1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định

52 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 716,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Nhảy cao của nhà trường, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Lựa chọn một số bài tập phát triển sức m

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất nước ta trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, cùng với quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi mỗi con người phải có những bước tiến mới song song với những hoạt động cơ bản như học tập và lao động TDTT là hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội loài người Ngay từ khi mới ra đời nó đã trở thành một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần phát triển toàn diện nhân cách, nâng cao sức khoẻ, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ngoài ra TDTT còn mang lại tinh thần hoà bình, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới thông qua các thế vận hội Olympic, Á vận hội, Seagames…Quốc gia, dân tộc nào cũng muốn thể hiện nền văn hoá truyền thống của dân tộc mình với bạn bè quốc tế, với mục đích cao cả là giao lưu học hỏi và thắt chặt hơn tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc

Ngày nay TDTT còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới phát triển toàn diện về: Đức, Trí, Thể, Mỹ và Lao Động Tại Hội nghị TW2 khoá VIII bàn về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, đã khẳng định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong nghị quyết còn ghi : Con người mới phải là những người “ Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”…Điều đó

đã khẳng định mục tiêu của giáo dục là nhằm giáo dục và hình thành nhân cách, trí tuệ, tăng cường thể lực cho học sinh, sinh viên Vì vậy chúng ta phải phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đó [ 3 ]

GDTC là bộ phận hết sức cần thiết, nó gắn liền và góp phần thực hiện mục tiêu của GD & ĐT, có vai trò quan trọng để chuẩn bị thể lực chung cho học sinh, sinh viên Đồng thời GDTC còn góp phần rèn luyện ý chí, tinh thần

Trang 2

dũng cảm, ý thức tổ chức kỷ luật cho học sinh, sinh viên Không chỉ vậy GDTC trong nhà trường phổ thông cần từng bước nâng cao trình độ văn hoá thể chất và khả năng thể thao cho học sinh làm cơ sở góp phần vào sự nghiệp TDTT của đất nước

Trong sự nghiệp phát triển TDTT và hệ thống GDTC của nhà trường thì Điền kinh giữ vai trò rất quan trọng, được mệnh danh là môn thể thao Nữ Hoàng Điền kinh xuất hiện rất sớm và thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người, nó được bắt nguồn từ những hoạt động rất quen thuộc của con người nhằm duy trì sự sống như chạy, nhảy, leo chèo,… Điền kinh còn có tác dụng rèn luyện tính tự giác, tích cực phát triển thể lực và các tố chất vận động như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, và khẳ năng phối hợp vận động cho học sinh

Điền kinh được coi là nội dung giảng dạy chính thức trong nhà trường các cấp, từ cấp cơ sở đến trung học, các trường dạy nghề, trường cao đẳng, đại học Nó là môn học rất cơ bản làm tiền đề cho các môn học khác, vừa để đánh giá các chỉ tiêu rèn luyện thân thể của học sinh, sinh viên Khi tập luyện Điền kinh sẽ làm cho cơ thể có nhiều biến đổi rõ rệt về hình thái, chức năng cũng như các tố chất thể lực khác Tập luyện Điền kinh không đòi hỏi sân bãi, dụng cụ phức tạp, mà người tập có thể tận dụng mọi địa hình để tập luyện Do

đó môn thể thao này đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp đối tượng tham gia tập luyện Nó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào rèn luyện và nâng cao sức khoẻ cho mọi người Đặc biệt là cơ sở nền tảng cho sự phát triển thể chất trong nhà trường các cấp và cũng là cơ sở sớm phát hiện các tài năng trẻ của nước nhà Điền kinh có rất nhiều nội dung, trong đó Nhảy cao là môn thể thao rất hấp dẫn, nó được phát triển từ lâu với nhiều kỹ thuật nhảy khác nhau Mục đích của Nhảy cao là vượt qua được chướng ngại vật, theo phương thẳng đứng Nhảy cao là môn thể thao không có chu kỳ, nó gồm nhiều động tác khó và phức tạp đòi hỏi người tập phải có thể lực và khả năng phối hợp

Trang 3

vận động Thành tích của Nhảy cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó

kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy là yếu tố quyết định Mục đích của giậm nhảy

là đưa được trọng tâm cơ thể lên cao nhất để thực hiện kỹ thuật tiếp theo Cho nên việc tập luyện để hoàn thiện kỹ thuật giậm nhảy là một nhiệm vụ quan trọng, trong quá trình huấn luyện, giảng dạy kỹ thuật nhảy cao cho vận động viên và học sinh

Qua tìm hiểu việc học tập và kết quả Nhảy cao của học sinh ở một số trường trong thành phố Nam Định, chúng tôi thấy thành tích đạt được chưa cao Nguyên nhân chính là chưa phát huy được hiệu quả kỹ thuật giậm nhảy

Sở dĩ còn tồn tại nguyên nhân đó là do chưa có đủ dụng cụ sân bãi, đáp ứng nhu cầu tập luyện của môn học, thời gian học tập còn hạn chế, số học sinh thì nhiều Vì vậy, việc giảng dạy kỹ thuật nhảy cao còn nhiều nhược điểm và hiệu quả chưa cao

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Nhảy cao của nhà trường, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề

tài: “Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao

thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định.”

* MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Lựa chọn bài tập nhằm phát triển sức mạnh giậm nhảy sao cho phù hợp với điều kiện, đối tượng, lứa tuổi để nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định, góp phần bổ sung, hoàn thiện nội dung chương trình giảng dạy – huấn luyện của nhà trường

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trường học

Nhà nước rất coi trọng công tác GDTC trong trường học, công tác này nhằm phát triển, hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh – thiếu niên, nhi đồng GDTC là nội dung bắt buộc của học sinh – sinh viên, nó được thực hiện trong

hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học Nhà nước khuyến khích

và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện cơ sở vật chất từng nơi

Chỉ thị 36/CT – TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư TW Đảng giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo công tác GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, để việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên

Chỉ thị 36/CT – TW đã được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định phương hướng và nhiệm vụ “ Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao, đưa Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả cao trong các hoạt động văn hóa thể thao” [ 1]

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “Công tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học Tổ chức hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện hàng ngày”[14]

Trang 5

Với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ tương lai của đất nước phát triển toàn diện : Đức, trí, thể, mĩ Tại Hội nghị TW 4 khóa VIII về đổi mới công tác giáo dục – đào tạo, trong văn kiện có ghi: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức…” đã khẳng định mục tiêu giáo dục nhằm giáo dục về nhân cách tăng cường thể lực cho học sinh, sinh viên Ngày 7/8/1995 Thủ Tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 113/TTg nêu rõ yêu cầu đối với tổng cục TDTT: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng lứa tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng hướng đến mục tiêu khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].

GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hóa thể chất và thể thao cho học sinh góp phần vào sự nghiệp TDTT của đất nước và đặc biệt Nghị quyết TW II bàn về công tác giáo dục và đào tạo đã khẳng định rõ GDTC trong trường học là rất quan trọng

Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội, quốc phòng – an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, trước hết là góp phần nâng cao sức khỏe, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa phương

1.2 Những cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Cơ sở triết học

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Thực tiễn là những hoạt động có mục đích mang tính lịch sử của xã hội loài người , thực tiễn còn được xem như thước đo chân lý của

Trang 6

quá trình nhận thức và được biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau Hình thức đầu tiên của hoạt động thực tiễn chính là hoạt động sản xuất vật chất , mà ở đó những hoạt động thực nghiệm khoa học cũng được coi như một dạng đặc biệt của thực tiễn Chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã khẳng định: “Mọi tri thức của con người đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn , không có thực tiễn thì con người không có nhận thức , không có hiểu biết Không có kinh nghiệm thực tiễn thì không có tri thức lý luận , hơn nữa nhờ quá trì nh hoạt động thực tiễn mà con người hoàn thiện bản thân mình”

Thực tiễn không ngừng phát triển và biến đổi, nó luôn đặt ra những vấn

đề mới đòi hỏi nhận thức phải tr ả lời, đó chính là động lực để thúc đẩy nhận thức phát triển Trên thực tế nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính đan xen nhau và thực tiễn là cơ sở của toàn bộ quá trình nhận thức Nhận thức cảm tính đem lại cho ta những hiểu biết còn dừng lại ở bề ngoài Những cảm giác, tri thức và biểu tượ ng đó không thể nào phản ánh , khám phá những thuộc tính, bản chất hay những quy luật vận động của sự vật mà nhận thức chỉ thực hiện điều đó ở giai đoạn tiếp theo của mình nhờ vào tư duy trừ u tượng thông qua những hình thức như khái niệm , phán đoán, suy luận Từ cơ sở đó chúng

ta phải xây dựng biểu tượng động tác , nhờ vậy học sinh mới tiếp thu được một cách dễ dàng Trong quá trình phân tích và làm mẫu động tác, người giáo viên, HLV phải tuân thủ nguyên tắc: Từ dễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp , từ động tác đơn lẻ đến toàn bộ động tác Như vậy nhận thức của loài người là quá trình đi từ những cái chưa biết đến những cái đã biết, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

1.2.2 Cơ sở lý luận

Như chúng ta đã biết , giáo dục thể chất là một mặt của quá trình giáo dục, là quá trình dạy học nhằm tran g bị cho người học những kỹ năng kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn, đồng thời nó là quá trình giáo dục để

Trang 7

phát triển các tố chất thể lực Vấn đề cơ bản trong quá trình giảng dạy cho người học không chỉ là việc nắm vững các kỹ thuật động tác mà cần phải là m cho họ biết vận dụng một cách linh hoạt , sáng tạo vào những tình huống cụ thể để đạt hiệu quả cao Bởi vậy đòi hỏi người giáo viên , HLV phải biết tiến hành giảng dạy các thao tác kỹ thuật và chiến thuật song song cùng lúc

Do đặc thù của môn Nhảy cao nên quá trình giảng dạy và huấn luyện , các nguyên tắc lý luận được vận dụng một cách linh hoạt theo từng điều kiện

cụ thể nhất định t rong quá trình tổ chức học tập Việc vận dụng các nguyên tắc lý luận vào quá trình giảng dạy là yếu tố tất yếu để đạt kết quả cao , bởi vậy khi tiến hành giảng dạy phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1.2.2.1 Nguyên tắc trực quan

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Vậy trong quá trình GDTC, trực quan giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nó là tiền đề để tiếp thu động tác Trực quan trong quá trình sư phạm là sử dụng thị giác và các cơ quan cảm thụ khác để tiếp thu trực tiếp thông tin với thế giới xung quanh, từ đó mà người học có sự hiểu biết về động tác và biết cách thực hiện động tác đó , những hiểu biết đó chính là biểu tượng vận động, khi đã có biểu tượng vận động đúng thì người tập tiếp thu nội dung cần học nhanh hơn Người ta có thể tiếp nhận số lượng thông tin cần thiết nhờ

có tranh ảnh , băng đĩa… nhờ có tính trực quan trong giảng dạy mà các khái niệm trừu tượng trở nên cụ thể hơn

Trực quan có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành biểu tượng vận động nên nó được coi là tiền đề để tiếp thu động tác, vì thế trong quá trình giảng dạy người ta tiến hành bằng hai cách:

+ Học động tác mới trên cơ sở kế thừa động tác cũ

Trang 8

+ Sử dụng tổng hợp các hình thức trực quan khác nh au đặc biệt là làm mẫu các động tác cần học và các tài liệu trực quan khác nhau

1.2.2.2 Nguyên tắc tự giác tích cực

Hiệu quả của quá trình giảng dạy , huấn luyện phụ thuộc phần lớn vào sự tự giác tích cực của ngườ i học Tính tích cực của người học thường thể hiện qua hoạt động gắng sức nhằm hoàn thành các nhiệm vụ học tập , sự cố gắng tiếp thu những kỹ năng kỹ xảo vận động và nhữ ng hiểu biết có liên quan Trong quá trình giản g dạy, huấn luyện, người thầy không chỉ giúp các

em hiểu đúng nhiệm vụ cần phải thực hiện mà phải biết khuyến khích , động viên, biểu dương và đánh giá thành tích của các em để các em phát huy cao hơn nữa tinh thần tự giác tích cực

Trong Nhảy cao, tinh thần tự giác tích cực đối với quá trình học tập và thi đấu là rất cần thiết , ngay cả khi người học hiểu đúng nhiệm vụ nhưng không có biểu hiện tự giác tích cực và sự nỗ lực cố gắng củ a bản thân để giải quyết nhiệm vụ đó thì kết quả đạt được sẽ không cao Từ những yêu cầu của nguyên tắc này thì giờ học phải được tổ chức sao cho có thể giáo dục người tập thái độ tự giác, sáng tạo, tích cực và tự lập

1.2.2.3 Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa

Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính đến đặc điểm của người tập , đến mức tác động của những nhiệm vụ đề ra cho họ Muốn đạt kết quả cao thì nhiệm

vụ đặt ra phải vừa sức và tùy theo đối tượng tập luyện Nếu nhiệm vụ quá cao, vượt quá khả năng của người tập sẽ làm cho họ chán nản, không tin tưởng vào bản thân và làm mất đi hứng thú với tập luyện Mặt khác nếu nhiệm vụ đề ra quá nhẹ nhàng sẽ làm cho người tập thiếu tích cực, thờ ơ và mất đi sự cố gắng dẫn đến kết quả tập luyện không được như mong muốn Trong Nhảy cao cũng vậy, các buổi tập phải được xây dựng sao cho các hình thức tập luyện tập thể phối hợp hài hòa với các hình thức tập luyện cá nhân

Trang 9

1.2.2.4 Nguyên tắc hệ thống

Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc cơ bản trong quá trình dạy học Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung giảng dạy phải được sắp xếp theo một tuần tự lôgic, khoa học, số giờ học phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính, trình độ tập luyện của người tập Nguyên tắc này cũng có nghĩa phải duy trì sự tập luyện thường xuyên liên tục, không được để ngắt quãng để kĩ năng vận động không

1.2.2.5 Nguyên tắc tăng dần yêu cầu

Nguyên tắc này tính đến việc tăng từ từ lượng vận động sao cho người tập có thể tiếp thu động tác một cách nhanh nhất , bài tập có hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng xấu tới cơ thể

Trang 10

1.2.2.6 Hệ thống các nội dung tập luyện ban đầu cần đáp ứng yêu cầu:

1- Củng cố và nâng cao sức khoẻ giúp cơ thể phát triển cân đối, khắc phục sửa chữa những sai lệch

2 - Hình thành các kỹ năng, kỹ sảo vận động cần thiết và sự phối hợp các hoạt động khác nhau với độ chính xác ngày càng cao

3 - Giáo dục ý thức kỷ luật, đạo đức, nếp sống văn minh, nhanh nhẹn, thông minh, sáng tạo và dũng cảm

4 - Khái quát và tích lũy những tri thức chuyên môn trong tập luyện thể thao nói chung, điền kinh nói riêng, gây hứng thú say mê tập luyện hàng ngày

1.3.1 Nội dung cơ bản về kĩ thuật Nhảy cao “ kiểu nằm nghiêng”

Gồm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đệm

*Giai đoạn chạy đà gồm: Tư thế chuẩn bị và chạy đà

+ Tư thế chẩn bị: Ở bất kì tư thế chuẩn bị nào cũng không nên để cơ thể quá gò bó, căng thẳng mà cần tự nhiên, thả lỏng và tập trung chú ý

Bước thứ nhất: Chân giậm nhảy bước ra trước nhanh hơn bước trước

đó

Trang 11

Bước thứ hai:Bước này dài nhất trong ba bước đà cuối

Bước thứ ba: Đây là bước đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân đưa thấp, vai hơi ngả ra sau

*Giai đoạn giậm nhảy:

Sau khi đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân giậm nhảy hơi chùng gối tạo

tư thế co cơ, sau đó dùng sức để giậm nhảy, chân giậm phải duỗi nhanh, mạnh

và có tính bột phát Khi đá lăng chân ra trước cần chủ động dùng sức của đùi

và độ linh hoạt của khớp hông đá chân lên cao Hai tay phối hợp gần như đồng thời với chân lăng, đánh hơi vòng xuống dưới – lên cao, khi hai khuỷu tay đến ngang vai thì dừng lại tạo thế nâng người lên

*Giai đoạn trên không

Giai đoạn trên không bắt đầu từ khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất Tiếp theo, co nhanh chân giậm nhảy, đồng thời xoay mũi chân lăng về phía xà (hoặc xoay gót chân lên trên) tạo cho thân người nằm nghiêng so với xà chân giậm nhảy co phía dưới, chân đá lăng thẳng ở phía trên, giống như tư thế nằm nghiêng (nên gọi là nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng”), hai tay phối hợp khéo léo để qua xà

*Giai đoạn tiếp đất:

Sau khi qua xà, chân giậm nhảy duỗi nhanh để tiếp đất, hai tay duỗi ra chống xuống đất để chủ động giữ thăng bằng

1.3.2 Tác dụng của việc tập luyện môn Nhảy cao ở nhà trường:

Tập luyện nhảy cao có tác dụng rất lớn trong việc phát triển các tố chất thể lực, nâng cao khả năng tập trung sức, tự chủ và rèn luyện lòng dũng cảm, tính kiên trì và khắc phục khó khăn trong rèn luyện TDTT

Trang 12

1.3.3 Phương pháp giảng dạy và học tập môn Nhảy cao ở các trường phổ thông:

Nhảy cao là môn thể thao không đòi hỏi nhiều trang thiết bị, kỹ thuật tương đối đơn giản, phổ cập phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nhảy cao là một trong những nội dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất Thông qua giảng dạy và tập luyện môn học này sẽ phát triển sức nhanh, sức mạnh của chân và nó góp phần nâng cao thể chất cho học sinh, trang bi kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho cuộc sống

1.4 Cơ sở lý luận khoa học của các tố chất thể lực chuyên môn trong nhảy cao nằm nghiêng

Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí, tâm lí học và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người Tác dụng của giáo dục thể chất là rất lớn, nó không những đem lại sức khỏe cho học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện

Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ quan trong cơ thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi

Sự tăng trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì Giai đoạn lứa tuổi khác nhau thì tố chất thể lực phát triển cũng khác nhau

Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định theo thứ tự phát triển sau: Tố chất sức nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất sức bền và tố chất sức mạnh

1.4.1 Cơ sở lý luận của tố chất sức nhanh:

Tố chất sức nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất sức mạnh, thời kì phát triển tố chất sức nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học

và Trung học cơ sở

Sức nhanh là khả năng của con người thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất [7]

Trang 13

Trong Nhảy cao thì tốc độ phụ thuộc vào các động tác nhanh và được thực hiện với tốc độ cao

Theo quan điểm sinh hóa: Sức nhanh phụ thuộc và hàm lượng ATP trong cơ và tốc độ phân giải ATP, dưới ảnh hưởng xung động của các bài tập diễn ra trong thời gian ngắn nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực hiện theo cơ chế yếm khí

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng để đạt được thành tích trong Nhảy cao, phụ thuộc rất nhiều vào các tố chất chuyên môn, đặc biệt là tốc độ Do vậy ta nên chọn các bài tập khác nhau, tập phản ứng lặp lại theo tín hiệu đột ngột và phải phát triển toàn diện những khả năng chức phận của

cơ thể

Quãng nghỉ hợp lý sao cho cơ thể phục hồi cường độ tập số lần tập tiếp theo

1.4.2 Cơ sở lý luận của tố chất sức mạnh:

Sức mạnh là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, lực tối đa mà con người có thể sinh ra được một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác Mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng

Đặc trưng lượng vận động phát triển sức mạnh trong huấn luyện chuyên môn gồm các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể và khắc phục trọng lượng bên ngoài với sử dụng trọng lượng lớn từ 40 – 50% trọng lượng cơ thể

và hoạt động với thời gian ngắn Vậy các bài tập nhảy, bật nhảy, các bài tập liên hoàn, các bài tập với tạ đòn và những bài tập phát triển sức mạnh đều

có tính đặc trưng lượng của vận động

- Sức mạnh tốc độ: Loại sức mạnh này thể hiện trong động tác chạy đà

- Sức mạnh bột phát: Loại sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy

(sức bật)

Trang 14

Những bài tập phát triển sức mạnh đều có tính đặc trưng lượng vận động:

- Cường độ hoạt động trung bình

- Khối lượng lớn

+ Số lần lặp lại

+ Tổ lặp lại nhiều lần

- Tính chất nghỉ ngơi phải đầy đủ

1.4.3 Cơ sở lý luận của tố chất khéo léo:

Nếu như sức nhanh, sức mạnh dựa trên cơ sở hệ thống thích ứng về mặt năng lực thì tố chất khéo léo lại phụ thuộc vào các quá trình điều khiển hành động vận động Là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng và thực hiện một cách

Cơ quan thu nhận và sử lý năng lực này là: Cơ quan phân tích thị giác

và cảm giác cơ bắp

Năng lực định hướng: Nhằm xác định thay đổi tư thế và hoạt động của

cơ thể trong không gian thời gian, năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn mang tính kỹ thuật như: Các môn đối kháng, các môn bóng

Cơ quan thu nhận sử lý thông tin là: Cơ quan phân tích thị giác

Trang 15

Năng lực thăng bằng: Là năng lực ổn định trong trạng thái thăng bằng của cơ thể sau khi thực hiện động tác Năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn thể thao như: Bơi thuyền, thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật

Cơ quan thu nhận và sử lý thông tin là: Cơ quan phân tích thị giác tiền đình và cảm giác cơ bắp

Năng lực nhịp điệu: Là năng lực nhận biết sự luân chuyển các chuyển động trong quá trình thực hiện một động tác hay thể hiện nó trong thực hiện động tác

Năng lực phản ứng: Là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu

Năng lực phân biệt vận động: Là năng lực thực hiện động tác một cách chính xác cao và tinh tế

Năng lực thích ứng: Là năng lực chuyển chương trình hành động phù hợp với hoàn cảnh mới

Trong môn Nhảy cao nằm nghiêng cũng như các tố chất thể lực khác,

tố chất khéo léo là quan trọng và không thể thiếu được vì nó là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả các hành động vận động phức tạp đặc biệt là giai đoạn giậm nhảy trên không

1.5 Đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh THPT

1.5.1 Đặc điểm tâm lý

Mặc dù là học sinh lớp 11 còn đang ngồi trên ghế nhà trường nhưng các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi người tôn trọng mình, có nhiều hoài bão, có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết, nhưng thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống nhiều nhược điểm

Độ tuổi này biểu hiện rõ hơn về tình cảm, gắn bó và yêu quý mái trường, đặc biệt là đối với giáo viên giảng dạy, các em có thể hoàn thành những bài tập khó đòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn hơn trong học tập và tập luyện

Trang 16

Đây là lứa tuổi của lãng mạn, độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn

Đó là tuổi của nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới Độ tuổi này chủ yếu

là hình thành thế giới quan, tự ý hình thành tính cách và hướng về tương lai Thế giới quan không chỉ là niền tin lạnh nhạt mà là sự say mê, ước vọng nhiệt tình Các em có thái độ tự giác tích cực trong học tập, xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề nghiệp sau này

1.5.2 Đặc điểm sinh lý của học sinh THPT

* Hệ thần kinh

Hệ thần kinh phát triển tạo thuận lợi cho việc nhanh chóng hình thành các phản xạ có điều kiện, thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện động tác Do sự hoạt động của các tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho quá trình hưng phấn và ức chế không cân bằng ảnh hưởng đến hoạt động TDTT Tuy nhiên

có một số bài tập đơn điệu, không hấp dẫn làm học sinh chóng mệt mỏi nên cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện như trò chơi, thi đấu, hoàn thành tốt các bài tập

đã chọn

*Hệ xương

Lứa tuổi này các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện các động tác khó như một số động tác treo, chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo nên việc tiếp thu, bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua các hệ thống bài tập như đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản là cần thiết

*Hệ cơ

Các bắp cơ phát triển tương đối nhanh, các cơ co phát triển chậm hơn các

cơ duỗi Đây là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất nên cần tập những bài phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy phát triển các cơ Vì vậy HLV phải chú ý

Trang 17

đến các bài tập, trong luyện tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và sự phát triển cân đối của các cơ

*Hệ tuần hoàn

Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồng tim

hệ thống điều hòa vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng, sau vận động mạch đập và huyết áp phục hồi nhanh chóng nên có thể tập những bài tập dai sức, có khối lượng, cường

độ lớn, khi đó HLV phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình trạng sức khỏe của học sinh

*Hệ hô hấp

Phát triển tương đối hoàn thiện, diện tích tiếp xúc của phổi gần bằng tuổi trưởng thành, dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, tần số hô hấp gần như người lớn Nhưng các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn lồng ngực nhỏ, chủ yếu là

co giãn co hoành, trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý rèn luyện để các

cơ ngực, cơ lườn phát triển, nên tập hít thở sâu

Như vậy, từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh giáo viên nên đưa ra các phương pháp và khối lượng bài tập một cách hợp lý để cơ thể các em phát triển và dần đi đến hoàn thiện về các cơ quan, hệ thống trong cơ thể

Trang 18

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi cần giải quyết 2 nhiệm vụ sau:

2.1.1 Nhiệm vụ 1:

Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC nói chung và việc giảng dạy môn Nhảy cao nằm nghiêng nói riêng cho học sinh nữ khối 11 THPT Mỹ Lộc – Nam Định

2.1.2 Nhiệm vụ 2:

Lựa chọn và áp dụng một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 THPT

Mỹ Lộc – Nam Định

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Đọc sách và tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài nghiên cứu là một mặt không thể thiếu Thông qua tài liệu tham khảo xác định các vấn đề liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở khoa học, lí luận tâm sinh lí và bài tập phát triển sức mạnh trong quá trình giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Đây là phương pháp sử dụng thông tin qua việc phỏng vấn giáo viên, huấn luyện viên và các em học sinh nhằm điều tra thực trạng và thu thập số liệu cần thiết để đánh giá các bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy để

Trang 19

nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp này sử dụng để quan sát, theo dõi việc tập luyện môn Nhảy cao nằm nghiêng của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định Từ đó đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập chuyên môn và rút ra được các kết luận chính xác

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm Mục đích của quá trình này là nhằm kiểm nghiệm trong thực tiễn độ tin cậy, tính thông báo của hệ thống các test đánh giá trình độ kỹ thuật Nhảy cao cho đốii tượng nghiên cứu ở hai thời điểm trước và sau thực nghiệm

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Là phương pháp nghiên cứu mà người ta đưa nhân tố mới vào, xác định hiệu quả của chúng so với những nhân tố khác

Phương pháp này để đánh giá hiệu quả của các bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

2.2.6 Phương pháp sử dụng toán thống kê

Các thuật toán thống kê sử dụng nhằm sử lý các số liệu thu được sau khi thực nghiệm để việc rút ra kết luận có sức thuyết phục và độ chính xác cao hơn

* Công thức tính giá trị trung bình:

1 1

n i

X X

n

với n>30

Trang 20

* Công thức tính phương sai:

2.3.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ tháng 10/2011 đến hết tháng 5/2012

Giai

Thời gian Sản phẩm thu

đƣợc Bắt đầu Kết thúc

1 - Đọc và phân tích tài liệu

- Lựa chọn tên đề tài

- Xây dựng đề cương

T11/2011 T12/2011 - Đề cương nghiên

cứu khoa học

Trang 21

2 - Thu nhập số liệu có liên

quan, viết tổng quan của

đề tài

- Hoàn thành tổng quan đề

tài

- Điều tra nghiên cứu công

tác huấn luyện nâng cao

- Tổng quan đề tài

- Thành tích Nhảy cao của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

- Hệ thống các bài tập

- Kết quả hệ thống bài tập

3 - Hoàn thiện khóa luận tốt

nghiệp và bảo vệ khóa

luận tốt nghiệp

4/2012 5/2012 - Hoàn thành khóa

luận

- Bảo vệ khóa luận

2.3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích của môn Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

- Áp dụng các bài tập lên đối tượng nghiên cứu và đánh giá kết quả

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu

- Trường ĐHSP HN 2 – Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc

- Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Trang 22

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC nói chung và việc giảng dạy môn Nhảy cao nói riêng trong đó có việc phát triển sức mạnh giậm nhảy trong Nhảy cao cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

3.1.1 Thực trạng công tác GDTC ở trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Trường THPT Mỹ Lộc là một trong những trường chuẩn của thành phố Nam Định, môn thể dục có ngay từ ngày đầu thành lập trường Với mục đích rèn luyện các em sức khoẻ và giải trí sau những giờ học mệt mỏi GDTC đã được nhà trường rất quan tâm Nhà trường đã xây dựng nhà thể chất và Câu lạc bộ thể thao cho các em tham gia Ngoài ra còn tổ chức và phát động các phong trào hoạt động TDTT ngoại khóa cho các em

Môn học GDTC trong nhà trường đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ GD – ĐT, đúng theo kế hoạch của nhà trường Tuy nhiên trong thực tế môn học GDTC mới chỉ được đáp ứng một phần nhiệm vụ và yêu cầu của công tác GDTC cho học sinh trường THPT nói chung và trường THPT

Mỹ Lộc – Nam Định nói riêng Để đáp ứng được yêu cầu đào tạo trong giai đoạn hiện nay và để xứng đáng là một trong những trường trọng điểm thì công tác GDTC trong nhà trường cũng cần phải đầu tư và đổi mới để lôi cuốn được học sinh ra tập luyện, chuẩn bị sức khỏe tốt, để sẵn sàng phục vụ cho công tác lao động và bảo vệ tổ quốc trong tương lai

3.1.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Trong quá trình xây dựng và phát triển, trường THPT Mỹ Lộc đã không ngừng phát triển về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên TDTT để đáp ứng nhu cầu mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng đào

Trang 23

tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THTP Mỹ Lộc được trình bày ở dưới đây

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Thâm niên công

6 2 4 > 15 < 15 > 50 > 35 < 35

33,33% 66.67% 83,33% 16,67% 50% 33,33% 16,67% Trình độ giáo viên: đại học 3 người, cao đẳng 3 người

3.2 Phương pháp tổ chức quá trình giảng dạy môn GDTC của trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định đã tiến hành tổ chức quá trình GDTC cho học sinh theo hai hình thức: Nội khoá và ngoại khoá

- Nội khoá: Là những buổi tập theo kế hoạch thời khoá biểu của nhà trường Chương trình quy định, có quy cách kiểm tra đánh giá cho điểm Giờ học nội khoá đã tiến hành giảng dạy chưa cải tiến được phương pháp tổ chức buổi tập, chưa thay đổi nhiều nội dung, chưa có kế hoạch hướng dẫn và tổ chức cho học sinh tập luyện theo các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá thể lực

- Ngoại khoá: Song song với hình thức hoạt động TDTT nội khóa, trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định còn tiến hành các hoạt động TDTT ngoại khóa cho học sinh thông qua các hình thức tự tập luyện của các em, việc học tập ngoại khoá mang tính tự phát và thường tập trung vào buổi sáng và buổi chiều với môn thể thao được học sinh yêu thích và phù hợp với tình hình thực

tế

Tóm lại: Việc thực hiện chương trình GDTC hiện nay chưa được triệt

để Nội dung, phương pháp tổ chức quá trình giảng dạy chưa đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu của công tác GDTC cho đối tượng học sinh THPT Việc

Trang 24

giảng dạy mới chỉ dừng lại ở trang bị cho học sinh một số kiến thức lý luận cơ bản và kỹ năng thực hành ở một số môn thể thao Quá trình giảng dạy còn chưa chú trọng đến việc nâng cao các tố chất thể lực, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh còn nhiều bất cập

3.3.Đánh giá thực trạng phát triển sức mạnh giậm nhảy trong Nhảy cao “ Kiểu nằm nghiêng” của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc –

Nam Định

Qua quá trình điều tra, thu nhập số liệu về thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 3.2: Thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” của 70 nữ học sinh khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Điểm Thành tích(cm) Số học sinh đạt được Tỷ lệ %

Trang 25

Nhìn vào kết quả kiểm tra ở bảng 3.2 chúng tôi thấy được thành tích của các em đa phần ở mức độ trung bình và dưới trung bình Như vậy thành tích vẫn còn ở mức thấp, hạn chế ở đây là do kỹ thuật nhảy và cách phối hợp giữa các giai đoạn không thích hợp cho bản thân nên dẫn đến thành tích của các em không đạt hiệu quả cao

Ngoài ra còn nhiều bất cập trong việc sử dụng hệ thống các bài tập để phát triển sức mạnh vẫn chưa được chú trọng về thời gian và trang thiết bị dụng cụ tập luyện hạn chế

Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn ứng dụng và đánh giá một số bài tập phát triển sức mạnh để nâng cao thành tích Nhảy cao cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

Trang 26

3.4 Đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm phát triển sức mạnh giậm nhảy trong Nhảy cao nằm nghiêng của nữ học sinh khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định

3.4.1 Xác định các yêu cầu khi lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy của kỹ thuật Nhảy cao nằm nghiêng

Để có thể xác định được những yêu cầu khi lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định chúng tôi tiến hành công việc như sau:

Xác định yêu cầu qua việc đọc và tham khảo các tài liệu như: Giáo trình giảng dạy môn Điền kinh, các giáo trình huấn luyện môn Điền kinh, ý kiến của các thầy cô giáo và nhà chuyên môn Chúng tôi đã tổng hợp được một số yêu cầu có liên quan tới việc tiếp thu các kỹ năng Nhảy cao nằm nghiêng, đặc biệt đó là các yêu cầu:

1.Các bài tập tăng sức mạnh của chân giậm nhảy

2 Các bài tập tăng khả năng phối hợp chân giậm nhảy, chân lăng và tay

3 Các bài tập giúp hoàn thiện kỹ thuật giậm nhảy

4 Các bài tập tăng sức mạnh sức bền trong Nhảy cao

3.4.2 Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy

Dựa vào các yêu cầu đối với các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy được xác định, chúng tôi đã tham khảo sách giáo khoa Điền kinh cho học sinh Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và sách giáo khoa Điền kinh trong trường phổ thông…

Qua đối chiếu với các yêu cầu trên, bước đầu chúng tôi đã xác định được các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy trong Nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định, đó là các bài tập sau:

Ngày đăng: 16/11/2015, 12:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hội nghị TW khóa VIII đã khẳng định “ Gíáo dục là quốc sách hàng đầu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíáo dục là quốc sách hàng đầu
10. “Thể thao trẻ” của PGS Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền, NXB TDTT, TPHCM, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thao trẻ
Nhà XB: NXB TDTT
14. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định: “Công tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học
1. Ban chấp hành TW Đảng: Chỉ thị 36 Khác
2. Chỉ thị 133/ TTg của Ban Bí thư TW Đảng ngày 7/8/1995 Khác
4. Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý TDTT Hà Nội Khác
5. Nguyễn Quang Hưng biên soạn (2006), Điền kinh trong trường phổ thông, NXB TDTT, Hà Nội Khác
8. PGS. TS Vũ Đức Thu (1998), Lý luận và phương pháp GDTC, NXB TDTT Khác
9. PGS.TS Nguyễn Toán, TS Phạm Danh Tốn (2006), Lý luận và phương pháp TDTT, Giáo trình dùng cho sinh viên các trường Đại học TDTT, NXB TDTT Hà Nội Khác
11. Th.s Đồng Văn Triệu, TS Lê Anh Thơ (2006), Lý luận và phương pháp GDTC trong trường học, NXB TDTT Hà Nội Khác
12. PGS. TS Lê Văn Xem (2006), Giáo trình tâm lý học TDTT, NXB TDTT Hà Nội Khác
13. Nguyễn Đức Văn (1978), Toán học thống kê, NXB TDTT Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” của 70 nữ học sinh  khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
Bảng 3.2 Thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” của 70 nữ học sinh khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định (Trang 24)
Bảng 3.3. Các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
Bảng 3.3. Các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy (Trang 27)
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh  giậm  nhảy  nâng  cao  thành  tích  Nhảy  cao  “Kiểu  nằm  nghiêng”  cho  các  học sinh nữ khối 11 trương THPT Mỹ Lộc – Nam Định - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” cho các học sinh nữ khối 11 trương THPT Mỹ Lộc – Nam Định (Trang 30)
Bảng 3.5. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ phát triển  sưc  mạnh  trong  giậm  nhảy  cho  học  sinh  nữ  khối  11  trường  THPT  Mỹ  Lộc – Nam Định ( n = 20) - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
Bảng 3.5. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ phát triển sưc mạnh trong giậm nhảy cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định ( n = 20) (Trang 32)
Bảng 3.6. Tiến trình giảng dạy - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
Bảng 3.6. Tiến trình giảng dạy (Trang 34)
Bảng  3.7.  So  sánh  kết  quả  các  test  Bật  cao  tại  chỗ  và  Nhảy  cao  có  đà  trước thực nghiệm - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
ng 3.7. So sánh kết quả các test Bật cao tại chỗ và Nhảy cao có đà trước thực nghiệm (Trang 36)
Bảng  3.8.  So  sánh  kết  quả  các  test  Bật  cao  tại  chỗ  và  Nhảy  cao  có  đà       sau thực nghiệm - Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao thành tích nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khôi 11 trường THPT mỹ lộc nam định
ng 3.8. So sánh kết quả các test Bật cao tại chỗ và Nhảy cao có đà sau thực nghiệm (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w