[ hiện] x • t • s Chiến tranh Đông Dương Chiến tranh Đông Dương, ở Việt Nam được gọi là Kháng chiến chống Pháp, là cuộc chiến diễn ra tại Đông Dương thuộc Pháp từ ngày 19 tháng 12 năm
Trang 1Wikimania 2010 hiện đang cho phép nộp đơn xin hỗ trợ chi
phí di chuyển và tham gia Nộp đơn ngay bây giờ!
[ Thu nhỏ ] [ Giúp chúng tôi dịch thông tin! ]
Chiến tranh Đông Dương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kháng chiến chống Pháp)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mục từ "Chiến tranh Đông Dương" dẫn đến bài này Xin đọc về các nghĩa khác tại Chiến tranh Đông Dương (định hướng)
Chiến tranh Đông Dương
Một phần của Các cuộc chiến tranh Đông Dương
Cảm tử quân với bom ba càng tại mặt trận Hà Nội 1946
.
năm 1954
tại Việt Nam
Kết quả Việt Minh chiến thắng
Pháp rút khỏi Việt Nam
Việt Nam bị phân chia tạm thời tại
Vĩ tuyến 17
Tham chiến
Pháp
Quốc gia Việt Nam
Việt Minh
Trang 2Chỉ huy
Philippe Leclerc de
Hauteclocque (1945-46)
Jean-Étienne Valluy
(1946-48)
Roger Blaizot (1948-49)
Marcel-Maurice Carpentier
(1949-50)
Jean de Lattre de Tassigny
(1950-51)
Raoul Salan (1952-53)
Henri Navarre (1953-54)
Hồ Chí Minh
Võ Nguyên Giáp Nguyễn Chí Thanh Hoàng Văn Thái Văn Tiến Dũng Phạm Văn Đồng Trường Chinh
Lực lượng
Theo phương Tây:
Quân Pháp: 190.000
Các đồng minh ở thuộc địa
Đông Dương: 55.000
Quốc gia Việt Nam:
150.000 [1]
Theo Việt Nam: 100.000
(1946)[2]
239.000 (1950)[3]
Theo phương Tây:
125.000 lính chính quy 75.000 ở các quân khu 250.000 dân quân [4]
Theo Việt Nam:
80.000 quân chính quy
-1.000.000 du kích (1946)[5]
120.000 quân chính quy
1.000.000 du kích (1947)[6]
230.000 quân chính quy
-3.000.000 du kích (1950)[7]
166.000 quân chính quy
2.000.000+ du kích (1953)[8]
Tổn thất
Liên hiệp Pháp: 75.581 chết
64.127 bị thương
40.000 bị bắt
Quốc gia Việt Nam và đồng
minh thuộc địa: 419.000
chết, bị thương hoặc bị
bắt [9]
Theo Việt Minh: Nửa triệu
Ước tính: 300.000 chết 500.000 bị thương 100.000 bị bắt
Trang 3chết và bị thương
.
[ hiện]
x • t • s
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Đông Dương, ở Việt Nam được gọi là Kháng chiến chống Pháp, là cuộc
chiến diễn ra tại Đông Dương thuộc Pháp từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8
năm 1954 giữa Quân đội viễn chinh Pháp và lực lượng Việt Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng các nhóm kháng chiến khác của Lào và Campuchia Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả các nước láng giềng Lào và Campuchia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam
Cuộc Chiến tranh này ở Việt Nam còn được gọi là: (Chiến tranh chống thực dân Pháp, Kháng chiến chín năm, 9 năm kháng chiến trường kỳ, Thời 9 năm, Hồi 9 năm) Các tài
liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc
Chiến tranh Đông Dương.
Pháp tham gia cuộc chiến này vì ý muốn tiếp tục giữ Đông Dương là thuộc địa, sau khi người Nhật đã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương Đây là lý do chính trị và tâm lý hơn là kinh tế[11] Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo[12] Đa số lãnh đạo Pháp cho rằng so với một cuộc xâm chiếm thuộc địa cổ điển với việc chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng dần theo kiểu "vết dầu loang" mà người Pháp đã thực hiện rất thành công ở Maroc và Algeria, cuộc chiến này sẽ chỉ có quy mô hơn một chút Tuy nhiên, mặc dù Pháp chiếm ưu thế quân sự trong thời gian đầu, lực lượng Việt Minh đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng.[12]
Trong khi đó, mục tiêu của Việt Minh và các nhóm kháng chiến khác là giành độc lập cho các dân tộc mình Cuộc chiến giữa một cường quốc trên thế giới và một đất nước nghèo nàn lạc hậu đã diễn ra gần như lời Hồ Chí Minh đã nói:
"Nó sẽ là một cuộc chiến giữa voi và hổ Nếu hổ đứng yên thì sẽ bị voi dẫm chết Nhưng hổ không đứng yên Ban ngày nó ẩn nấp trong rừng và ra ngoài vào ban đêm Nó sẽ nhảy lên lưng voi, xé những mảnh da lớn, và rồi nó sẽ chạy trở lại vào rừng tối Và dần dần, con voi sẽ chảy máu đến chết Cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ như vậy." [13]
Sau Đại chiến thế giới lần thứ 2, trên lãnh thổ của Đế quốc Pháp đã bùng nổ nhiều phong trào đòi độc lập, nhưng gây thiệt hại lớn nhất cho Pháp là Chiến tranh Đông Dương
Trang 4Mục lục
[ẩn]
• 1 Hoàn cảnh
o 1.1 Thời Pháp thuộc
o 1.2 Việt Nam tuyên bố độc lập - Pháp quay trở lại Đông Dương
o 1.3 Căng thẳng dẫn đến bùng nổ
• 2 Diễn biến cuộc chiến tranh
o 2.1 Thế thượng phong của Pháp và các cố gắng thương lượng của Việt Minh
o 2.2 Pháp sa lầy và giải pháp Bảo Đại
o 2.3 Chiến tranh đẩy mạnh - Việt Minh phản công
2.3.1 Việt Minh phản công quân Pháp
o 2.4 Kế hoạch Navarre và trận Điện Biên Phủ
• 3 Sự tham gia của Mỹ
• 4 Hiệp định Genève
• 5 Kết quả
• 6 Tham khảo
• 7 Chú thích
• 8 Liên kết ngoài
[sửa] Hoàn cảnh
[ sửa ] Thời Pháp thuộc
Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn Năm
1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng Sài Gòn và ba tỉnh lân cận cho Pháp Năm 1869, Pháp chiếm nốt ba tỉnh kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân Cochinchine (Nam kỳ) Đến năm 1885, Pháp xâm chiếm xong những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảo hộ" Bắc kỳ và Trung kỳ (nơi họ tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn nhà Nguyễn)
Trong suốt thời kỳ từ khi Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại
Trang 5Quân Pháp tấn công quân Thanh ở Lạng Sơn
Năm 1927, những người Việt cấp tiến đã thành lập Việt Nam Quốc dân đảng (giống
Trung Hoa Quốc dân Đảng) Đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân đảng bị suy yếu nghiêm trọng Cùng năm, những người Việt theo
chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp
Năm 1940, Nhật Bản tấn công Đông Dương và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương Thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương Ngay sau đó, Nhật thiết lập một chính quyền Bảo Đại bù nhìn với chính phủ do một nhà nho uy tín là Trần Trọng Kim đứng đầu
Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do Hồ Chí Minh thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập Tổ chức này do
Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, thu hút được sự tham gia và ủng hộ của nhiều người Việt Nam và ngày càng lớn mạnh Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng vũ trang của Việt Minh và tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Cao Bằng
Đầu năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại
Bắc kỳ và Trung kỳ Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này
[ sửa ] Việt Nam tuyên bố độc lập - Pháp quay trở lại Đông Dương
Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tuy nhiên, theo hiệp ước Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm quân Anh và quân Trung Quốc vào Việt Nam để giải giáp vũ khí Nhật Cả Anh và Trung Hoa Dân Quốc đều muốn
hạ bệ chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Anh ủng hộ sự trở lại của Pháp tại Đông Dương, còn Trung Hoa muốn đưa lực lượng thân Trung Quốc lên nắm quyền
Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tiến vào với danh nghĩa giải giáp quân
Nhật, nhưng mang theo kế hoạch Diệt Cộng Cầm Hồ Đội quân ô hợp này đốt phá cướp bóc hết sức tàn bạo[cần dẫn nguồn]
Ở miền Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp Quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh
Trang 6Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ thuộc địa Đông Dương Ngày 19, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam Ngày 23, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày Nam Bộ Kháng chiến) Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã lại đứng nạn ngoại xâm
Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ
Bức điện Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ
Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân "Nam tiến" của Vệ quốc đoàn (quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu lên đường vào Nam chống Pháp[14] Các tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn được cấp tốc cử vào Trong hai tháng cuối năm 1945 và tháng 1 năm 1946, lực lượng Việt Minh tại các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân Pháp Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, sau một thời gian, các lực lượng này đều phải rút ra những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dựng chiến khu để bảo tồn lực lượng cho kháng chiến lâu dài
Tập tin:Nguyen Ba Khoan-Doan quan Nam tien.jpg
Đoàn quân Nam tiến
Trong suốt năm 1946, mặc dù hai bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh
[ sửa ] Căng thẳng dẫn đến bùng nổ
Trang 7Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu Ngày 20 tháng 11, hải quân Pháp bắt giữ một thuyền buồmTrung Quốc
chở xăng được cho là để giao cho Việt Minh Trong khi tàu được kéo vào bờ, du kích địa phương trên bờ đã bắn vào quân Pháp Quân Pháp bắn trả và chiến sự nhanh chóng lan ra toàn thành phố Hai bên mau có đạt được ngừng bắn, nhưng hai ngày sau, Tướng Jean-Étienne Valluy, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, lệnh cho quân Pháp chiếm toàn quyền kiểm soát thành phố Ngày 23 tháng 11, Đại tá Dèbes gửi tối hậu thư yêu cầu người Việt ra khỏi khu phố Tàu của Hải Phòng và hạ vũ khí Khi không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tầu chiến Pháp bắn phá thành phố, trong một buổi chiều đã giết chết hơn 6.000 người dân[15] hoặc hơn 2.000 người theo một nguồn khác.[16] Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố trong khi pháo tiếp tục bắn phá vùng ngoại ô Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng Việt Minh bảo vệ thành phố Chiến sự kéo dài cho đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28 tháng 11 Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ Việt Nam có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ phủ và một doanh trại gần đó Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng đóng tại ngoại ô của thủ đô Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và
tự vệ Bao gồm những thanh niên đầy nhiệt tình ủng hộ cách mạng, các lực lượng này được trang bị chủ yếu bằng vũ khí tự tạo Đối địch với họ là vài nghìn binh sĩ Lê dương Pháp, chủ yếu đóng trong Thành Hà Nội, phần còn lại đóng xen kẽ tại 45 điểm trong thành phố như Phủ Toàn quyền, ga Hà Nội, nhà băng Đông Dương, nhà thương Đồn Thủy, cầu Long Biên, và sân bay Gia Lâm
Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn
bị trước ở bên ngoài thành phố Trong thành phố, quân và dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình Ngày 6 tháng 12, Hồ Chí Minh kêu gọi quân Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng ông không nhận được phản hồi Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp vào hôm sau, Hồ Chủ tịch khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam hy vọng tránh được chiến tranh - cái sẽ gây đau khổ lớn cho cả hai nước "Nhưng nếu chúng tôi phải đối mặt với chiến tranh", ông nói, "chúng tôi sẽ chiến đấu chứ không từ bỏ quyền tự
do của mình"
Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển tiếp tới Paris
Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của Cao ủy Phápd'Argenlieu về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt, Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi Ngày 16 tháng 12, ông lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh
Trang 8dựng trong thành phố Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Brum vào đến Sài Gòn, Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau Đến ngày 19, bức điện mới đến được Paris, khi đó đã quá muộn
Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (Hà Nội), rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội Người Việt không phản ứng Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố
Đối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng trước, khi Đại
tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá thành phố Sáng ngày 18 tháng
12, Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm sau Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Brum có thể chưa đến nơi, ông gửi một bức điện thẳng tới Paris Sáng 19, để thể hiện thiện chí và cố gắng kéo dài hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Sainteny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại" Sau khi được tin Sainteny
từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại,
không thể nhân nhượng thêm được nữa Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí
thư Trường Chinh dự thảo Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối cùng ngày Chiến tranh Đông Dương bắt đầu
[sửa] Diễn biến cuộc chiến tranh
Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ
phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam
từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành Sáng ngày 20 tháng 12, lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đăng trên báo Cứu quốc và các báo Hà Nội, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!"
Cuộc Kháng chiến chống Pháp được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh, phát hành những ngày đầu kháng chiến Tài liệu chia kháng chiến ra 3 giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công Diễn biến chiến tranh về sau đúng như vậy
dịch Việt Bắc Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng Chiến, cầm cự miền Nam, miền
Trang 9Trung, Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp 6/3/1946 và Tạm ước Việt–Pháp 14/9/1946Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, di tản lên chiến khu Cuối cùng là đánh bại
Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc
dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên Giới
5-1951), Phòng tuyến Taxinhi,Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Tây Bắc
(14/10 – 1/12/1952), Chiến dịch Hòa Bình 1952, Chiến dịch Thượng Lào (8/4 – 3/5/1953), Kế hoạch Nava, Chiến cục Đông Xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 – 7/5/1954), Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (21/7/1954)
Phương pháp tiến hành chiến tranh của quân đội Việt Minh chỉ đơn giản có hai điều, xây dựng lực lượng và đánh tiêu hao địch Phương pháp này đã đi suốt lịch sử lớn mạnh của
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
[ sửa ] Thế thượng phong của Pháp và các cố gắng thương lượng của Việt
Minh
Bài chi tiết: Nam Bộ Kháng Chiến và Chiến dịch Việt Bắc 1947
Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, các lực lượng vũ trang của Việt Minh đã
nổ súng chống Pháp tại nhiều khu vực thành thị trên cả nước: Hà Nội, Nam Ðịnh, đường
số 5, Vinh, Huế, Đà Nẵng , hoàn thành nhiệm vụ bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực tản về các căn cứ ở nông thôn và để các cơ quan, công xưởng di chuyển lên vùng chiến khu Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội (Xem Trận Hà Nội 1946) Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân Châu
Âu thiệt mạng, 200 người mất tích[17]Trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn
và chênh lệch về vũ khí, sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố, đến đêm 17 tháng 2 năm 1947Trung đoàn Thủ đô mới rút ra khỏi nội thành.[18] Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "vườn không nhà trống"
Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Minh rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với
"nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến", rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán Ngày 23 tháng 12, Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Henri Leclerc, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên Một vài ngày sau, ông chính thức
đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ
Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3 Nhưng tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán Emile Bollaert,
Trang 10Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên "đàm phán bằng mọi giá" Những người thân cận ông như Pierre Messmer và Paul Mus cũng thiên về chiều hướng đối thoại Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích,
và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với Việt Minh
Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi Việt Minh hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của Việt Minh có khoảng 60.000 người, chưa kể tự
vệ và du kích địa phương Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp Yếu
về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Minh ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn Quân chủ lựcchính quy của Việt Minh tổ chức như quân đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền của Việt Nam Việt Minh tổ chức
du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch
Cuộc chiến tranh du kích tại đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp Ở mọi nơi, Việt
Minh vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế Có những hội tề (chính quyền làng xã thân
Pháp) được lập ra để che mắt Pháp nhưng hành động theo Việt Minh Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi nộp thuế cho Việt Minh Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân chủ lực giữ đồng bằng Bắc Bộ Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về chính trị, khi sách lược hà khắc của tướng Nguyễn Bình[cần dẫn nguồn], tổng chỉ huy Việt Minh tại Nam
Bộ, đã làm nhiều người Việt ở Nam Bộ xa lánh [cần dẫn nguồn] và đẩy lãnh đạo của các phái
Hòa Hảo, Cao Đài về phía Pháp
Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh Ngày 7 tháng 10 năm 1947, Chiến dịch Léa, cuộc tấn công vào chiến khu Việt Bắc, bắt đầu Quân Pháp tiến nhanh và mau chóng định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương, nhưng Hồ Chí Minh và chính phủ của ông đã
đi thoát, lực lượng vũ trang của Việt Minh lặng lẽ lẩn vào rừng rồi quay ra đánh quân Pháp tại những nơi mà họ chọn Tuy Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng họ đã cắt được đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung tại Cao Bằng,
cô lập Việt Minh với thế giới bên ngoài
[ sửa ] Pháp sa lầy và giải pháp Bảo Đại
Bài chi tiết: Quốc gia Việt Nam