Đối với nước ta, khi chiến lược phát triển đất nước được xác định là “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì vấn đề xác định đúng và huy đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
VƯƠNG THỊ HOÀ
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Giáo viên hướng dẫn
TS Vi Thái Lang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vi Thái Lang người đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian qua để em hoàn thành tốt khóa luận của mình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong trường ĐHSP Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy cô trong khoa GDCT đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian và do sự hạn chế về kinh tế của bản thân nên khóa luận của em không tránh những thiếu sót Vì vậy em rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận này hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, Ngày 06, tháng 05, năm 2012
SV thực hiện
Vương Thị Hòa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những vấn đề trình bày trong khóa luận là của riêng
em, có tham khảo ý kiến của những người đi trước, tham khảo các tài liệu có
liên quan, dưới sự hướng dẫn của TS Vi Thái Lang
Khóa luận không sao chép từ một tài liệu, một công trình sẵn có Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, Ngày 06, tháng 05, năm 2012
SV thực hiện
Vương Thị Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 5
1.1 Nguồn nhân lực 5
1.2 Tính tất yếu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 7
1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa 11
Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay 16
2.2 Những mặt tích cực và hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay 19
Chương 3: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
3.1 Những định hướng nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 30
3.2 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 35
KẾT LUẬN 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Có thể nói trong thời đại ngày nay, đối với bất cứ quốc gia nào,việc xác định một cách đúng đắn và huy động một cách có hiệu quả các nguồn lực có thể huy động, đều được coi là có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước ta, khi chiến lược phát triển đất nước được xác định là “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì vấn đề xác định đúng và huy động có hiệu quả những nguồn lực vốn có và có thể tạo ra trong tiến trình phát triển càng trở lên hết sức quan trọng
Với nước ta, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu khách quan để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, để trở thành quốc gia văn minh, hiện đại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội , phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo thêm công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ kinh tế trên cơ sở phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, ổn định, phát triển đất nước, cải thiện đời sống nhân dân Với vai trò to lớn ấy của sự nghiệp công nghiệp hóa,
đảng ta khẳng định: “Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
nhiệm vụ trọng tâm”[4,37]
Khi xác định chiến lược đất nước trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học – kỹ thuật vốn có Trên cơ sở nhận thức rõ các nguồn lực đó “phần lớn còn ở dạng tiềm năng” và việc khai thác chúng “còn phải vượt qua nhiều trở ngại”, Đảng ta đã đồng thời khẳng định: Một đất nước với 87 triệu dân, trong hơn một nửa trong độ tuổi
Trang 6Trên cơ sở nhận thức rõ đội ngũ đông đảo những người lao động nước
ta ngày càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong quá trình phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường; khi xác định định hướng phát triển đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp từng bước công nghiệp hóa với hiện đại hóa xã hội, Đảng ta một lần nữa lại khảng định, việc phát huy nguồn lực
con người Việt Nam hiện đại là “yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững”[6,50]
Nói tóm lại, trong điều kiện nước ta hiện nay, để chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đến thắng lợi, chúng ta phải lấy nguồn lực con người Việt Nam – “nguồn lực quan trọng nhất” trong các nguồn lực, nguồn lực nội sinh làm nguồn lực cho sự phát triển Trên cơ sở quán triệt tinh thần trên, cùng với sự hiểu biết của bản thân về tầm quan trọng
của nguồn lực con người, tôi đã chọn đề tài “ Vấn đề phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 7Ba là: Khuyến nghị những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
3 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu về con người nói chung
và nguồn nhân lực nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- TS Vũ Bá Thể với “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kinh nghiệm thực tế và thực tiễn Việt Nam”
- TS Phạm Minh Hạc với “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
- TS Đoàn Văn Khái với “ Nguồn lực con người – yếu tố quyết định
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’
Ngoài ra các văn kiện Đảng, chủ trương, chính sách cuả Nhà nước trong thời kỳ đổi mới ít nhiều đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhìn chung các tác giả đều nghiên cứu nguồn nhân lực ở những khía cạnh khác nhau và đều làm nổi bật được vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong sự ngiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên vấn đề nguồn nhân lực là một phạm trù rộng lớn, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được làm
rõ Vì vậy khóa luận này sẽ góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu vai trò cuả nguồn nhân lực cũng như các giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lí luận
- Đề tài dựa trên phương pháp luận chủa chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu
- Ngoài việc sử dụng những phương pháp chung của nghiên cứu khoa
học, khóa luận chú trọng vào phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, kết hợp lí luận liên hệ với thực tiễn
5 Ý nghĩa của đề tài
b Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc đánh giá đúng vai trò và thực trạng của nguồn nhân lực hiện nay, đề tài đã đưa ra được một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục luc, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoa luận gồm 3 chương và 7 tiết
Trang 9NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Nguồn nhân lực
Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên
80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lí, sử dụng con người trong kinh tế lao động
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên
hợp quốc thì: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triẻn của mỗi cá nhân và của đất nước” [9,315]
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con
người bao gồm thể lực, trí lực, kĩ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên”
độ và phong cách làm việc…
Từ những cách tiếp cận trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là tập hợp
Trang 10đa phức gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kĩ năng làm việc của con người Trong bài phát biểu khi gặp gỡ các doanh nghiệp, các nhà khoa học – công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhấn
mạnh: “Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần
gắn với truyền thống của dân tộc ta”[7,18] Điều khảng định trên có ý nghĩa
rất quan trọng định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường
Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn
bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của triết học có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng
để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực đó là:
- Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và
sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai Đó là những câu hỏi cho việc
Trang 11xác định số lượng nguồn nhân lực, sự phát triển nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: Nhu cầu thực tế đòi hỏi công việc phải tăng số lượng lao động) và nhóm yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng dân số hay lực lượng lao động do di dân
- Chất lượng nhân lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe…của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
- Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là nhân tố không thể thiếu khi xem xét đánh gía về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi…cơ cấu nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực
Tóm lại, “nguồn nhân lực là tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất
lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung ở cả hiện tại cũng như tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới”[1.290]
1.2 Tính tất yếu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tất yếu mà tất cả các quốc gia muốn đưa nền kinh tế phát triển nhanh thì phải tiến hành Ở mỗi nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tính chất, con đường, thời gian thực hiện khác nhau phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước
Trước đây chúng ta cho rằng, công nghiệp hóa là quá trình trang bị kĩ thuật hiện đại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hóa, biến một nước kém phát triển thành một nước có
cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến
Trang 12Theo quan niệm của Liên hợp quốc, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó có một bộ phân nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghiệp hiện đại về chế tạo ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao trong toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh
tế và xã hội
Kết hợp quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại, và vận dụng vào điều kiện cụ thể hóa Việt Nam, hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đưa ra quan niệm mới về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là quá trình thay đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao ”[10,317]
Thực chất công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là quá trình tạo ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp - những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên sự vận dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm đưa đất nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Ngay từ những năm 60, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đã đạt được những thành tựu đáng kể
Trang 13Công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa là một tất yếu với tất cả các quốc gia đặc biệt với những nước đang phát triển trong đó có nước ta Sở
dĩ như vậy là vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức ngày càng phát triển thì việc gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa sẽ cho phép nước ta tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới, tiếp cận kinh tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những lĩnh vực của nền kinh tế xã hội Điều đó cho thấy rằng: công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa là một tất yếu khách quan
1.2.2 Tính tất yếu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa ở nước ta thì nhiệm vụ quan trọng nhất là phải xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho Chủ nghĩa xã hội, trong đó công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến Để thực hiện những nhiệm vụ này nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp phát triển
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Cơ sở vật – chất kỹ thuật của Chủ nghĩa
xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ Cơ sở vật chất – kỹ thuật đó phải tạo ra được một năng suất xã hội cao Công nghiệp hóa chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân
Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở vật chất – kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất Xã hội Chủ nghĩa mới được thiết lập chưa hoàn thiện
Vì vậy, công nghiệp hóa là quá trình tất yếu, khách quan để xây dựng cơ sở
Trang 14vật chất – kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất Xã hội Chủ nghĩa
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh như vũ bão, xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng tăng, do vậy nhu cầu ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ mới ngày càng tinh vi hơn, góp phần tìm kiếm các vật thể mới, nâng cao năng lực quản lý và lao động của con người Khoa học công nghệ tham gia vào các yếu tố của lực lượng sản xuất, góp phần làm phong phú thêm công cụ sản xuất, nâng cao kỹ năng sản xuất…vì thế Việt Nam tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để có thể nắm bắt được cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới góp phần phát triển lực lượng sản xuất và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta còn có tác dụng to lớn đó là:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, với phân công hợp tác quốc tế sâu rộng, cải tiến xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ Nước ta đi lên Chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp, từ nền nông nghiệp lạc hậu Vì vậy công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo cơ sở vật chất kỹ thuật làm biến đổi về chất lượng sản xuất, nhờ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực –
Trang 15nhân tố trung tâm của nền kinh tế Xã hội Chủ nghĩa Đồng thời tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng, lãnh thổ hợp lý hơn theo hướng chuyên canh tập chung, làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, miền trở nên thống nhất hơn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao, trên cơ sở đó củng cố và phát triển khối liên minh công - nông – tri thức Đặc biệt tăng cường sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế nhà nước Ngoài ra, công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hóa nền quốc phòng an ninh
Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật khách quan, một đòi hỏi tất yếu của nước ta Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
có sự điều tiết quản lý của nhà nước thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Chính vì do vị trí, tầm quan trọng và tác dụng nói trên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên qua tất cả các kỳ Đại hội Đảng ta luôn xác
định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[5,39]
1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong thời đại ngày nay, thời đại khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, con người ngày càng tỏ rõ vai trò quyết định của nó trong tiến
Trang 16trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại Ngày nay, khi nói con người
là lực lượng quan trọng nhất của xã hội, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với tư cách ấy, con người được đặt ở vị trí cao nhất của sự phát triển xã hội, tiến bộ lịch sử, thế giới tinh thần được coi là tinh hoa của lịch sử văn minh, văn hóa, là giá trị của mọi giá trị, là cội nguồn của mọi sự phát triển
Trong công cuộc đổi mới hơn lúc nào hết chúng ta cần phải hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người Do vậy, để tiến hành công nghiệp hóa, hiện dại hóa ở một nước đang ở trình độ thấp, kém phát triển như nước ta không thể không nói đến vai trò quyết định cuả nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất bởi nó quyết định phương hướng, nội dung, bước đi và biện pháp thực hiện sự nghiệp công nghệp hóa, hiện đại hóa
Thật vậy, để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách thành công cần có nhiều tiền đề cần thiết, trong đó nguồn nhân lực là tiền đề quan trọng nhất Bởi lẽ:
- Thứ nhất: Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và
có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua các hoạt động có ý thức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực
duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực
khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chẳng hạn như vốn cũng là một tiền đề tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan trọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao
Trang 17Tương tự như vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về vị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác
Ngày nay trước xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu
tư nước ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra “cái hích” kinh tế, nhất
là những nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái hích” ấy đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó
Hơn nữa, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người lại là vô tận Nó không chỉ tái sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý
Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa, thậm chí khái niệm “Nguồn lực” cũng không còn lí do gì để tồn tại
- Thứ hai: Sức mạnh con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Dự báo này của Mác
đã và đang trở thành hiện thực Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó mà con người có thể sáng tạo ra những
người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệ của chính
con người Rõ ràng bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình
- Thứ ba: Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa chủ yếu
Trang 18phụ thuộc vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Đối với nền kinh tế nông chưa công nghiệp thì mặt số lượng của nguồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt vì nó quy định quy mô của thị trường Nhưng khi tiến hành công nghiệp hóa thì mặt chất lượng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan trọng hơn Cơ cấu lao động cần cho quá trình công nghiệp hóa phải bao gồm: các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh…không có các chính khách, các nhà học giả tài ba thì khó có được những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn; không có nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng không có người sử dụng một cách các nguồn vốn, nhân lực, công nghệ Sự kém cỏi hay thiếu vắng của một trong các bộ phận cấu thành trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ quá trình phân tích trên có thể quyết định rằng, nguồn nhân lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước hay việc xác định vai trò từng loại nguồn nhân lực có ý ngĩa quan trọng để lấy đó làm cơ sở cho vệc đề
ra các biện pháp phát triển phù hợp Cụ thể:
Về nhân lực quản lý, lãnh đạo: Nhân lực này bao gồm các cán bộ quản
lý nhà nước và các cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh, có vai trò quan trọng
và ảnh hưởng tới mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng,
của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[15,269]
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò cuả nguồn nhân lực quản lý, lãnh đạo được thể hiện như sau:
Trang 19- Họ thực hiện quản lý, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
và các hoạt động xã hội thông qua việc đưa ra các quyết định quản lý trên cơ
sở phân tích tình hình thực tiễn đất nước Muốn đưa ra được các quyết định đúng, họ phải bám sát thực tiễn, thu nhập và xử lý thông tin, hình thành các phương án và đưa ra các quyết định
- Cán bộ quản lý, lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc bố trí, sắp xếp hợp lí cán bộ cho từng ngành,từng địa phương
Về nhân lực khoa học công nghệ: Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ là hết sức to lớn Họ
là chủ thể sáng tạo ra các phát minh khoa học vào ứng dụng chúng vào sản xuất, góp phần nâng cao trình độ của tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế Mặt khác, họ còn là những người trực tiếp lựa chọn, tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ mới của thế giới vào các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở vật chất- kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng hàng hóa trên thị trường
Về công nhân lành nghề: Đây là lực lượng cơ bản nhất và đông đảo nhất trong đội ngũ nguồn nhân lực, họ là những người trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội; mọi hoạt động sản xuất kinh doanh có được phát triển hay không phụ thuộc vào trình độ tay nghề của người công nhân Như vậy có thể khảng định: đội ngũ công nhân đóng vai trò quyết định trực tiếp sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tóm lại, nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm, cơ bản, quyết định nhất đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 20
Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải sử dụng đúng các ngồn lực trong đó nguồn lực con người
là quan trọng nhất Muốn sử dụng tốt nguồn lực này chúng ta phải hiểu rõ thực trạng và tiềm năng của nó Khi đó chúng ta mới có thể khắc phục và phát triển được nguồn nhân lực
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay
2.1.1 Về kinh tế
♦ Thành tựu
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, từ Đại hội VI đến Đại hội
X của Đảng, Đảng ta đã phân tích, đánh giá tình hình trong nước và thế giới một cách khách quan, xác định các xu thế phát triển tất yếu của thế giới và đã thực hiện bước chuyển đổi quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: xóa bỏ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Công cuộc đổi mới tiến hành 25 năm qua (1986 - 2011) đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, cụ thể:
Giai đoạn 1986 -1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất
Giai đoạn 1991 -1995: Giai đoạn này chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giai đoạn này Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm
Giai đoạn 2000 – 2005: Nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao,
Trang 21liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%/năm
Giai đoạn 2005 -2010: Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 7% Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế cũng chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường Song, bên cạnh những thành tựu nói trên, nền kinh tế Việt Nam còn tồn tại những hạn chế, yếu kém
♦ Hạn chế
Việt Nam đi lên Chủ nghĩa Xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kỹ thuật thô sơ, bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xuất phát điểm rất thấp về mặt công nghệ Trong các ngành công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới Công nghiệp tuy phát triển nhanh, nhưng chủ yếu dưới dạng gia công, chế biến trình độ thấp, giá trị gia tăng hạn chế, các ngành công nghệ cao và dựa trên tri thức chưa phát triển đáng kể Đầu tư của Nhà nước vẫn còn dàn trải, kém hiệu quả, thất thoát và lãng phí nhiều; các cơ sở hạ tầng tuy được quan tâm đầu tư nhiều hơn, song chưa theo kịp tốc độ phát triển của nhu cầu, và cơ bản vẫn còn ở tình trạng kém cỏi Kinh tế đối ngoại tuy có sự phát triển mạnh nhưng cũng còn nhiều vấn đề, đặc biệt là tình trạng nhập siêu cao liên tục trong nhiều năm qua
2.1.2 Về mặt xã hội
♦ Thành tựu
Sau hơn 20 năm đổi mới, xã hội Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn, có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
- Cùng với sự biến đổi của cơ cấu xã hội (mà cốt lõi là cơ cấu các giai tầng xã hội), tính năng động xã hội của mọi tầng lớp dân cư được phát huy, đời sống của đại đa số người dân trong nước được cải thiện
- Nhận thức của xã hội về việc làm và giải quyết việc làm đã có sự chuyển biến đáng kể Không chờ đợi Nhà nước và tập thể, người lao động
Trang 22ngày càng có ý thức chủ động tạo ra việc làm cho mình và cho người khác
- Tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 30% năm 1992 xuống còn gần 7% năm 2005 Các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả, các cơ sở y
tế từng bước được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, các kỹ thuật tiên tiến được ứng dụng trong khám chữa bệnh
- Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình đào tạo và đang dược tiếp tục đổi mới, chấn chỉnh về mục tiêu, nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng dạy và học
- Chương trình mục tiêu quốc gia về dân số - kế hoạch hóa gia đình thời kỳ 1991 – 2000 được thực hiện tốt đã đưa tỷ lệ tăng dân số giảm từ 2,1% xuống 1,36%
- Khoa học và công nghệ đã có tiến bộ, đã tập trung hơn vào nghiên cứu, ứng dụng, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
♦ Hạn chế
Trong những năm qua cơ chế, chính sách về văn hóa – xã hội chậm được đổi mới, chưa phù hợp với cơ chế kinh tế và theo kịp với yêu cầu phát triển của xã hội Điều này dẫn đến những hạn chế về mặt xã hội như: Kết cấu
hạ tầng thấp kém, xã hội vẫn còn lạc hậu; việc chỉ đạo, quản lí trên một số lĩnh vực văn hóa, xã hội còn buông lỏng; công tác y tế chưa được xã hội hóa rộng rãi, vẫn còn hiện tượng tiêu cực trái với y đức; các tệ nạn xã hội trong lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh, sinh viên ngày càng tăng; công tác chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, còn nhiều bất cập, hiệu quả không cao…
Những đặc điểm trên đây cho thấy mức độ phức tạp và những thách thức không nhỏ đối với việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan Bởi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực sẽ tạo ra sự cải biến về chất, từ lao động thủ công sang lao
Trang 23động cơ khí và trí tuệ, từ đó thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.2 Những mặt tích cực và hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
2.2.1 Về mặt số lượng
Có thể nói, nguồn nhân lực ở nước ta đã tăng một cách đáng kể Điều đó trước hết là do sự gia tăng dân số kể từ khi chúng ta thống nhất đất nước, nhất
là từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới Theo kết quả tổng điều tra dân
số và nhà năm 2009 cho thấy Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ASEAN và đứng thứ 13 trên thế giới Cụ thể tính dến ngày mùng 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người , tăng 9,47% triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần 0,3%) và theo báo cáo của tình hình dân số thế giới năm 2010 của Liên Hợp Quốc, dân số Việt Nam hiện là 89 triệu người, đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới
Dân số Việt Nam tăng nhanh qua các thời kỳ, cụ thể:
- Thời kỳ 1921-1943 tăng 319,5 nghìn người / năm
- Thời kỳ 1943-1951 tăng 56,1 nghìn người / năm
- Thời kỳ 1951-1957 tăng 1.135,8 nghìn người / năm
- Thời kỳ 1976-1985 tăng 1190,2 nghìn người / năm
- Thời kỳ 1985 -2008 tăng 1.142,9 nghìn người / năm, riêng thời kỳ
2000 – 2008 tăng 1.065,6 nghìn người / năm
Với mức gia tăng dân số như trên Việt Nam được thế giới đánh giá là nước có lợi thế về dân số và được coi là nước đang trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” – “dư lợi dân số”
Số người trong độ tuổi lao động cũng có sự gia tăng một cách đáng kể
và chiếm tỷ lệ cao Theo điều tra lao động và việc làm tháng 7 năm 2010, dân
số trong độ tuổi lao động (nam từ 15 – 60, nữ từ 15 – 55) ở Việt Nam là 47,3 triệu người chiếm 67% tổng số dân Dự báo dân số Việt Nam hai thập kỷ đầu
Trang 24thế kỷ XXI sẽ duy trì “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng cao Trong 10 năm (1999 – 2009), mỗi năm có thêm 1,8 triệu người bước vào độ tuổi lao động Dự tính trong 10 năm tới, mức tăng dân số trong độ tuổi lao động bình quân là 2,5% gấp hơn hai lần tăng nguồn nhân lực cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử dân số Việt Nam
Rõ ràng tốc độ gia tăng dân số và lực lượng lao động ở nước ta vào loại khá cao và hơn nữa tốc độ tăng đó diễn ra một cách liên tục Do vậy, nguồn bổ sung vào đội ngũ lao động cũng rất lớn Song, trên thực tế thì quy mô nguồn lao động nước ta còn lớn hơn mức gia tăng của lực lượng lao động, bởi số người đã ra khỏi độ tuổi lao động hàng năm ít tăng và phần lớn vẫn có nhu cầu việc làm Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, sau năm 2000 tốc độ gia tăng lực lượng lao động nước ta vẫn ở mức 3%/năm Như vậy, có thể nói, trong suốt thời kỳ chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lao động của nước ta luôn tăng Nếu xét từ góc độ cung cấp số lượng lao động, thì đây là một thuận lợi, song đó là một khó khăn không nhỏ một khi nền sản xuất
xã hội của ta không đáp ứng đủ việc làm cho người lao động
Điều đó là do nhiều năm trước đây, tốc độ tăng dân số của ra khá cao, trong khi đó nền sản xuất xã hội lại chậm phát triển, và do vậy, nó không đáp ứng được yêu cầu phân công lao động xã hội Thêm vào đó, ngoài số lao động gia tăng tự nhiên hàng năm, những người ngoài lực lượng lao động (người về hưu, học sinh, trẻ em) cũng có nhu cầu việc làm khá lớn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quy mô dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, đó là sức mạnh, là yếu tố cơ bản để chúng ta đẩy nhanh tốc độ phát triển Song, với một nước chậm phát triển như nước ta, cộng thêm vào đó
là những hạn chế về nguồn vốn, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng…thì một khi nguồn lao động đã dư thừa lại tăng với tốc độ lớn sẽ gây sức ép việc làm rất lớn Tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm là cái mà chúng ta sẽ còn phải tiếp tục giải quyết trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 252.2.2 Về chất lượng
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực,
là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực Nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ tăng trưởng kinh tế xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở những chỉ tiêu sau:
- Sức khỏe
- Trình độ văn hóa
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật
- Chỉ số phát triển con người
- Các chỉ tiêu khác
Trong đó trình độ văn hóa là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng của nguồn nhân lực Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là trạng thái hiểu biết cao hay thấp của người lao động đối với những kiến thức phát triển về tự nhiên và xã hội Mặt khác trình độ văn hóa là khái niệm về học vấn, vấn đề con người có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản và tri thức chuyên môn kỹ thuật Ở Việt Nam sau hai thập kỷ thực hiện chính sách đổi mới mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trình độ văn hóa của nguồn nhân lực nước ta đã có nhiều thay đổi đáng kể và đáng khích lệ Cụ thể:
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực nước ta cao hơn các nước có cùng mức thu nhập Đa số nguồn nhân lực nước ta đều biết chữ Năm 2011, tỷ
lệ lao động biết chữ trong lực lượng lao động là 97%, tỷ lệ này gần tương đương với các nước trong khu vực (Thái Lan là 96%, Philippin là 95%) Số người biết chữ của nguồn nhân lực nước ta không ngừng tăng lên nhờ các chính sách phát triển giáo dục phổ thông và phổ cập tiểu học
Những năm gần đây đội ngũ tri thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc Năm 2003-2004
Trang 26tổng số sinh viên Đại học và Cao đẳng là 1.131.000 sinh viên, đến năm
2007-2008 tăng lên 1.603.484 sinh viên Năm 2007-2008 tổng số sinh viên ra trường là 233.966 trong đó sinh viên tốt nghiệp Đại học là 152.272; sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng là 81.694, số tri thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh
Trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất của nguồn nhân lực nước ta cũng ngày càng được nâng cao Điều đó được thể hiện qua tỷ lệ lao động qua đào tạo của nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng tăng nhanh Cụ thể:
Năm Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%)
( Nguồn: dự thảo nghị quyết Trung ương IV khóa VIII – Bộ chính trị)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ lao động qua đào tạo liên tục tăng qua các năm Điều này tạo điều kiện cho việc áp dụng khoa học, công nghệ, ứng dụng những tri thức mới vào sản xuất, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì trình độ của lực lượng lao động nước ta còn thấp Cụ thể, mới có khoảng gần 2 triệu công nghân kỹ thuật, 1,5 triệu có trình độ trung học chuyên nghiệp, khoảng 900 nghìn lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học, một triệu lao động có trình độ sơ cấp Tỷ lệ số lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1- 6- 3 So với nhiều nước, tỷ lệ này có thể nói là rất không cân đối Trong những năm chúng ta