Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra một loạt các chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và đã thu được nhiều thành côn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
-
LÊ THỊ THÚY
VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM THÚC ĐẨY
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS TRẦN THỊ HỒNG LOAN
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Trần Thị Hồng Loan - Người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô trong khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt bài khóa luận này
Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian, do trình độ có hạn và cũng là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học cho nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được những đóng góp của quý thầy (cô) và bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Thúy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - T.S Trần Thị Hồng Loan
Khóa luận với đề tài: “Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai phạm người viết sẽ chịu mọi hình thức kỷ luật theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận
Lê Thị Thúy
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
LLSX : Lực lượng sản xuất
NNL : Nguồn nhân lực
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất 21
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 29
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 29
2.2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 34
2.3 Nguyên nhân dẫn đến những mặt tích cực và tiêu cực của chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 44
2.4 Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 51
3.1 Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 51
3.2 Giải pháp nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế 55
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo 59
3.4 Giải pháp phát triển thị trường lao động 64
3.5 Giải pháp hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 66
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, các thành tựu của nó ngày càng đóng vai trò to lớn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Khoa học và công nghệ có mặt ở hầu hết các quy trình, công đoạn, các bộ phận của quá trình sản xuất và thực
sự đã làm lực lượng sản xuất có sự thay đổi lớn về chất Chính các thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, làm thay đổi vị trí, vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại đòi hỏi người lao động phải không ngừng trang bị những tri thức khoa học mới, những kỹ năng nghề nghiệp cao hơn để làm chủ được các phương tiện máy móc và trang bị của quá trình sản xuất
Thực tế ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, muốn phát triển kinh tế -
xã hội đạt được sự tăng trưởng nhanh và bền vững thì trước hết phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra một loạt các chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và đã thu được nhiều thành công đáng khích lệ như về công tác nâng cao sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động - bộ phận nòng cốt sản xuất ra giá trị cho toàn xã hội
Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta thoát khỏi chế độ phong kiến nửa thuộc địa, lại bị kìm hãm bởi hơn 30 năm chiến tranh nên hiện nay ở nước ta thực trạng nguồn nhân lực vẫn còn tồn tại nhiều bất cập về số lượng, về chất lượng,… như trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tới 70% lao động sản xuất xã
Trang 7hội, về trình độ văn hóa và trình độ kỹ thuật của người lao động hiện nay ở nước ta vẫn còn thấp, năng lực quản lý còn kém, tỷ lệ cán bộ ở trình độ đại học đạt 3,7%
Hơn nữa, Việt Nam hiện nay đang trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới Để sự nghiệp này thành công thì chúng ta phải có một nguồn nhân lực có chất lượng cao
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta phải dựa trên cơ sở phân tích những thực trạng của nó; từ đó, có những giải pháp tích cực để hạn chế những mặt yếu kém của chất lượng nguồn nhân lực Chỉ như vậy, chúng ta mới
có nguồn nhân lực có chất lượng để phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ có nguồn nhân lực với những con người có thể lực, trí lực, nhân cách
và tài năng mới là tài nguyên vô tận, không bao giờ cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tái sinh nếu chúng ta biết nuôi dưỡng và phát triển Chỉ khi đào tạo được một nguồn nhân lực bao gồm những con người có năng lực phát triển toàn diện, nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn tự nhiên cho sự phát triển xã hội, nhanh chóng đưa nền kinh tế trong nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến thắng lợi
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về con người nói chung và nguồn nhân lực nói riêng:
Trang 8TS Nguyễn Thế Nghĩa, Đoàn Văn Khái đã có những nghiên cứu về yếu
tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy nó ở Việt Nam hiện nay; tác động của yếu tố thời đại đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
“Nguồn nhân lực - Động lực của CNH, HĐH” của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa,
Tạp chí triết học, số 1, tháng 2 - 1996; Nguồn lực con người - yếu tố quyết
định sự nghiệp CNH, HĐH đất nước của Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận chính trị, 1995)
Một số ẩn phẩm dưới dạng sách tham khảo như: Vấn đề con người trong
sự nghiệp CNH, HĐH của Phạm Minh Hạc (Chủ biên), NXb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996 Đây là một công trình lớn về vấn đề con người và phát triển con người ở nước ta Tập thể tác giả đã đề cập một cách khái quát, phân tích lý giải một cách khá sâu sắc vấn đề con người với sự nghiệp CNH, HĐH dưới góc
độ xã hội học Công trình Về động lực phát triển kinh tế - xã hội của GS.TS Lê
Hữu Tầng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đã đưa ra và lý giải các tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn nhân lực với tư cách là động lực của sự phát triển
Ngoài ra, còn có những ấn phẩm đề cập đến kinh nghiệm về quản lý và phát triển nguồn nhân lực của một số nước có ý nghĩa tham khảo đối với Việt
Nam như: Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 của Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm; Chiến lược con người trong thần kỳ Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996 của Lưu Ngọc Trinh
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ cả về
lý luận và thực tiễn như: Vai trò của nguồn nhân lực trong LLSX, nhất là trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển lực lượng sản xuất; những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,…
Trang 9Khóa luận này sẽ góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu về nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất
- Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay và một số vấn đề đặt ra
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển nguồn nhân lực
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, khái quát hóa và trừu tượng hóa,… trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Nghiên cứu nguồn nhân lực trong mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau với lực lượng sản xuất
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiến hành khảo sát từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay ở Việt Nam
6 Ý nghĩa của đề tài của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài, trước hết có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân tác giả trong việc củng cố kiến thức, tiếp cận vấn đề con người dưới góc độ triết học, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
Khóa luận đã làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất, nêu được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay Qua đó, đề ra được một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận còn bao gồm 3 chương và 11 tiết
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nguồn nhân lực
1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nguồn” là nơi phát sinh, nơi cung cấp “Nhân lực” là sức lực của con người bao gồm sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó là bao gồm 3 yếu tố có sự liên kết biện chứng với nhau đó là thể lực, trí lực và tâm lực Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức lực của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất
Nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đã đề cập đến nguồn nhân lực với nhiều góc độ khác nhau:
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng
Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…) mà mỗi cá nhân sở hữu Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,…
Ở trong nước cũng có nhiều nhà khoa học định nghĩa về nguồn nhân lực
như: GS Nguyễn Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
Trang 12năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó” [11, tr.269] TS Nguyễn Thanh xác định: “Nguồn nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [28, tr.70]
Nói đến nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người), tức là nói đến con người - chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định: “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,… Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,…” [8, tr.112]
Như vậy, về khái niệm nguồn nhân lực ta có thể hiểu ở hai phương diện sau:
Thứ nhất, với tư cách là nguồn lực con người - chủ thể không tồn tại một
cách biệt lập, mà chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động Nói cách khác, nguồn nhân lực là tổng hợp những con người - chủ thể với những phẩm chất nhất định đã, đang
và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cần hiểu rằng, tổng hợp những con người - chủ thể này không chỉ là số lượng người mà nó thực sự là tổng hợp năng lực, sức mạnh của chỉnh thể người Năng lực, sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn
có bên trong của mỗi con người - chủ thể và nó được tăng lên gấp bội bởi cái
“chỉnh thể” thống nhất trong hành động
Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm không chỉ những con người - chủ thể
đã và đang tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn cả
Trang 13những con người - chủ thể sẽ tham gia và quá trình này Bởi vì, lịch sử tự nhiên của đời sống xã hội là quá trình phát triển kế tiếp nhau của các nền văn minh và các trình độ văn minh; trong đó, các giá trị do các thế hệ trước tạo ra
là nền tảng của những thế hệ sau kế thừa, phát triển và sáng tạo ra những giá trị mới Không chú ý đến phương diện này của nguồn nhân lực thì không thể triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa có hiệu quả và do đó, không thể có
sự phát triển bền vững của đất nước
Tóm lại, khái niệm nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể số lượng và chất lượng với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội loài người đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển
và tiến bộ xã hội
1.1.1.2 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, với tư cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt
động kinh tế và các quan hệ xã hội “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực” [25, tr.16] Nói cách
khác, nó là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội,… của nguồn nhân lực Trong
đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực
+ Trí lực là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh thần, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi “tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ” Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy
Trang 14nguồn lực con người Trí lực quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại
do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình
+ Thể lực đó là trạng thái sức khoẻ của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao động - nghề nghiệp nào đó, có sức khoẻ để tiếp tục học tập, làm việc lâu dài,… là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song sức mạnh trí tuệ của con người chỉ
có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh Chăm sóc sức khoẻ cho người dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người
+ Đạo đức cá nhân phản ánh những giá trị và những chuẩn mực đạo đức
xã hội Những giá trị và chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức mà xã hội vươn tới được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nếp sống hàng ngày Các giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách cá nhân Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách, của chất lượng nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội Ngày nay, cái đem lại lợi thế cho nguồn nhân lực ngoài trí lực và thể lực, còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người Bởi vì, trí lực cũng như thể lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy tiến bộ xã hội khi chủ nhân của nó là những con người có phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt Trình độ phát triển
Trang 15nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, phát triển chất lượng nguồn nhân lực, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, tới việc bồi dưỡng và nâng cao sức khoẻ cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, chúng ta phải đặc biệt coi trọng việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người
Như vậy, cấu thành chất lượng nguồn nhân lực xét từ phương diện cá thể, đó là tổng hợp các năng lực và giá trị về trí lực, thể lực và những phẩm chất tinh thần Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải phát triển cá nhân con người, tức là phải đầu tư chăm lo cho sự phát triển
về trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, tinh thần của từng con người, từng thế hệ
1.1.1.3 Kết cấu của nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm lao động đang tham gia hoạt động kinh tế và nguồn nhân lực dự trữ:
*Lao động đang tham gia hoạt động kinh tế
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội
* Nguồn nhân lực dự trữ
Nguồn nhân lực dự trữ là những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì lý do nào đó chưa tham gia hoạt động kinh tế Số người này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực cho xã hội Bao gồm:
- Những người làm công việc nội trợ gia đình
- Những người đang tham gia học tập bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng đang trong thời gian học tập tại các trường phổ thông, Đại học, Cao đẳng, các trường Trung học chuyên nghiệp và những người đang trong thời gian tham gia học nghề
Trang 16- Những người đang trong thời gian hoàn thành nghĩa vụ quân sự
- Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề), đang trong quá trình tìm việc làm
1.1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
* Thứ nhất, sự biến đổi kinh tế - xã hội
Chất lượng nguồn nhân lực bị chi phối nhiều bởi các nhân tố kinh tế - xã hội tăng trưởng là nhân tố quan trọng tác động trên nhiều phương diện Trước hết, nó trực tiếp cải thiện đời sống của người dân Qua tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống mà trước hết là chất lượng dinh dưỡng được nâng cao hơn, người dân được hưởng tốt hơn các dich vụ giáo dục cũng như chăm sóc sức khỏe Từ việc chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn, người dân được hưởng tốt hơn các dịch vụ giáo dục cũng như chăm sóc sức khỏe Từ việc chất lượng cuộc sống được nâng cao, các dịch vụ chăm sóc được quan tâm hơn làm cho con người không những được cải thiện hơn
về tình hình sức khỏe mà còn nâng cao được trình độ văn hóa cũng như trình
độ chuyên môn kỹ thuật của mình Qua đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần vào công cuộc phát triển con người
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn làm tăng tiết kiệm, tăng đầu tư trong nước, qua đó tạo ra được nhiều việc làm mới cho người lao động, giảm
tỷ lệ thất nghiệp và giảm bất bình đẳng xã hội
Tăng trưởng kinh tế không chỉ là môi trường mà còn là động lực để thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Yêu cầu đặt ra là phải có những con người có thể lực tốt, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật tốt Chính vì vậy,
để có thể phát triển nhanh và bền vững thì yêu cầu tất yếu là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhân tố quyết định tới quá trình sản xuất xã hội
Tuy nhiên, các biến đổi xã hội cũng có nhiều mặt tiêu cực của nó, những biến đổi không có lợi đến môi trường sống, môi trường tự nhiên gây ô nhiễm,
Trang 17làm tăng bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động cũng như chất lượng cuộc sống người lao động
* Thứ hai, tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho con người
của xã hội
Như chúng ta đã biết, sức khỏe là vốn quý của mỗi con người Tình trạng sức khỏe có liên quan trực tiếp tới khả năng lao động cũng như năng suất của người lao động Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con người; trong đó, chế độ dinh dưỡng cũng như sự phát triển của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân giữ vị trí quan trọng Ngoài thể trạng từ lúc được sinh
ra là nền móng ban đầu thì chế độ dinh dưỡng trong suốt quãng đời là nhân tố quyết định đến thể lực Ăn uống hợp lý, đầy đủ không chỉ giúp con người ta
có sức khỏe tốt mà khả năng phòng ngừa bệnh tật cũng được nâng lên Bên cạnh đó, dinh dưỡng đảm bảm là điều kiện không thể thiếu để phát triển trí não, thuận lợi cho học tập cũng như cho công việc Qua đây, ta cũng có thể thấy được chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng nguồn nhân lực Và thực tế trên thế giới hiện nay, với bất cứ quốc gia nào đều quan tâm tới vấn đề dinh dưỡng và xem như là chiến lược trọng điểm của các quốc gia
Đi đôi với chế độ dinh dưỡng, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và người lao động nói riêng cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng Sức khỏe tốt là trước hết con người phải có thể trạng tốt, tức là không có bệnh tật gì Để phòng ngừa được bệnh tật trong khi mỗi chúng ta phải sống trong điều kiện ô nhiễm ngày càng tăng, thiên tai bệnh dịch hoành hành thì việc đảm bảo cho người lao động phòng chống được bệnh tật, phục hồi sức khỏe sau khi chữa trị bệnh là công việc khó khăn Để làm được điều này thì trước hết công tác chăm sóc sức khỏe người lao động phải được quan tâm Tăng cường bảo vệ, bảo hộ lao động khi tham gia sản xuất; tăng cường công tác khám chữa bệnh cho người lao động và tăng cường chất lượng hệ
Trang 18thống y tế là nhân tố quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho người dân nói chung và cho người lao động
* Thứ ba, mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cũng như nhân cách đạo đức cho mỗi con người Xét đến giáo dục và đào tạo cũng như chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe ta không chỉ xét đến ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nhân lực đơn thuần mà nó còn có ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ người dân của một quốc gia Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật không phải là sản phẩm của một giai đoạn học đơn thuần mà nó là kết quả của
cả một quá trình học tập kiến thức, rèn luyện từ khi bắt đầu bước vào ghế nhà trường Vì vậy, giáo dục và đào tạo không chỉ đào tạo cho hiện tại mà nó là một nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực con người trong dài hạn Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo góp phần vào tăng trưởng kinh tế Dựa vào lý thuyết về tỷ suất lợi nhuận, các nhà nghiên cứu xác định được tỷ suất lợi nhuận hoàn trả của giáo dục sau đầu tư, giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ nâng cao trình độ và quan điểm của họ lẫn tích luỹ kiến thức Vai trò của giáo dục có thể được đánh giá qua tác động của nó đối với năng suất lao động được tính toán bằng so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm
ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó được học một khoá đào tạo với chi phí cho khoá đào tạo đó Kết quả này được gọi là tỷ suất lợi nhuận xã hội khi đầu tư vào giáo dục Các nhà nghiên cứu đã chứng minh
tỷ suất lợi nhuận của giáo dục rất cao ở những nước có thu nhập vừa và thấp Mối liên hệ giữa nguồn vốn nhân lực với các nguồn vốn vật chất được thể hiện qua các thuyết tăng trưởng kinh tế; theo đó, ta có trữ lượng vốn nhân lực tăng lên làm tăng giá trị lợi tức của máy móc, trữ lượng vốn vật chất tăng lại làm hiệu quả đầu tư vào giáo dục tăng và đầu tư chung nếu
Trang 19không có sự hỗ trợ của giáo dục chỉ đóng vai trò không lớn đối với tăng trưởng kinh tế
Không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật,… của người lao động mà việc phát triển giáo dục còn có tác động lan tỏa sang các yếu tố khác nằm trong phạm vi các yếu
tố có tác động đến chất lượng nguồn nhân lực
Phát triển giáo dục và đào tạo có tác động tích cực tới chất lượng dinh dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhờ có hiểu biết và trình độ mà người lao động biết để tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của bản thân, bảo vệ mình trong lao động để tránh những tai nạn lao động xảy ra và phòng ngừa bệnh nghề nghiệp
“Không có một nước công nghiệp hóa giàu mạnh nào đạt tăng trưởng
có ý nghĩa trước khi hoàn thành phổ cập giáo dục trung học, hơn thế nữa, sự thành công của các nước công nghiệp hóa mới như Hàn quốc, Singapore, Hồng Kông, những nước có GDP tăng nhanh nhất trong những năm thập kỷ
70, đã đạt tỷ lệ biết chữ cao và phổ cập giáo dục trung học trước khi có nền kinh tế của họ” (Báo cáo phát triển nguồn nhân lực của UNDP)
* Thứ tư, nhu cầu phát triển của thị trường lao động
Ngoài yếu tố chất lượng dinh dưỡng cũng như chất lượng giáo dục và đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực thì yếu tố môi trường lao động cũng có tác động không nhỏ tới việc tạo điều kiện cho người lao động sau khi đào tạo ra có cơ hội làm việc đúng với thực lực của mình Tuy một người có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn cao nhưng nếu người đó không được làm việc đúng với chuyên môn của mình, đúng với ngành nghề đào tạo của mình thì chất lượng công việc mà anh
ta hoàn thành không được như mong muốn Năng suất lao động trung bình của một đất nước không thể cao nếu trong nền kinh tế tình trạng làm việc trái
Trang 20ngành, trái nghề vẫn tồn tại với tỷ lệ lớn Thị trường lao động tạo ra cho người lao động cơ hội để tìm kiếm việc làm thích hợp, tạo môi trường cho con người ta phát huy hết khả năng trong lao động, phát huy tính chủ động sáng tạo của mỗi người Vì thế, xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực chúng ta phải xét đến vai trò ảnh hưởng của thị trường lao động cũng giống như là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp
* Thứ năm, các chính sách của Nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực như chúng ta đã phân tích ở trên thì các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng có tác động đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình những chiến lược hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việc đề ra các chính sách để cụ thể hóa mục tiêu của chiến lược quyết định đến việc có thực hiện được mục tiêu đó hay không? Bởi thế chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc nhiều vào các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nhà nước hoạch định các chính sách tạo môi trường pháp lý cho phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều sâu Hệ thống các chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người sẽ là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và tinh thần Cơ chế, chính sách phải theo hướng tạo mở, thúc đẩy và kích thích người lao động, doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo đến chất lượng nguồn nhân lực Có như vậy, người lao động mới phát huy được khả năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội và qua đó, chất lượng nguồn
Trang 21nhân lực của quốc gia sẽ được nâng cao Nhà nước đã đề ra chính sách hỗ trợ, phát triển giáo dục và đào tạo; các chính sách về việc làm, thất nghiệp; các chính sách về nâng cao sức khỏe người lao động, an toàn lao động, Qua các chính sách đó, Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu về vấn đề phát triển bền vững con người Để nâng cao sức khỏe người lao động, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng như tinh thần và ý chí của người lao động
1.1.2 Lực lượng sản xuất
1.1.2.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Lực lượng sản xuất” là C.Mác, quan điểm của ông về vấn đề này được thể hiện trong một loạt tác phẩm như: “Hệ
tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, đặc biệt được trình bày và phân tích sâu sắc trong tác phẩm “Tư bản”
Theo Mác: “Lao động là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên Một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [19,
tr.260] Từ đó, Mác đã vạch ra bản chất của lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Căn cứ vào đâu mà Mác lại khẳng định như vậy?
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử của nhân loại cũng như nghiên cứu
về sự phát triển của con người, Mác cho rằng: Con người ta muốn sống, muốn tồn tại phải có thức ăn, thức uống, nhà ở và những thứ khác Để có được điều
đó, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất vật chất, tức là con người phải tiến hành lao động sản xuất, phải tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân con người Chính sự tác động qua lại giữa tự nhiên với con người là biểu hiện của lực lượng sản xuất
Mặt khác, hoạt động sản xuất vật chất giúp con người ngày càng khám phá những bí ẩn của thế giới khách quan, hiểu biết sâu sắc bản chất của các sự
Trang 22vật, hiện tượng, đồng thời cải biến những công cụ, phương tiện tác động vào
tự nhiên Nhờ đó, con người không ngừng tạo ra các lực lượng sản xuất ngày càng lớn mạnh
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Mác viết:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ,… Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [23, tr.14-15]
Đồng thời trong quá trình luận giải những vấn đề nêu trên, Mác là người đầu tiên có công xây dựng nội dung khoa học của khái niệm lực lượng sản xuất
Theo Mác, lực lượng sản xuất là: “Biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất” [7, tr.351]
1.1.2.2 Kết cấu của lực lượng sản xuất
* Người lao động
Nhân tố đầu tiên của LLSX chính là người lao động - yếu tố giữ vị trí
hàng đầu, chủ yếu của LLSX Nói đến người lao động trong lực lượng sản
xuất không phải chỉ nói đến kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm mà còn phải nói đến đó là người lao động có thể lực cường tráng, khỏe mạnh, có năng lực lao động trí tuệ cao, có trình độ chuyên môn giỏi, có đạo đức trong sáng,… trong
đó, “trí tuệ không phải là những tri thức trừu tượng mà trước hết phải là năng lực chuyên môn được đào tạo và qua đào tạo, nó biểu hiện ở trình độ tay nghề và các thao tác thuộc về kỹ năng cần thiết không thể thiếu được của
Trang 23người lao động Còn thể chất, không chỉ là sự phát triển cường tráng về thể lực mà còn phải bao hàm trong đó cả sự phát triển tốt về trí lực, tư chất thông minh, sự nhạy bén của thần kinh, cả tâm lý và tính sáng tạo cao trong lao động” [21, tr.28]
Trong quá trình tác động vào tự nhiên sản xuất ra của cải vật chất, con người không chỉ với cơ bắp sức lực mà còn dùng cả những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo để tác động vào tự nhiên, tạo ra những sản phẩm vật chất có hiệu quả nhất Chính con người tạo ra tất cả những phương tiện máy móc, tạo ra công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động, tạo ra phương tiện sản xuất để cho hoạt động sản xuất của con người ngày một nâng cao
C.Mác viết: “Một vật do bản thân tự nhiên cung cấp đã trở thành một khí quan của sự hoạt động của con người, khí quan mà con người đem chắp vào những khí quan của cơ thể mình và do đó, kéo dài cái tầm thước tự nhiên của
cơ thể đó” [20, tr.268]
Những tư liệu sản xuất dù quan trọng đến đâu thì riêng bản thân chúng cũng không tạo ra được của cải vật chất, nó chỉ có tác dụng khi được con người sử dụng Cùng với việc tạo ra công cụ sản xuất, con người còn sử dụng những công cụ đó để làm ra của cải vật chất cho xã hội Từ những công cụ thủ công bằng đá, bằng đồng, bằng sắt, con người tiến tới chế tạo máy móc với kĩ thuật mới, công nghệ mới Trên cơ sở vận dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, ngày nay con người bước những bước
kỳ diệu trong việc chinh phục tự nhiên Cũng chính sự tiến bộ của khoa học -
kỹ thuật sản xuất đòi hỏi lao động của con người trở thành lao động có trí tuệ
và lao động trí tuệ Mà trí tuệ con người không phải là cái gì siêu nhiên, nó là sản phẩm tự nhiên của lao động Trí tuệ hình thành và phát triển cùng với lao động làm cho sản phẩm của lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao Do
đó, người lao động cần phải được tăng cường tri thức trên mọi lĩnh vực
Trang 24* Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là tất cả những điều kiện vật chất cần thiết cho con người khi sản xuất
Theo Mác, tư liệu sản xuất được chia thành: Đối tượng lao động và tư liệu lao động:
- Đối tượng lao động là “những sản phẩm có sẵn của giới tự nhiên như đất đai, sông ngòi, biển, khoáng sản, hải sản,… mà con người tác động vào”,
“là những sản phẩm có nguồn gốc trong tự nhiên được con người chế tạo như sợi tổng hợp, hóa chất, chất hợp kim, các loại nguyên liệu, vật liệu và cây, con mới” [22, tr.28] Những loại sản phẩm này không thể chuyển hóa từ cái tự
nó thành cái cho con người và vì con người nếu không có sự tác động và vai trò sáng tạo của con người Chính bằng lao động sáng tạo của mình, con người đã khai thác, sử dụng có hiệu quả những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, đồng thời tạo ra những đối tượng mới có nguồn gốc trong tự nhiên
- Tư liệu lao động
Tư liệu lao động là “những vật thể hay phức hợp những vật thể được con người sử dụng nối giữa con người với đối tượng lao động” [22, tr.28] Tư liệu
lao động bao gồm công cụ lao động và các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng, trong đó công cụ lao động là yếu tố quyết định, nó chính là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Công cụ lao động là cái vật hóa trí tuệ và tài năng sáng tạo của con người Với mục đích tăng năng suất lao động và giảm cường độ lao động, con người đã sáng tạo ra công cụ lao động Nhờ đó, công cụ lao động ngày càng được cải tiến hiện đại Trình
độ của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau C.Mác viết:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì
mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”
[20, tr.269]
Trang 25Công cụ lao động là cầu nối giữa người lao động với đối tượng lao động
Để tác động vào đối tượng lao động bắt buộc con người phải sử dụng công cụ lao động để cải biến những vật liệu có sẵn trong tự nhiên thành những vật phẩm theo yêu cầu, mục đích sử dụng của con người Công cụ lao động hiện thực hóa cái trừu tượng tư duy của con người Công cụ lao động có thể là một vật thể hay là một phức hợp những vật thể (tùy theo tính chất của việc sản xuất sản phẩm) Nó có nhiệm vụ dẫn truyền sự tác động của con người với đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất Lịch sử phát triển loài người được đánh dấu bằng những mốc quan trọng trong sự phát triển của LLSX, trước hết
là công cụ lao động Thời trung cổ, công cụ lao động giản đơn, thô sơ lạc hậu Ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều công cụ lao động phát triển thành hệ thống thiết bị tự động và ngày càng phát triển Người lao động dần tách khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, đóng vai trò kiểm tra, điều hành sự vận động của hệ thống tự động
Về các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống dịch vụ, đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà kho, thông tin,… Những yếu tố này không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng nó có ảnh hưởng lớn tới giá trị sản phẩm, đến sản xuất, nó là yếu tố nội sinh của quá trình sản xuất góp phần tạo ra giá trị mới Sản phẩm làm ra chính nhờ các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng như trên mà có thể tăng hoặc giảm giá trị sản phẩm, lưu thông, tiêu thụ,… Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay thì LLSX không chỉ bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất mà còn có cả yếu tố khoa học và công nghệ hiện đại
* Khoa học và công nghệ
Lực lượng sản xuất không phải là số cộng giản đơn của yếu tố người và yếu tố vật mà chính là phương thức tác động, kết hợp giữa các yếu tố tạo thành lực lượng sản xuất Khoa học không phải là một yếu tố riêng biệt trong
Trang 26lực lượng sản xuất Khoa học đã thâm nhập, vật hóa vào các yếu tố, các quá trình tác động, kết hợp giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Chính vì thế, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Con người tác động vào tự nhiên không chỉ bằng hành động cụ thể của riêng mình, mà quá trình đó còn được thực hiện bằng năng lực của các thế hệ trước để lại
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội người chiếm lĩnh sử dụng ngày càng nhiều lực lượng tự nhiên với
tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của con người và quyết định quan hệ của con người trong sản xuất
Ngày nay, khi khoa học và công nghệ đã đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì ngoài chức năng là chủ thể của quá trình sản xuất, con người còn là đối tượng khai thác của chính bản thân mình Trí tuệ con người đã trở thành nguồn năng lực vô tận của mọi sự biến đổi khoa học, công nghệ và sản xuất, là nguồn lực của mọi nguồn lực trong quá trình phát triển của xã hội 1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất
Như chúng ta đã biết, xét đến cùng yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định
sự vận động phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Khi phân tích các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất trong xã hội Tư bản, Mác đã chỉ ra:
“Trong tất cả các lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất lớn nhất là bản thân giai cấp cách mạng” [18, tr.410] Lênin cũng khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [16,
tr.430] Ở đây, Mác và Lênin đều nhấn mạnh con người là yếu tố có vai trò to lớn trong lực lượng sản xuất Như vậy, vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất xuất phát từ vai trò của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nó thể hiện ở những điểm sau đây:
Trang 271.2.1 Con người sáng tạo ra các công cụ lao động
Hoạt động của con người là hoạt động đặc trưng, cơ bản chỉ có ở con người, đó là hoạt động có mục đích, có ý thức, nó khác hẳn về chất so với loài
vật Mác đã so sánh hình ảnh: “Con nhện làm những động tác của người thợ dệt và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc sư phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc sư tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn
tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc sư đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi” [19, tr.260- 261]
Như vậy, hoạt động của loài vật chỉ là hoạt động mang tính bản năng, thỏa mãn những nhu cầu sinh vật của nó, nên nó chỉ sống dựa vào những ân huệ sẵn có trong tự nhiên (ăn cây rừng, uống nước suối, sống trong hang động,…) Hoạt động của con người thì trái lại, con người không chỉ biết thích nghi mà còn luôn chủ động cải tạo tự nhiên, làm thay đổi giới tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cuộc sống của chính mình Vậy con người thực hiện điều đó bằng cách nào?
Để tạo ra của cải vật chất, con người phải sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên Tuy nhiên, công cụ không phải tự nó, mà do con người chế tạo ra bằng lao động và trí tuệ của mình Mặt khác, không phải ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã có những công cụ, máy móc hiện đại như ngày nay, mà phải thấy rằng sự phát triển của lịch sử loài người Lúc đầu do trình
độ thấp kém, con người phải sử dụng tất cả những gì sẵn có trong tự nhiên làm công cụ như cành cây để chọc lỗ gieo hạt, đá sỏi làm vũ khí tấn công thú
dữ và cả sức mạnh cơ bắp của mình,… nhưng xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người càng tăng, con người muốn tạo ra nhiều của cải hơn nữa, muốn năng suất lao động cao, đòi hỏi con người phải không ngừng cải tiến công cụ đã có và sáng tạo thêm những công cụ mới Điều này, đã được
Trang 28lịch sử chứng minh: từ những viên đá cuội, những tảng đồng, sắt, người nguyên thủy đã mài, đúc và tạo ra những công cụ thô sơ đầu tiên như: rìu sắt, rìu đồng, cung tên cùng các đồ vật bằng kim loại thuận lợi cho hoạt động săn bắt, hái lượm Đến thời đại công nghiệp, do nhu cầu phát triển sản xuất dẫn tới sự ra đời của máy dệt, máy hơi nước Ngày nay, phục vụ cho nền sản xuất
xã hội là những máy móc hiện đại, tinh vi, những phương tiện như: đường cao tốc, nhà ga, bến cảng, sân bay, rôbốt và các thiết bị tự động,… Có thể nói, con người đã tạo ra công cụ lao động từ những vật liệu của tự nhiên, đã nhào lặn
và truyền vào chúng bằng cả sức mạnh cơ bắp, trí tuệ của mình Nhờ đó, các công cụ trở nên năng động, phản ánh trí tuệ con người cũng như trình độ chinh phục tự nhiên của họ
Con người không chỉ tạo ra công cụ mà còn quyết định cách sử dụng và công dụng của nó Chúng ta thử hình dung rằng: 01 cái máy có thế bị phá hủy hay đem vào sử dụng hay không là phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người Cũng là cái máy đó nhưng người này sử dụng thì lãng phí, sản phẩm làm ra ít, người khác thì tiết kiệm được nguyên, vật liệu đem lại hiệu quả cao, chất lượng tốt Điều đó có nghĩa là, con người không chỉ quyết định sự ra đời của công cụ lao động mà còn quyết định cách vận hành nó Nếu không có con người có tri thức, kinh nghiệm sử dụng thì nó chỉ là vật chết, vật vô tri, vô giác mà thôi
Như vậy, năng lực lao động và trí tuệ của con người càng phát triển thì càng tạo ra những công cụ, phương tiện hiện đại, góp phần thúc đẩy sự phát triển của LLSX
1.2.2 Con người cải tạo đối tượng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất
Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động con người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích của con người
Trang 29Đối tượng lao động được C.Mác coi là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất Bởi lẽ, con người chỉ có thể biến khả năng lao động của mình thành hiện thực và tạo ra của cải vật chất trên cơ sở những đối tượng lao động nhất định Thời kỳ đầu, do lực lượng lao động sản xuất thấp kém con người chủ yếu sử dụng những đối tượng có sẵn trong tự nhiên như: đất, nước, thực vật, động vật,… Những đối tượng lao động này, con người chỉ cần tách chúng khỏi mối liên hệ trực tiếp với tự nhiên là có thể dùng được Nhưng, từ khi sản xuất phát triển với tốc độ cao nhờ ứng dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại cùng với sự tăng cường trao đổi chất giữa xã hội với tự nhiên dẫn đến nhu cầu về nguyên, vật liệu ngày càng nhiều, đòi hỏi con người phải tạo ra những đối tượng mới, không có sẵn trong
tự nhiên như: sợi cốttông, sợi hóa học để dệt vải; thép đã được luyện để sản xuất ra máy móc, xe hơi cùng hàng loạt những nguồn vật liệu mới với tính năng siêu dẫn, siêu bền, siêu nhẹ, siêu cứng và các nguồn năng lượng mới như: năng lượng mặt trời, nhiệt năng, thủy năng,… Nhờ khả năng biết ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại của con người mà ngày nay con người đã tạo ra được những nguyên, vật liệu nhân tạo hiện đại như: sợi cốttông, vật liệu tổng hợp composit,… hay các nguồn năng lượng mới như: năng lượng mặt trời, sức gió, sức nước,… Tuy nhiên, tất cả những đối tượng lao động đó suy cho cùng đều xuất phát từ tự nhiên nhưng đã được lao động của con người cải tạo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của sản xuất, xã hội
Tóm lại, chính nhờ năng lực lao động và khả năng sáng tạo của con người đã cải tạo những đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên thành những nguyên, vật liệu nhân tạo hiện đại với những tính năng cao như: siêu bền, siêu dẫn, siêu nhẹ, siêu cứng,… góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 301.2.3 Con người sáng tạo ra những tri thức khoa học và những công nghệ mới
Con người không chỉ có vai trò trong việc sáng tạo, cải tiến công cụ lao động, biến đổi tự nhiên thành đối tượng lao động hữu ích cho quá trình sản xuất mà còn phát huy tính tích cực của mình trong việc tạo ra những tri thức khoa học và công nghệ mới Không phải ngay từ đầu con người đã làm được việc đó, phải trải qua một thời gian khá dài tiến hành hoạt động sản xuất con người mới dần nhận thức được bản chất của các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Chính trong quá trình đó, con người không chỉ hoàn thiện các thao tác, kỹ năng lao động mà còn không ngừng phát triển nhận thức của mình và đã hình thành nên các môn khoa học như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn,…
Với đặc tính chủ động, sáng tạo con người đã kết hợp khoa học với kỹ thuật, tạo ra những công nghệ tiên tiến đem lại những biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống con người Chẳng hạn: công nghệ thông tin, quan trọng nhất là máy tính điện tử nối mạng quốc gia và quốc tế, các sản phẩm phần mềm,… có thể mang lại năng suất và chất lượng lao động cao trong quá trình sản xuất phi vật chất, công nghệ tự động hóa thông qua việc sử dụng máy tự động, mấy công cụ điều khiển bằng số, rôbốt,… tạo ra năng suất cao trong ngành sản xuất vật chất; công nghệ vật liệu mới có tính năng, tác dụng hơn hẳn những vật liệu sẵn có trong tự nhiên Trong tiêu dùng có công nghệ sợi tổng hợp vitcô, polyeste, công nghệ nhựa polymer Trong công nghiệp có công nghệ chất bán dẫn, vật liệu tổ hợp composit,… những vật liệu mới này
đã và đang mở ra triển vọng cho các ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao; công nghệ sinh học với kỹ thuật lên men, kỹ thuật vi sinh,… được ứng dụng rộng rãi Trong công nghệ năng lượng thể hiện ở nguồn năng lượng mới và nguồn năng lượng tái sinh như: năng lượng mặt trời, chiều nhiệt, sức gió,…
Trang 31mở ra con đường giải quyết một cách tương đối triệt để vấn đề nguồn năng lượng của loài người
Như vậy, khoa học và công nghệ là sản phẩm của quá trình hoạt động nhận thức của con người, là sản phẩm của sự phát triển trí tuệ con người Đồng thời, chính con người đã quyết định việc sử dụng những loại tri thức khoa học nào vào sản xuất và sử dụng như thế nào để sản xuất có hiệu quả Điều đó có nghĩa là, con người không chỉ sáng tạo ra khoa học và công nghệ
mà còn sử dụng chính những công nghệ đó để cải tạo đối tượng lao động, chế tạo và cải tiến công cụ lao động
Với ý nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể sử dụng mọi yếu tố của LLSX, con người là yếu
tố quyết định sự phát triển của LLSX Bởi chỉ có con người mới có trí tuệ, có năng lực tự phát triển, tự hoàn thiện mình Nếu không có con người sẽ không
có quá trình sản xuất và do đó cũng không có LLSX Mặt khác, sản xuất vật chất là nền tảng cho sự tồn tại và sự phát triển của xã hội loài người, nên chúng ta có thể suy rộng ra: con người là nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của lịch sử
1.2.4 Con người được coi là nguồn lực cơ bản cho việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Các nguồn lực phát triển kinh tế của một quốc gia bao gồm: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ, trong đó con người đóng vai trò quyết định trong các nhân tố của sự phát triển, thế nhưng nhận thức được vấn đề trên là cả một quá trình
Giai đoạn đầu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, người ta cho rằng điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển, cho nên các quốc gia hướng ưu tiên nhằm vào tìm kiếm sự phong phú
về tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế - xã hội Lúc này vai trò của con người bị che lấp bởi lợi thế tuyệt đối về điều kiện tự nhiên
Trang 32Đến những năm 60 của thế kỷ XX, với những thành tựu phát triển mạnh
mẽ của khoa học - kỹ thuật, người ta cho rằng sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật có thể giải quyết mọi vấn đề xã hội Với ý nghĩa đó, họ coi khoa học là trung tâm và ưu tiên tìm kiếm nguồn lực ở công nghệ Theo mô hình này, con người này đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu và phụ thuộc vào kỹ thuật - công nghệ, sức lao động được coi như một yếu tố của chi phí sản xuất cần hạn chế tới mức tối thiểu
Hiện nay, đứng trước thực trạng do khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên dần dần đang đến mức cạn kiệt, khan hiếm Và nếu đề cao kỹ thuật quá mức làm tha hóa con người và lãng phí tiềm năng sáng tạo của con người, biến con người trở thành những cái xác không hồn Sự phát triển dựa trên kỹ thuật thuần túy đã đe dọa trực tiếp đến kinh tế - xã hội của đất nước Yêu cầu cấp bách là phải thay đổi chiến lược phát triển nhận thức rõ tầm quan trọng của con người, hướng tới nguồn lực con người Vai trò của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển kinh tế có thể nhấn mạnh ở những điểm sau:
- Người lao động là nguồn lực chủ yếu trong các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ,…) quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực còn lại Nếu không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lực lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và lòng nhiệt tình,… thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực khác Thậm chí thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể dẫn đến lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác
- Lao động là một bộ phận của dân số nên sẽ tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của xã hội Như vậy, với tư cách là nguồn lực thì lao động trực tiếp tham gia tạo cung của nền kinh tế, nhưng với tư cách là bộ phận của dân số thì lao động tham gia tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ của xã hội và như vậy nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế Có thể thấy điểm khác biệt cơ bản giữa nguồn lực lao động với các nguồn lực khác đó
Trang 33chính là nó vừa tham gia tạo cung, tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ cung - cầu gắn với các thể chế kinh tế - xã hội do con người tạo nên Hơn nữa, nguồn lực lao động còn là chủ thể sáng tạo ra công nghệ, thiết
bị và sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Nói cách khác, con người không chỉ sản xuất thỏa mãn nhu cầu mà còn tạo ra nhu cầu để sản xuất
Chính vì con người đóng vai trò là nhân tố quyết định trong lực lượng sản xuất và sự phát triển, tiến bộ của xã hội nên ngày nay, nhiều quốc gia đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Để phát huy nhân tố con người, các nước đặc biệt quan tâm đến giáo dục, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sức lao động, đầu tư cho tương lai Cho nên, không phải ngẫu nhiên người Nhật Bản trong kế hoạch phát triển đất nước đã đặt giáo dục vào hệ thống ba chiến lược: giáo dục, khoa học và mở cửa Thực
tế là họ đã nhận thức đúng vai trò và nguồn lợi của giáo dục đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội
Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu và động lực phát triển kinh tế là vì con người và do con người cho nên các hoạt động đổi mới được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều hướng tới phát triển con người, phát huy năng lực con người Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã khẳng định một số quan điểm chỉ đạo việc kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội: mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của yếu tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, với nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội và thực hiện chính sách xã hội chính là động lực phát triển kinh tế
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Châu
Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này Phía bắc giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, phía đông và nam giáp
biển Đông (Thái Bình Dương) Việt Nam có “diện tích là 331.680 km 2 , bao gồm 327.480 km 2 đất liền và hơn 4.200 km 2 biển nội thủy với hơn 2800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ,… và có chiều dài bờ biển là 3260 km” [15, tr.9]
Địa hình Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc Bộ và Nam Bộ) ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung Bộ) Địa hình miền Bắc tương đối phức tạp Địa hình miền Trung trải dài với dải Trường sơn dọc phía tây về giải đồng bằng ven biển Địa hình miền Nam bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúa của cả nước, hàng năm tiếp tục lấn ra biển hàng trăm mét
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Chính điểm này, đã làm cho thiên nhiên của nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ như ở Tây
Á, Châu Phi và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình hoạt động kinh tế của con người Việt Nam
Việt Nam nằm gần trung tâm của khu vưc Đông Nam Á, có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng, thuận lợi cho chúng ta giao lưu dễ dàng về kinh
tế và văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 35Về tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam thì vô cùng phong phú và đa dạng Biểu hiện:
Về tài nguyên nước: Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) bồi đắp nên hai châu thổ lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam có mạng lưới sông ngòi phân bố đều khắp từ bắc tới nam với lưu vực lớn, nguồn thủy sản phong phú, tiềm năng thủy điện dồi dào cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt hằng ngày của con người
Về tài nguyên rừng: Rừng ở Việt Nam phân bố không đồng đều giữa các vùng, tập trung nhiều ở các vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung bộ Hằng năm, cung cấp một lượng lớn gỗ dân dụng và gỗ củi cho hoạt động của con người trong khắp cả nước Ở nước ta,
có các loại rừng như: rừng ngập mặn, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, có các khu bảo tồn thiên nhiên như Bù Gia Mập, Bình Châu,… Rừng có tác dụng rất
to lớn như tham gia điều hòa dòng chảy cho các con sông lớn như: sông Hồng, sông Cửu Long,… và ngăn lũ lụt, chống xói mòn đất, chống sự xâm nhập mặn từ nước biển vào, là nơi trú ngụ của nhiều loài động, thực vật quý hiếm, là lá phổi xanh cung cấp ô xi cho con người
Về tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng: than (trữ lượng khoảng 6 tỉ tấn); dầu khí (ước trữ lượng dầu mỏ khoảng
3 - 4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50 - 70 tỷ mét khối); và còn rất nhiều loại khoáng sản khác như urani, kim loại đen (sắt, mangan,…), kim loại màu (nhôm, đồng, vàng,…)
Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi, nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế rất sôi nổi của thế giới, có hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại,
có hệ thống đường giao thông giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới đa dạng như: đường sắt, đường thủy, đường hàng không Có nguồn tài
Trang 36nguyên thiên nhiên phong phú rất thuận lợi cho chúng ta hoạt động kinh tế để phát triển đất nước
Tuy nhiên, về điều kiện tự nhiên ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế như:
- Nước ta nằm trong vùng có nhiều thiên tai do thiên nhiên tạo ra như bão, lũ lụt, hạn hán nên gây tổn thất rất nhiều cho nền kinh tế và đời sống của nhân dân
- Đất nước ta kéo dài từ Bắc tới Nam làm cho giao thông xuyên Việt tốn kém, khó khăn trong việc điều hành quản lý kinh tế
- Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề như tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng, tài nguyên nước ô nhiễm nặng nề,… ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Về kinh tế
Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi Đảng ta chủ trương đổi mới đất nước (1986), kinh tế nước ta đã có nhiều biến đổi như: Nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng cao, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống của nhân dân được nâng cao, vai trò và vị trí của nước
ta trên trường quốc tế được khẳng định “Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,87 %, thu nhập bình quân đầu người là 1168 USD/ năm” [33, tr.10]
Nền kinh tế nước ta mặc dù đang có sự chuyển dịch theo xu hướng giảm
tỉ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp - dịch vụ nhưng sự chuyển dịch này còn rất chậm Nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn dựa vào nền nông nghiệp lạc hậu, kỹ thuật thô sơ Trong các ngành công nghiệp, hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới Các chỉ tiêu chủ yếu như tiêu hao nhiên liệu, vật liệu thường gấp 1,5 đến 2 lần
so với mức chung của thế giới, giá thành sản phẩm cao, mức cạnh tranh thấp
Năng suất lao động thấp (chỉ đạt 30 % mức trung bình của thế giới), “một lao
Trang 37động nông nghiệp ở Việt Nam nuôi được 3 người, trong khi đó tỷ lệ này ở Mỹ
là 1/30” [14, tr.14]
*Về dân số
Việt Nam là một quốc gia có mật độ dân số khá đông, tổng dân số năm
2011 xấp xỉ 88 triệu người (dự đoán khoảng 87,84 triệu người), là nước có dân số đông đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á (nguồn: www Báo mới.com) Dân số Việt Nam có cơ cấu trẻ, năng động, sáng tạo, luôn tìm tòi cái mới, trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 51,3 triệu người chiếm 56%, đây là nguồn lực quý giá nhất góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của đất nước Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó lợi thế về nguồn nhân lực được đánh giá là yếu tố quan trọng nhất
Tuy nhiên, dân số nước ta phân bố không đều giữa các vùng, khoảng 80% dân số sống tập trung ở các vùng đồng bằng và ven biển, còn ở các vùng núi thì dân cư sống thưa thớt Sự phân bố dân cư không đều còn thể hiện giữa
thành thị và nông thôn, “khoảng 70,4% số dân sống ở nông thôn, còn ở thành thị chiếm khoảng 29,4% (năm 2010)” [32, tr.118] Nhưng nhìn chung, nguồn
nhân lực ở nước ta dồi dào, có đức tính chịu khó trong lao động và kinh nghiệm sản xuất, lực lượng lao động chuyên môn cao
Hằng năm, tốc độ tăng dân số ở Việt Nam rất cao, “mỗi năm tăng khoảng trên 1 triệu người (từ năm 2006 dến 2010 dân số mỗi năm tăng lên khoảng 1,08%)” [29, tr.128] Tốc độ tăng dân số cao là nhân tố bổ sung về số
lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên chúng ta lại gặp khó khăn trong vấn đề giải quyết việc làm Nhưng tỷ lệ tăng cơ học ở nước ta cao do thu hút nhiều dân
cư từ nước ngoài vào, chính điều này đã có tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động của Việt Nam, tạo nên tính cạnh tranh ngày càng cao trong việc tìm kiếm việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 38* Về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của nước ta ngày càng hiện đại, mọc lên nhiều trung tâm kinh tế lớn, ngoài thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh ra còn nhiều trung tâm kinh tế phát triển mạnh mẽ như: Đà Nẵng, Hải Phòng,… Hệ thống thông tin liên lạc ngày càng hiện đại như: mạng internet, mạng điện thoại di động phủ sóng khắp cả nước và nhiều quốc gia khác trên thế giới, hệ thống điện lưới đã về đến các bản làng của các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa,… thuận lợi cho việc làm ăn và sinh hoạt của mọi người, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao
Hệ thống đường giao thông vận tải ngày càng được mở rộng trên tất cả các loại đường: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu giữa các vùng trong nước với nhau và giữa nước ta với nhiều quốc gia khác trên thế giới về tất cả các lĩnh vực như kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…
* Về các chính sách xã hội
Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ trên các mặt, việc gắn phát triển kinh
tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện
- Các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả, các cơ sở y tế từng bước được đầu tư vật chất, trang thiết bị hiện đại, các kỹ thuật tiên tiến được ứng dụng trong khám chữa bệnh
- Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng cao, góp phần tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp đổi mới hiện nay
- Khoa học và công nghệ có nhiều bước tiến bộ, đã tập trung hơn nhiều vào nghiên cứu ứng dụng, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 39- Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, việc xây dựng các quỹ “vì người nghèo”,… được quan tâm thực hiện có hiệu quả, các chính sách xã hội ngày càng được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng
đã tạo ra động lực phát huy nhân tố con người, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội,…
Tuy nhiên các chính sách về văn hóa, xã hội vẫn còn chư phù hợp với cơ chế kinh tế và theo kịp với yêu cầu phát triển của xã hội, chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp, vẫn còn tồn tại tệ quan liêu, lãng phí,…
2.2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định sức mạnh của nguồn nhân lực, nó bao gồm nhiều nhân tố như: sức khỏe, mức sống, trình độ giáo dục, đào tạo về văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, khả năng thích ứng, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, đạo đức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống,… Song khái quát lại, nó bao gồm: thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của con người nói chung và của con người Việt Nam nói riêng
2.2.1 Về thể lực
Thể lực của con người được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con người (chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm và sức chịu đựng,…) hoạt động theo những chức năng tự nhiên do cơ thể sinh học điều khiển và điều tiết Với sự phát triển nền kinh tế, nền văn minh xã hội, cơ thể sinh học của con người cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện theo quy luật tiến hóa
Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội
Trong những năm gần đây, tầm vóc và thể lực của con người Việt Nam đang được cải thiện về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh dưỡng và tuổi thọ