Qúa trình phát triển của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững như: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường tự nhiên, cạn kiệt t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ MẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG
Ở TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
HÀ NỘI - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ MẬN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG
Ở TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học
ThS TRẦN THỊ HOA LÝ
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thị Mận
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan toàn bộ nội dung trong khóa luận là do em độc lập nghiên cứu Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thị Mận
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN: Doanh nghiệp HĐND: Hội đồng nhân dân
KT – XH: Kinh tế - Xã hội NSNN: Ngân sách nhà nước
PT – TH: Phát thanh truyền hình PTBV: Phát triển bền vững THCS: Trung học cơ cở THPT: Trung học phổ thông TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TPNB: Thành phố Ninh Bình UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 5
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG 5
1.1 Khái niệm phát triển kinh tế bền vững 5
1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bền vững 7
1.3 Sự cần thiết phải phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay 10 Chương 2 12
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ 12
Ở TỈNH NINH BÌNH 12
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình 12
2.2 Những thành tựu về kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2012 16
2.3 Những hạn chế về kinh tế - xã hội 38
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế 40
Chương 3 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT 42
TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG Ở TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY 42
3.1 Định hướng phát triển kinh tế 42
3.2 Giải pháp phát triển kinh tế 42
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới hiện nay đang có những biến đổi không ngừng, nhiều xu thế đang diễn ra tạo cho nhân loại những vận hội đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức mới Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội Đó là sự lựa chọn mang tính chiến lược và là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia Để đưa đất nước thực sự phát triển bền vững, mỗi quốc gia cần dựa vào đặc điểm riêng của mình để hoạch định chiến lược sao cho phù hợp
Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường Qúa trình phát triển của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững như: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường tự nhiên, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, đói nghèo, dịch bệnh và các tệ nạn xã hội… Từ thực tiễn nêu trên, dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 Đảng ta xác định: “Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và khẳng định “ Phát triển kinh tế nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”
Sau 20 năm đổi mới, Ninh Bình là một tỉnh có tốc độ phát triển khá nhanh trong khu vực đồng bằng sông Hồng Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, Ninh Bình thu hút nhiều dự án sản xuất vật liệu xây dựng, dịch vụ, thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Sự phát triển đã mang lại cho Ninh Bình một diện mạo khang trang hơn, song về mặt nào đó Ninh Bình đang phải đối mặt với những hệ quả của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đó là ô nhiễm môi trường, nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì vậy để phát triển kinh tế bền vững tỉnh Ninh Bình cần có những
Trang 8chủ trương, chính sách và biện pháp đúng đắn nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế Chính vì lý do trên, tôi đã chọn đề tài Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới và yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, trong nhiều năm trở lại đây vấn đề phát triển bền vững được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Bằng các công trình nghiên cứu của mình, họ đã có những đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về phát triển bền vững ở nước ta:
PGS.TS Nguyễn Quang Thái đã có bài viết “ Phát triển bền vững của Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng” của Nhà xuất bản lao động (2007) Bài viết đã phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian đổi mới, những điều kiện để giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện phát triển bền vững
Tác giả Lưu Đức Hải (2000) với công trình nghiên cứu “ Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết
và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa đồng thời tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững
Hay tác giả Bùi Tất Thắng có bài viết “ Bàn về phát triển bền vững” đăng trên tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững (6/2006) đã phân tích để phát triển bền vững thì tốc độ tăng trưởng phải cao, có sự thay đổi cơ cấu kinh
tế đồng thời phải nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên…, và nhiều bài tiểu luận, luận văn khác
Trang 9Những công trình khoa học nêu trên chỉ nói về phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam nói chung, chưa đi vào nghiên cứu cụ thể về phát triển kinh
tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay Vì vậy, tôi đã đi vào nghiên cứu một
số giải pháp để phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của khóa luận: Làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn
về phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất 1 số giải pháp phù hợp
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên đề tài cần giải quyết một số nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ nội dung của phát triển kinh tế bền vững
+ Sự cần thiết phải phát triển kinh tế bền vững ở Ninh Bình
+ Những thành tựu và hạn chế của sự phát triển kinh tế bền vững ở Ninh Bình
+ Đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế bền vững ở Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi giới hạn nền kinh tế Tỉnh Ninh Bình (từ năm 2005 đến 2012) dưới góc độ phát triển kinh tế bền vững, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…
Trang 106 Những đóng góp mới của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạng kinh tế tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây, tìm ra một số biện pháp nhằm phát triển kinh
tế bền vững trong những năm tiếp theo
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 9 tiết:
Trang 11
Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG 1.1 Khái niệm phát triển kinh tế bền vững
1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế
- Khái niệm phát triển
Theo quan điểm duy vật biện chứng: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện
cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng
xã hội
Phát triển kinh tế biểu hiện:
Một là, sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người Nội dung này phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kì nhất định
Hai là, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỉ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống Nội dung này phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kĩ thuật của nền sản xuất để có sự đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững
Ba là, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư phải được cải thiện, tăng lên, đảm bảo chất lượng giáo dục, y tế, giữ gìn môi trường… Nội dung này phản ánh công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế
Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể sau:
Trang 12Mức độ tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng trưởng dân số
Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để đảm bảo tăng trưởng bền vững
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ
Chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Như vậy, phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa khá toàn diện, là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại
1.1.2 Phát triển kinh tế bền vững
Thuật ngữ “ Phát triển kinh tế bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong cuốn “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) xuất bản năm 1980 với mục tiêu tổng quát là đạt được sự phát triển bền vững thông qua các nguồn tài nguyên sống
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển kinh tế bền vững, song được thừa nhận và nhất trí cao nhất là định nghĩa của Hội đồng thế giới
về môi trường và phát triển (WCED – World Commision on Environment and Developmen) năm 1997 Theo đó thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên và phát triển bền vững: “ Phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay mà không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của họ”
Khái niệm trên đã bao quát được hai vấn đề cơ bản của PTBV:
Thứ nhất, PTBV phải là sự phát triển kinh tế, xã hội lành mạnh trên cơ
sở sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường
Thứ hai, PTBV còn phải đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên môi trường Điều đó có nghĩa là sự tăng trưởng kinh
Trang 13tế trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống vừa thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hôm nay nhưng cũng không làm ảnh hưởng đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu và môi trường sống của các thế hệ mai sau
Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của trái đất
6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho sự phát triển và bảo vệ
9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Như vậy kinh tế bền vững là nền kinh tế tăng trưởng lâu dài, ổn định Một đất nước muốn phát triển bền vững cần đảm bảo môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội phát triển hài hòa Chính vì vậy, việc đảm bảo các chỉ số về dân số, lao động, cơ chế xã hội gắn với bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên là hết sức cần thiết
1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bền vững 1.2.1 Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất
Phát triển kinh tế suy cho cùng là sự phát triển lực lượng sản xuất (bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động) Vì vậy muốn phát triển kinh tế, phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất Trong đó cùng với việc bảo tồn và sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên cần phải nhấn mạnh vai trò của con người, khoa học và công nghệ
Trang 14Khoa học và công nghệ là thành tựu của văn minh nhân loại, nhưng hiệu quả của việc sử dụng khoa học - công nghệ lại tùy thuộc vào điều kiện của từng nước Nếu biết lựa chọn những công nghệ phù hợp với tiềm năng nguồn lực của đất nước, trình độ vận dụng và quản lý… thì sẽ tạo ra động lực mạnh
mẽ cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững Muốn vậy cần phải có chính sách khoa học – công nghệ đúng đắn, tạo những điều kiện cần thiết khuyến khích sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ, tăng cường mở rộng hợp tác, liên kết chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến để hòa nhập với sự phát triển chung của thế giới
Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, đồng thời cũng là sản phẩm và kết quả thường xuyên của phát triển lịch sử Con người thông qua hoạt động của mình trở thành nguồn lực chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự phát triển của chính bản thân nó Ngày nay khi khoa học – công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, càng tỏ rõ vai trò quyết định của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2 Những yếu tố về quan hệ sản xuất
Vai trò của quan hệ sản xuất đối với phát triển kinh tế thể hiện: Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì kinh tế phát triển, ngược lại, khi nó không phù hợp sẽ là nhân tố cản trở, kìm hãm sự phát triển đó
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội phụ thuộc vào nhiều động lực, nhưng động lực kinh tế giữ vai trò quyết định, trong đó lợi ích kinh tế của người lao động là động lực trực tiếp Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện của quan hệ sản xuất được phản ánh trong ý thức thành động cơ thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu kinh
tế của các chủ thể trong nền kinh tế Vì vậy, quan hệ sản xuất (quan hệ sở
Trang 15hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối) trực tiếp quy định hệ thống lợi ích kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế
Cơ chế kinh tế cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh
tế Thực tế lịch sử cho thấy kinh tế tự nhiên hay cơ chế tập trung, quan lieu bao cấp đều cản trở sự phát triển kinh tế Cơ chế thị trường với tác động của quy luật giá trị, cạnh tranh, cung – cầu kích thích cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động, mang lại hiệu quả sản xuất và tăng trưởng kinh tế nhanh Nhưng cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật, gây bất bình đẳng xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường…nên đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước Vì vậy, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa là cơ chế kinh tế thích hợp nhất đối với sự phát triển nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1.2.3 Những yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng xã hội bao gồm những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật …cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của chúng như nhà nước, đảng phái, các đoàn thể xã hội…có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế bền vững Những bộ phận
đó tác động đến các quan hệ kinh tế và sự phát triển xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau và theo những cơ chế khác nhau Tác dụng của kiến trúc thượng tầng sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của quy luật kinh tế khách quan Trái lại, nếu tác động ngược chiều với những quy luật đó thì nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển sản xuất, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.Trong sự tác động đó, chính trị có ảnh hưởng sâu sắc nhất và ngày càng tăng đối với sự phát triển kinh tế Bởi vì chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế
Trang 161.3 Sự cần thiết phải phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình
là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch
Năm 2012, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn: vốn vay lãi suất cao, đầu tư công giảm, thời tiết không thuận lợi đã tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân Song với sự chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế, của cán bộ, quân và dân trong tỉnh
đã tập trung triển khai thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; tuy nhiên kinh tế Ninh Binh vẫn gặp phải một số khó khăn như:
- Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế, xã hội chưa đạt kế hoạch đề ra; thu hút đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh
- Nhiều doanh nghiệp có khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh; khả năng tiếp cận vốn vay hạn chế; sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho lớn
- Tiến độ một số công trình, dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, nhất là các dự án lớn kéo dài, số vốn ứng còn lớn; hồ sơ thủ tục hoàn ứng vốn đầu tư vẫn còn chậm; nợ xây dựng cơ bản còn lớn
- Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp có nơi chưa đáp ứng yêu cầu
Trang 17- Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, du lịch, môi trường và các hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản còn hạn chế; còn để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số địa phương
- Tai nạn lao động, tệ nạn ma túy, cờ bạc còn diễn biến phức tạp
Năm 2013 là năm bản lề, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 -
2015, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX
Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; bảo vệ tài nguyên môi trường Tỉnh Ninh Bình cần đưa
ra được những biện pháp phát triển kinh tế một cách bền vững Đó là yêu cầu tất yếu và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 18Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở TỈNH NINH BÌNH 2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ở tỉnh Ninh Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Ninh Bình nằm ở vùng cực nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp 2 tỉnh Hoà Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Nam giáp biển Đông Ninh Bình có diện tích tự nhiên hơn 1.400 km², với bờ biển dài hơn 15 km Toàn tỉnh có 67.000
ha đất nông nghiệp, trong đó đất canh tác 55.000 ha; đất lâm nghiệp 13.000 ha; rừng tự nhiên 10.400 ha và trên 20.000 ha diện tích núi đá với trữ lượng hàng chục tỷ m³ đá vôi; rừng núi chiếm 22% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh
tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10; 12A; 12B và đường sắt Bắc Nam chạy qua cùng hệ thống sông ngòi dày đặc như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, Sông Vân tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế trong và ngoài tỉnh.[19, tr 12]
Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam Do phù sa bồi đắp hàng năm, đồng bằng tiến ra biển từ 80- 100m, tạo nên vùng đất mới phì nhiêu, màu mỡ Mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng, song ba vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá toàn diện cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ, hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp, Ninh Bình
Trang 19còn có thế mạnh phát triển đa dạng các loại hình du lịch Ninh Bình có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư (tại xã Trường Yên- Hoa Lư)- là kinh đô của Nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, hiện nơi đây có đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành; khu du lịch Tam Cốc- Bích Động (tại xã Ninh Hải- Hoa Lư) đã được tặng chữ: " Nam thiên đệ nhị động" hay "Vịnh Hạ Long cạn"; Vườn Quốc gia Cúc Phương (thuộc huyện Nho Quan) với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, có nhiều động thực vật quý hiếm, có cây Chò ngàn năm tuổi, có động Người xưa; khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, nước nóng Kênh Gà, khu hang động Tràng An, Nhà thờ đá Phát Diệm, khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương, khu phòng tuyến Biện Sơn- Tam Điệp rất hấp dẫn khách du lịch.[19, tr 14]
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Vùng đất Ninh Bình thời xa xưa phần lớn là vùng ngập mặn thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, Ninh Bình có nhiều tên gọi khác nhau như: Thế kỷ thứ X gọi là châu Trường Yên; thế kỷ XIII gọi là phủ Trường Yên; thế kỷ XVIII (thời Hậu Lê) gọi là Thanh Hoa ngoại trấn; dưới triều nhà Nguyễn, thế kỷ XIX năm Gia Long thứ năm (1806), gọi là đạo Thanh Bình; năm Minh Mệnh thứ mười (1829) gọi là trấn Ninh Bình; năm Minh Mệnh thứ mười hai (1831) gọi là tỉnh Ninh Bình; năm
1976, tỉnh Ninh Bình hợp nhất với tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh; năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập Hiện nay, tỉnh Ninh Bình có 6 huyện
là Gia Viễn, Nho Quan, Kim Sơn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô; 2 thị xã là Ninh Bình và Tam Điệp với tổng số 144 xã, phường, thị trấn Dân số toàn tỉnh hơn 90 vạn người, trong đó có 15% đồng bào theo đạo Thiên chúa, 2% đồng bào dân tộc Tỉnh Ninh Bình có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo Nhân dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp,
Trang 20trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm Ngoài ra nhiều người còn làm các nghề thủ công truyền thống như: thêu ren ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh , đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, sản xuất đồ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư).[19, tr 25]
Những năm qua, nhất là từ sau ngày tái lập tỉnh đến nay, Đảng bộ, quân dân Ninh Bình đã đoàn kết, vượt mọi khó khăn, triển khai thực hiện thắng lợi tương đối toàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV đề ra với kết quả năm sau cao hơn năm trước Năm 2002 so với năm 1992 (tái lập tỉnh) nhịp độ tăng trưởng GDP gấp
2, 4 lần, bình quân tăng 10, 4%/ năm; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng gấp 2 lần; công nghiệp tăng gấp 3 lần; thu ngân sách tăng gấp 6 lần; vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 40 lần
Về nông nghiệp: tỉnh đã tập trung chỉ đạo chuyển được gần 9000 ha đất nông nghiệp trồng cây có giá trị thấp sang nuôi trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao như: nuôi tôm sú, trồng cói ở Kim Sơn, nuôi tôm càng xanh, trồng dứa ở Tam Điệp, Nho Quan, nuôi thả cá chim trắng ở Gia Viễn, Hoa
Lư, cấy các giồng lúa đặc sản: tám, nếp, dự ở Kim Sơn, Yên Khánh Năm
2002 năng suất lúa toàn tỉnh đạt 110 tạ/ ha; tổng sản lượng thóc đạt 47, 1 vạn tấn; bình quân lương thực đầu người đạt 518 kg Cả tỉnh có 294 trang trại mỗi năm doanh thu bình quân từ 20 triệu đồng trở lên.[16, tr 9]
Về công nghiệp: tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 22 khu công nghiệp, cụm công nghiệp với diện tích 880 ha trong đó có các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn như: khu công nghiệp Tam Điệp, khu công nghiệp Ninh Phúc, cụm công nghiệp Gián Khẩu Ninh Bình đã ban hành các cơ chế, chính sách như: chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp, khu du lịch; chính sách khuyến khích tài năng thu hút nhân tài; quỹ khuyến công ; quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển Tỉnh đã tổ chức gặp mặt các doanh nhân trong và
Trang 21ngoài tỉnh để kêu gọi đầu tư Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2003, tỉnh đã chấp thuận 31 dự án với tổng số vốn đăng ký 1.400 tỷ đồng đầu tư vào tỉnh Sản xuất công nghiệp năm 2002 tăng 23%, năm 2003 dự kiến tăng 30%
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn năm 2002 đạt gần 2.200 tỷ đồng; năm 2003 ước đạt hơn 1.600 tỷ đồng Trong hai năm qua trên địa bàn tỉnh đã khởi công nhiều công trình lớn về giao thông, thuỷ lợi, du lịch, thể thao như: hồ Yên Thắng; dự án phân lũ, chậm lũ Nho Quan và Gia Viễn; sân vận động, Nhà thi đấu trung tâm; Nhà máy cán thép Tam Điệp công suất 36 vạn tấn/ năm; Nhà máy xi măng Tam Điệp công suất 1, 4 triệu tấn/ năm Các công trình đầu tư trên lần lượt đưa vào sử dụng sẽ tạo ra bước chuyển biến mạnh trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.[16, tr 13]
Các hoạt động dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tín dụng, du lịch đều đạt mức tăng trưởng bình quân trên 25%/ năm Thu ngân sách tăng bình quân trên 20%/ năm; năm 2003 dự kiến thu được trên 200 tỷ đồng (đạt cao nhất từ trước đến nay)
Về văn hoá xã hội: tỉnh Ninh Bình đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS từ tháng 12/ 2002; có 7/8 huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh có trường học cao tầng, kiên cố; 3 trường mầm non, 106 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có trạm y tế; có 49, 7% trạm y
tế có bác sỹ 1622/1622 thôn, bản, phố xây dựng được hương ước, quy ước;
có 4.192 gia đình văn hóa, 130 làng văn hoá và 90 cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp, có 17% dân
số tham gia luyện tập TDTT thường xuyên; 12% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao, có 320 câu lạc bộ TDTT hoạt động thường xuyên; tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ IV, đoàn vận động viên của Ninh Bình được xếp thứ 24/64
Trang 22đoàn tham gia Việc thực hiện các chính sách xã hội đã có nhiều cố gắng, trong 2 năm qua, tỉnh đã đào tạo, truyền nghề cho 58.000 người; giải quyết việc làm cho 38.625 lượt người, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm được 1, 8%.[16, tr 20]
Tuy nhiên, Ninh Bình vẫn còn là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp,
kinh tế chậm phát triển, cơ cấu kinh tế lạc hậu, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của một tỉnh đồng bằng có điều kiện phát triển kinh tế toàn diện
2.2 Những thành tựu về kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2005 -
2012
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015: Khai thác và huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội toàn diện, vững chắc; tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giảm các tai, tệ nạn
xã hội; tăng cường công tác quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững chắc, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và năng lực chỉ đạo điều hành, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp, xây dựng cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, phấn đấu chỉ tiêu GDP tính theo đầu người đạt mức bình quân chung của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 –
2015 của tỉnh có nhiều thuận lợi, đó là: Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định; Tác động tích cực từ những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội cả nước sau 20 năm đổi mới; Kinh tế địa phương bước vào thời kỳ phát triển mạnh; Sự nỗ lực của Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh được khơi dậy…Tuy vậy, tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn, thách thức như: Ảnh hưởng của suy
Trang 23giảm kinh tế cả nước do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu gây ra, tăng trưởng kinh tế không ổn định và thiếu bền vững, làm chậm quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng hiện đại của tỉnh; Tình hình thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, biến đổi phức tạp của khí hậu toàn cầu tác động xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân
Với sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức, tỉnh
đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Về cơ bản, đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội của giai đoạn, bên cạnh đó nhưng cũng còn một số chỉ tiêu chưa hoàn thành mục tiêu đề ra
Dưới đây là kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu năm 2012:
TT Chỉ tiêu ĐVT
Thực hiện năm
2011
Mục tiêu năm 2012
Ước thực hiện năm
2012
So sánh với mục tiêu năm 2012 Các chỉ tiêu về kinh tế
Trang 24TT Chỉ tiêu ĐVT
Thực hiện năm
2011
Mục tiêu năm 2012
Ước thực hiện năm
2012
So sánh với mục tiêu năm 2012
3 Cơ cấu kinh tế trong
7 Thu ngân sách Tỷ đồng 3.392 2.850 2.593, 3 Không đạt Trong đó: Thuế, phí, lệ
phí và thu từ xổ số kiến
thiết
Tỷ đồng 1.673 1.800 1.803, 3
Thu từ đất Tỷ đồng 1.119 350 500
Thu xuất, nhập khẩu Tỷ đồng 600 700 290
8 Kim ngạch xuất khẩu Tr.USD 263 265 450 Vượt mục
tiêu
9 Khách du lịch Nghìn
lượt 3.252 4.000 3.750 Không đạt
Trang 25TT Chỉ tiêu ĐVT
Thực hiện năm
2011
Mục tiêu năm 2012
Ước thực hiện năm
2012
So sánh với mục tiêu năm 2012 Trong đó: Khách du
lịch lưu trú
Nghìn lượt 237 250 268, 5
Vượt mục tiêu
Các chỉ tiêu về văn hóa
11 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy DD % 16, 4 15, 8 15, 8
Đạt mục tiêu
12 Tỷ lệ lao động được đào
Đạt mục tiêu
13 Tỷ lệ hộ nghèo (tiêu chí
Vượt mục tiêu
Chỉ tiêu về môi trường
14 Tỷ lệ dân số được dùng
nước hợp vệ sinh
Trang 26TT Chỉ tiêu ĐVT
Thực hiện năm
2011
Mục tiêu năm 2012
Ước thực hiện năm
2012
So sánh với mục tiêu năm 2012
Phát triển sản xuất, kinh doanh các ngành, lĩnh vực
- Khu vực công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng cao về giá trị
sản xuất và giá trị tăng thêm Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp bình quân đạt 23, 85%/năm nhưng thấp hơn so với mục tiêu (26%/năm) cũng như so với thời kỳ trước (26, 77%/năm) Hai năm đầu (2006, 2007), tốc độ được duy trì ở mức 15, 9%, năm 2008, 2009 và 2010 tăng mạnh với tốc độ lần lượt là 47, 7%, 23, 6% và 18, 9% Chất lượng nhiều sản phẩm tăng lên đáng
kể 5 năm qua tỉnh đã thực hiện khá tốt mục tiêu huy động nguồn lực ưu tiên phát triển công nghiệp theo hướng tập trung vào những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trở thành mũi nhọn và xi măng, thép là sản phẩm chủ yếu
Khu vực xây dựng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao về giá trị sản xuất, bình quân thời kỳ đạt 24, 7%/năm và đến năm 2010 đạt trên 4.865 tỷ đồng, tăng gấp 3, 0 lần so với năm 2005 Năm 2008 chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế, tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành chỉ đạt 2, 6% nhưng sang năm 2009 đã phục hồi trở lại và bù đắp vào sự suy giảm đó với
Trang 27mức tăng trưởng ở mức 49, 6%, các năm khác duy trì tốc độ ở mức khoảng
25, 0% Nhiều công trình sản xuất công nghiệp và cơ sở hạ tầng quan trọng trong giai đoạn đã và đang được triển khai làm tăng năng lực cho phát triển sản xuất của nền kinh tế
Năm 2012, Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 14.133 tỷ đồng, tăng 14, 6% so với năm 2011 và đạt 93% kế hoạch cả năm Một số sản phẩm vượt kế hoạch như: may mặc đạt 29 triệu sản phẩm, đạt 107, 5%; kính xây dựng 101 nghìn tấn, đạt 126%, cần gạt nước xe ô tô 14, 7 triệu chiếc, đạt 163%; giày vải
102 triệu đôi đạt 120% Nhà máy đạm đã đi vào sản xuất ổn định, sản lượng năm 2012 đạt trên 100 nghìn tấn Một số dự án được cấp phép đầu tư đang được triển khai tích cực Tuy nhiên, một số sản phẩm chủ lực giảm sút so với năm 2011, nhất là sản phẩm vật liệu xây dựng như Xi măng-clanke đạt gần 9 triệu tấn, giảm 10, 9%, bằng 91, 5% kế hoạch; gạch nung đạt 422 triệu viên, giảm 11%, đạt 65%; thép cán đạt 84 nghìn tấn, giảm 1, 3%
Công tác thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn:
đã có trên 30% số doanh nghiệp (tương đương trên 700 DN) phải giải thể, phá sản, tạm ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị đối thoại cùng các doanh nghiệp, thiết lập đường dây nóng để giải quyết những vướng mắc thủ tục hành chính; tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi cho Doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường Đồng thời ban hành Quyết định số 28
về những chính sách ưu đãi, hỗ trợ thu hút đầu tư và ngày 30/11/2012 đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư, giới thiệu tiềm năng thế mạnh và kêu gọi đầu
tư vào tỉnh Trong năm 2012 đã có trên 400 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh với tổng vốn đăng ký trên 6.500 tỷ đồng; 20 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 9.500 tỷ đồng, (trong đó có 4 dự
án FDI với tổng vốn đầu tư 3.740 tỷ đồng).[15, tr 11]
Trang 28UBND tỉnh đã tăng cường chỉ đạo, ban hành nhiều văn bản chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng Do vậy, việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo các quy định về trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn, hạn chế thất thoát, nâng cao hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm trên địa bàn Công tác hoàn chỉnh thủ tục, thanh toán khối lượng hoàn thành có chuyển biến tích cực, chất lượng công trình và tiến độ công trình đầu tư xây dựng năm 2012 được đôn đốc và giám sát chặt chẽ hơn
- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản duy trì được tốc độ tăng trưởng Giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 4, 3%/năm, cao hơn
0, 26% so với thời kỳ trước nhưng thấp hơn kế hoạch đề ra (5%/năm)
Ngành trồng trọt đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, gắn cơ sở chế biến với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Diện tích gieo trồng cây lương thực khá ổn định (trong đó diện tích lúa duy trì khoảng 80 nghìn ha); năng suất và chất lượng đều tăng, an ninh lương thực được đảm bảo
Vụ đông đang dần trở thành vụ sản xuất chính
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi từng bước chuyển đổi, hàng ngàn ha đất trồng cây có giá trị kinh tế thấp được chuyển sang nuôi trồng các loại cây, con
có giá trị kinh tế cao Hình thành các vùng chuyên canh nguyên liệu (nuôi tôm, cua rèm, trồng và chế biến cói ở Kim Sơn; trồng dứa, mía ở Nho Quan
và Tam Điệp), đã gắn các cơ sở chế biến với thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhất là những hàng hóa nông sản, thực phẩm chế biến để xuất khẩu như thịt đông lạnh, mỳ ăn liền, quả đóng hộp…
Chăn nuôi phát triển khá toàn diện, theo hướng có hiệu quả hơn, đã có những trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp Quy mô gia súc, gia cầm chuyển dịch hợp lý hơn Chất lượng, giá trị con nuôi được nâng cao, đã mở
Trang 29rộng chăn nuôi theo hướng con nuôi đặc sản (như: hươu, nhím, ba ba, cá sấu ) Nuôi trồng thuỷ sản phát triển tương đối ổn định
Kinh tế nông thôn được cải thiện thông qua quá trình đa dạng hóa ngành nghề, tăng tỷ trọng của công nghiệp dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển làng nghề truyền thống (chế tác đá mỹ nghệ, thêu ren, mộc, cói) đã tạo nhiều việc làm tại chỗ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Kết cấu hạ tầng, nhất là thủy lợi, giao thông, trường học, trạm xá, chợ được chú trọng đầu tư, đặc biệt là các công trình phòng chống lũ lụt, các công trình tại các xã nghèo trọng điểm Qua đó đã góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn Công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện theo quy trình, gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan môi trường Vai trò của Hợp tác xã nông nghiệp sau chuyển đổi được phát huy
Năm 2012, tuy có gặp khó khăn do thời tiết rét đậm đầu vụ, xuất hiện dịch cúm gia cầm ở một số địa phương, mưa bão ảnh hưởng đến cây trồng và nuôi trồng thủy sản, song sản xuất nông nghiệp tiếp tục ổn định Diện tích lúa đạt gần 81, 2 nghìn ha, tăng 0, 5% so với năm 2011; diện tích cây mầu đạt trên 9, 9 nghìn ha, tăng 10, 2% so với năm 2011 Tổng sản lượng lương thực
có hạt đạt 51, 1 vạn tấn, vượt 3, 1 vạn tấn so với kế hoạch cả năm (trong đó, sản lượng lúa đạt 49, 21 vạn tấn, tăng 3.700 tấn so với năm 2011) Chính sách
hỗ trợ khuyến khích phát triển lúa chất lượng cao đã phát huy hiệu quả, sản xuất lúa theo hướng cánh đồng mẫu lớn, diện tích được mở rộng gần 34 nghìn
ha, nâng cao giá trị thương mại và tạo được thương hiệu cho sản phẩm gạo chất lượng cao Chăn nuôi vẫn duy trì ổn định về tổng đàn và nâng cao giá trị vật nuôi Mô hình chăn nuôi con nuôi đặc sản đạt hiệu quả kinh tế cao như
Trang 30nhím, hươu, ba ba được duy trì Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt gần 10 nghìn ha, sản lượng ước đạt 32, 2 nghìn tấn, tăng 14, 2% Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được thực hiện tốt Toàn tỉnh đã trồng mới được 30 ha rừng, chăm sóc trên 10 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh được gần 11 nghìn ha rừng.[20, tr 17]
Công tác tu bổ đê điều, phòng chống bão lụt được chủ động triển khai, tập trung chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ, đảm bảo tốt nhiệm vụ yêu cầu Các công trình thuỷ lợi được quan tâm cải tạo, nâng cấp, sớm phát huy công năng, đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đảm bảo nhiệm vụ chống bão, lụt
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực; đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch chung và đề án xây dựng nông thôn mới đến cấp xã; công tác quy hoạch vùng sản xuất, dồn điền, đổi thửa gắn với xây dựng, chỉnh trang hệ thống giao thông, thủy lợi được đẩy mạnh Các cấp các ngành đã quan tâm chỉ đạo, tập trung lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Nhất là chính sách hỗ trợ xi măng
và đầu tư thêm kinh phí mua nguyên vật liệu làm đường giao thông thôn, xóm Đến nay, tỉnh đã hỗ trợ trên 30 nghìn tấn xi măng để xây dựng được trên
250 km đường giao thông nông thôn Phong trào nông thôn mới phát triển mạnh và rộng rãi; nhân dân phấn khởi, tin tưởng và tích cực hưởng ứng hiến đất, góp công, góp của xây dựng các công trình công cộng với trên 30ha đất, trên 100 tỷ đồng và gần 20 nghìn ngày công lao động Vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới đã được phát huy có hiệu quả
- Khu vực dịch vụ: có bước tiến mới, vững chắc, tốc độ tăng giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm vẫn tiếp tục tăng ngay cả trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái Giá trị sản xuất tăng bình quân 19, 47%/năm và cao hơn kế hoạch