XU THẾ BÌNH ĐẲNG GIỚI: VAI TRÒ NGÀY CÀNG TĂNG CỦA PHỤ NỮ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN Trong những năm qua, nhất là trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, thếgiới đã đạt được những tiến b
Trang 1PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
A MỘT SỐ NHẬN THỨC VÀ TÌNH HÌNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY
I XU THẾ BÌNH ĐẲNG GIỚI: VAI TRÒ NGÀY CÀNG TĂNG CỦA PHỤ
NỮ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN
1 Các mặt bình đẳng giới
1.1 Trong lĩnh vực chính trị1.2 Trong lĩnh vực kinh tế 1.3 Trong lĩnh vực giáo dục và y tế 2- Vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại
B PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
I SỰ THAM GIA VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1 Trong lĩnh vực chính trị
2 Trong lĩnh vực kinh tế
3 Trong nghiên cứu khoa học
4 Trong cuộc sống gia đình
II MỘT SỐ HẠN CHẾ ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ PHỤ NỮ
III TRÁCH NHIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRONG XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ
1 Trách nhiệm và vai trò của nhà nước
2 Vai trò và trách nhiệm của các cấp Hội phụ nữ
3 Vai trò và trách nhiệm của nam giới
4 Trách nhiệm của bản thân người phụ nữ
Trang 2A MỘT SỐ NHẬN THỨC VÀ TÌNH HÌNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY
I XU THẾ BÌNH ĐẲNG GIỚI: VAI TRÒ NGÀY CÀNG TĂNG CỦA PHỤ
NỮ TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN
Trong những năm qua, nhất là trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, thếgiới đã đạt được những tiến bộ đáng kể về bình đẳng giới Tuy nhiên, sự phânbiệt về giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống Theo một nhận địnhcủa Ngân hàng Thế giới, cho đến nay, không một khu vực nào của các nướcđang phát triển, phụ nữ lại có quyền bình đẳng với nam giới về luật pháp, xãhội và kinh tế Khoảng cách về giới vẫn còn rất sâu rộng trong việc tiếp cận vàkiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế, quyền lực và tiếng nóichính trị Chính vì những lý do đó, nên bình đẳng giới đã trở thành vấn đềtrung tâm của sự phát triển
Có thể thấy rằng, bình đẳng giới- bản thân nó đã là một mục tiêu phát triển,đồng thời cũng là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của một quốcgia Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đã coi việc nâng cao bình đẳng giới
là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nhằm cho phép tất cả mọingười thoát khỏi cảnh đói nghèo và cải thiện các điều kiện sống Thực tế chothấy, bất bình đẳng giới làm chậm bước tiến trình phát triển- do đó, nâng caobình đẳng giới cần trở thành một phần của bất cứ chiến lược nào về phát triểnbền vững Những bất bình đẳng về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói chính trịthường gây bất lợi cho phụ nữ, mặc dù chúng cũng tác động xấu tới các đốitượng khác trong xã hội và cản trở sự phát triển Theo nhận định của Ngânhàng Thế giới, ngay cả các chính sách phát triển trung tính về giới (hiểu theonghĩa không có sự phân biệt giới) vẫn có thể tạo ra những kết cục phân biệt vềgiới Bởi vì những yếu tố như chuẩn mực và định kiến xã hội, cách thức phâncông lao động trong gia đình, tiếp cận nguồn lực khác nhau đã cản trở phụ nữ
và nam giới, khiến họ không thể tận dụng các cơ hội kinh tế như nhau, cũngnhư không thể khắc phục các rủi ro kinh tế giống nhau Nếu các chính phủkhông nhận thức được sự khác biệt về giới khi thiết kế các chính sách thì cóthể có hại cho hiệu lực của chính sách đó, xét cả trên khía cạnh công bằng vàhiệu quả
Trong chuyên đề này, khái niệm bình đẳng giới được hiểu theo nghĩa bìnhđẳng về luật pháp, về cơ hội- bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn
Trang 3nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong việc được trảlương- và trong tiếng nói Cụ thể, phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng nhưnhau và cùng: có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiệncác nguyện vọng của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụhưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; và được bình đẳng trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
1 Các mặt bình đẳng giới
1.1 Trong lĩnh vực chính trị
Trong bình đẳng giới, quyền bình đẳng về chính trị là một vấn đề thenchốt Cụ thể là cần phải tăng cường tiếng nói và sự tham gia hoạt động chínhtrị của phụ nữ Sự thay đổi về thể chế nhằm tạo ra sự bình đẳng giới trong cácquyền cơ bản là nền tảng để đảm bảo sự bình đẳng giới lớn hơn trong tiếngnói và sự tham gia hoạt động chính trị Thực tế cho thấy rằng, các chính sách
và chương trình nâng cao sự bình đẳng về giáo dục và tiếp cận thông tin cóthể củng cố các tổ chức đại diện của phụ nữ và do đó, tăng cường năng lựctham gia vào diễn đàn chính trị của phụ nữ Phụ nữ trong thế kỷ 20 đã giànhđược quyền bầu cử ở hầu hết tất cả các nước Khoảng cách giới trong bầu cử
đã giảm xuống, nhất là ở những nước có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao
Ngoài những nỗ lực để thúc đẩy tiếng nói của phụ nữ trong việc hoạchđịnh chính sách ở cấp chính quyền trung ương, việc lập kế hoạch phát triểnvới sự tham gia của quần chúng được khuyến khích như một phần trongnhững nỗ lực phân quyền trong các chính phủ ở Ấn Độ, Phillipines, Bolivia,
Ở Kerala, Ấn Độ, người ta đang cố gắng để trao cho phụ nữ nghèo quyềnđược theo dõi việc lựa chọn đối tượng thụ hưởng cho các chương trình xóađói giảm nghèo và tăng cường sự tham gia của họ trong việc lập ra những kếhoạch đầu tư hàng năm của chính quyền địa phương Vào đầu thế kỷ 20, cácnước Bắc Âu đã mở rộng quyền bầu cử của phụ nữ bình đẳng với nam giới.Tại Trung Quốc, Luật Hôn nhân của chính phủ đã tạo ra các tiêu chuẩn vềquyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong vấn đề kết hôn, ly hôn và sinhcon Tại Ai Cập, vào đầu năm 2000, một liên minh tạm thời giữa các nhà lãnhđạo cao nhất của chính phủ với các tổ chức xã hội dân sự đã mở rộng cácquyền của phụ nữ trong luật gia đình
Trang 4Tuy nhiên, thực tế cho thấy, phụ nữ vẫn ít có khả năng tham gia bàn luậnchính trị hơn nam giới, nhất là trong nhóm người lớn tuổi và nhóm có trình độhọc vấn thấp Phụ nữ vẫn còn đại diện rất ít trong các cơ quan dân cử, và phânbiệt giới vẫn còn tiếp tục tồn tại trong các hội đồng địa phương và quốc gia.Bên cạnh đó, phụ nữ vẫn có rất ít đại diện trong bộ máy điều hành chính phủ.
Ở Trung Đông và Bắc Phi, phụ nữ chỉ chiếm 2% trong nội các chính phủ,trong khi ở Đông Á và Thái Bình Dương, con số đó là 4% Ở Châu MỹLatinh, Đông Âu và Trung Á, phụ nữ chiếm 7-8% số ghế bộ trưởng Theo Báocáo của Ngân hàng thế giới, kinh nghiệm gần đây của hơn 30 quốc gia, baogồm Argentina, Ấn Độ, và Philippines cho thấy việc “dành ghế” cho phụ nữtrong các tổ chức chính trị có thể chỉ là cách hữu hiệu để tăng mức độ thamgia và đại diện về mặt chính trị của phụ nữ trong các hội đồng địa phương vàquốc gia trong những khoảng thời gian tương đối ngắn Từ thập kỷ 80 cho đếnđầu những năm 90, bình đẳng giới về quyền chính trị và luật pháp dường như
đã được cải thiện chút ít ở hầu hết các khu vực, trừ châu Âu và Trung Á là bịsuy giảm, và ở Nam Á là nơi dường như không có sự thay đổi gì
1.2 Trong lĩnh vực kinh tế
Phát triển kinh tế mở rộng các cơ hội việc làm và tăng năng suất trong thịtrường lao động, đồng thời dẫn đến sự hình thành các thị trường lao động mới,tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế Nhiều nước trênthế giới đã sửa đổi luật lao động để quy định sự đối xử bình đẳng- và cơ hộibình đẳng- giữa nam và nữ trong vấn đề việc làm Tại Colombia và CoxtaRica, vào những năm 80, các biện pháp cải cách ruộng đất nhằm công khaigiải quyết các bất bình đẳng giới trong tập quán thừa kế đã mở rộng đáng kểquyền sở hữu đất đai cho phụ nữ
Tăng trưởng kinh tế thường đi kèm với việc đầu tư nhiều hơn vào hạ tầng
cơ sở Các khoản đầu tư này cùng với việc phát triển thị trường cho các laođộng thay thế có thể làm giảm nhẹ các công việc phi thị trường của phụ nữ vàđem lại cho họ nhiều cơ hội làm công ăn lương cũng như thời gian rảnh rỗi,tạo điều kiện phá bỏ sự phân công lao động cứng nhắc Cùng với đó, việcgiảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình cũng có thể đem lại những lợi ích tiềmtàng cho sức khoẻ của người phụ nữ, cho thu nhập của hộ gia đình, và choviệc học tập của trẻ em gái
Trang 5Hộp 1: Phụ nữ và việc sử dụng máy tính trong công việc
Hai thập kỷ qua đã chứng kiến sự tăng trưởng chưa từng có trong việc ứng dụng máy tính vào công việc Tại Mỹ, số lượng phụ nữ sử dụng máy vi tính trong công việc nhiều hơn nam giới Ví dụ, từ năm 1993 tại Mỹ, phụ nữ có xu hướng
sử dụng máy vi tính nhiều hơn nam giới 33% Tại các nước đang phát triển, phụ
nữ vẫn đang còn là nhóm thiểu số trong số những người dùng máy vi tính với tỷ
lệ từ 35-37% ở Trung Quốc và Braxin và chỉ là 6% tại Trung Đông Và mặc dù
tỷ lệ phụ nữ sử dụng công nghệ thông tin ngày càng tăng lên, song điều đó không nhất thiết là phụ nữ đang vươn tới việc tham gia một cách ngang bằng với nam giới trong thị trường lao động Ở Ấn độ và Malaysia, mặc dù công nghệ thông tin đã làm tăng tỷ lệ đi làm cho phụ nữ, một phần lớn trong số những lao động mới này đảm nhận các vị trí công chức đòi hỏi kỹ năng thấp Như vậy, với việc ngày càng nhiều người sử dụng công nghệ máy vi tính, sự khác biệt trong việc ứng dụng công nghệ, chứ không phải là tỷ lệ sử dụng, sẽ xác định phụ nữ hay nam giới là người hưởng lợi từ cuộc cách mạng công nghệ này.
Tuy vậy, từ trước tới nay, nam giới có tỷ lệ tham gia lực lượng lao độngcao hơn phụ nữ- và hình thái này vẫn đang tiếp diễn Bên cạnh đó, phụ nữ vẫntiếp tục nhận được mức thù lao thấp hơn của nam giới Những nghiên cứuthực tiễn gần đây từ 71 nước đã cho thấy rằng, tính trung bình ở các nước pháttriển, phụ nữ chỉ nhận được bằng 77% tiền lương của nam giới, và ở cácnước đang phát triển thì con số này chỉ là 73%
Bảng 1: Thu nhập tương đối của nữ so với nam
Tỷ số thu nhập Khoảng cách giới Phần khoảng cách
Trang 6của nữ so với nam không giải thích
được (%) Các nước phát
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
1.3 Trong lĩnh vực giáo dục và y tế
Giáo dục là vấn đề cốt lõi để mỗi người có khả năng phản ứng lại trướcnhững cơ hội mà sự phát triển đem lại Giáo dục cơ sở là nền tảng để pháttriển các kỹ năng linh hoạt vốn rất cần thiết, nhất là khi thế giới đang chuyểnsang thời đại thông tin và các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao Những aikhông có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại khỏi những
cơ hội mới, và ở những nơi mà khoảng cách về giới vẫn còn rộng và tồn tạidai dẳng trong giáo dục thì phụ nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậuđằng sau nam giới trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển Ở Ấn Độ,các nhà nghiên cứu đã quan sát 5 thế hệ liên tiếp của một gia tộc và khám phá
ra giáo dục đã thay đổi đời sống của người phụ nữ Kết quả là họ kết hônmuộn hơn, có ít con hơn, kiến thức của họ về sự chăm sóc sức khoẻ con cáidồi dào, kể cả những phương thức ngừa thai Giáo dục cũng gia tăng vị trí vàtiếng nói của người phụ nữ trong một gia đình Phụ nữ có cắp sách tới trườngkhoảng từ 6 tới 10 năm có 47 % cơ hội được quyết định mọi việc trong nhàhơn là phụ nữ ít hay không được đi học
Từ đó có thể thấy rằng, một trong những điểm tiến bộ trong bình đẳng giới
là việc tham gia vào các hoạt động giáo dục ngày càng tăng ở hầu hết cácnước trên thế giới Trong những năm gần đây, tỷ lệ số nữ sinh tiểu học vàtrung học đã tăng lên theo thời gian Ở nhiều nơi trên thế giới, tỷ lệ tiểu học
ổn định ở mức cao- như khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, châu Mỹ
Trang 7Latinh và vùng Caribe, Châu Âu và Trung Á Ở những vùng này, tỷ lệ tổng nữsinh tiểu học đạt hoặc gần đạt 100% Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới,Đông Á, châu Mỹ Latinh, châu Âu và Trung Á đạt mức độ bình đẳng giới caonhất trong giáo dục Ở các vùng này, tỷ lệ nữ sinh trung học bình quân hiệnnay đã cao hơn của nam giới, và xét trung bình, số năm đi học của phụ nữ đãbằng khoảng 90% của nam giới Tại các nước Arap, trong vòng 20 năm qua,
tỷ lệ phụ nữ được xóa mù chữ đã tăng 68% Nhìn chung, hoàn cảnh của phụ
nữ đã được cải thiện rất nhiều trong phần lớn các nước này, như: ở cấp đạihọc, cứ 3 sinh viên thì có 2 sinh viên nữ, trong khi cách đây 20 năm, 3 sinhviên nam mới có 1 sinh viên nữ Có tới 32 quốc gia có số sinh viên nữ nhiềuhơn sinh viên nam Tỷ lệ thoát nạn mù chữ của phụ nữ tại 3 nước: Urugoay,Jamaica và Nicaragoa cao hơn so với nam giới Không những tỷ lệ xóa nạn
mù chữ trong nữ giới đã tăng, mà nhiều người trong số họ còn đạt được nhữnghọc vị cao hơn trước kia
Về y tế, sức khoẻ tốt là điều kiện thiết yếu đối với phúc lợi, và cũng nhưgiáo dục, là một nguồn lực quan trọng cho phép người dân tham gia và hưởngthụ thành quả của quá trình phát triển Ở những nước đang phát triển nhưSriLanka, tỷ lệ theo giới tính (nam so nữ) đã giảm mạnh trong vòng ba thập
kỷ qua, nhờ việc nhà nước cung cấp dịch vụ y tế, và thực phẩm Tuy nhiên, ởTrung Quốc, do nhà nước giảm bao cấp cho ngành y tế và chính sách chỉ cómột con, đã khiến các bậc cha mẹ, vốn thích có con trai hơn, quyết định bỏ rơihoặc chọn các hình thức phá thai khi biết sẽ sinh con gái Ở Ấn Độ, sự khácbiệt giới trong chế độ ăn uống của trẻ em là một nguyên nhân gây ra tỷ lệ tửvong cao ở phụ nữ Một ví dụ là, tình trạng ít được chăm sóc sức khoẻ hơn-nhất là với những bé gái là con thứ trong gia đình hay được sinh ra trong cácgia đình nông thôn- là một nguyên nhân khác giải thích tại sao sinh mạng giới
nữ bị đe doạ Theo Ngân hàng thế giới, xét trên toàn cầu, số sinh mạng phụ nữmất đi sẽ tăng nếu xu thế hiện nay trong tỷ lệ tử vong cao quá mức ở phụ nữ-nhất là ở Trung Quốc- vẫn còn tiếp tục Như vậy, có thể thấy rằng sự khácbiệt giới cả trong tuổi thọ bình quân lẫn gánh nặng bệnh tật một phần phảnánh sự khác biệt sinh học Nhưng rõ ràng rằng, chúng cũng đồng thời phảnánh sự khác biệt trong vai trò theo giới và trong cách đối xử của xã hội đối vớiphụ nữ và nam giới
Trang 8Tóm lại, có thể thấy rõ rằng, trên thế giới đã hình thành rõ ràng một xu thếchung theo hướng vươn tới sự bình đẳng giới về quyền lớn hơn trong hầu hếtcác lĩnh vực kể từ thập kỷ 80 cho đến nay Tuy vậy, phụ nữ vẫn tiếp tục chịubất lợi hơn so với nam giới về các quyền cơ bản và địa vị đi kèm - cả trongluật định lẫn thực tế Như vậy, những phân biệt giới về quyền này đã hạn chếrất nhiều khả năng lựa chọn của người phụ nữ trong mọi khía cạnh cuộc sống.Hiện nay, phụ nữ trên khắp thế giới tham gia ở một khối lượng phù hợp, vàocác hoạt động thị trường để được trả lương, nhưng họ vẫn phải tiếp tục đảmnhận hầu hết các công việc nhà Vì vậy, họ bị vắt kiệt về thời gian, phải bỏnhiều thời gian để làm việc, cả việc nhà lẫn ngoài thị trường, hơn so với namgiới Điều đó dẫn đến những trói buộc rất lớn khả năng của họ trong việctham gia vào quá trình phát triển và làm giảm chất lượng cuộc sống của họ
2 Vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại
Tại Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu, Bản Báo cáo đầu tiên về hoàncảnh của phụ nữ tại 5 lục địa của Liên Hiệp Quốc cho thấy: sự tiến bộ của xãhội và kinh tế sẽ mau chóng hơn nếu người ta ưu tiên đầu tư vào phụ nữ Vấn
đề này không chỉ thể hiện sự công bằng mà còn nhằm đem lại sự quản lý tốt
Sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, sẽ chophép xã hội thay đổi cách nhìn và có những lựa chọn hữu ích hơn Theo TổngThư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Mun, đầu tư cho phụ nữ và các em gái sẽ gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển tiến bộ trên thế giới Ông nêurõ: đầu tư cho phụ nữ không chỉ là một hành động đúng đắn, mà còn là mộtviệc làm thông minh Đầu tư cho phụ nữ sẽ giúp thế giới đương đầu với cácthách thức của thời đại- đó là tình trạng nghèo đói, thất học, các hiểm họa môitrường và dịch bệnh
Trong những năm gần đây, các hội nghị lớn trên thế giới đều nhấn mạnhcần bảo đảm quyền của phụ nữ, coi đây là một nhân tố trụ cột của phát triểnkinh tế, đồng thời kêu gọi các nước chú trọng đến mục tiêu bình đẳng giới.Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việcchăm sóc sức khỏe và giáo dục con cái Các nghiên cứu về kinh tế lượngkhẳng định rằng, nâng cao giá trị tương đối của phụ nữ và tăng thêm các lựachọn nắm giữ tài sản của họ có ảnh hưởng đến hình thái tiêu dùng trong giađình Khảo sát cho thấy, sức khỏe của trẻ em Braxin được cải thiện khi phụ nữnắm trong tay phần thu nhập tăng thêm ngoài lao động Ở Anh, khi luật pháp
Trang 9quy định rằng, các khoản trợ cấp để hỗ trợ trẻ em được trao trực tiếp chongười mẹ, thì chi mua sắm quần áo cho con cái có xu hướng tăng lên ỞBănglađesh và Nam Phi, phụ nữ được mang theo nhiều tài sản khi kết hôn làmtăng chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục của trẻ em.
Hộp 2: Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ tại Việt Nam 2008
Từ ngày 5 đến ngày 7/6/2008 tại Việt Nam diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu 2008 lần thứ 18 với chủ đề: “Phụ nữ và châu Á - động lực của nền kinh
tế toàn cầu” Tới dự Hội nghị có gần 1.000 đại biểu đến từ hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ toàn cầu là một tổ chức phi lợi nhuận do Ủy ban Hoạch định quốc tế của lãnh đạo nữ trên thế giới đứng đầu Bà Irene Natividat, Chủ tịch Hội nghị cho biết: Trải qua gần 20 lần họp hội nghị ở các nước thuộc các châu lục khác nhau, Hội nghị Thượng đỉnh đã trở thành diễn đàn tốt nhất về
sự tiến bộ về kinh tế và xã hội của phụ nữ toàn cầu
Năm 2007, Hội nghị Thượng đỉnh Phụ nữ lần thứ 17 đã tổ chức thành công ở Berlin, CHLB Đức với chủ đề: “Thị trường toàn cầu: cơ hội và thách thức” Bà Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu phụ nữ Việt Nam tại Hội nghị 17 đã hoan nghênh và đánh giá cao tuyên bố của Hội nghị chọn Việt Nam là địa điểm họp của Hội nghị Thượng đỉnh 18.
Vì Việt Nam được đánh giá là ngôi sao đang lên ở châu Á, nên các nội dung thảo luận chính tại Hội nghị Thượng đỉnh năm nay tập trung vào các chủ đề, như: Việt Nam - nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ; phát triển doanh nghiệp ở châu Á, đối thoại với doanh nhân nữ; diễn đàn nữ tổng giám đốc doanh nghiệp -
cơ hội và thách thức trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Ngoài ra, các đại biểu sẽ tập trung vào một số chủ đề khác: vấn đề chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; vấn đề cân bằng giữa cuộc sống và công việc; hệ quả của thành công tác động đến sức khỏe phụ nữ; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - năng lượng và tác động đến môi trường
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy sự đóng góp vôcùng quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội Dù đó là sự kiện phụ nữ
ở Afganistan đi bỏ phiếu bầu cử tổng thống hay việc phụ nữ bắt đầu mởnhững cơ sở kinh doanh siêu nhỏ tại Etiopia, thì xu thế hướng tới quyềnbình đẳng hơn nữa của phụ nữ trên toàn thế giới đã trở nên rõ ràng Theothống kê, từ khi có giải Nobel năm 1901 đến nay, đã có 4,4% giải Nobel
Trang 10về hòa bình được trao cho phụ nữ Nếu tính tất cả các lĩnh vực, số phụ nữđoạt giải Nobel lên đến 28 người Trong 192 đại diện thường trực ở LiênHiệp Quốc có 14 phụ nữ 11% nhân viên cấp cao tại cơ quan của Liên HiệpQuốc là phụ nữ Có 50% phụ nữ trong Chính phủ Thụy Điển- Đây là chínhphủ đầu tiên trên thế giới đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ Kỷ lục thếgiới về phụ nữ là dân biểu thuộc về Phần Lan với 39% Tiếp theo là NaUy35%, Thụy Điển 34% Hiện có 12 quốc gia trong đó phụ nữ là tổng thốnghay thủ tướng 10 quốc gia đứng đầu về số phụ nữ tham gia vào các lĩnhvực kinh tế và chính trị được Liên Hiệp Quốc bình chọn là: Thụy Điển,Nauy, Phần Lan, Đan Mạch, NiuDilan, Hà Lan, Mỹ, Áo và Italia
B PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Trong quá trình phát triển của Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ,
bảo đảm bình đẳng, bình quyền giữa phụ nữ và nam giới, luôn được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Ngay từ Hiến pháp năm 1946, Nhà nước
ta đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọiphương diện chính trị, kinh tế và văn hóa” (Điều 6) và “đàn bà ngangquyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9)
Những thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu nổi bật về cảicách điều kiện sống của nhân dân và giảm chênh lệch giới Điều đó đãphản ánh nỗ lực đáng kể của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo và camkết của Chính phủ tiến tới bình đẳng giới Khuôn khổ chính sách và luậtpháp do Việt Nam ban hành đã trở thành công cụ trong việc trao quyền chophụ nữ Việt Nam và giảm khoảng cách giới Theo quan điểm của Ngânhàng Phát triển châu Á (ADB), phụ nữ Việt Nam đã được trao một hệthống các quyền, bao gồm các chính sách thúc đẩy quyền được tham giavào chính trị, quyền về tài sản, các quyền lợi cho phụ nữ mang thai, Báocáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam của Ngân hàng Thế giới nhận xét:
“Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ nữ tham giavào các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu vềbình đẳng giới, ”
Chính phủ Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký vào năm 1980
và thông qua vào năm 1982 Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
Trang 11đối với phụ nữ Trước khi tham gia Công ước này, Việt Nam đã đưa vấn đềbình đẳng giữa nam và nữ vào Hiến pháp, và vấn đề này càng được chú ýtrong thời gian gần đây bằng việc Quốc hội đã thông qua Luật Bình đẳng giớinăm 2006 Có thể thấy rằng, Luật Bình đẳng giới là đòn bẩy để giải quyết cácvấn đề ưu tiên về giới Luật này đã sửa đổi những lỗ hổng về giới trong cácluật hiện hành, kêu gọi lồng ghép vấn đề giới vào quản lý hành chính công,đưa các biện pháp tạm thời vào luật pháp, ví dụ như mục tiêu và chỉ tiêu choviệc tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định Cùng với đó là Kếhoạch phát triển kinh tế- xã hội 2006-2010 đã áp dụng cách tiếp cận xây dựng
kế hoạch với việc kết hợp các mối quan tâm và các chỉ số về bình đẳng giớivào kế hoạch của các ngành như nông nghiệp, việc làm, quản lý môi trường,sức khỏe, giáo dục Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ tới năm
2010 do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ soạn thảo và được Thủtướng phê chuẩn, được cụ thể hóa bằng Kế hoạch hành động 5 năm xác địnhcác ưu tiên liên quan đến bình đẳng giới ở Việt Nam Đây chính là nhữngnền tảng pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vaitrò trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước
I SỰ THAM GIA VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW “Về công tác phụ
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”, trong đó cómột trong những điểm lớn là về xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán
bộ, tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ, coi đó là tất yếu khách quan, lànội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng, đã tạo địnhhướng chính trị rõ ràng, cụ thể cho các cấp các ngành thực hiện công tác cán
bộ nữ trong những năm tới Theo nhận định của Ban Bí thư trung ương Đảng,điểm nổi bật của đội ngũ cán bộ nữ là “không ngừng phấn đấu vươn lên, hoànthành tốt nhiệm vụ được giao, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung củađất nước và cho sự bình đẳng giới Ở bất kỳ vị trí công tác nào, cán bộ nữcũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn,biết lắng nghe, dân chủ trong lãnh đạo và quản lý, có khả năng thuyết phục,tác phong sâu sát, liêm khiết, tiết kiệm, ít tham nhũng, nên được xã hội tincậy
1 Trong lĩnh vực chính trị
Trang 12Theo điều tra của ADB, trong số các quốc gia Đông Á và Thái BìnhDương, Việt Nam có tỷ lệ nữ giới tham gia vào nghị trường đông nhất Trênthế giới, Việt Nam cũng đứng ở thứ hạng cao, xếp thứ 18 về số đại biểu quốchội là nữ Hiện nay, phụ nữ tham gia hoạt động chính trị và tham gia quản lýnhà nước các cấp từ trung ương đến cơ sở chiếm 20% Trong cơ quan quản lýnhà nước, tính đến tháng 12- 2007, có 01 phó chủ tịch nước là nữ; số cán bộ
nữ giữ chức vụ bộ trưởng là 4,55%, tương đương bộ trưởng chiếm 11,43%,thứ trưởng là 2,75%, tương đương thứ trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tươngđương chiếm 9,87%, vụ phó và tương đương chiếm 20,74% Tuy nhiên, tỷ lệ
nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2005-2010, chỉ đạt 13,5%, trong khi
đó, theo Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ 2006, mục tiêu đặt ra trong
Kế hoạch hoạt động vì sự tiến bộ của Phụ nữ là 15% Theo một số khảo sát,trong các cơ quan Quốc hội, phụ nữ thường có mặt nhiều ở các ủy ban tậptrung vào các vấn đề chính trị “mềm”, ví dụ như các ủy ban về các vấn đề xãhội, Ủy ban văn hóa, giáo dục và thanh niên có 40% là phụ nữ Tương tự nhưvậy, Ủy ban dân tộc thiểu số có 44% là nữ giới Ngược lại với điều này, các
ủy ban mang tính chiến lược lại có rất ít phụ nữ Theo số liệu của ADB, ở Ủyban ngân sách và kinh tế tỷ lệ phụ nữ chỉ là 13%, hay 0% ở Ủy ban quốcphòng và an ninh
Sự tham gia của phụ nữ vào chính quyền địa phương các cấp gồm tỉnh,huyện, và xã đã có sự tăng lên đáng kể Tuy vậy ở cấp hành chính công trungương, có rất ít phụ nữ nắm các chức vụ lãnh đạo Theo Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, ở cấp trung ương, trong năm 2005, người đứng đầu hoặc cấp phó các sở,ban, ngành là nữ chỉ chiếm tương ứng là 6% và 14% Ở các cấp địa phương,
đa số các sở và ở hầu hết các lĩnh vực hầu như không có phụ nữ nắm giữ các
vị trí lãnh đạo Bên cạnh đó, một điều đáng lo lắng là ở một số lĩnh vực có sựgiảm sút của đại diện nữ giới trong những năm qua, ví dụ như số cán bộ nữtrong ngành tư pháp cấp huyện đã giảm mạnh với tỷ lệ khoảng 10% trongnhững năm qua
2 Trong lĩnh vực kinh tế
Theo Báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ năm 2008 diễn ra tại HàNội, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong tiến trình phát triển kinh tế
Trang 13được đánh giá cao Báo cáo nêu rõ: “Nói về Việt nam, chúng tôi thấy rằngphụ nữ Việt Nam gần như đã đạt được tỷ lệ ngang bằng với nam giới tronglực lượng lao động Về giáo dục, càng ngày càng có nhiều phụ nữ được đàotạo bài bản Phụ nữ Việt Nam ngày nay tự tin coi mình là một lực lượng laođộng chính trong xã hội, trong gia đình và khi kinh tế được cải thiện, chỉ sốtiêu dùng của họ cũng gia tăng” Nhận thức được rằng, bình đẳng trong lĩnhvực lao động, việc làm sẽ tạo điều kiện và giải quyết tốt các quan hệ liên quanđến bảo vệ phụ nữ và thế hệ tương lai, cho nên Chiến lược quốc gia Vì sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, đã xác định mục tiêu số 1 là thực hiệncác quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm, với các chỉtiêu cụ thể: i- hàng năm, trong tổng số việc làm mới, tỷ lệ nữ tăng dần để đạt50% vào năm 2010; ii- tăng tỷ lệ sử dụng lao động nữ ở khu vực nông thônlên 80% vào năm 2010; iii- giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vựcthành thị xuống dưới 5% vào năm 2010; iv- đạt tỷ lệ 80% số hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ được vay vốn từ chương trình xóa đói, giảm nghèo Bên cạnh
đó, Nhà nước đã ban hành các chính sách pháp luật liên quan đến quyền lợicủa lao động và đối tượng nữ Các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện cácđiều khoản của Bộ luật Lao động đã có nhiều quy định có lợi hơn cho laođộng nữ trên các lĩnh vực như: nghiên cứu chính sách hỗ trợ giải quyết việclàm cho lao động nữ; lao động nữ được tạm hoãn đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét kỷ luật lao động trong thời gian cóthai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Về chính sách bảo hiểm
xã hội, theo quy định của Bộ Luật Lao động, một số chính sách bảo hiểm xãhội được thay đổi theo hướng có lợi đối với lao động nữ Thêm vào đó, QuỹBảo hiểm xã hội thực hiện chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với laođộng nữ sau sinh con mà sức khỏe còn yếu
Những chính sách này cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong thời gianqua đã tiếp tục làm thay đổi các cơ hội kinh tế của người dân, đặc biệt là nữgiới Theo số liệu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, hiện phụ nữ chiếm trên50% lực lượng lao động của cả nước Phụ nữ có mặt trong mọi lĩnh vực hoạtđộng của đời sống xã hội Chiếm trên 46% trong tổng số công nhân viên chức,đội ngũ nữ công nhân viên chức trong các cơ quan nhà nước luôn chủ động,sáng tạo trong công việc và gương mẫu trong mọi hoạt động Đối với cácdoanh nghiệp nhà nước, số cán bộ nữ trực tiếp làm công tác lãnh đạo, quản lý
Trang 14cấp tổng công ty cũng chiếm tỷ lệ nhất định: tổng giám đốc các công ty 91 là5%, phó tổng giám đốc 9,7% Trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có 116.017doanh nghiệp thì gần 37.000 doanh nghiệp có nữ là giám đốc, tổng giám đốc,chủ tịch hội đồng quản trị Đội nữ doanh nhân này có mặt trong hầu hết cáclĩnh vực kinh tế- xã hội của thành phố
Trong lĩnh vực nông nghiệp, vai trò của người phụ nữ được thể hiện mộtcách rõ nét trong bối cảnh Việt Nam là một nước nông nghiệp với 80% dân sốsống ở nông thôn Người phụ nữ vất vả làm ra hạt gạo và các loại cây lươngthực, thực phẩm khác không chỉ để nuôi sống gia đình mà còn đóng góp tíchcực cho mục tiêu an toàn lương thực quốc gia Chị em không chỉ chuyên cầnlao động mà còn hǎng hái học tập các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, kỹ thuậtthâm canh tǎng nǎng suất, thiết bị công nghệ mới để nâng cao nǎng suất vàhiệu quả lao động Trong thành tích to lớn của ngành sản xuất lương thực,chúng ta không quên công sức của nhiều chị em phụ nữ trong các viện nghiêncứu như viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện cây lương thực, ViệnNghiên cứu lúa Ômôn, Viện Di truyền đã ngày đêm nghiên cứu tạo ra cácgiống lúa, ngô, khoai mới có nǎng suất, chất lượng cao phục vụ cho sản xuất
Hộp 3: Vài nét về sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động
- Năm 2005, nam giới chiếm 51% và nữ giới chiếm 49% trong lực lượng lao động, tương đương với 22 triệu nam và 21,1 triệu nữ.
- Nhìn chung, 20 % số phụ nữ làm việc có công việc chính thuộc lĩnh vực làm công ăn lương, tỷ lệ này ở nam là 41%.
- Phụ nữ tập trung quá nhiều ở các công việc kỹ thuật thấp, đặc biệt trong khu vực không chính thức Những phụ nữ làm công ăn lương không có tay nghề, đặc biệt trong các dây chuyền sản xuất, có ít cơ hội nâng cao tay nghề và tiếp tục phải làm các công việc được trả lương thấp trong nhà máy.
- Trong giai đoạn 2001-2005, khoảng cách giới trong lực lượng lao động tăng lên theo hướng có lợi cho nam giới, từ 0,6% năm 2001, lên đến 2,8% năm 2005.
- Phụ nữ chiếm 46,5% trong số các công việc mới hình thành trong lĩnh vực công và 33 số người tham gia đào tạo nghề trong giai đoạn 2001-2005.
Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
3 Trong nghiên cứu khoa học
Trang 15Cùng với quá trình phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức nữ đã cónhững đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung, đặc biệt trong việcphát huy sức mạnh của nguồn lực trí tuệ Việt Nam Trong sự đổi mới của đấtnước, các nhà khoa học và chuyên gia nữ đã có nhiều thuận lợi trong hoạtđộng khoa học, lao động sáng tạo, cũng như trong việc học tập nâng cao trình
độ chuyên môn Trong sự đổi mới của đất nước, không khí sinh hoạt dân chủ,phát huy tự do tư tưởng được mở rộng, hoạt động nghiên cứu khoa học đã cónhững khởi sắc mới, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, côngnghệ thông tin, công nghệ ứng dụng Nhiều chị em đã mạnh dạn đi tìm tòi cáimới, áp dụng cái mới vào hoạt động sản xuất, nghiên cứu
Cùng với đó, do chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế, với sự pháttriển của nền kinh tế dựa vào tri thức, nhiều sách báo, thông tin của thế giớiđược giới trí thức tiếp nhận tương đối nhanh chóng và dễ dàng Đồng thời,việc trao đổi, tiếp xúc với các chuyên gia quốc tế tại các cuộc hội thảo ở ViệtNam và các chuyến đi thực tế, khảo sát, học tập ở nước ngoài, đã giúp các tríthức nữ nâng cao sự hiểu biết và tiếp nhận kịp thời những thông tin bổ ích vềthành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới Ngoài ra, sự giúp đỡ của một số tổchức quốc tế và các nước về tài chính, về các phương tiện làm việc, máy móchiện đại, đã giúp cho nhiều nhà khoa học nữ làm việc thuận lợi và có hiệu quảhơn Cho đến nay, tài năng và tên tuổi nhiều nhà khoa học nữ nước ta đã vàđang được giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao Nhiều nhà khoahọc nữ và tập thể khoa học nữ đã được nhận các giải thưởng như giảiCovalepxcaia trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, bằng lao động sángtạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
4 Trong cuộc sống gia đình
Có thể nói rằng, trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ với tư cách là
người vợ, người mẹ có một vị trí đặc biệt Về mặt tâm lý truyền thống, ngườiphụ nữ Việt Nam, dù là nhà khoa học hay người lao động bình thường, làngười hết lòng vì gia đình, sẵn sàng hy sinh cho chồng con, đôi khi từ bỏ cả sựnghiệp để bảo vệ hạnh phúc gia đình Đối với công việc nội trợ gia đình, nhiềukết quả khảo sát cho thấy ở hầu hết công việc này, phụ nữ là người làm chính,với tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với các thành viên khác trong gia đình Chẳnghạn, việc đi chợ mua thức ăn, tỷ lệ phụ nữ là 88,6%, nam là 5,5%, việc nấu