu tác động, ngay cả trong một bộ phận cán bộ quản lý nhà nước các cấp

2.4.2 Bản quyền tác giả, quyển liên quan

Năm 2012, tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, đề án lớn về quyền tác giả, quyền liên quan, là cơ sở quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước

về quyền tác giả, quyền liên quan: Thông tư liên tịch số BVHTTDL ngày 19/6/2012 giữa Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch - Bộ Thông tin và Truyền thông “Quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trườns mạng Internet và mạng viễn thông”; Thông tư “Hướng dẫn hoạt động giám định Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan”, tổ chức xâv dựng hoàn thiện Đc án “Tăng cườns năng lực quản lý, thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam đến năm 2015”, Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quvết định số 649/QĐ-TTg, ngày 01/6/2012

07/2012/TTLT-BTTTT-Tiếp tục tăng cường công tác phổ biến, nâng cao nhận thức, năng lực về thực thi quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức Hội nghị tập huấn các quy định mới của pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Cục Bản quyền Nhật Bản tổ chức Hội thảo chuyên đề khu vực Châu Á-Thái Bỉnh Dương về “Phát triển chính sách và chiến lược quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan”; Hội thảo quốc gia về nâng cao nhận thức

về quyền tác giả, quyền liên quan; Hội thảo Việt Nam - Hàn Quốc về “Bảo hộ quyền tác giả trực tuyến”; Tổ chức Lễ ký kết Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực quyền tác

và quyền liên quan giữa Cục Bản quyền tác giả Việt Nam và Cục Bản quyền tác giả Hàn Quốc.Tham dự Hội nghị Ưỷ ban Thường trực về quyền tác giả, quyền liên quan của WIPO và Đại hội đồng WIPO; Hội nghị ngoại giao về Hiệp định của WIPO về cuộc biểu diễn nghe nhìn

Trang 36

36

Năm 2012, đã thụ lý và cấp 3.927 Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho 4.145 tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Tổng số tác phẩm đã được cấp là 4.145, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2011 Việc thụ

lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng ký đảm bảo trình tự, thủ tục pháp luật và các yêu cầu cải cách hành chính

Giai đoạn 2007-2012, hệ thống văn bản pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan tiếp tục được củng cố, hoàn thiện: 2 Luật, 4 Nghị định, 2

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan

đă được ban hành; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành ban hành 5 Thông tư, trong

đó có 4 Thông tư liên tịch

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền tác giả tiếp tục được đẩy mạnh Kể từ năm 2007 đến nay có trên 40 hội nghị, lớp tập huấn, hội thảo quốc gia và quốc tế cho trên 3.000 lượt người tham dự, với sự giúp đỡ và hợp tác của

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các Tổ chức khác trong nước và nước ngoài

Hoạt động hợp tác quốc tế về quyền tác giả phối hợp thực hiện các công việc liên quan đến thực thi các Điều ước quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan được tăng cường Trong giai đoạn 2007-2012, Việt Nam đã tham gia Công ước Rome về bảo hộ quyền của người biếu diễn, nhà xuất bản bản ghi âm, và tổ chức phát sóng; thực thi Hiệp định TRIPs (Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ) trong khuôn khổ WTO Các hiệp định đối tác kinh tế, đầu tư, thương mại và Hiệp định khu vực như Hiệp định với Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã được ký kết, trong đó có các điều khoản về quyền tác giả và quyền liên quan đã được cam kết Từ năm 2007 đến 2012 đã cử 108 đoàn với trên 170 lượt cán bộ Việt Nam đi tham dự hội nghị, hội thảo, học tập, nghiên cứu, khảo sát và đàm phán về quyền tác giả tại nhiều quốc gia

Công tác thụ lý hồ sơ đăng ký quyền tác giả và giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại về quyền tác giả, quyền liên quan từng bước được củng cố, tăng cường Từ năm

2007 đến hết năm 2012, đã thụ lý, cấp gần 24.000 Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả và Giấy đăng ký quyền liên quan cho các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, nâng tons, số Giấy chứng nhận cấp từ năm 1986 đến nay lên khoảng 37.000 Tiếp nhận hồ sơ, xem xét giải quyết trên 180 vụ việc khiếu nại, tố cáo về vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Khó khăn, hạn chế:

- Các lực lượng bảo đảm thi hành pháp luật đã có nhiều CO gang, nhưng chưa ngăn chặn được tình trạng xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Vì vậy, ở hầu hết các lĩnh vực đều có xâm phạm, trong đó hành vỉ xâm phạm quyền của chủ sở hữu

Trang 37

37

đoi với chương trình máy tính, bản ghi âm, chương trình phát sóng, sách báo là những lĩnh vực đã được bảo động trong nhiều năm nay, nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện

- Nhận thức, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật vê quyên tác giả và quyền liên quan của nhiều tô chức, cả nhân khai thác, sử dụng còn nhiêu hạn chê và chưa nghiêm túc

2.4.3 Hợp tác, giao lưu quốc tế

Giao lưu, hợp tác quôc tế về văn hoá, thể thao và dư lịch tiếp tục được đẩy mạnh Nhiều văn bản hiệp định, điều ước quốc tế,-thoa thuận quốc tế trong các hoạt động Ngành đã được ký kết và triển khai thực hiện Các sự kiện văn hóa-du lịch được

tổ chức thành công cả trong và ngoài nước, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế

Năm 2012, các hoạt động hợp tác, giao lưu quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch đã được đẩy mạnh theo hướng; hiệu quả và thực chất Toàn Ngành đã tận dụng cơ hội và đối phó với những thách thức mới nhằm thúc đẩy hoạt động đối ngoại phát triển, góp phần vào thành công chung của hoạt động đối ngoại của Nhà nước, góp phần nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh đất nước, con người, văn hoá nghệ thuật Việt Nam trên thế giới Tăng cường hăng lực, hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực đối ngoại và hợp tác quốc tế về văn hoá, gia đình, thể thao và du lịch Năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký kết 11 văn bản điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế, hợp tác quốc tể chuyên ngành Tổ chức thành công các hoạt động văn hóa đối ngoại quan trọng như: Những ngày Văn hóa Du lịch Việt Nam tại Lào; Tuần Văn hóa Việt Nam tại Cămpuchia; Lễ hội Văn hoá-Du lịch tại Nhật Bản; Lễ hội Văn hoá-Du lịch tại Hàn Quốc và Vladivostock (Liên bang Nga); Những ngày Văn hóa Việt Nam tại Kazakhstan và Uzbekistan; Tuần Văn hóa Việt Nam tại Ân Độ; Lễ Khai mạc, Be mạc và Ngày Việt Nam tại Triển lãm EXPO Yeosu

2012 tại Hàn Quốc tạo được tiếng vang, để lại ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè thế giới, góp phần quảng bá, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quôc tê Tô chức Lê công bô Vịnh Hạ Long-Kỳ quan thiên nhiên mới thê giới tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình; Hội nghị lần thứ 47 ủy ban Văn hóa-Thông tin tại Hà Nội và các Hội nghị liên quan Triển khai các hoạt động kỷ niệm Ngày Quốc tế Pháp ngữ; 35 năm quan hệ Việt Nam-Tây Ban Nha; Những ngày Văn hóa ưcraina tại Việt Nam; Tuần Văn hóa Lào, Tuần Văn hóa Cămpuchia tại Việt Nam

Công tác quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hóa, nghệ thuật Việt Nam được tiếp tục đấy mạnh thông qua hoạt động xúc tiến văn hoá, thể thao và du lịch, trên các phương tiện nghe, nhìn và truyền thông quốc tế, thông qua các lễ hội, chương trình quảng bá du lịch văn hóa với quy mồ lớn tại nước ngoài, thông qua cơ

Trang 38

38

quan đại diện văn hóa, du lịch, thể thao tại nước ngoài Nhiều sự kiện, chương trình quảng bá đã được thực hiện một phần bần£ nguồn vốn xã hội hóa của các tổ chức, cá nhân ở trone và ngoài nước

Các Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài (tại Lào và Pháp) tham gia tổ chức nhiều hoạt động đa dạng và có chất lượng, thực sự trở thành cầu nối trong quan

hệ văn hóa đối ngoại; là điểm đến tin cậy cho Cộng đồng người Việt Nam ở xa Tổ quốc và bạn bè quốc tế có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về đất nước, con người và truyền thống văn hóa, nghệ thuật Việt Nam

Trong giai đoạn 2007-2012, các chương trình, kế hoạch văn hoá đối ngoại được

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tiếp tục mở rộng và đẩy mạnh lên một tầm cao mới Thông qua các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao và xúc tiến du lịch góp phần nâne cao uy tín, vị thế, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên thế giới, đóng góp tích cực vào kết quả hoạt động ngoại giao của Nhà nước ta Xây dựng, trình

ký 65 văn bản thoả thuận quốc tế, họp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình Tăng cường thu hút các nguồn lực xã hội hóa từ bên ngoài hỗ trợ cho

sự nghịêp xây dựng và phát triển ngành Nhiều Dự án hỗ trợ được triển khai có hiệu quả thiết thực cho nhiều đơn vị trong ngành Quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật Việt Nam thông qua hoạt động xúc tiến văn hoá, thể thao

và du lịch ở nhiều nước trên khắp các châu lục thế giới Vịnh Hạ Long của Việt Nam

đã trở thành 1 trong 7 địa danh được bầu chọn nhiều nhất toàn cầu, đạt mục tiêu lọt vào danh sách 7 Kỳ quan thiên nhiên mới thế giới sau 4 năm triển khai quảng bá, vận động toàn diện trên phạm vi trong nước và quốc tế

Khó khăn, hạn chế:

- Công tác nghiên cứu khoa học, dự báo đê xây dựng chiên lược ngoại giao văn hoả, tham mưu giúp lãnh đạo Bộ trong việc hoạch định và chỉ đạo thực hiện các chương trình họp tác với từng nước, từng địa bàn và khu vực chưa thực sự rõ nét trong hoạt động họ‟p tác quôc tê của Bộ

- Đội ngũ làm công tác đối ngoại của Bộ còn mỏng, phải dàn trải nhiêu mặt trên nhiều lĩnh vực Kinh phí dành cho hoạt động đối ngoại quá eo hẹp, chỉ mới đáp ứng một phần nhỏ nhu câu của các đơn vị trong ngành

2.4.4 Khoa học, công nghệ và môi trường

Ban hành Thông tư số 03/2012/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 3 năm 2012 về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bộ Văn hóa, Thê thao và Du lịch Tiếp tục triển khai xây dựng Đề án “Xây dựng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến năm 2020” và chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn việc xây dựng, phát

Trang 39

39

triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thời kỷ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế”

Đã nghiệm thu cấp Bộ 27 đề tài Ký họp đồng thực hiện đối với 17 đề tài mới bắt đầu thực hiện năm 2012 Triển khai đưa vào thực hiện các đề tài nhánh thuộc 02 Chương trình nghiên cứu cấp Bộ là: “Nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sác dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xâ hội chủ nghĩa và thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế” và „Tác động của một số hoạt động văn hóa, thế thao và du lịch đối với lối sống của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” Tố chức các Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, xét chọn 18 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ đế đưa vào kế hoạch năm 2013 Hoàn thiện giai đoạn 1 Dự án “Xây dựng ngân hàng dữ liệu quản lý các công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”

Có tổng số 11 nhiệm vụ xây dựng TCVN, QCVN (gồm: 10 TCVN, 01 QCVN), trong đó: TCVN 9372:2012 Tàu thủy lưu trú du lịch - xếp hạng đã được Bộ Khoa học

và Công nghệ công bố theo Quyết định số 2292/QĐ- BKHCN ngày 28/8/2012; Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý 01 nhiệm vụ theo Nghị định thư với CHDCND Lào do Học viện Ảm nhạc Quốc eia Việt Nam chủ trì thực hiện dự án

“Nghiên cứu sự tương đồng, dị biệt trong âm nhạc dân gian dân tộc Thái, Lào ở Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào” Triển khai thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về Hiệp định TBT Phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai nhiệm vụ “Thực thi Hĩệp định I-Iàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2011-2015”

Theo dõi tổ chức thực hiện 6 dự án bảo vệ môi trường Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Tô chức hoạt động kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với cơ

sở hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và da lịch Tố chức hội thảo về công tác bảo vệ môi trường ở các khách sạn và khu resort tại tỉnh Thừa Thiên - Huế

Từ 2007-2012, về cơ bản các đề tài, dự án khoa học đều tập trung hướng nghiên cứu làm rõ cả về lý luận và thực tiễn những vấn đề về phát triển văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, Luật, Nghị định, Thông tư của Nhà nước và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành Kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học là tài liệu tham khảo

có giá trị cho có quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực; Bảo tồn

Trang 40

số lượng đề tài đưa vào thực hiện của Bộ tương đối ốn định, trung bình mỗi năm phê duyệt được khoảng 20 đề tài nghiên cứu Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư (cấp Nhà nước), từ năm 2007 đến nay, đã có 02 nhiệm

vụ được thực hiện: “Nghiên cứu thực nghiệm về vật liệu và kỹ thuật xây dựng của kiến trúc và vật liệu của kiến trúc Chăm tại khu di tích Mỹ Sơn” và “Nghiên cứu sự tương đồng, dị biệt trong âm nhạc dân gian dân tộc Thái, Lào ở Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào” Đã có 03 dự án tăng cường tiềm lực nghiên cứu > khoa học và công nghệ, sửa chữa nhỏ cho tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ góp phần tích cực trong phát triển nghiên cứu khoa học, đào tạo tại các đơn vị được đầu tư

- Pho biến kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học còn hạn chế

- Các dự án về vấn đề bảo vệ môi trường vẫn còn chưa nhiều, phân bổ chưa đểu

2.4.5 Tổ chức, cản bộ

Trong năm 2012, Bộ phê duyệt và ban hành 237 quyết định kiện toàn cán bộ lãnh đạo, trong đó: bổ nhiệm mới 58 cán bộ; điều động và bố nhiệm 12 cán bộ; tiếp nhận và bổ nhiệm 01 cán bộ; giao nhiệm vụ phụ trách đơn vị 09 cán bộ; Thuyên chuyển 01 cán bộ; điều động công tác 04 cán bộ; Thôi công tác quản lý 04 cán bộ; kéo dài thời gian công tác 05 cán bộ; bổ nhiệm 08 Kế toán trưởng; Thỏa thuận bổ nhiệm 81 Trưởng phòng và tương đương; Thỏa thuận bổ nhiệm 61 Phó Trưởng phòng

và tương đương; Thỏa thuận miễn nhiệm 01 trường hợp Việc bổ nhiệm cán bộ, lãnh đạo quản lý của các cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ được thực hiện đúng quy trình

Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị có licn quan thực hiện tốt việc giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ Tiếp tục triển khai kế hoạch sáp xếp các doanh nghiệp trực thuộc Bộ theo lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Báo

Ngày đăng: 16/11/2015, 18:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sự:  01 - BÁO CÁO Công tác văn hoá, thể thao và du lịch năm 2012 Phương hướng, nhiệm vụ năm 2013
Hình s ự: 01 (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w