Vì vậy, sự tồn tại và phát triển quan hệ tín dụng do các nguyên nhân chủ yếu sau đây: Một là, trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự vận động của vốn tiền tệ dẫn đến nảy sinh hiện tư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN VĂN MẠNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
HÀ NỘI - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN VĂN MẠNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học
ThS TRẦN THỊ HOA LÝ
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoàn thành khóa luận em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Trần Thị Hoa Lý - người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình em làm khóa luận
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, vì vậy đề tài không trách khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Mạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan toàn bộ nội dung trong bài khóa luận là do em độc lập nghiên cứu Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận hoàn toàn là trung thực, nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Mạnh
Trang 55 NHTM : Ngân hàng thương mại
6 NHTW : Ngân hàng Trung ương
7 NSNN : Ngân sách Nhà nước
8 XDCB : Xây dựng cơ bản
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG 6 1.1 Tín dụng 6 1.2 Chính sách tín dụng 12 1.3 Sự cần thiết phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 15 1.4 Vai trò của chính sách tín dụng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 19 Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 23 2.1 Những thành tựu đạt được của việc thực hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 23 2.2 Những hạn chế của việc thực hiện chính sách tín dụng ở Việt Nam hiện nay 35 Chương 3: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 45 3.1 Những định hướng chủ yếu của việc thực hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 45 3.2 Một số giải pháp giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 51 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chính sách tín dụng là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng, đồng thời là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh tế Xây dựng và thực thi một chính sách tín dụng phù hợp với cơ chế thị trường có ý nghĩa chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
Tuy nhiên, trên thực tế việc xây dựng và điều hành chính sách tín dụng
ở Việt Nam còn nhiều bất cập cả về nội dung chính sách, cơ chế quản lý và phương thức tổ chức vận hành Nguyên nhân của những bất cập đó, một phần
là do nhận thức chưa đầy đủ, một phần là do những thay đổi trong quản lý kinh tế và môi trường pháp lý của Nhà nước, do tác động bởi những xu hướng phát triển mới của kinh tế quốc tế và trong nước hiện nay Vì vậy, hàng loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến chính sách tín dụng đã và đang đặt ra cần được bàn luận giải quyết
Đặc biệt, khi cơ chế thị trường ngày càng được xác lập và hoàn thiện ở nước ta, cùng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nghiên cứu tiếp tục đổi mới chính sách tiền tệ - tài chính nói chung
và chính sách tín dụng nói riêng đang là yêu cầu hết sức quan trọng và cấp thiết, được coi là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay
Trong bối cảnh đó, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Hơn hai thập kỷ qua và hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Trang 8theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách tín dụng đã thể hiện vai trò hết sức quan trọng trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế
Việc xây dựng và điều hành chính sách dụng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập cả về nội dung chính sách, cơ chế quản lý và phương thức tổ chức vận hành Do vậy, hàng loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến tín dụng và chính sách tín dụng đã và đang được bàn luận, giải quyết thông qua các công trình nghiên cứu như:
“Những giải pháp chủ yếu để mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng
ngân hàng đối với nền kinh tế ngoài quốc doanh” của Tiến sĩ Nguyễn Thạc
Hoát viết năm 1993 Luận án đã đề cập tới các luận điểm khoa học về bản chất, vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường; đánh giá tổng quát thực trạng thể chế và hoạt động của tín dụng ngân hàng trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
“Đổi mới chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong giai đoạn
chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta” của Tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm được Nxb
Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995 với nội dung: Vai trò tiền tệ - tín dụng
và ngân hàng trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của nhà nước Hệ thống tiền tệ - tín dụng và ngân hàng Việt Nam trong tiến trình đổi mới Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới hệ thống chính sách tiền tệ - tín dụng - ngân hàng ở Việt Nam
Hay “Vai trò của các chính sách tín dụng và tiền tệ trong quá trình hội
nhập giai đoạn 2005- 2010” của tác giả Hà Kim Nga xuất bản năm 2005:
Trình bày thực trạng việc thực hiện chính sách tín dụng và tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 và phân tích vai trò của chính sách tín dụng và tiền tệ trong quá trình hội nhập kinh tế, cũng đưa ra những giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển kinh tế trong thời gian tới
Trang 9Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo nguồn
nhân lực và hoạt động các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” năm 2005 của Ngân
hàng Nhà nước - thường trực Hội đồng khoa học và công nghệ Ngân hàng: Gồm các bài viết về đào tạo nguồn nhân lực và hoạt động của các tổ chức tín dụng; xây dựng nguồn nhân lực - chìa khóa của sự thành công trong hoạt động Ngân hàng; đào tào nguồn nhân lực cho hội nhập kinh tế nhìn từ cơ sở; hoạt động nghiên cứu khoa học ngân hàng và giải pháp phát triển, đổi mới phương thức liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo trong ngành với các tổ chức tín dụng; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho các tổ chức tín dụng,
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với tiền tệ, tín dụng” xuất bản năm
2006 của tác giả Trần Đình Ty: Cung cấp một cách hệ thống và toàn diện cơ
sở quản lí tiền tệ và tín dụng Phân tích cụ thể thực trạng quản lí nhà nước đối với tiền tệ, tín dụng ở nước ta và đưa ra các giải pháp đổi mới quản lí nhà nước đối với tiền tệ tín dụng
Và còn một số bài báo bàn về chính sách tín dụng được đăng trên các tạp chí kinh tế, tạp chí ngân hàng, …
Song chưa có nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng Đề tài khóa luận này đã nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách tín dụng ở nước ta và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ
- Mục đích của đề tài:
Khóa luận nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện, vận hành chính sách tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trên cơ sở
Trang 10đó, đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp cơ bản nhằm năng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng hiện nay
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tín dụng, chính sách tín dụng,
sự cần thiết phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay và vai trò của chính sách tín dụng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện chính sách tín dụng ở Việt Nam thời gian qua, phân tích những thành tựu đạt được cũng như phát hiện những vấn đề bất cập của việc thực hiện chính sách tín dụng
+ Đặt trong điều kiện mới, yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế
ở nước ta, đặc biệt trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, từ đó đề xuất những quan điểm có tính định hướng và kiến nghị những giải pháp vĩ mô chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa khóa luận tập trung vào các vấn đề về chính sách tín dụng mang tính vĩ mô, chiến lược, có vai trò là công cụ quản lý
và điều hành hoạt động tín dụng trong nền kinh tế
- Phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu vào giai đoạn từ 1990 đến nay và định hướng những năm tiếp theo trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế và thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với việc sử dụng phương pháp lôgic, thống kê, phương pháp diễn giải và quy nạp để giải quyết các vấn đề
Trang 11Bên cạnh đó, cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các tài liệu, sách báo có liên quan và sử dụng các số liệu, thông tin từ NHNN để làm sáng tỏ thêm các quan điểm của khóa luận
6 Đóng góp mới của đề tài
Luận giải một cách có hệ thống, có cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách tín dụng
Chỉ rõ vai trò to lớn của việc thực hiện một cách hiệu quả chính sách tín dụng đối với nền kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH
Chỉ ra được những tồn tại của hoạt động tín dụng và đề xuất những kiến nghị mang tính khả thi cho những quan điểm mới, chính sách cụ thể và giải pháp xây dựng và vận hành chính sách tín dụng, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trong điều kiện hiện nay và những năm tới
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG
là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi mua bán chứ không phải chỉ để tự tiêu dùng Trong nền kinh tế hàng hóa, sự phát triển của sản xuất xã hội cũng đi từ đơn giản đến phức tạp Việc trao đổi hàng hóa có thể tiến hành trực tiếp hàng đổi hàng, hoặc có thể mua bán thông qua tiền tệ Chủ nghĩa tư bản văn minh hơn chế độ phong kiến là nhờ đã phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hóa, đồng thời cũng phát triển mạnh kinh tế thị trường Chính trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã sinh ra phạm trù tín dụng
Tín dụng - “khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là các khoản cho vay ngắn hạn,… Việc một người có một khoản tín dụng đồng nghĩa với việc anh ta có một phương tiện để mua hàng hóa mà không phải trả ngay, hoặc có thể rút tiền từ một tổ chức cho vay nào đó Trong môn kinh tế tiền tệ, khái niệm “tín dụng” thường được dùng để chỉ các loại hình cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ (khi sự gia tăng mức cho vay của ngân hàng dẫn tới sự gia tăng của tiền gửi ngân hàng), hoặc làm tăng các phương tiện thay thế tiền, chẳng hạn tín dụng thương mại Mối quan hệ giữa tiền và tín dụng này là mối quan hệ trực tiếp ở cấp kinh tế vĩ mô,
Trang 13khi người ta phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền trên phương diện mở rộng tín dụng trong nước” [18, tr 585]
Những quan điểm, tư tưởng cơ bản về lý thuyết tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong học thuyết kinh tế của C.Mác cũng đã đề cập khá rõ nét theo một trình tự khoa học, logic về sự ra đời, quá trình tồn tại và vai trò của tín dụng Trước hết là tín dụng thương mại gắn với việc thực hiện chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ thông qua hành vi “mua bán chịu” hàng hóa giữa những người sản xuất kinh doanh C.Mác cho rằng “tín dụng thương mại là cho vay bằng hàng hóa, tức là thực hiện bán hàng trước, trả tiền sau”, cho nên
“trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồm cả khoản thù lao về việc sử dụng tư bản và sự rủi ro có thể xảy ra trước khi đến kỳ hạn trả” [11, tr.491] Sau đó là
sự ra đời của tín dụng ngân hàng trên cơ sở mở các nghiệp vụ “chiết khấu kỳ hạn phiếu, tức là chuyển những kỳ phiếu đó thành tiền trước kỳ hạn của chúng và bằng cách ứng tiền cho vay”[11, tr.488]
Các nhà kinh tế học cổ điển cũng như một số nhà kinh tế thị trường trước đây, trong các thuyết về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng thường đề cập nhiều đến các vấn đề về tiền tệ và ngân hàng, chứ chưa đề cập sâu đến vấn đề tín dụng Lúc đầu tín dụng chưa được đề cập mổ xẻ một cách độc lập, chỉ khi chủ nghĩa tư bản phát triển ở giai đoạn cao, nền kinh tế thị trường đạt tới mức hoàn chỉnh và phát triển, cũng là lúc phạm trù tín dụng được luận giải một cách đầy đủ Khi đó, mỗi Nhà nước đều tranh thủ tối đa kết quả của những nghiên cứu tín dụng, chỉ ra vai trò của tín dụng, từ đó xây dựng cho mình một chính sách tín dụng phục vụ những mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội
Có nhiều góc độ xem xét và đưa ra những khái niệm về tín dụng Nhưng có thể nói nổi bật và rõ nét là nghiên cứu phạm trù tín dụng trong mối quan hệ với tiền tệ và sự vận động của giá trị Tín dụng là những quan hệ vay
và bán chịu hàng hóa và vốn giữa những người sở hữu khác nhau Tín dụng
Trang 14không phải là những hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là sau một thời gian phải bồi hoàn và thanh toán lợi tức Tín dụng là hình thức đặc thù của vận động giá trị, khác với lưu thông hàng hóa đơn thuần Vận động giá trị dẫn đến các phương thức tín dụng được thực hiện thông qua các giai đoạn chuyển giao giá trị và bồi hoàn giá trị Tiền tệ có vai trò là hàng hóa ở đây không phải là bán ra mà là cho vay Cũng có thể là người vay chỉ có quyền sử dụng tạm thời tiền tệ, quyền sở hữu vẫn thuộc về người cho vay Sau một thời gian nhất định, tất yếu tiền tệ đó phải được quay
về trả lại đầy đủ quyền sở hữu và quyền sử dụng cho người cho vay Khi phát sinh hành động vay tiền, lúc đó không phải là hành động trao đổi ngang giá,
mà là sự chuyển dịch giá trị đơn phương Người cho vay khi cho vay không thu được bất kỳ một sự ngang giá nào, chỉ sau một thời gian nhất định người
đi vay phải trả lại không chỉ số vốn ban đầu mà còn phải trả một khoản lợi tức nữa, gọi là mức lãi tiền vay Đó chính là mức giá cho thuê giá trị vốn trong thời gian nhất định
“Tín dụng là hình thức vận động của vốn cho vay, nó phản ánh mối quan
hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức” [1, tr.378]
Tín dụng là một phạm trù kinh tế thuộc về kinh tế hàng hóa, là mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa hai chủ thể, là những người hoặc các quốc gia khác nhau về khả năng và nhu cầu tiền tệ, có nhu cầu chuyển nhượng giá trị
và chấp nhận giá trị Tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của vốn tiền tệ (vốn vay) mà còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết là lòng tin Từ
xa xưa, tín dụng dựa trên lòng tin là chủ yếu, đến nay nó được bảo trợ của pháp luật nhà nước Song tín dụng không phản ánh mọi mối quan hệ xã hội,
mà chỉ những quan hệ xã hội biểu hiện các mối quan hệ vay mượn Tín dụng
Trang 15biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại vốn tiền
tệ theo nguyên tắc hoàn trả Cơ sở vật chất của tín dụng là tiền tệ và hàng hóa
Trong nền kinh tế hàng hóa, tín dụng thực hiện 2 chức năng cơ bản:
Một là, tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả
Thực hiện chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ xung vốn cho doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng Ở đây sự có mặt của tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các nguồn cung - cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời từ nơi thừa đến nơi thiếu
Hai là, phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát các hoạt động của nền
kinh tế Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách
Trang 16tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế Do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định phát triển kinh tế Mặt khác, tín dụng còn góp phần cho việc tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông,
do tín dụng gắn liền với thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Đồng thời, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
Hình thức tín dụng có nhiều loại được phân theo những tiêu thức khác nhau, dựa vào trình độ phát triển và biểu hiện vật chất của tín dụng Kể từ hình thức tín dụng đầu tiên là cho vay nặng lãi, đến nay sự phát triển của tín dụng trong nền kinh tế hàng hóa đã cho ra đời nhiều hình thức tín dụng
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng có: Tín dụng ngắn hạn và tín dụng dài hạn
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng có: Tín dụng lưu động và tín dụng vốn cố định
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng có: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng
- Căn cứ vào chủ thể tín dụng có: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước
- Khi các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng thì hình thức tín dụng quốc tế cũng ngày càng được phát triển
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành, phát triển tín dụng
Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, xã hội loài người cũng phát triển theo các hình thái kinh tế khác nhau Ở xã hội cộng sản nguyên thủy do lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội không có của dư, sản phẩm do con người làm ra chưa đủ tích lũy, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở cộng đồng, mọi sản phẩm đều là của chung, con người hoàn toàn dựa vào nhau, chung
sống, tư hữu chưa ra đời Do đó chưa xuất hiện quan hệ mua bán, trao đổi
Trang 17Sau đó, với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo điều kiện tăng năng suất lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, con người không chỉ
đủ tiêu dùng mà dần dần còn có tích lũy, dự trữ xuất hiện của dư Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội, của công cụ lao động, chế độ tư hữu dần dần xuất hiện, sự phân hoá giữa người giàu người nghèo và các tầng lớp, giai cấp, các giai cấp cũng theo đó phát triển ngày càng rõ rệt Quan hệ trao đổi, mua bán, vay mượn cũng từng bước xuất hiện với nhiều hình thức đa dạng phong phú Tuy nhiên quan hệ vay mượn thời kỳ đầu chỉ là hình thức sơ khai, phôi thai của tín dụng sau này
Khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định, nhu cầu mua bán, trao đổi, vay mượn tăng lên, xuất hiện tiền tệ (một loại hàng hoá đặc biệt, vật trung gian trong trao đổi mua bán, một loại của cải để tích trữ ), xã hội dần dần xuất hiện quan hệ tín dụng Vì vậy, sự tồn tại và phát triển quan hệ tín dụng do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự vận động của vốn
tiền tệ dẫn đến nảy sinh hiện tượng trong cùng một thời gian có những đơn vị kinh tế thừa vốn để sản xuất kinh doanh, chưa có nhu cầu sử dụng Ngược lại,
có những đơn vị thiếu vốn, có nhu cầu vay mượn tăng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Tình trạng đó nảy sinh mâu thuẫn đỏi hỏi có cách thức giải quyết mở đường cho sản xuất phát triển Do vậy cần có sự tập trung vốn, phân phối lại các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc vay mượn hoàn trả
cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định, bảo đảm quá trình tái sản xuất, tuần hoàn, xoay vòng của nguồn vốn được diễn ra liên tục nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được nguồn vốn
Hai là, trong đời sống sinh hoạt, vận động của toàn xã hội có tình trạng
có những cơ quan, đơn vị, tổ chức tập thể và trong nhân dân (cá nhân, hộ gia đình .) thường xuyên có lượng tiền nhàn rỗi chưa cần sử dụng ngay Đây cũng là một điều kiện, cơ sở tiềm tàng dẫn đến nảy sinh quan hệ tín dụng bởi
Trang 18lẽ không có những lượng tiền nhàn rỗi đó thì không có cơ sở để thực hiện quan hệ tín dụng
Ba là, do trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam tồn
tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về vốn với nhiều thành phần kinh tế, song lại đòi hỏi có sự chuyển hoá trong nội bộ của các hình thức sở hữu cũng như giữa các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế Tuy nhiên để việc chuyển vốn giữa các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế không làm ảnh hưởng, không xâm phạm đến quyền lợi của nhau giữa các chủ sở hữu cần phải thông qua quan hệ tín dụng, có vay, có trả theo thoả thuận nhất định mà bên cho vay khi nhận lại số tiền cho vay ngoài phần gốc còn được thêm một
số tiền lãi theo tỷ lệ quy định Nhờ đó mà quyền lợi của các chủ sở hữu khác nhau khi tham gia quan hệ tín dụng được đảm bảo một cách chặt chẽ, theo một quy tắc thống nhất, với sự bảo đảm có tính pháp lý, pháp luật
Bốn là, do yêu cầu của quá trình hạch toán kinh tế trong sản xuất, kinh
doanh rất chặt chẽ, cụ thể chi tiết nên các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp phải luôn chủ động, thận trọng trong việc tính toán huy động, chuẩn bị tạo nguồn vốn, nắm chắc nguồn vốn cũng như sử dụng vốn, kể cả vốn cố định
và lưu động Cần tính toán, cân nhắc, xác định đúng nhu cầu vốn của mình trong sản xuất kinh doanh để đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi Chính việc đi vay và cho vay thông qua quan hệ tín dụng, các đơn vị tổ chức kinh tế đã giải quyết được vấn đề nhu cầu về vốn, sử dụng vốn
Từ những vấn đề trình bày ở trên có thể đi đến khẳng định rằng sự hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng, hoạt động tín dụng trong quá trình phát triển của sản xuất của nền kinh tế là một tất yếu khách quan, là vấn đề có tính quy luật
1.2 Chính sách tín dụng
1.2.1 Khái niệm chính sách tín dụng
Trang 19Đứng trên góc độ quản lý vĩ mô nền kinh tế, chính sách tín dụng là một
bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng, là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh
tế Chính sách tín dụng là ý chí nguyện vọng, là sách lược và kế hoạch, là phương thức và biện pháp của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu khai thác tối
đa các nguồn vốn trong và ngoài nước, phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vốn đó, đảm bảo các lợi ích tổng thể xã hội cũng như các lợi ích cá biệt theo tính chất sở hữu các nguồn vốn Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, người chịu trách nhiệm về xây dựng và thực thi chính sách tín dụng là ngân hành trung ương
Chính sách tín dụng là việc định hướng cho các hoạt động và quan hệ tín dụng trong nền kinh tế, vừa thực hiện tốt vai trò quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, vừa đảm bảo cho yêu cầu kinh doanh tín dụng
theo các nguyên tắc của cơ chế vận hành nền kinh tế Chính sách tín dụng là
nội dung và công cụ của chính sách tiền tệ, có quan hệ mật thiết với chính sách tài chính và các chính sách kinh tế vĩ mô khác
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tín dụng là tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ và đảm bảo hoạt động an toàn của các tổ chức tín dụng Đây cũng được xem là sự đồng nhất với mục tiêu của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, trước đó chính sách tín dụng cần đạt được các mục tiêu cung ứng đủ khối lượng tín dụng cho nhu cầu đầu tư và phát triển nền kinh tế, giải quyết hài hòa quan hệ cung cầu tín dụng, đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn và hiệu quả
1.2.2 Nội dung và một số công cụ để thực hiện chính sách tín dụng
- Nội dung:
Chính sách tín dụng là một bộ phận cấu thành chủ yếu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, là sự thể hiện cung cấp tiền vay của chính sách kinh tế nhà nước, trong một thời kỳ nào đó, là cơ sở để ngân hàng phân
Trang 20phối vốn vay, tổ chức quản lý hoạt động tín dụng Do yêu cầu của nền kinh tế
và mục tiêu chính sách tiền tệ của từng thời kỳ khác nhau, nên nội dung của chính sách tín dụng trong từng thời kỳ cũng khác nhau Những yếu tố cấu thành chủ yếu nội dung của chính sách tín dụng bao gồm:
+ Chính sách huy động vốn
+ Chính sách cung ứng và phân bổ tín dụng
+ Chính sách lãi suất
+ Chính sách kiểm soát an toàn tín dụng
Căn cứ chủ yếu để xác định chính sách tín dụng là chính sách chung, nhiệm vụ chung phát triển kinh tế quốc dân trong các thời kỳ lịch sử và yêu cầu của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Xác định chính sách tín dụng nhất thiết phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - chính trị ở từng thời kỳ nhất định của Nhà nước, đồng thời cũng phải phù hợp với quy luật khách quan vận hành cung cầu vốn trong nền kinh tế Chính sách tín dụng phải thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả vốn vay
và hiệu quả kinh tế - xã hội
từ các tổ chức tín dụng cho từng đơn vị kinh tế
2 Tiêu chuẩn cấp tín dụng: Ngân hành Trung ương quy định các điều kiện cấp tín dụng có tính chất hành lang pháp lý cho các tổ chức tín dụng thực hiện Đây là một công cụ mang tính hành chính bắt buộc, nhằm duy trì sự an toàn và những trật tự ổn định trên thị trường tín dụng
Nhóm 2: Các công cụ tác động gián tiếp
Trang 211 Tái cấp vốn: Thực hiện vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, Ngân hàng Trung ương sẽ là người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng, khi các tổ chức tín dụng đã sử dụng hết mọi khả năng vay vốn trong nền kinh tế cũng như vay lẫn nhau mà vẫn cần đến tiền của Ngân hàng Trung ương
2 Lãi suất điều tiết gián tiếp của Ngân hàng Trung ương: Thông qua lãi suất tái chiết khấu và lãi suất giao dịch trên thị trường tiền tệ (nghiệp vụ thị trường mở) Bằng công cụ lãi suất này Ngân hàng Trung ương thực hiện ý định mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng cho nền kinh tế
3 Dự trữ bắt buộc: Là công cụ khống chế khả năng tạo tiền của các tổ chức tín dụng Nó là tỷ lệ nhất định mà các tổ chức tín dụng đã huy động và phải trích gửi tài khoản riêng tại Ngân hàng Trung ương Do luôn phải trích một phần tiền huy động được gửi vào dự trữ bắt buộc, các ngân hàng không thể cho vay toàn bộ số tiền huy động, nên bị khống chế khả năng cho vay Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu nâng lên, khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng càng bị thu hẹp, khối lượng tín dụng cho nền kinh tế sẽ giảm Ngược lại, tỷ lệ dự trữ tối thiểu hạ xuống, thì các tổ chức tín dụng sẽ cho vay được nhiều hơn với cùng số tiền huy động được, khối lượng tín dụng cho nền kinh
tế sẽ có xu hướng mở rộng
1.3 Sự cần thiết phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở thế kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch
sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học - công nghệ Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về
lý luận và thực tiễn
Trang 22Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa, và từ thực tiễn công nghiệp hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [1, tr 281]
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên đây được Đảng ta xác định rộng hơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước, CNH, HĐH ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, CNH, HĐH ở nước ta vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa, là quá
trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ
Thứ hai, CNH, HĐH ở một nước nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng
đất/đầu người thấp, thu nhập quốc dân bình quân/đầu người thấp nên sức mua hạn chế
Trang 23Thứ ba, CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, CNH, HĐH diễn ra trong điều kiện khoa học công nghệ phát
triển mạnh mẽ, trong xu thé quốc tế hóa nền kinh tế vì vậy CNH, HĐH ở nước ta hiện nay tiến hành theo chiến lược kinh tế mở
Thứ năm, CNH, HĐH trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn, thời cơ và
nguy cơ tồn tại đan xen vì vậy chúng ta cần chủ động nắm thời cơ, phát huy những thuận lợi để triển khai nhanh quá trình CNH, HĐH theo những bước đi vững chắc, tạo thế và lực mới để vượt qua khó khăn thử thách, đẩy lùi nguy
tự chủ
1.3.2 Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cở sở vât chất - kỹ thuật tương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, là phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
Trang 24chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng nói trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp
Chủ nghĩa xã hội muồn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ Cơ sở vật chất - kỹ thuật đó phải tạo
ra một năng suất lao động xã hội cao Công nghiệp hóa chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở vật chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa được hoàn thiện Vì vậy, quá trình công nghiệp hóa chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ xã hội chủ nghĩa
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển rất nhanh chóng, có nhiều thời cơ và cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau Vì vậy, đất nước chúng ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra thế và lực mới để vượt qua những khó khăn, đẩy lùi nguy cơ, đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững
Trang 251.4 Vai trò của chính sách tín dụng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH chính sách tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là một nhân tố góp phần tác động và thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước Xét ở góc độ vĩ mô, chính sách tín dụng có những vai trò chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chính sách tín dụng là công cụ điều tiết khối lượng tiền tệ -
tín dụng trong nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ cũng như chính sách tín dụng
là ổn định tiền tệ và tăng trưởng kinh tế Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện những mục tiêu, chính sách tín dụng được xác đinh là một nội dung cơ bản, đồng thời là một công cụ quan trọng Chính sách cung ứng tiền (chính sách tín dụng vĩ mô của NHTW) cho nền kinh tế là chính sách quan trọng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ Chính sách cung ứng tiền thể hiện quan điểm về khối lượng tín dụng được cung cấp thêm cho nền kinh tế qua hệ thống các tổ chức tín dụng và kênh ngân sách Khi muốn thúc đẩy gia tăng tốc độ phát triển kinh tế, thì cần thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, đồng nghĩa với nó là một chính sách tín dụng mở rộng Ngược lại, khi nền kinh tế có những dấu hiệu bất ổn về tài chính, tiền tệ do mức độ tăng trưởng “nóng”, cần phải hạn chế tốc độ phát triển để ổn định tiền tệ thì NHTW sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Đồng nghĩa với nó là một chính sách tín dụng hạn chế Nghĩa là NHTW sẽ hạn chế việc cung cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng để giảm bớt khả năng cho vay các nhà đầu tư, giảm bớt khối lượng tiền có trong lưu thông, đảm bảo
ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát
Trang 26Thứ hai, chính sách tín dụng là công cụ quan trọng để Nhà nước quản
lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế, là giải pháp chủ yếu thực hiện các chương
trình kinh tế chiến lược, giải quyết các vấn đề có tính xã hội cấp bách
Nhà nước sử dụng chính sách tín dụng để hướng các hoạt động tín dụng trong nền kinh tế vào thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mình Bằng những công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp để thông qua các tổ chức tín dụng trong việc khuyến khích mở rộng tín dụng hoặc hạn chế tín dụng, chính sách tín dụng đã góp phần tạo lập những cân đối kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế Đối với lĩnh vực sản xuất, chính sách tín dụng mở rộng và tập trung sẽ giúp các doanh nghiệp có vốn, tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ phát triển sản xuất Đối với lĩnh vực tiêu dùng, chính sách tín dụng hỗ trợ sức mua của dân chúng, nhằm khuyến khích và đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa Như vậy vừa góp phần đẩy mạnh sản xuất, vừa góp phần đẩy mạnh tiêu dùng, chính sách tín dụng sẽ góp phần tạo cân đối và thúc đẩy cả sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế
Mặt khác, chính sách tín dụng có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ giải quyết các nhiệm vụ kinh tế quan trọng chiến lược và những nhiệm vụ có tính chính sách xã hội Những chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, những lĩnh vực và ngành nghề sản xuất chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân đòi hỏi một khối lượng vốn tín dụng đầu tư rất lớn, thời hạn dài Nếu không
có chính sách và chương trình tín dụng ưu đãi bằng cách tập trung các nguồn vốn và cơ chế ưu đãi thì khó có thể thực hiện được những nhiệm vụ và mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế Bên cạnh đó, với tư cách là những giải pháp quan trọng, Nhà nước đã sử dụng các chính sách và chương trình tín dụng ưu đãi để cùng với các chính sách khác hỗ trợ giải quyết các vấn đề có tính chính sách xã hội Phương thức tín dụng được xem như một giải pháp
Trang 27phù hợp và hiệu quả trong việc góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, khắc phục hậu quả thiên tai,…
Thứ ba, chính sách tín dụng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập
trung vốn, thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước
Quá trình phát triển của doanh nghiệp chính là quá trình tích tụ, tập trung vốn và tập trung hóa sản xuất Có thể thấy rằng, do đặc điểm kinh tế của các nước nghèo, chậm phát triển, quá trình tích lũy và tập trung vốn cho việc tái tạo, mở rộng sản xuất còn chậm Trong khi đó, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung lại cao, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tích lũy và mở rộng sản xuất nhìn chung còn kém Do đó, chính sách tín dụng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là nguồn lực quan trọng, không chỉ nhằm trực tiếp giúp các doanh nghiệp này có điều kiện ổn định và mở rộng sản xuất, mà còn có khả năng tích lũy sau mỗi chu kỳ sản xuất bằng các nguồn lợi nhuận của mình do việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả mang lại Như vậy, đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung,
mở rộng sản xuất sẽ vừa là mục tiêu thực hiện, vừa là điều kiện cho quá trình phát triển nối tiếp dần dần từ thấp đến cao của các doanh nghiệp trong điều kiện nguồn tích lũy ban đầu ít ỏi
Quá trình CNH, HĐH là quá trình thay đổi căn bản về chất và lượng của các cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Thực hiện yêu cầu đó, điều kiện cơ bản đầu tiên
là phải có vốn Trong khi bản thân từng doanh nghiệp, từng tổ hức kinh tế chưa có khả năng tích tụ, tập trung vốn và chưa có khả năng tập trung hóa sản xuất ở mức cao, thì việc tập trung nguồn vốn tín dụng sẽ hết sức quan trọng
và nó phải trở thành một trong những nguồn vốn chủ lực cho đầu tư phát triển Muốn vậy, cần phải có một chính sách tín dụng tập trung các nguồn vốn
Trang 28khai thác trong nền kinh tế và nước ngoài, hạn chế tình trạng lãng phí, phân tán vốn
Thứ tư, chính sách tín dụng góp phần thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế
Cùng với các chính sách kinh tế khác, chính sách tín dụng góp phần thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Tín dụng được sử dụng không chỉ trong nền kinh tế của mỗi nước mà còn được áp dụng trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là xu hướng toàn cầu hóa đang mở ra Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế, vay nợ nước ngoài đã trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên Thế giới, nó lại càng trở nên bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển
Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển nước là những nước nghèo, với nền kinh tế hầu như không có tích lũy, trong khi lại cần một lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế xã hội Ở nhiều nước, nhu cầu tín dụng quốc
tế gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế mở, do vậy cần thiết phải mở rộng và thu hút những khoản tín dụng đa dạng từ nước ngoài để hỗ trợ nguồn vốn trong nước Khi nền kinh tế tăng trưởng, khả năng đầu tư ngày càng mở rộng thì nhu cầu vay nợ đó là việc nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu
và công nghệ từ bên ngoài để phát triển và nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước Khi đó chính sách tín dụng quốc tế cũng cần được
mở rộng trên nhiều mặt để vừa đáp ứng nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp, vừa đảm bảo vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại, đảm bảo tự chủ và an ninh tiền tệ quốc gia Việc mở rộng chính sách tín dụng đối ngoại không chỉ nhằm thu hút nguồn vốn và sự trợ giúp của nước ngoài, mà còn tạo điều kiện hỗ trợ các hoạt động ngoại thương, hỗ trợ các hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Những thành tựu đạt được của việc thực hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Bước đầu xây dựng và điều hành chính sách tín dụng theo cơ chế thị trường
Quá trình đổi mới sang nền kinh tế thị trường ở nước ta cũng là quá trình đổi mới tư duy và nhận thức trong việc hoạch định các cơ chế chính sách theo những quy luật kinh tế khách quan của thị trường Việc xác lập, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách tín dụng là một nhiệm vụ cơ bản trong chỉ đạo và điều hành vĩ mô của Nhà nước Qua hơn 20 năm đổi mới toàn diện hoạt động ngân hàng, nội dung của chính sách tín dụng ngày càng được nhận thức rõ hơn trong điều kiện cụ thể của nước ta Chúng ta đã quan tâm nghiên cứu lý luận, tiếp cận kinh nghiệm của những nước đi trước, xây dựng chính sách vừa phù hợp với đường lối, chính sách chung của Đảng và Nhà nước, vừa phù hợp với trạng thái nền kinh tế từ những năm đầu chuyển đổi
Vì vậy, chính sách tín dụng đã bao hàm được nội dung lớn, như: Xác định khối lượng tín dụng tăng lên phù hợp tốc độ tăng giá trị tổng sản lượng
có tính đến mức trượt giá cho phép; thực hiện cung ứng tín dụng cả vốn cố định và vốn lưu động, mở rộng cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhất là khu vực kinh tế hộ gia đình; bước đầu xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong chính sách tín dụng đối với các thành phần kinh tế; chuyển hướng tín dụng sang sản xuất và đổi mới kỹ thuật, công nghệ, hướng sự cung ứng tới các ngành kinh tế có hiệu quả, như cho vay kinh tế hộ gia đình, cho vay xuất nhập khẩu, cho vay tiêu dùng; sử dụng các công cụ mới phù hợp cơ chế thị trường, trong quản lý và điều hành hoạt động tín dụng
Trang 30Việc hoạch định và điều hành chính sách tín dụng được thực hiện trên nền tảng vận dụng các quy luật cung cầu vốn, quy luật giá trị, các yêu cầu của chế độ hoạch toán kinh doanh và các nguyên tắc của tín dụng Chính sách tín dụng hướng các nghiệp vụ huy động và cho vay tiếp cận cơ chế thị trường theo khuân khổ và hành lang pháp lý đã được xác định theo Pháp lệnh ngân hàng trước đây và theo Luật ngân hàng, lấy yêu cầu hiệu quả, an toàn làm mục tiêu kinh doanh tín dụng
2.1.2 Chính sách cung ứng tín dụng được tập trung vào mục tiêu tăng nhanh khối lượng tín dụng cho nền kinh tế
Trong hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng nhanh khá lớn, GDP bình quân đạt được là 5,03%/năm (công bố của Tổng cục thống
kê 12/2012) Để đạt được mức tăng trưởng này, cùng với tổng thể các giải pháp kinh tế khác, chính sách tín dụng hướng vào huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước, đầu tư có hiệu quả cho yêu cầu phát triển nền kinh tế
- Về huy động vốn : Bằng nhiều giải pháp, nguồn vốn tín dụng được huy động trong những năm qua đã tăng lên nhanh chóng Cùng với các nguồn vốn đầu tư khác, vốn tín dụng được huy động từ các nguồn tiền tiết kiệm của dân chúng, tiền gửi của các tổ chức kinh tế và các nguồn vốn nhàn rỗi khác trong nền kinh tế
Đến năm 2011, tổng vốn huy động trong nước của các tổ chức tín dụng trong toàn quốc khá cao.Theo Báo cáo nghiên cứu, đánh giá cuối kỳ của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư về“Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội nước ta giai đoạn 2006 - 2010”: Tổng vốn đầu tư được huy động đưa vào
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm từ 2006 đến 2010 theo giá hiện hành đạt khoảng 3.062 nghìn tỉ đồng (tăng 14,4% so với kế hoạch) bằng 42,7% GDP, gấp hơn 2,5 lần so với 5 năm trước đó (2001 - 2005) Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng
Trang 31đến cuối tháng 12/2010 ước tăng 1,83% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 27,2% so với cuối năm 2009, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng ước tăng 2,28% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 29,81% so với cuối năm
2009 Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán cũng ước tăng 1,87% so với cuối tháng 11/2010 và tăng 25,3% so với cuối năm 2009; trong đó, tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng tăng 2,14% và 15,01%
Biểu đồ 2.1 Tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng ở
Việt Nam
N guồn: Báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước
Như vậy cơ cấu đầu tư đã được điều chỉnh theo hướng đẩy mạnh hơn việc phát triển kinh tế bền vững, chú trọng huy động mạnh mẽ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển mạnh
mẽ sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế
Đồng thời, thực hiện chính sách kinh tế mở của Đảng và Nhà nước thời gian qua, các quan hệ kinh tế đối ngoại được tăng cường và phát triển tạo điều
Trang 32kiện cho việc huy động vốn từ nước ngoài ngày một tăng lên Vốn huy động
từ nước ngoài thông qua nhiều hình thức vay nợ, viện trợ, đầu tư trực tiếp Trong đó, nguồn vốn tín dụng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng Việt Nam , hoặc do các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh tại Việt Nam đưa vào nước ta khá lớn
Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện dưới 04 hình thức chính: (1) Đầu tư trực tiếp (FDI); (2) Đầu tư gián tiếp (FII); (3) Tín dụng quốc
tế (chủ yếu thu hút qua hình thức thu hút vốn ODA); (4) Nguồn kiều hối gửi
về Việt Nam hàng năm Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết tháng 11/2012, cả nước có 14.198 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là hơn 208,1 tỷ USD
Biểu đồ 2.2 Nguồn vốn ODA giai đoạn 2001 - 2009
(Không bao gồm nguồn ODA vay để cho vay lại của năm 2009)
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước
Trang 33Bảng 2.1 FDI Việt Nam giai đoạn 1988 - 2009
(triệu USD)
Vốn thực hiện (triệu USD)
Trang 34Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp (FDI) vào Việt Nam giai đoạn 2006-2011
(Đơn vị triệu USD)
- Về cung ứng tín dụng cho nền kinh tế: Tổng dư nợ toàn nền kinh tế đến tháng 11/ 2012 đạt 2.984.314 tỷ đồng, tăng hơn 17 lần dư nợ năm 2000 (167.016 tỷ đồng) Mức tăng trưởng khá cao này được thực hiện trên cơ sở mức tăng nguồn vốn và nhu cầu đầu tư có hiệu quả cho sản xuất kinh doanh
và phát triển trong nền kinh tế
Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng
( Tháng 11 năm 2012 )
Tháng 11/2012 (Tỷ đồng)
Tốc độ tăng (giảm)
so với tháng 12/2011 (%)
1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và
Trang 35tải và Viễn thông
- Vận tải và Viễn thông 140.914 -10,93
4 Các hoạt động dịch vụ khác 804.722 13,70
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước
2.1.3 Chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước đã góp phần thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
Sau hơn 20 năm đổi mới, chính sách tín dụng này đã được đổi mới về
cả cơ chế quản lý, cơ chế vận hành, phát huy được những mặt tích cực trong việc huy động các nguồn vốn, tập trung cho vay ưu đãi có chọn lọc các chương trình kinh tế, xã hội trọng điểm, các đối tượng chính sách, sinh viên nghèo, góp phần làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chủ đạo trong nền kinh tế, giải quyết những khó khăn bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội Mặt khác tín dụng ưu đãi và tín dụng chính sách của Nhà nước đã cùng với tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng tạo thành một
hệ thống các hoạt động tín dụng tổng thể, đáp ứng nhu cầu vốn, kể cả vốn ngắn hạn và trung dài hạn cho mọi thành phần kinh tế
Đối với tín dụng đầu tư ưu đãi trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Bước đổi mới cơ bản của chính sách tín dụng này là chuyển từ hình thức cấp phát sang hình thức tín dụng ngân hàng, tạo cho các công cụ đòn bẩy tín dụng như: Lãi suất, thời hạn vay trảm thế chấp, bảo lãnh,… phát huy tác dụng làm cho nguồn vốn từ NSNN được bảo tồn và có hiệu quả
Trong hoạt động quản lý chi NSNN chi đầu tư xây dựng cơ bản có một vai trò đặc biệt quan trọng, đó được coi là đòn bẩy có tác động trực tiếp tới mức tăng trưởng GDP và sự phát triển bền vững của nền kinh tế Chính vì vậy, việc chi đầu tư xây dựng cơ bản luôn được Nhà nước quan tâm chỉ đạo
Trang 36và giám sát chặt chẽ Trong những năm vừa qua, việc chi NSNN về lĩnh vực xây dựng cơ bản đã đạt được nhiều kết quả, mang lại lợi ích cho đất nước Nhiều công trình phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, các trường học, bệnh viện được xây dựng và đưa vào sử dụng góp phần nâng cao đời sống nhân dân, nhiều dự án quan trọng từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả, tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế
Bảng 2.4 Quyết toán chi ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005 - 2009
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Tổng chi 262.697 308.058 399.402 494.600 584.695 Trong đó:
tỷ đồng, tăng 37,6% so với dự toán, bằng 96% mức thực hiện năm 2009, chiếm 25,7% tổng chi NSNN và bằng 8,7% GDP Số vượt chi so với dự toán được sử dụng từ nguồn dự phòng ngân sách nhà nước đã bố trí đầu năm và một phần nguồn vượt thu NSNN so với dự toán năm 2010 (chủ yếu là nguồn vượt thu tiền sử dụng đất so với dự toán của các địa phương theo chế độ quy định); được tập trung sử dụng cho các dự án quan trọng, cấp bách có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2010 - 2011, các dự án đầu tư nâng cấp công trình sạt lở đê kè cấp bách và giảm nhẹ tác hại thiên tai…
Trang 37Trong năm 2011 nước ta dự toán ngân sách chi đầu tư phát triển là 152.000 tỷ đồng trong đó có 145.290 tỷ đồng là chi cho xây dựng cơ bản Ước thực hiện cả năm, trên cơ sở dự toán đầu năm, cộng thêm vốn dự kiến bổ sung từ nguồn dự phòng và nguồn vượt thu ngân sách nhà nước, đạt 175.000
tỷ đồng, tăng 15,1% so với dự toán, tăng 9% so với thực hiện năm 2010, bằng 22% tổng chi NSNN
Mỗi năm, đều có rất nhiều dự án xây dựng trọng điểm được Quốc hội phê duyệt và tiến hành thi công Nhiều dự án quan trọng từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, ước tính cả nước có trên 1.500 km đường giao thông các loại, trên 1.000 km kênh mương được xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo hoàn thành; năng lực tưới tăng thêm 200 nghìn ha; hàng nghìn phòng học, nhà bán trú được xây mới; các dự án phục vụ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, cầu Cần Thơ, cầu Hàm Luông, cầu Thanh Trì, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, sân bay Cần Thơ… đã hoàn thành, đưa vào khai thác phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
Đối với tín dụng ưu đãi trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Chính sách tín dụng này dành cho các đối tượng ưu đãi, chính sách là một trong những giải pháp quan trọng của Nhà nước để thực hiện mục tiêu ổn định phát triển kinh tế, xã hội Phát triển và từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Nhà nước đã xác định trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tín dụng chính sách của Nhà nước chủ yếu tập trung hỗ trợ các chương trình kinh tế trọng điểm, các ngành nghề như sản xuất lương thực và thực phẩm thiết yếu, sản xuất hàng xuất khẩu quan trọng, đóng mới tàu thuyền, đánh bắt hải sản, hỗ trợ cho vay ưu đãi các vùng dân cư nghèo đói, cho vay khắc phục thiên tai lớn trên diện rộng,…
Chính sách tín dụng ưu đãi cho giáo dục đại học và dạy nghề
Trang 38Chính sách tín dụng ưu đãi cho học tập được triển khai cách đây hơn 10 năm theo Quyết định số 51/1998/QĐ-TTg ngày 2-3-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ tín dụng đào tạo Sau 5 năm triển khai, đến hết năm
2002, Quỹ tín dụng đào tạo đã huy động được 165,5 tỉ đồng Doanh số thu nợ
từ đầu chương trình đến ngày 31-12-2002 đạt 15,7 tỉ đồng, trong đó có 7.739 sinh viên đã trả hết nợ, chiếm tỷ trọng 16% tổng số sinh viên được vay vốn Tổng dư nợ của Quỹ tín dụng đào tạo đến hết năm 2002 là 73,24 tỉ đồng
Để hoàn thiện hơn chính sách này từ đầu năm 2003 Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam được thành lập, chính sách cho vay vốn học tập đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn từ Ngân hàng Công thương Việt Nam được chuyển giao cho Ngân hàng chính sách xã hội đảm nhận
Sau hơn 3 năm triển khai “Chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên” theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27-9-2007 của Thủ tướng Chính phủ, đến cuối năm 2010 Ngân hàng chính sách xã hội đã thực hiện cho vay trên 17.400 tỉ đồng Trong chương trình tín dụng học kỳ I năm học 2010 -
2011 Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chỉ đạo Kho bạc Nhà nước cho Ngân hàng chính sách xã hội vay 5.600 tỉ đồng để đáp ứng nhu cầu vay của học sinh, sinh viên Tính đến đầu năm 2011 đã có trên 2 triệu học sinh, sinh viên của gần 1,8 triệu hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn vay trên 24.000
tỉ đồng theo “Chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên” Ước tính có khoảng 28% - 30% tổng số học sinh, sinh viên trong toàn quốc được vay vốn tín dụng học tập Với dư nợ hiện nay trên 24.000 tỉ đồng, lãi suất cho vay 6%/năm, tính bình quân lãi suất đầu vào nguồn vốn khoảng 10%/năm, chênh lệch 4%/năm, thì mỗi năm lãi suất chênh lệch mà ngân sách cấp bù lên tới khoảng 1.000 tỉ đồng Chính sách này cũng mở rộng sang cho các trường đại học, cao đẳng, vay vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường, nhất là xây dựng ký túc xá cho sinh viên nếu các cơ sở đào tạo đó có nhu cầu
Trang 39Kết hợp giữa vốn tín dụng của Nhà nước thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, với vốn đầu tư của ngân sách địa phương, nguồn kinh phí của nhà trường,
động tín dụng có quy mô lớn đứng hàng thứ hai sau tín dụng đối với hộ nghèo trong số các chương trình cho vay đối tượng chính sách do Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam thực hiện Chương trình này cũng được đánh giá là thành công nhất về tín dụng học tập trên thế giới
2.1.4 Phát triển và ngày càng hoàn thiện hệ thống tổ chức Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng
Công cuộc đổi mới toàn bộ cơ chế tổ chức và hoạt động ngân hàng được bắt đầu từ việc đổi mới mô hình tổ chức hệ thống ngân hàng, chuyển từ ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp Pháp lệnh Ngân hàng tháng 5/1990 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ việc thiết lập hệ thống ngân hàng hai cấp: Một là, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương Hai là, các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật Sự hình thành rõ rệt hai hệ thống đó đã đưa đến sự phân định vai trò, trách nhiệm của mỗi hệ thống đối với chính sách tiền tệ, tín dụng
Đó là, Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, còn các tổ chức tín dụng có nhiệm vụ triển khai thực hiện các định hướng, nội dung để đạt được mục tiêu của nó
Như vậy, điều kiện cần để xây dựng một chính sách tín dụng phù hợp
là khả năng nghiên cứu và hoạch định của Ngân hàng Nhà nước, còn điều kiện đủ để khai thác thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng là hệ thống các
tổ chức tín dụng Thời gian qua, hệ thống các tổ chức tín dụng trong cả nước được hình thành và phát triển nhanh theo hướng:
Trang 40- Đa dạng hóa về loại hình (ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư
và phát triển, công ty tài chính, quỹ tín dụng, )
- Đa dạng hóa về sở hữu (nhà nước, cổ phần, hỗn hợp nhà nước và các thành phần kinh tế khác,…)
- Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường tiền tệ, tín dụng ở Việt Nam (ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty cho thuê tài chính,…)
- Phát triển rộng khắp chi nhánh của các tổ chức tín dụng trong toàn quốc; phân cấp việc kinh doanh của các chi nhánh để nhằm mở rộng việc huy động vốn và cung ứng tín dụng cho nền kinh tế
Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và các tổ chức tín dụng khác Tại 6/2011 tổng số chi nhánh phòng giao dịch của các tổ chức tín dụng lên tới 9.665, bình quân 8.898 người dân/chi nhánh, phòng giao dịch Tổ chức tín dụng ngân hàng bao gồm 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 35 Ngân hàng thương mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 5 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, và 54 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 99 tổ chức chiếm đến 80% thị phần huy động và cho vay chủ yếu
và đóng vai trò chính cho việc huy động và phân bổ vốn cho nền kinh tế Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu như nhận tiền gửi, tín dụng, thanh toán và chuyển tiền, các tổ chức trên còn cung cấp các dịch vụ đa dạng hóa các hoạt động tài chính như: Bảo lãnh, bảo hiểm, hợp đồng phái sinh, hoặc các hoạt động đầu tư, quản lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm 30 công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, 01 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và 915 Quỹ tín dụng cơ
sở Các tổ chức trên được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, trừ các hoạt động nhận tiền gửi