1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ hà nội

60 502 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 555,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học sư phạm hà nội 2 Khoa giáo dục thể chất Hà Thị Phúc Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT

Trang 1

Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho

học sinh nam khối 11 trường THPT

Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Cử nhân Khoa học Sư phạm GDTC – GDQP Hướng dẫn khoa học Người thực hiện

CN Tạ Tất Viện Hà thị phúc

Hà Nội - 2010

Trang 2

Trường Đại học sư phạm hà nội 2 Khoa giáo dục thể chất

Hà Thị Phúc

Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho

học sinh nam khối 11 trường THPT

Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hà Nội - 2010

Trang 3

Lời cam đoan

Tên tôi là: Hà Thị Phúc

Sinh viên lớp K32 GDTC - GDQP trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết và đúng thực tế của trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2010

Sinh viên

Hà Thị Phúc

Trang 5

Danh mục bảng biểu

Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn giáo viên lựa chọn trò chơi vận động nhằm phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

3.2 Một số trò chơi vận động nhằm giáo dục sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

3.3 Tiến trình giảng dạy trò chơi vận động cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

3.4 Kết quả kiểm tra sức nhanh trước thực nghiệm của 2 nhóm: Thực nghiệm và đối chứng

3.5 Kết quả kiểm tra sức nhanh sau thực nghiệm của 2 nhóm: Thực nghiệm và đối chứng

3.6 So sánh thành tích chạy díc dắc 30m của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm

3.7 So sánh thành tích chạy cự li ngắn 80m XPC của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm

Biểu đồ 3.1 Thành tích chạy díc dắc 30m của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm

Biểu đồ 3.2 Thành tích chạy 80m XPC của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm

Trang 6

mục lụC

Trang

1.1 GDTC và TDTT trong xã hội hiện nay 5 1.2 Thực trạng công tác GDTC cho học sinh trong các trường

THPT hiện nay

6

1.3 Bản chất, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi

vận động cho các em học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn

Văn Cừ – Hà Nội

8

Chương 2: Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 13

3.1 Một số vấn đề cơ bản liên quan tới việc sử dụng trò chơi

vận động trong phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11

trường THPT Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội

3.3 Đánh giá hiệu quả các trò chơi nhằm phát triển sức nhanh

cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội

35

Phụ lục

Trang 7

Đặt vấn đề

Thế hệ trẻ là những người kế tục sự nghiệp cách mạng và có vai trò quyết định tới tương lai của đất nước Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn đặc biệt quan tâm, bồi dưỡng con người mới phát triển toàn diện về

“ Đức - Trí - Thể - Mỹ” Trong đó mục tiêu về thể chất ngày càng được quan tâm hơn trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập, cuộc sống con người ngày càng được nâng cao, đi cùng với sự phát triển về vật chất thì sức khỏe cũng là một yếu tố luôn được quan tâm đặc biệt Không thể phủ nhận những lợi ích, thuận lợi của nền kinh tế phát triển mang lại cho chúng ta nhưng cũng không thể tránh khỏi những khó khăn, những mặt trái của sự đi lên đó Nhiều nhà máy xí nghiệp mọc lên dẫn tới nhiều chất thải và khí độc, nguồn tài nguyên khai thác phục vụ cho nền công nghiệp ngày càng cạn kiệt thì thiên tai, lũ lụt, hạn hán xảy ra nhiều hơn Khí hậu thay đổi, môi trường ô nhiễm cho đến hiện tại vẫn chưa có cách khắc phục hiệu quả Có rất nhiều nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, vì thế toàn xã hội quan tâm tới việc tìm ra những biện pháp để bảo vệ sức khỏe tốt nhất Khoa học chứng minh và thực tiễn cho thấy rèn luyện TDTT là một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo

vệ sức khỏe

Ngay từ những ngày đầu cách mạng Tháng 8 thành công, Bác Hồ đã

nêu rõ tầm quan trọng của TDTT: “ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân khỏe mạnh góp phần làm cho đất nước mạnh khỏe” Bản thân người cũng đã nêu gương: “

Tự tôi ngày nào cũng tập”

Rèn luyện TDTT thường xuyên và khoa học giúp cơ thể khỏe mạnh, cường tráng, sức đề kháng được nâng cao để chống lại mọi tác nhân gây hại

Trang 8

từ môi trường mất cân đối và ô nhiễm Nói một cách khái quát nhất: Mục đích của nền TDTT nước ta là tăng cường thể chất cho nhân dân, nâng cao trình độ thể thao góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và giáo dục con người để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đất nước có tiên tiến, đổi mới đến đâu thì con người luôn là nhân tố quyết định, là vốn quý nhất, là nguồn lực to lớn nhất và quan trọng nhất trong

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Để tạo ra cho đất nước nguồn nhân lực tài năng đó thì giáo dục và đào tạo ( GD - ĐT) là một lĩnh vực tham gia tích cực và mang lại thành quả to lớn Nhận thức được tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến nền giáo dục nước nhà, đây

là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Đảng ta xác định ba nhiệm vụ cho ngành

GD - ĐT là “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bỗi dưỡng nhân tài”

Là một bộ phận của công tác giáo dục toàn diện, giáo dục thể chất (GDTC) cũng là nội dung cực kỳ quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cao đẹp, đồng thời nâng cao sức khỏe cho thế hệ trẻ GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người Dựa trên quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đưa môn học GDTC vào trong các nhà trường Tại điều 41 của hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

quy định “ Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích giúp đỡ các hình thức

tổ chức TDTT chú trọng các tài năng TDTT”

GDTC trong trường học hiện nay là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện những phẩm chất, nhân cách bên cạnh đó còn trang bị cho các em những kĩ năng vận động cơ bản là cơ sở tiền đề cho các giai đoạn phát triển thể chất của học sinh Vì thế GDTC trong nhà trường

Trang 9

phổ thông là một bộ phận quan trọng trong nền giáo dục toàn diện góp phần

đào tạo con người mới: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”

Trong những phương tiện của GDTC để tác động đến các đối tượng tập luyện nhằm đạt được những mục đích của GDTC thì trò chơi vận động là một phương tiện có hiệu quả cao Trò chơi vận động được sử dụng đều mang tính mục đích rõ ràng, nó cho phép hoàn thiện các năng lực vận động của các em.Trong quá trình tham gia trò chơi, các em được tiếp xúc với nhau, mỗi cá nhân phải cố gắng nỗ lực hết mình vượt khó khăn để hoàn thành trách nhiệm của mình trước tập thể và mang lại thắng lợi cho toàn đội Tập thể có trách nhiệm giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình Ngoài tác dụng vui chơi giải trí, trò chời vận động còn mang ý nghĩa giáo dục tư tưởng lớn Nó góp phần hình thành nhân cách, giáo dục phẩm chất đạo đức quý giá như: Tính tập thể, tình đoàn kết, tính kỷ luật, lòng dũng cảm, ý trí quyết thắng, tính sáng tạo và ý thức tự chủ tất cao Bên cạnh tính mô phỏng, trò chơi vận động còn mang tính thi đua Tham gia vui chơi các em biểu lộ tình cảm, ý chí và thể lực rất đa dạng Nhất là đối tượng học sinh phổ thông sự ganh đua rất quyết liệt, rõ ràng Chính sự ganh đua ấy khiến các em phát huy được tính tích cực tự giác mà đây là một trong những yếu tố quan trọng trong GDTC, bởi các bài tập phát triển thể chất chỉ đạt hiệu quả khi người tập có tinh thần ý thức tự giác tích cực

Trò chơi vận động cũng là một trong những phương pháp GDTC nhằm phát triển tố chất vận động cần thiết như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo… Thực tế cho thấy để học sinh có sức khỏe tốt, học tập đạt hiệu quả cao, có hứng thú học môn thể dục và phát triển năng khiếu thể thao thì điều cốt yếu là phải phát triển ở các em các tố chất đó, đặc biệt là sức nhanh

Trang 10

Vì vậy, để phát triển được tố chất sức nhanh, làm tiền đề cho việc học tốt môn thể dục thì cần sự nghiên cứu và quan tâm đặc biệt

Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động Trong thực tiễn thường thấy sức nhanh được thể hiện tổng hợp ở học sinh nam tiềm ẩn tố chất sức nhanh lớn hơn học sinh nữ, tuy nhiên thực tế cho thấy các em vẫn chưa phát huy hết năng lực của mình Các em có sự thay đổi lớn về tâm sinh

lí, với tính cách mạnh mẽ, hiếu thắng, muốn khẳng định mình trên mọi lĩnh vực các em luôn tìm kiếm và khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống Các em dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội, bên cạnh đó các em chưa nhận thức đầy đủ về GDTC khiến các em ít quan tâm tới việc rèn luyện thân thể Chính

vì vậy, là những thầy giáo GDTC có trách nhiệm tìm ra các biện pháp thu hút các em quan tâm tới môn học, hướng các em vào lối sống lành mạnh để từ đó nâng cao sức khỏe và phát triển ở các em tố chất vận động, tạo tiền đề cho sự lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài thể thao

Trò chơi vận động là những hoạt động rất bổ ích, ngoài tác dụng vui chơi giải trí nó còn được xem là một phương tiện quan trọng để phát triển tố chất sức nhanh cho học sinh, đặc biệt là học sinh nam

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa nêu trên, chúng

tôi đã tiến hành đề tài “ Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh nam khối THPT và những đặc điểm của phương pháp sử dụng trò chơi vận động trong GDTC trường học, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục đích để lựa chọn và áp dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ – Hà Nội Góp phần đưa ra một số ứng dụng có hiệu quả trong công tác GDTC trường

Trang 11

THPT Nguyễn Văn Cừ nói riêng và ở các trường THPT nói chung, làm cơ sở lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước

Trang 12

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.GDTC và TDTT trong xã hội hiện nay

Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của TDTT thể hiện ở sự phát triển các

tố chất thể lực như : Sức nhanh, mạnh, bền, khéo léo và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản làm cơ sở để tiếp thu các kĩ năng, kĩ xảo khác trong lao động và sinh hoạt sau này Người tập TDTT thường có thân hình cân đối, nở nang, cơ bắp phát triển nhanh, mạnh Lúc bình thường các cơ quan trong cơ thể hoạt động tiết kiệm sức lực và năng lượng hơn

Nhà hiền triết vĩ đại Cổ HiLạp A- ri – xtốt ( Năm 384 – 322 trước Công

nguyên) đã có những câu nói bất hủ “ không có gì kiệt sức và hủy hoại sức khỏe bằng sự ì trệ kéo dài, ì trệ là bắt đầu ốm yếu” Quan niệm mới về sức

khỏe không chỉ giới hạn về thể chất mà còn cả tâm lí xã hội nữa Con người vui vẻ yêu đời, xã hội lành mạnh, môi trường trong sạch thì sống lâu và khỏe mạnh hơn, học tập và lao động có hiệu quả hơn

Tập luyện TDTT thường xuyên tránh được các bệnh về tim mạch Người tập thường xuyên thì tim khỏe hơn và to hơn bình thường Theo những tài liệu của tổ chức y tế thế giới trong 65 năm trở lại đây số người bị bệnh tâm thần tăng 24 lần, nhồi máu cơ tim tăng 60 lần ở tuổi 35 – 44 Đó là 2 bệnh liên quan nhiều tới tình trạng thiếu vận động và ảnh hưởng của nền văn minh hiện đại Có công trình nghiên cứu đã tính được rằng người khỏe thì học kĩ năng lao động nhanh và dễ hơn người thường khoảng 2 – 5%, hồi phục sau lao động nhanh hơn

Thực hiện GDTC có hệ thống, có khoa học sẽ góp phần đào tạo nên những con người phát triển toàn diện TDTT còn là những hoạt động hấp dẫn, rộng rãi giúp con người và các dân tộc trên thế giới đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau TDTT là một quá trình hoạt động nhằm tác động có chủ đích, có tổ

Trang 13

chức theo những nhu cầu, lợi ích của con người Không có vận động sẽ không

có sự sống, không có hoạt động sẽ không có sự phát triển thể chất tốt

TDTT là một tổng thể những giá trị có tính đối tượng rõ, những thành tựu về vật chất, tinh thần TDTT còn là một bộ phần của nền văn hóa xã hội,

là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực thể hiện cụ thể qua cách thức rèn luyện thân thể nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối, hợp lí

GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người, GDTC là một mặt của giáo dục toàn diện trong trường THPT, nó góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo theo tinh thần nghị quyết của Đại hội

Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng dân tài, hình thành đội ngũ lao động trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, chủ động và sáng tạo

Chỉ thị số 36CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư TW Đảng Cộng

sản Việt Nam đã xác định “ Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân” Những chỉ thị thông

tư của Đảng và Nhà nước, cùng với sự phát triển của TDTT nước ta cả trên lĩnh vực TDTT quần chúng, lẫn thể thao thành tích cao, cũng như trên các mặt hoạt động TDTT khác đang đặt ra những đòi hỏi tất yếu đối với công tác nghiên cứu khoa học, nhằm làm cho khoa học công nghệ trở thành động lực

và là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự nghiệp TDTT phát triển

1.2 Thực trạng công tác GDTC cho học sinh trong các trường THPT hiện nay

Trang 14

1.2.1 Chương trình TD và hiệu quả GDTC ở các trường THPT trong thời gian qua

Trong những năm vừa qua hầu hết các trường THPT trong huyện Gia Lâm - Hà Nội nói chung và trường THPT Nguyễn Văn Cừ nói riêng đã quán triệt chỉ đạo của ngành, dạy đủ và dạy đúng chương trình tiến tới dạy tốt các môn học, trong đó có thể dục Ban Giám hiệu các trường đó đã chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, có kế hoạch tổ chức các hoạt động ngoại khóa TDTT cho học sinh, kiểm tra việc thực hiện chương trình cả về nội dung và thời gian

Nhưng do điều kiện cơ sở vật còn nhiều hạn chế, sân tập và dụng cụ tập luyện không đảm bảo, thời khoá biểu chưa thật hợp lí nên kết quả giảng dạy môn thể dục chỉ dừng lại ở mức độ hoàn thành chương trình, còn chất lượng, hiệu quả giờ học thể dục chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của Giáo dục hiện nay

1.2.2 Sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp đối với công tác GDTC trong các trường THPT

Tuy còn hạn chế nhiều trong giảng dạy song công tác GDTC những năm qua cũng đạt được những thành tựu đáng kể về nhiều mặt như:

- Bộ GD và ĐT, Sở GD và ĐT các địa phương đã tích cực đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy

- Tăng cường thời lượng chương trình từ 1tiết học trên 1 tuần lên 2 tiết học trên 1 tuần

- Đổi mới yêu cầu kiểm tra đánh giá

- Đổi mới về chương trình học, thay sách giáo khoa, 1 tiết học không còn là một nội dung mà là 2 nội dung hoặc 3 nội dung

- Bổ sung đội ngũ, nâng cao trình độ cho giáo viên, đảm bảo về cơ bản giáo viên thể dục đạt chuẩn

Trang 15

1.2.3 Nhận thức, trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy của giáo viên TD và nhận thức về môn học của học sinh

Qua quá trình thực tập sư phạm chúng tôi được biết: Nhận thức của giáo viên thể dục hiện nay còn xem nhẹ môn thể dục Nhà trường còn thờ ơ, cho đây là môn học phụ, học sinh không coi trọng vì môn TD không phải là chỉ tiêu để đánh giá kết quả học tập của học sinh Hoạt động đào tạo chỉ được diễn ra trong giờ học, việc tự học tự tập luyện của học sinh gần như không có Hoạt động của giáo viên trong giờ học chỉ mang tính chất ổn định lớp học, ít theo dõi việc tập luyện của học sinh Đây là điều đầu tiên dẫn đến chất lượng môn học thể dục không cao Vậy nâng cao hiệu quả công tác GDTC là một nhu cầu cấp bách đối với các cấp lãnh đạo và những người làm công tác GDTC

1.2.4 Về cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ giảng dạy thể dục và hoạt động GDTC

Qua thực tế giảng dạy trong quá trình thực tập, chúng tôi thấy hầu hết các trường THPT nói chung và trường THPT Nguyễn Văn Cừ nói riêng chưa đảm bảo được điều kiện cơ sở vật chất sân bãi dụng cụ tập luyện Sân trường còn chật hẹp, dụng cụ tập luyện tuy có nhưng chưa đầy đủ hoặc đã quá cũ khó

sử dụng… Giáo viên thể dục chưa sử dụng đúng trang phục dạy học Những vấn đề này ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy thể dục cho học sinh

1.3 Bản chất, phân loại và phương pháp giảng dạy trò chơi vận động cho các em học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

1.3.1 Bản chất của trò chơi

Như ta đã biết trò chơi là sản phẩm của văn hóa tinh thần của con người Nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Trong xã hội có giai cấp, trò chơi bao giờ cũng mang tính giai cấp ở chế độ xã hội chủ nghĩa,

Trang 16

TDTT nói chung và trò chơi vận động nói riêng là tài sản chung của mọi người và phục vụ sức khỏe cho mọi tầng lớp nhân dân lao động

Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, việc giải thích sự phát triển của trò chơi được hiểu một cách toàn diện hơn Như chúng ta đã nghiên cứu

sự xuất hiện của trò chơi gắn liền một cách hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của loài người Việc ra đời của trò chơi chính là sự thỏa mãn tất yếu nhu cầu

về mặt tinh thần của con người

Trong xã hội phát triển trò chơi không chỉ th mãn cho con người nhu cầu về tinh thần mà thực chất nó đã là một trong những phương tiện để giáo dục và giáo dưỡng thể chất

Hầu hết các trò chơi được sáng tác đều phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn sắc trong tự nhiên và xã hội Vì vậy trò chơi mang tính mô phỏng và ước lệ cao Nó luôn là những hoạt động vui tươi sôi động, dù ở lứa tuổi nào khi tham gia cũng đều hăng say và gắng sức để giành chiến thắng vì đó là quy luật tất yếu của sự phát triển tâm lí Một đặc điểm nổi bật và cũng là một ưu thế của trò chơi đó là tính thi đua và cuốn hút Trò chơi là một phương tiện quan trọng trong việc phát triển năng lực thể chất cần thiết cho học sinh cũng như kích thích được tính tích cực, tự giác của các em nếu như chúng ta biết cách khai thác tốt ưu thế đó của trò chơi

Trong quá trình giáo dục, trò chơi giúp trẻ trong lúc học làm cho chúng vui và ngược lại trong lúc vui làm cho chúng học Đó là một ưu thế đặc thù

rất hiệu quả trong quá trình GDTC “ Học mà chơi, chơi mà học” Trò chơi

giúp các em giải trí, tạo hứng thú học tập môn thể dục cũng như tạo tinh thần thoải mái để học tập các môn học khác Bên cạnh đó nó còn phát triển một số

tố chất thể lực ở các em

Nhà sư phạm Nga nổi tiếng Ma- Ka - Ren - Cô đã khẳng định: giữa trò chơi và công việc không có sự khác biệt hẳn nhau Trò chơi tốt cũng giống

Trang 17

như một công việc tốt Trò chơi xấu cũng giống như một công việc xấu Vấn

đề là ở chỗ chúng ta phải sưu tầm, sáng tạo được nhiều trò chơi hay, trò chơi tốt Trò chơi tốt phải là trò chơi không những có ý nghĩa tích cực để phát triển, cải tạo thể chất cho học sinh mà còn góp phần mở mang trí tuệ, góp phần giáo dục phẩm chất đạo đức cho các em Đó chính là tính giáo dục của trò chơi, một khi trò chơi xa rời mục đích kể trên thì trò chơi ấy không còn ý nghĩa gì nữa

1.3.2 Phân loại trò chơi

Có rất nhiều tác giả có những quan điểm khác nhau về việc phân loại trò chơi nói chung và trò chơi vận động nói riêng

Kế thừa những quan điểm đó trò chơi vận động được phân loại dựa trên

cơ sở một số căn cứ sau:

- Phân loại căn cứ vào đặc điểm thao tác của hoạt động, ta phân trò chơi thành các loại; đi bộ, chạy, ném, leo trèo, mang vác

Cách phân loại này nhằm phát triển những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống

- Căn cứ vào mục đích giáo dưỡng các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và tính khéo léo Cách phân loại này nhằm củng

cố và phát triển những tố chất cần thiết riêng biệt tùy vào mục đích của người hướng dẫn vui chơi, góp phần hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho cuộc sống

- Căn cứ vào nghề nghiệp mà ta có các trò chơi bổ trợ cho một nghề nghiệp hay một môn thể thao nào đó như: trò chơi bổ trợ bóng chuyền, bóng

rổ, điền kinh, v.v… trò chơi xây dựng, trò chơi quân sự

- Căn cứ vào môi trường hoạt động mà có các trò chơi dưới nước, các trò chơi trên cạn

Trang 18

- Có nhiều tác giả lại căn cứ vào khối lượng vận động để phân chia các nhóm trò chơi tĩnh, trò chơi vận động hoặc phân chia theo các nhóm chính, phụ

- Do những đặc điểm về tính tự lập, sáng tạo, nhanh trí nên phương pháp trò chơi tạo cho người chơi điều kiện rộng rãi để giải quyết sáng tạo các nhiệm vụ vận động Thêm vào đó là sự thay đổi thường xuyên, bất ngờ, các tình huống trong quá trình chơi, buộc người chơi phải giải quyết nhiệm vụ trong thời gian ngắn Do đó người ta chia trò chơi vận động ra làm ba nhóm như sau:

Nhóm 1: Trò chơi thể thao là các môn cầu lông, bóng đá, bóng

chuyền,… các môn này có luật chơi chặt chẽ trong thi đấu, thường ít nhất có 1 đến nhiều trọng tài điều khiển

Nhóm 2: Trò chơi thể thao đơn giản là những trò chơi trong đó có

những hiện tượng đời sống thực tiễn, được phản ánh gián tiếp các quan hệ tranh đua và phối hợp của con người được đặt lên vị trí hàng đầu, phải có trọng tài để quan sát, thi hành luật chơi và đánh giá kết quả trò chơi Các trò chơi thể thao đơn giản có tính chất và luật lệ khác nhau Do tính đơn giản nên trò chơi thể thao đơn giản được áp dụng trong GDTC, phù hợp với các em học sinh các cấp trong các nhà trường

Nhóm 3: Trò chơi mô phỏng là trò chơi bao giờ cũng chọn một chủ đề

phản ánh, tượng trưng cho một hiện tượng nào đó trong gia đình, xã hội Trò chơi tự do không có nội dung và cấu trúc cố định, không có luật và quy định chặt chẽ Trò chơi mô phỏng có luật lệ thi đấu của chủ đề, có kết cấu, trình tự qui định, có tính ganh đua

Nói tóm lại, sự phân loại trò chơi vận động rất đa dạng và tương đối phức tạp bởi tính mục đích và tác dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau Do vậy cách phân loại như trên cũng chỉ là tương đối, trong

Trang 19

thực tế tùy thuộc vào các khuynh hướng vận động mà người điều khiển làm sao cho trò chơi vận động đạt được mục đích ý nghĩa của nó như một phương tiện để giáo dục thể chất và giải trí cho con người

1.3.3 Phương pháp giảng dạy trò chơi vận động cho học sinh

Để giảng dạy trò chơi cho học sinh, việc đầu tiên của giáo viên là lựa chọn trò chơi, khi lựa chọn cần chú ý đến sức khỏe của học sinh, xác định mục đích và yêu cầu rõ ràng, phù hợp Sau khi lựa chọn được trò chơi giáo viên biên soạn thành giáo án giảng dạy, từng bước dạy cho các em từ chưa biết đến biết, từ chỗ thụ động đến tích cực, sáng tạo trong khuôn khổ và quy tắc, luật lệ

Khi đã lựa chọn được trò chơi, giáo viên cần chuẩn bị phương tiện, dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy, chuẩn bị địa điểm vui chơi và tổ chức cho học sinh vui chơi Công việc tổ chức được quy định trong một số nhiệm vụ: tập hợp học sinh theo đội hình, phân chia đội, chọn vị trí của giáo viên thích hợp để giải thích và điều khiển trò chơi, chọn đối tượng cho từng đội hoặc phân vai trong khi chơi Tùy theo tính chất của trò chơi, giáo viên có thể

tổ chức trò chơi theo nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên phải tuân theo các nguyên tắc sao cho học sinh phải nghe rõ lời giáo viên phổ biến, nhìn rõ giáo viên làm mẫu, giáo viên phải quan sát được toàn bộ học sinh và tiến trình cuộc chơi nhưng không gây cản trở tiến trình cuộc chơi Khi tổ chức chơi giáo viên nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu làm cho tất cả học sinh đều nghe được và nắm được cách chơi, luật chơi

Việc giới thiệu và giải thích trò chơi hấp dẫn là một nghệ thuật của giáo viên để lôi cuốn học sinh tham gia nhiệt tình Vì vậy không nên coi thường khâu giới thiệu và tổ chức trò chơi Khi các em chơi giáo viên đóng vai trò như một trọng tài, giải thích những tình huống phạm luật, phân định thắng thua, giải quyết thắc mắc của học sinh

Trang 20

Khi điều khiển cuộc chơi, giáo viên cần chú ý bảo hiểm cho các em để tránh chấn thương xảy ra, cần nhắc nhở, giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật và đạo đức cho các em Sau mỗi lần tổ chức giáo viên cần nhận xét, đánh giá kết quả cuộc chơi Để đánh giá đúng thực chất trò chơi, giáo viên phải thống kê những yếu điểm, ưu điểm của từng đội Dựa vào yêu cầu và nội dung của trò chơi, giáo viên đưa ra kết quả thắng thua rõ ràng, công bằng và chính xác Có thể nói, điều khiển tiến trình cuộc chơi sao cho sôi nổi, nhiệt tình đó là nghiệp

vụ sư phạm của mỗi giáo viên Chỉ có lòng yêu nghề yêu trẻ và ham học hỏi, nghiên cứu thì việc tổ chức TCVĐ mới đạt hiệu quả cao

Trang 21

Chương 2 Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra hai nhiệm

vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu thực trạng sức nhanh và một số vấn đề cơ bản

có liên quan tới việc phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm

nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ_ Gia Lâm_ Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu, tập hợp các tài liệu như các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, tư liệu giảng dạy TDTT và GDTC, các sách viết về trò chơi vận động, về sức nhanh, sách giải phẫu sinh lí và từ nhiều nguồn tư liệu khác Chúng tôi thu thập những tài liệu gần với vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

Trang 22

Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời miệng giữa người nghiên cứu và người được hỏi

Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi, phiếu điều tra, theo một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn

Trao đổi, tọa đàm là phương pháp thu thập thông tin nhiều chiều giữa người nghiên cứu với một số cá nhân về vấn đề quan tâm

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quá trình đó

Trong thời gian chúng tôi thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm được chúng tôi sử dụng trong quá trình dự giờ, quán sát quá trình học thể dục

và các hoạt động khác mà các em tham gia

2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu mà người ta đưa vào quá trình giảng dạy - huấn luyện, những nhân tố mới được nghiên cứu phải làm sáng tỏ tính ưu việt của chúng so với những nhân tố khác Phương pháp thực nghiệm được áp dụng là thực nghiệm song song và đối tượng lựa chọn được chia làm hai nhóm: Thực nghiệm và đối chứng

2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm nhằm đánh giá sức nhanh của các đối tượng nghiên cứu trước thực nghiệm và sau thực nghiệm Đặc biệt, phương pháp này còn nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các trò chơi vận động, nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê

Trang 23

Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lý số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài, xác định tính hiệu quả của các trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ Sau khi thu thập số liệu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và áp dụng công thức sau:

- Công thức tính hệ số trung bình cộng ( x )

1

n

x i i x n

Trong đó:

x : Số trung bình

xi: Giá trị quan sát thứ i n: Số lượng đối tượng quan sát i: Số lần quan sát

- Công thức tính phương sai:

n n

B A

2.3.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian được tiến hành từ tháng 11/2009 đến tháng 5/2010, chia làm hai giai đoạn

Trang 24

Giai đoạn 1: Từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009

- Lựa chọn đề tài nghiên cứu

- Thu thập tài liệu

- Lập đề cương nghiên cứu

- Bảo vệ đề cương

Giai đoạn 2: Từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2010

- Thực hiện nghiên cứu đề tài

- Thu thập số liệu, xử lý thông tin

- Hoàn thiện, bảo vệ khóa luận

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các trò chơi vận động nhằm phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường Nguyễn Văn Cừ và việc áp dụng các trò chơi đó để phát triển sức nhanh cho các em

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc

Trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Trang 25

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

3.1 Một số vấn đề cơ bản liên quan tới việc sử dụng trò chơi vận động trong phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

3.1.1 Đặc điểm của trò chơi vận động

Hầu hết những trò chơi vận động được vận dụng trong quá trình GDTC

đã có tính mục đích rõ ràng, nó là những trò chơi nhằm củng cố và hoàn thiện

kĩ năng vận động cơ bản của con người như: đi, chạy, nhảy, leo trèo

Nghiên cứu quá trình phát sinh và phát triển của trò chơi vận động ta thấy nó có một số đặc điểm chính như sau:

- Tính mô phỏng của trò chơi vận động Hầu hết các trò chơi được sáng tác đều mang màu sắc các hoạt động thường ngày của con người Bằng các hoạt động của các loài vật, con người đã biết nhân cách hóa, thay đổi các cấu trúc bên ngoài của thao tác để đạt được mục đích giáo dục, giáo dưỡng của mình

- Tính tư tưởng của trò chơi vận động Với ý nghĩa giáo dục, ngoài tác dụng vui chơi, giải trí, trò chơi vận động đã góp phần hình thành nhân cách và giáo dục các phẩm chất đạo đức quí giá như: tính tập thể, tính đoàn kết, tính

kỉ luật, lòng dũng cảm và ý chí quyết thắng trong hoạt động vui chơi Trong khi chơi làm nảy sinh tính sáng tạo, tính đồng đội và ý thức tự chủ rất cao

- Tính thi đua Tham gia vui chơi là biểu lộ đa dạng của tình cảm, của ý chí và thể lực Nhất là đối tượng ở lứa tuổi 15 – 16 sự ganh đua rất quyết liệt

và rõ ràng, tuy nhiên chính sự ganh đua này nên người điều khiển vui chơi phải có phương pháp quản lí và giáo dục tính tự giác cho các em, tránh các biểu hiện quá ham chơi dẫn đến quá sức hay ngược lại quá thờ ơ dẫn đến lười biếng và trốn tránh trách nhiệm Cả hai trường hợp: quá tích cực ( ham chơi)

Trang 26

và tiêu cực trong trò chơi vận động đều không đạt được mục đích giáo dục với đúng nghĩa của nó

- Bản chất xã hội và tính giai cấp trong trò chơi vận động: ở mỗi một xã hội khác nhau sử dụng trò chơi với các mục đích khác nhau Trong xã hội phong kiến đế quốc, trò chơi được tổ chức dưới dạng trò vui, trò tiêu khiển nhằm mục đích mua vui cho một số nhóm người có quyền lực của giai cấp thống trị, đôi khi mua vui trên sự đau khổ của người khác như một số trò vui: leo cột mỡ, liếm chảo…

Trong xã hội ta, trò chơi nói chung và TCVĐ nói riêng đã trở thành một trong những phương tiện để giáo dục thể chất và hướng dẫn sự phát triển của con người TCVĐ được phổ biến rộng rãi trong học đường, ở các tổ chức câu lạc bộ, vùng đông dân cư thực chất đã góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của con người Thông qua vui chơi con người được củng cố các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho cuộc sống, con người vui hơn, sống lành mạnh và có ích cho xã hội Trong quá trình GDTC, phương pháp trò chơi được sử dụng tương đối rộng rãi và mang lại hiệu quả cao đối với lứa tuổi học sinh Ưu điểm của phương pháp này là vừa chơi, vừa học, tạo cho học sinh trạng thái hưng phấn, qua đó tác dụng đến phát triển thể chất, tăng cường sức khỏe

Trong điều kiện sân bãi, dụng cụ cho phép, chúng ta có thể sử dụng tối

ưu điều kiện sẵn có của tự nhiên Trò chơi vận động có thể biến đổi hợp lí và

đa dạng, phong phú, có thể sử dụng bất cứ bài tập thể lực nào, tuy nhiên phải được tổ chức, sắp xếp sao cho phù hợp với học sinh Khi tổ chức chơi chúng

ta nên lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp với mục đích, nội dung của buổi học

Đối với những giáo viên GDTC, phương pháp trò chơi có hiệu qủa để giáo dục tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỉ luật, các phẩm chất đạo đức Bên

Trang 27

cạnh đó còn tạo cho người chơi niềm say mê, hứng thú, trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Do những đặc điểm vận dụng trò chơi vận động trong giờ học chính khóa với mục đích hình thành kĩ năng, kĩ xảo và có thể phát triển tất cả các tố chất, ngoài ra còn có tác dụng vui chơi, giải trí kích thích người chơi có hứng thú, say mê trong công việc của mình Những bài tập TCVĐ mang tính toàn diện, hoàn toàn phù hợp không chỉ riêng học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội và phù hợp với điều kiện tập luyện trong trường học

Mục đích chính của việc lựa chọn TCVĐ nhằm phát triển thể lực nói chung, nâng cao sức nhanh nói riêng và hiệu quả đó được thể hiện ngay trong thực tế Nó giúp nâng cao thành tích của một số môn thể thao cho các em như môn : điền kinh, cầu lông…

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã kiểm nghiệm được tác dụng to lớn mà các TCVĐ đã lựa chọn và áp dụng đem lại thông qua các test kiểm tra thành tích chạy 30m dích dắc và chạy cự ly ngắn 80m xuất phát cao

3.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

3.1.2.1 Đặc điểm tâm lí

Về mặt tâm lí ở lứa tuổi này các em thích chứng tỏ mình là người lớn muốn để mọi người tôn trọng mình, đã có trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống Tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi lãng mạn, mơ ước độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn

- Về hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập,

xuất phát từ động cơ học đúng đắn và lựa chọn nghề nghiệp sau này song

Trang 28

hứng thú học tập do nhiều động cơ khác nhau như: đua với bạn bè, tự ái, hiếu danh… Cho nên khi giảng dạy giáo viên cần giúp các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có được hứng thú học tập các môn học nói chung và môn GDTC nói riêng

- Về tình cảm: Các em đã biểu lộ rõ hơn về tình cảm của bản thân với

mái trường mình gắn bó, với các thầy cô giáo đã dạy các em, vì vậy việc giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những thành công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc đẩy các

em tự giác trong học tập

- Về trí nhớ: Các em ở tuổi này hầu như không tồn tại việc ghi nhớ

máy móc do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt chẽ và lĩnh hội được bản chất vấn đề cần học tập Vậy nên khi giảng dạy GDTC giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích chi tiết kĩ thuật động tác cũng như sử dụng phương tiện, phương pháp để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi

Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với lứa tuổi trước đó Các em có thể tiếp thu được những bài tập khó và đòi hỏi khắc phục khó khăn hơn trong học tập

3.1.2.2 Đặc điểm sinh lí của học sinh THPT

ở lứa tuổi này, cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận vẫn tiếp tục lớn lên nhưng chậm dần Chức năng sinh lí đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận của cơ thể cũng đã được nâng cao hơn, chiều cao của các em vẫn phát triển nhưng chậm hơn ở lứa tuổi THCS và chiều ngang có xu hướng phát triển mạnh hơn Vì vậy chúng ta cần phải phân biệt tính chất, cường độ, khối lượng tập luyện sao cho hợp lí để có điều kiện cho cơ thể phát triển một cách cân đối toàn diện

Trang 29

Hệ thần kinh: Các tổ chức thần kinh của lứa tuổi THPT đang tiếp tục

phát triển đi đến hoàn thiện Tuy nhiên tổng hợp khối lượng ở vỏ não không tăng lên mấy, chủ yếu cấu tạo bên trong vỏ não phức tạp hơn, khả năng tư duy

và nhất là khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa phát triển rất thuận lợi

để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên đối với một số bài tập đơn điệu cũng dễ làm cho học sinh nhanh mệt mỏi, chán nản Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện, vận dụng các hình thức trò chơi để hoàn thành tốt các bài tập, nhất là các bài tập phát triển sức nhanh

Ngoài ra, sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến yên, tuyến sinh dục làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiến ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực Vì vậy, giáo viên cần sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể của học sinh để có biện pháp xử lí kịp thời

- Hệ vận động:

Hệ xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương vẫn

còn dài nhưng chuyển thành xương ít Mỗi năm cơ thể nam cao thêm 1 - 3cm Nếu như không tập luyện TDTT rèn luyện sức khỏe thì cơ thể nam sau 25 tuổi hầu như không cao thêm được nữa Tập luyện TDTT một cách khoa học thường xuyên làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn Lứa tuổi học sinh phổ thông, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động tác treo, chống, mang, vác mà không làm tổn hại hoặc không tạo ra sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cọng vẹo, nên việc bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như; đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, cho các em là rất cần thiết

Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên sức co cơ vẫn

còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh như cơ đùi, cơ

Trang 30

cánh tay, còn các cơ nhỏ ( cơ ban tay, cơ ngón tay) phát trển chậm hơn Các

cơ co bắp phát triển hơn các cơ duỗi Nói chung, ở lứa tuổi này là thời kì cơ bắp phát triển nhanh nhất Do vậy, cần sử dụng các bài tập phát triển các nhóm cơ, nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và phải phát triển đều cho tất cả các cơ

- Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của các em đang phát triển và đi đến

hoàn thiện Buồng tim tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam khoảng 70 -

80 lần / phút Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch và huyết áp hồi phục nhanh chóng Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối lượng cường độ vận động lớn hơn so với lứa tuổi trước

- Hệ hô hấp: Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện vòng

ngực trung bình của nam từ 67 - 72cm Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng khoảng 3 - 4 lít, khả năng trao đổi chất từ phổi tăng rõ rệt, tần số thở của lứa tuổi THPT cơ bản giống người lớn khoảng 10 - 20 lần / phút Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ yếu

co giãn cơ hoành ( thở bằng bụng) Trong tập luyện cần thở sâu và tập chung chú ý thở bằng ngực, các bài tập bơi, chạy cự li trung bình có tác dụng tốt đến

sự phát triển của hệ hô hấp

3.1.3 Cơ sở giáo dục sức nhanh

3.1.3.1 Sức nhanh và các hình thức biểu hiện của sức nhanh

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở một điều kiện nhất định

Sức nhanh được biểu hiện dưới ba hình thức

- Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động

- Tốc độ động tác đơn

- Tần số động tác

Ngày đăng: 16/11/2015, 12:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn giáo viên lựa chọn một số TCVĐ   nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ   hà nội
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn giáo viên lựa chọn một số TCVĐ nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 (Trang 37)
Bảng 3.2. Một số trò chơi vận động được lựa chọn nhằm phát triển sức  nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ   hà nội
Bảng 3.2. Một số trò chơi vận động được lựa chọn nhằm phát triển sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ (Trang 38)
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra sức nhanh trước thực nghiệm của 2 nhóm - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ   hà nội
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra sức nhanh trước thực nghiệm của 2 nhóm (Trang 46)
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra sức nhanh sau thực nghiệm của 2 nhóm - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ   hà nội
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra sức nhanh sau thực nghiệm của 2 nhóm (Trang 47)
Bảng 3.7. So sánh thành tích chạy cự li ngắn 80 m xuất phát cao  của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm ( n A  = 35, n B  = 35) - Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm nâng cao sức nhanh cho học sinh nam khối 11 trường THPT nguyễn văn cừ   hà nội
Bảng 3.7. So sánh thành tích chạy cự li ngắn 80 m xuất phát cao của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm ( n A = 35, n B = 35) (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w