Phát triển nhân lực là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đối với mọi quốc gia và đặc biệt là được các nước đang phát triển quan tâm.. PBC được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HÓA Ở BẮC NINH ( VIỆT NAM) HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
GV Nguyễn Thị Thùy Linh
HÀ NỘI – 2012
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3Nhân lực của mỗi quốc gia hay mỗi địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động có trong một thời điểm xác định, bao gồm các nhóm yếu tố biểu thị về thể chất, trí tuệ, năng lực, tính năng động và phẩm chất đạo đức Phát triển nguồn lực con người là quá trình biến đổi nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình dộ chất lượng này đến trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn Đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp phát triển đất nước Phát triển nhân lực là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội đối với mọi quốc gia và đặc biệt là được các nước đang phát triển quan tâm
Nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn lực con người là một trong những trọng điểm cho chiến lược phát triển, là chính sách xã hội cơ bản,
là hướng ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ chính sách kinh tế - xã hội của Đảng
và Nhà nước ta nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng khi chuyển sang giai đoạn phát triển CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế
Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “con người là vốn quý nhất, chăm lo
hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi viêc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định nhất đến thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải phòng - Quảng Ninh, là tỉnh có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, về con người và các tiềm năng phát triển khác
Để khai thác có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực sẵn có cũng như tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi trong hoàn cảnh mới, nhằm thực hiện
Trang 4mục tiêu xây dựng Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015
và trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020 Việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 Đồng thời phát triển nhân lực còn vì lợi ích thiết thân của chính bản thân mỗi người lao động trong việc nâng cao trình độ, kỹ năng tay nghề, năng lực xã hội và sự nghiệp phát triển con người của mỗi cá nhân và cộng đồng
Tuy nhiên việc phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu đạt được thì còn rất nhiều hạn chế
Do đó chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến việc phát triển con người nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại
Hơn nữa, với tư cách là một sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
và cũng là một người con của Bắc Ninh, tôi muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong sự nghiệp CNH, HĐH của nước nhà nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Vậy, với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Quan điểm toàn diện với việc
phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Bắc Ninh (Việt Nam) hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Con người luôn là trung tâm của mọi học thuyết khoa học xã hội, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới Do vậy đây cũng là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác
giả Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau: “lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc
Ninh” (1926 – 2008), đã đưa ra và lý giải các động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn nhân lực với tư
Trang 5cách là động lực của sự phát triển Bên cạnh đó còn có đề tài khoa học của
Th.s Phan Văn Trung “Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình CNH,
HĐH ở Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến nay – kinh nghiệm và giải pháp”,
trường Đại học KHXH và nhân văn Đề tài đã phần nào tìm hiểu nguồn nhân lực dựa trên nhu cầu nhân lực của tỉnh trong giai đoạn hiện nay
Những công trình nghiên cứu trên những góc độ khác nhau đã từng bước làm rõ được vai trò của phát triển nguồn nhân lực cũng như thực trạng, phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên nghiên cứu nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH của tỉnh Bắc Ninh thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc Do đó, để góp phần tìm hiểu vấn đề này kỹ hơn, tác giả
đã chọn đề tài “Quan điểm toàn diện với việc phát triển nguồn lực con người
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh (Việt Nam) hiện
Nhiệm vụ
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về quan điểm toàn diện
- Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực ở Bắc Ninh hiện nay
- Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện
Trang 64 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm toàn diện với việc phát triển nguồn lực con người
Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay
Không gian: nghiên cứu ở tỉnh Bắc Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp lôgic và lịch sử
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh và đối chiếu
6 Ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài, trước hết có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân
tác giả trong việc củng cố kiến thức, tiếp cận vấn đề con người dưới góc độ triết học, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học Đồng thời đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm tới triết học và vấn
đề phát triển nguồn nhân lực hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu khóa luận gồm 3 chương và 7 tiết
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
1.1.1 Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1.1.1 Khái quát về phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng (PBC) ra đời ngay từ khi triết học ra đời, trong quá trình phát triển, PBC trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn PBC có 3 hình thức phát triển cơ bản đó là: PBC chất phác, PBC duy tâm, PBC duy vật
Thời cổ đại, do trình độ tư duy của con người chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới Triết học
Phương đông, PBC thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm- Dương”, “thuyết Ngũ-
Hành” của triết học Trung Hoa Cổ trung đại Trong thuyết âm dương, âm và
dương tồn tại trong mối liên hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất giữa cái bất biến với cái biến đổi, giữa cái duy nhất với cái số nhiều, đa dạng phong phú Trong thuyết ngũ hành năm yếu tố Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc với nhau Các yếu tố đó tác động chuyển hóa lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy định lẫn nhau tạo ra sự biến
đổi trong vạn vật Triết học Phương Tây, tư tưởng biện chứng được thể hiện
sâu sắc nhất thông qua tư tưởng của nhà triết học Hêracrit, ông được coi là
ông tổ của PBC với câu nói nổi tiếng “không ai tắm hai lần trên một dòng
sông” [1; 27] Phép biện chứng của ông phản ánh sự vận động, biến đổi của
thế giới vật chất nhờ đó phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật hiện tượng
PBC duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học Hêghen - một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ
Trang 8VIII, đầu thế kỷ XIX Hêghen là người xây dựng hoàn chỉnh PBC duy tâm
Tính chất duy tâm trong PBC của Hêghen thể hiện ở chỗ ông coi: “ý niệm
tuyệt đối” là cội nguồn của thế giới Tha hóa thành ý niệm và vận động của
giới tự nhiên và xã hội cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần thế giới Thực chất PBC duy tâm khách quan của Hêghen là PBC của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật Tuy nhiên, PBC cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy của nhân loại nhưng với hạn chế là PBC duy tâm nên nó chưa thể trở thành cơ sở lý luận cho 1 thế giới khách quan khoa học
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu lý luận của các nhà triết học trước
đó, dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên thời ấy và thực tiễn xã hội vào giữa thế kỷ XIX C Mác và Ănghen đã tiếp thu có phê phán triết học của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phơbách để xây dựng nên phép biện chứng của mình Đối với Hêghen, khi nói tới PBC
của ông, C.Mác đã từng nhận xét: “…ở ông phép biện chứng cắm đầu xuống
đất chỉ cần dựng ngược nó lại là sẽ thấy được bộ mặt hoàn toàn có lý của nó”
[3; 34]
C.Mác đã tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn, do vậy bản chất PBC của C.Mác cao hơn về chất so với PBC của Hêghen Ông nói:
“phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp biện
chứng của Hêghen về căn bản mà nó còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập, chính chúa sáng tạo ra thế giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của ý niệm mà thôi Trái lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh
sự vận động hiện thực, di chuyển và biến hình trong đầu óc con người” [3;
27] Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn đó là tính phê phán đối với
Trang 9mọi quan điểm sai trái, với những quan điểm siêu hình và đối với mọi chủ nghĩa chiết trung, phản động Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác
đó là Đuyring - giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học và kinh tế học Ăngghen đã phản đối và kịch liệt phê phán quan điểm của Đuyring trong tác
phẩm “Chống Đuyrinh”, trong tác phẩm này Ăngghen đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về PBC “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên của xã hội và của tư duy” [2; 39]
Sau này cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Lênin đã phát triển thêm học
thuyết của Mác - Ăngghen về PBC và chỉ rõ: “có thể định nghĩa vắn tắt phép
biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Như thế người
ta sẽ nắm được hạt nhân của phép biện chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có
sự giải thích và một sự phát triển thêm” [10; 240]
Như vậy, đến Mác, Ăngghen và Lênin thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong PBC ấy Nó đã khắc phục được những hạn chế của PBC chất phác thời cổ đại
và những thiếu sót của PBC duy tâm khách quan thời cận đại PBC đã khái quát những quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển của thế giới PBC duy vật trở thành một khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn
bị nhất trong lịch sử PBC
PBC được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý (nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển); những phạm trù cơ bản (sáu cặp phạm trù: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; nguyên nhân và kết quả; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; bản chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực); những quy luật (quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định)
Trang 10Trong hệ thống của PBC đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một nguyên
lý cơ bản
1.1.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*) Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được đặt ra là: Một, các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập tách rời nhau?
Hai, nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó? Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu hỏi đó có rất nhiều những quan điểm khác nhau Trả lời cho câu hỏi thứ nhất những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài mang tính ngẫu nhiên Tuy vậy, trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số quan điểm cho rằng các sự vật, hiện tượng có mối quan hệ và liên hệ rất đa dạng, phong phú song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau,
chẳng hạn: “giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì với nhau, tồn tại
độc lập không thâm nhập vào nhau: tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động” [1; 208]
Ngược lại, những người theo quan điểm duy vật biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau của thế giới vừa tồn tại độc lập vừa quy định tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn sự gia tăng dân số sẽ tác động trực tiếp đến kinh tế, xã hội không chỉ trong một nước
mà trên toàn thế giới
Trang 11Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan
và chủ nghĩa duy tâm chủ quan tả lời rằng: cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một hiện lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người (đại biểu của chủ nghĩa duy tâm khách quan là Praton) Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan Beccơli cho rằng: cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
Hêghen xuất phát từ lập trường khách quan lại vạch ra rằng: “ý niệm tuyệt
đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở liên hệ giữa các sự vật, hiên tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu song chúng đều chỉ là dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xá định Chính trên những cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng: mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ
sự quy định sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại với nhau Bản chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại của chúng với sự vật, hiện tượng khác Chúng ta chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một con người cụ thể thông qua mối liên hệ sự tác động của chính người ấy Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vận dụng và hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con người
Trang 12*) Các tính chất của mối liên hệ
Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng đều có các tính chất sau:
- Tính khách quan: theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm
đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người Sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Ngay cả những vật vô tri vô giác cũng đang hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác như (ánh sáng, nhiệt độ, áp suất đôi khi cũng chịu sự tác động của con người) Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tụi nhiên dù muốn hay không cũng luôn luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân con người Không chỉ chịu sự tác động của
tự nhiên, con người còn chịu sự tác động của xã hội, của những người khác Chính con người và chỉ có con người mới tiếp nhận quan hệ,mối liên hệ chằng chịt Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục
vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và bản thân con người
- Tính phổ biến: không chỉ mang tính khách quan, mối liên hệ còn mang
tính phổ biến Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia nào lại không có quan hệ, không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa mọi mặt của đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, chất lượng giáo dục…
Trang 13Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất định Song dù tới hình thức nào chúng cũng chỉ biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất Những hình thức liên hệ riêng
rẽ, cụ thể được các khoa học cụ thể nghiên cứu PBC duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát của thế giới Bởi thế Ăngghen viết:
“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” [4; 455]
Cùng với những lý do trên, triết học gọi những mối liên hệ phổ biến, nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng nhiều vẻ của nó
- Tính đa dạng: Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng đó thành từng
loại tùy theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp mà có thể khái quát thành những mối liên hệ khác mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất Các mối liên hệ phổ biến của các sự vật với nhau Dựa vào tính đa dạng
đó, các hiện tượng trong thế giới được khái quát trong những cặp phạm trù cơ bản của PBC:
Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
Mối liên hệ giữa cái tất yếu và ngẫu nhiên
Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả
Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng
Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức
Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây, có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên trong là sự tác độngphân chia
ra các qua lại, sự quy định chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự
Trang 14vật, hiện tượng Mối liên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận động và phát triển của sự vật Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự tồn tại, sự vận động và phát triển của sự vật Chẳng hạn, sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết
và chủ yếu được quyết định bởi chính người đó (trình độ, năng lực, tâm lý…),
sự tác động bên ngoài (nghệ thuật truyền thụ tri thức, cơ sở vật chất), dù có
tốt, có đầy đủ bao nhiêu chăng nữa mà người học “nghe tai này, ra tai kia” thì
người đó không bao giờ lĩnh hội được tri thức, đặc biệt là những tri thức khoa học được tiếp cận lần đầu tiên Các cặp mối liên hệ khác cũng có mối liên hệ nêu trên (đương nhiên mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng)
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt sích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính sự vật Chẳng hạn, khi xem xét lĩnh vực đức dục - trí dục - mĩ dục - thể dục như là những lĩnh vực khác biệt thì mối liên hệ qua lại giữa chúng với nhau là mối quan hệ bên ngoài Nhưng nếu coi chúng là bốn lĩnh vực cơ bản của công tác giáo dục trong nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách, xây dựng con người mới thì mối liên hệ giữa chúng với nhau lại trở thành mối liên hệ bên ngoài
Tuy nhiên sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ đó lại
có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp để đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
Như vậy, có thể khẳng định bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới luôn tồn tại trong mối liên hệ mật thiết vối các sự vật, hiện tượng khác Do đó
Trang 15muốn tìm hiểu về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải đặt nó trong mối liên hệ, quan hệ với xung quanh nghĩa là phải xem xét một cách toàn diện, đó cũng chính là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ mối liên hệ phổ biến
1.1.1 3 Một số nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*) Nội dung nguyên tắc toàn diện
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của PBC duy vật, các nhà duy vật đã rút ra quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng Như đã tìm hiểu ở trên, vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ rất đa dạng, phong phú do đó khi nhận thức được
sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh rơi vào quan điểm phiến diện chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội
kế thay tính quy luật của chúng Chẳng hạn, khi tìm hiểu nguyên nhân vì sao một học sinh học kém trước hết phải xem xét khả năng nhận thức của học sinh, tiếp đến là phương pháp học, điều kiện học tập, ý thức học tập của học sinh, phương pháp giảng dạy của giáo viên…có như vậy mới mong tìm ra nguyên nhân khắc phục tình trạng học kém cho học sinh đó
Trên cơ sơ quán triệt toàn diện trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra những yêu cầu sau:
Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật đó với sự vật khác Cần tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một hoặc một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến
kết luận về bản chất sự vật như Lênin đã từng nói “muốn thực sự hiểu được sự
Trang 16vật cần nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mồi liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó” [9; 26] Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận
thức đúng về sự vật Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức khoa học của triết học chúng ta cần phải tìm ra mối liên hệ giữa tri thức triết học và tri thức khoa học và hoạt động của con người, nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội Một trong những nguyên nhân làm người học không nắm vững tri thức triết học chính là do người học không biết liên hệ với tri thức của các khoa học khác
Thứ hai, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý đến mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất…để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân Chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, tránh cách xem xét dàn trải, liệt kê dẫn đến sự đánh đồng ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau đó Cần phải đi từ tri thức nhiều mặt, đi từ nhiều mối liên hệ của sự vật để khái quát để làm nổi bật lên cái cơ bản nhất, quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng đó Đương nhiên, trong nhận thức và hoạt động chúng ta cần phải lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định Trong quan hệ giữa con người với con người Ngay cả quan hệ với một người nhất định trong những không gian, thời gian khác nhau chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ông cha ta đã từng nói
Trang 17hoặc ngược lại phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện tượng Do đó trong hoạt động thực tế theo quan điêm toàn diện khi tác động vào sự vật, chúng ta phải chú ý đến mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác mà còn phải biết
sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Ví dụ để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh thì một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước, mặt khác chúng ta phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa đưa lại
Nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi mang tính tổng hợp quán triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa nhận thức của con người tới chân lý Một khi xa rời những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì chân lý sẽ trở thành sai lầm
Tóm lại, qua tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể Đây là những nguyên tắc, phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận này chúng ta
Trang 18đi sâu tìm hiểu về việc vận dụng quan điểm toàn diện với việc phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH ở Bắc Ninh hiện nay
1.1.2 Nguồn lực con người
*) Khái niệm nguồn lực con người
Việc xem xét nhân tố con người với tư cách là một nguồn lực cơ bản trong sự phát triển kinh tế - xã hội đã dần hình thành khái niệm mới Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực Nguồn lực con người được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều góc độ khác nhau
Theo giáo trình “quản lý nguồn nhân lực” của Học viện hành chính quốc
gia thì nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên phạm vi một địa phương, một ngành hay một vùng
Theo GS.TS khoa học Phạm Minh Hạc thì: nguồn nhân lực được hiểu là
số dân và chất lượng con người Bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe
và trí tuệ, năng lực và phẩm chất
Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố con người được đề cập đến với tư cách là LLXS chủ yếu, là phương tiện để sản xuất của cải Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhất trong
xã hội Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động theo nhu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất, đảm bảo tăng trưởng kinh tế - xã hội Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn
bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, v v)
mà mỗi cá nhân sở hữu Ở đây, nguồn lực con người đang được coi là nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhưn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư
và được coi là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Trang 19Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có mà còn là một tập hợp đa phức gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người Trong bài phát biểu khi gặp gỡ các doanh nghiệp, các nhà khoa học công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh: nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ, tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta Điều khẳng định trên có ý nghĩa rất quan trọng, định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng nhân lực
Ngoài ra cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua
tìm hiểu khái niệm “Phát triển nguồn nhân lực” Nếu dịch từ cụm từ tiếng
Anh thì phát triển nguồn nhân lực con người là Human Resouce Developmen (HRD) Còn trong phát triển con người nói chung là Human Developmen (HD) Khái niệm về phát triển con người (HD) nguồn lực con người được đề cập đến như một mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, như là chỉ tiêu về thành tựu kinh tế của dân tộc Ngược lại, phát triển nguồn lực con người (HRD) có xu hướng tập chung vào các hoạt động, nhằm nâng cao khả năng thực hiện các vai trò sản xuất của con người như trí tuệ, kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức lãnh đạo và quản lý…Ở đây có sự khác biệt, nội hàm khái niệm phát triển nguồn lực sâu hơn, hẹp hơn nội hàm phát triển con người
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người là toàn
bộ tiềm năng con người nói chung, để con người có thể đóng góp những tiềm năng đó vào sự phát triển kinh tế - xã hội thì phải khơi dậy và phát huy tiềm năng đó Quá trình này bao gồm nhiều vấn đè như tạo việc làm và sử dụng lực lượng lao động, phát huy tiềm năng trí tuệ và yếu tố tinh thần tạo ra những kích thích và động cơ lao động Trong đó, giải quyết việc làm và sử dụng nguồn lao động là một nội dung của sử dụng và phát huy nguồn lực con người
Trang 20Để hiểu rõ hơn quan niệm về nguồn lực con người có thể đi sâu phân tích và làm rõ hơn cấu trúc nguồn lực con người và vai trò của nó đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
*) Kết cấu nguồn lực con người
Để tiến hành CNH, HĐH đất nước, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Đây là sự phát triển quan điểm truyền thống, coi con người là vốn quý nhất
Trước đây, khi nói đến nguồn lực con người người ta thường đồng nhất với sức người trong sản xuất Từ quan niệm cơ bản này, dễ dẫn đến ngộ nhận sức người (sức lao động) trong hoạt động lao động sản xuất chỉ là sức của cơ bắp Nguồn lực con người trước tiên thể hiện ở sức người trong sản xuất, song không phải chỉ là sức cơ bắp mà cái cốt lõi, cái chủ yếu trong nguồn lực con người ở thời đại hiện nay chính là hàm lượng trí tuệ, là những phẩm chất tâm
lý, đạo đức, khả năng lao động, sáng tạo hiệu quả của con người Nguồn lực con người được hiểu như là sự kết hợp giữa thể lực, trí lực, những phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm của từng người, của cộng đồng, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người Nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ số phát triển mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào sự phát triển tiếp theo của toàn xã hội vì lợi ích của cá nhân và xã hội
Từ đó có thể thấy, nguồn lực con người hiện nay là tiêu chí phản ánh về
số lượng trong dân cư, cụ thể đó là:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: bao gồm những người nằm trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động
- Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế: đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 21- Nhân lực dự trữ bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà họ chưa có công việc ngoài xã hội
Hiện nay, trong quá trình CNH, HĐH người ta quan tâm chủ yếu nhất đến:
- Lực lượng công nhân lành nghề: gồm những người có trình độ sơ cấp, trung học trở lên, có bằng cấp, có trình độ chuyên môn cao và chuyên môn nghiệp vụ vững chắc làm việc trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, trực tiếp điều hành công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn
- Nhân lực chuyên gia: gồm những người có trình độ rất cao từ sau, từ sau Đại học trở lên, gồm các chuyên gia khoa học công nghệ
- Nhân lực quản lý: là những chính trị gia, cán bộ quản lý ngành, nghề, lĩnh vực các cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh
Do đó, vấn đề phát triển nguồn lực con người là việc phát triển số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối giữa các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa vùng, các miền của đất nước, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội
Chất lượng nguồn lực con người là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, mức độ thành thạo trong công viêc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương đất nước,
ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia đình và
xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị Trong các yếu tố đó thì phẩm chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành của conngười, quy định phương pháp tư duy, nhân cách lối sống của mỗi con người
Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vây,
Trang 22chất lượng lao động cũng bị hạn chế Chất lượng nguồn lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội
Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con người có chất lượng ngày càng cao Muốn thực hiện được điều đó, trước hết phải thực hiện tốt quá trình CNH, HĐH đất nước
1.1.3 Tính tất yếu của quá trình CNH, HĐH
*) Khái niêm CNH, HĐH
Ở thế kỷ XVII, XVIII khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây
Âu, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc Những khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm CNH nói riêng
mang tính lịch sử tức là chúng luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của
nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ Do đó việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc đưa ra khái
niệm: “CNH là quá trình phát triển kinh tế Trong quá trình này, một bộ phận
ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội” [5; 21]
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức nhân loại và công nghiệp hóa vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, Hội nghị BCH TW lần thứ VII (khóa VII) đã xác định CNH phải gắn liền với HĐH và đưa ra khái
Trang 23niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng xuất lao động
Nước ta đi lên CNXH với xuất phát điểm là nền nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư nông thôn có mức thu nhập thấp, sức mua hạn chế Vì vậy, CNH là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưỏng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân, thực hiện công bằng tiến bộ
xã hội, bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái
Trang 24Quá trình CNH tạo ra cơ sở vật chất làm biến đổi về chất lượng sản xuất nhờ đó mà nâng cao vai trò của người lao động - nhân tố trung tâm của nền kinh tế XHCN tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu CNH mang lại, là cơ
sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc dưới giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng XHCN đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước
Quá trình CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ, vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, miền trở nên thống nhất cao hơn
CNH không ngừng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hóa nền quốc phòng an ninh Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn với sự nghiệp văn hóa kinh tế và xã hội
Thành tựu CNH tạo tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh Thành công của sự nghiệp CNH nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Chính vì vậy mà CNH kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm xuốt thời kỳ quá độ lên CNXH Việt Nam lựa chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ TBCN
từ một nền kinh tế thủ công lạc hậu cho nên tất yếu phải thực hiện CNH, HĐH
Trang 25Tính tất yếu khách quan phải thực hiện CNH, HĐH ở nước ta bắt nguồn
từ đòi hỏi khách quan phải sớm khắc phục tình trạng đói nghèo lạc hậu và tạo
cơ sở kinh tế - xã hội để củng cố dân tộc Ngày nay, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm cho sự tách biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo như nước ta, hoặc là vươn lên trong thế giới hiện đại hoặc là tụt hậu và tồn tại trong cảnh đói nghèo, phụ thuộc Chỉ có CNH, HĐH mới đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh, mới giữ được ổn định chính trị, xã hội mới bảo vệ được độc lập, chủ quyền và phát triển tiến lên CNXH
Quá độ lên CNXH đòi hỏi phải tạo lập được cơ sở vật chất kỹ thuật tương xứng
Cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi phương thức sản xuất là tổng thể hữu cơ các yếu tố vật chất - kỹ thuật của lực lượng sản xuất xã hội đạt được trong những điều kiện lịch sử nhất định của tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo cho lực lượng xã hội ấy tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo ra những của cải vật chất và tinh thần CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân thực sự là một cuộc cải biến cách mạng sâu sắc toàn diện trước hết và chủ yếu
là từ phát triển lực lượng sản xuất tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại dẫn đến một loạt những hệ quả tất yếu và tác động tích cực đến tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội, hình thành nên những yếu tố của hình thái kinh tế mới
- xã hội XHCN Vì thế, CNH, HĐH là một tất yếu khách quan đối với các nước lớn CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN, từ một nền kinh tế
nông nghiệp còn kém phát triển như nước ta Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định “
phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, không ngừng nâng cao năng xuất lao động và cải thiện đời sống nhân dân” [6; 9]
Trang 261.2.Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc phát triển nguồn lực con người trong thời kì CNH, HĐH
1.2.1 Thể lực
Phát triển toàn diện nguồn lực con người là quá trình đào tạo bồi dưỡng làm tăng nguồn lực con người về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức…là quá trình khai thác có hiệu quả những yếu tố đó trong lao động, học tập chiến đấu nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc
Phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay cần được quan tâm trước hết về mặt thể lực (thể chất)
Thể lực của con người có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi người và của mỗi quốc gia Sự cường tráng về thể lực là cái vốn quý để tạo ra tài sản về trí tuệ và của cải vật chất cho cá nhân và cho xã hội Sự yếu đuối, què quặt về thể lực sẽ là trở ngại, là lực cản và là gánh nặng cho xã hội Thể lực con người có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội Bởi nhìn vào thực tế, chúng ta thấy một người dù tài giỏi, thông minh nhưng nếu không có sức khỏe thì sự thông minh, năng động ấy không thể phát huy một cách tối đa Đúng như câu nói
“có sức khỏe là có tất cả” tức là yếu tố thể lực của con người được đưa lên vị
trí hàng đầu để phát triển con người một cách toàn diện
Thể lực được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con người bao gồm chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm và sức chịu đựng…hoạt động theo những chức năng tự nhiên do cơ thể sinh học điều khiển và điều tiết Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế, nền văn minh
xã hội, cơ thể sinh học của con người cũng ngày càng hoàn thiện theo quy luật tiến hóa
Trang 27Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH, cả nhân loại bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế Nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao từ đó thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên Do vậy, phát triển yếu tố thể lực là một trong ba yếu tố nhằm xây dựng con người phát triển toàn diện, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, phù hợp với sự phát triển của thời đại
1.2.2.Trí lực
Xét từ góc độ tinh thần, phát triển con người toàn diện những thập niên đầu thế kỉ XXI, trước hết phải nói đến sự phát triển trí tuệ, tri thức, sự hiểu biết phát triển con người về mặt trí lực Bởi lẽ từ góc độ cá nhân, trí tuệ, tri thức là một trong những yếu tố không thể thiếu làm nên vẻ đẹp và sức mạnh con người trong xã hội hiện đại, là yếu tố không thể thiếu để con người phát huy năng lực chủ động, tích cực, sáng tạo
Từ góc độ xã hội, đó là yếu tố không thể thiếu trên con đường thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trí tuệ, tri thức con người Việt Nam cũng cần được nhìn nhận ở góc độ toàn diện đó không chỉ là những tri thức về văn hiến, văn chương, lịch đại như Nho giáo nhấn mạnh mà còn bao gồm những kiến thức khoa học, ứng dụng công nghệ, phát triển kinh doanh, sản xuất ở tri thức pháp luật…phục vụ cho sự phát triển
xã hội và con người Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, khi Viêt Nam tập trung vào thực hiện CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thì việc phát triển con người về tri tuệ cần được trang bị vững chắc kiến thức phổ thông làm nền tảng, kết hợp với đẩy mạnh hướng nghiệp, đào tạp nghề, với việc đào tạo đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ tinh thông, nắm bắt khoa học công nghệ, kỹ năng liên kết hợp tác để hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao Hơn nữa, phát triển con người về mặt trí lực trong thế kỷ XXI cần được quan tâm từ góc độ tư duy sáng tạo, khắc phục lối tư duy khuôn mẫu
Trang 28giáo điều, ưa thích nghi hơn sự năng động, sáng tạo của con người Việt Nam truyền thống Hiện nay ưu thế cạnh tranh của các quốc gia trong quá trình hội nhập không phải ở chỗ nguồn nhân lực đông mà ở chỗ nguồn nhân lực có chất lượng cao Phát triển trí lực con người là một chỉ số quan trọng, gia tăng chất lượng con người, cá nhân Từ góc độ quốc gia, đấy chính là gia tăng chất lượng dân số, gia tăng chỉ số năng lực cạnh tranh
Con người phát triển trí lực gắn liền với khả năng lao động sáng tạo Từ góc độ khác, sự trau dồi tri thức, làm giàu trí lực của mỗi cá nhân đã là một hình thức lao động đặc biệt của con người Mặt khác, dù ở xã hội nào con người cũng cần lao động - một loại lao động đặc biệt đã từng được nhấn mạnh như là một khía cạnh đặc trưng của loài người, là dấu hiệu có tính bản chất Lao động trong CNXH được coi là quyền cơ bản của con người Xã hội cần tạo điều kiện để con người thực hiện quyền cơ bản đó như một yếu tố để con người có điều kiện đảm bảo cuộc sống cá nhân, phát triển, hoàn thiện nhân cách
1.2.3.Phẩm chất đạo đức
Xây dựng xã hội XHCN Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI cần phải có những con người phát triển toàn diện, không chỉ về thể lực, trí lực, khả năng lao động mà cần có đạo đức, văn hóa của xã hội mới Về vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói một cách ngắn gọn đó là những con người
“vừa có đức, vừa có tài”, “vừa hồng, vừa chuyên” Cái “đức”, cái “hồng” ở
đây chính là phẩm chất, nhân cách, hệ giá trị của con người Việt Nam hiện đại, đó là sự chọn lọc, kết tinh các giá trị tinh thần truyền thống và tinh hoa nhân loại trước những yêu cầu của đất nước của thời đại đặt ra
Cho dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu Con người ở các quốc gia, các dân tộc khác nhau đang tiếp tục đẩy mạnh giao lưu để hội nhập để phát triển, song điều đó không có nghĩa con
Trang 29người đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, rời xa cội nguồn, bỏ rơi truyền thống Phát triển nhân cách, định hướng giá trị xã hội con người Việt Nam theo hướng toàn diện tuyệt đối, không bỏ quên điều này Bên cạnh những giá trị chung có tính toàn cầu mà thời đại đặt ra thì việc bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần truyền thống và bồi dưỡng phát triển hệ giá trị mới là điều cần được khẳng định Điều này được thể hiện trong những văn kiện lớn của Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) xác định: Con người Việt Nam mới là con người có ý thức làm chủ ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa và tình nghĩa giàu long yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược về văn hóa xã hội khẳng định: xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gia đình
ấm no, tiến bộ hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật
Như vậy, phát triển nguồn lực con người đó là những con người có năng lực trí tuệ ngang tầm thời đại, có đạo đức trong sáng, có ý thức công dân, có bản lĩnh văn hóa để có thể tiếp biến một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại mà không đánh mất bản sắc của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trang 30
Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở BẮC NINH HIỆN NAY
2 1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Bắc Ninh
2 1.1 Điều kiện tự nhiên
Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội trung tâm sứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng
và nền văn hóa lâu đời Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp thủ đô
Hà Nội, Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên khoảng 822,7km2, địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ vê sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến từ 300 - 400m Đồi núi chiếm diện tích rất nhỏ (0,53%) so với diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Về khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa
đông lạnh và không khác nhiều so với các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Hồng Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng trồng rau, hoa quả, chăn nuôi, tạo ra giá trị lớn trên một đơn vị diện tích
Về đặc điểm thủy văn: Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc,
mật độ lưới sông khá cao, trung bình từ 1 - 1,2 km/km2, có ba hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình
Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng trồng
Tổng diện tích đất rừng khoảng 619ha, phân bố tập trung ở Tiên Du, thành phố Bắc Ninh và Quế Võ
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thứ nhất về đặc điểm dân cư: Năm 2010, dân số trung bình của Bắc
Ninh là 1034,8 nghìn người Dân số Bắc Ninh đông, chủ yếu là người Kinh và phân bố rộng khắp trên tất cả các huyện, địa bàn trong tỉnh
Trang 31Thứ hai về kinh tế: Thì trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh giữ
vững sự ổn định và phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức độ cao
Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH
Thứ ba về giao thông: Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát
triển giao thông vận tải, có các tuyến đường huyết mạch chạy qua như quốc lộ
1, quốc lộ 18, quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn Tính đến nay toàn tỉnh có 375km đường quốc lộ trải nhựa, 290km đường tỉnh
lộ cũng được trải nhựa, các đường ở huyện, xã, thôn phần lớn cũng được trải nhựa hoặc lát gạch
Thứ tư về bưu chính - viễn thông: Mạng lưới thông tin liên lạc đã được
phủ khắp các huyện và thành phố Năm 2007 có 28 cơ sở bưu điện, 48 tổng đài điện tử với dung lượng 163168 số, tỉ lệ bình quân số điện thoại cố định trên 100 dân đạt 13,9 máy Ngành bưu chính viễn thông góp phần nâng cao dân trí rút ngắn khoảng cách về không gian, thời gian giữa các vùng trong tinh, trong toàn quốc
Thứ năm về tài nguyên nhân văn du lịch: Bắc Ninh có tiềm năng văn hóa
phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, miền đất kinh bắc xưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội tụ của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu dân ca Quan Họ trữ tình đằm thắm đã được UNESSCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Dòng nghệ thuật tạo hình, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng Bắc Ninh có nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hóa quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như Đền Đô, Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp, Chùa Phật Tích, Chùa Dạm, Văn Miếu…
Nhân dân Bắc Ninh chủ yếu sống bằng nghề nông, ngoài ra còn trồng cây ăn quả, hoa màu… Bên cạnh đó còn có các ngành nghề truyền thống cũng