1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề trẻ em lao động sớm ở làng nghề truyền thống tại xã hoàng đôn, huyện duy tiên, tỉnh hà nam hiện nay

63 672 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 623,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng cũng chính điều đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều gia đình kéo dài thời gian sử dụng trẻ em trong lao động, ảnh hưởng đến học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=====***=====

NGUYỄN THỊ KIỀU

VẤN ĐỀ TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM

Ở LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TẠI

XÃ HOÀNG ĐÔNG, HUYỆN DUY TIÊN,

TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học ThS Hoàng Thanh Sơn

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Hoàng Thanh Sơn – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy, cô Khoa Giáo Dục Chính Trị đã giảng dạy em trong suốt thời gian qua

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Với sự hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô cũng như các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ KHÓA LUẬN

Nguyễn Thị Kiều

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Hoàng Thành Sơn Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên

Nguyễn Thị KIều

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẺ EM VÀ LAO ĐỘNG 4 1.1.Lý luận cơ bản về trẻ em và lao động 4 1.2.Những ảnh hưởng đối với trẻ lao động sớm 14 Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRẺ LAO ĐỘNG SỚM Ở LÀNG NGHỀ TRUYỀN THÔNG TẠI XÃ HOÀNG ĐÔNG, HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM 18 2.1.Giới thiệu sơ lược về nghề truyền thống mây trẻ đan ở xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam 18 2.2 Thực trạng trẻ em lao động sớm ở nghề truyền thống mây tre đan tại

xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam 19 Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG SỚM CỦA TRẺ EM Ở XÃ HOÀNG ĐÔNG HUYỆN DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY 47 3.1.Những phương hướng để khắc phục tình trạng lao động sớm của trẻ

em ở xã Hoàng Đông, huyên Duy Tiên, tỉnh Hà Nam 47 3.2 Một số giải pháp để khắc phục tình trạng lao động sớm trẻ em lao động sớm ở xã Hoàng Đông huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam 50 KẾT LUẬN 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em mầm mon của đất nước - là mối quan tâm chung của cả thế

giới Trong công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 khẳng định :“Trẻ

em phải được bảo vệ và chăn sóc đặc biệt” Phát huy tinh thần đó Đảng

và Nhà nước ta rất quan tâm tới vấn đề trẻ em, đặc biệt là quyền lợi để

phát triển trẻ em một cách toàn diện Hồ Chí Minh đã dạy “Tuổi nhỏ làm

việc nhỏ tùy theo sức của mình” Lao động phù hợp với sức khỏe của trẻ

em và trong phạm vi pháp luật cho phép thì đó là lao động tích cực giúp trẻ em phát triển toàn diện

Bên cạnh những trẻ em được chăm sóc đầy đủ, còn một bộ phận trẻ

em rơi vào hoàn cảnh khó khăn, không được hưởng những quyền lợi cơ bản của trẻ em, trong đó có trẻ em pải lao động sớm Vấn đề trẻ em lao động sớm hiện nay đang diễn ra nhiều nơi ở nước ta, đặc biệt là những tỉnh kinh tế kém phát triển

Hà Nam là một tỉnh mới được thành lập, kinh tế còn chưa phát triển mạnh, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, gần 80% dân số làm nông nghiệp nên người dân nhiều nơi trong tỉnh làm nghề truyền thống trong những ngày nông nhàn để tạo thêm thu nhập Xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam là một trong những xã nổi tiếng với nghề truyền thống mây tre đan xuất khẩu Hiện nay trong xã đang diễn ra tình trạng sử dụng trẻ em lao động sớm vào sản xuất mây tre đan Lứa tuổi từ

11 đến 18 tuổi là lứa tuổi được sử dụng lao động nhiều nhất Bằng sự nhanh nhẹn, khéo léo của đôi bàn tay, các em đã tạo ra các sản phẩm đẹp

và đúng yêu cầu Nhưng cũng chính điều đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều gia đình kéo dài thời gian sử dụng trẻ em trong lao động, ảnh hưởng đến học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ

Trang 6

Lao động trong các làng nghề truyền thống xưa nay vẫn được coi là lao động nhẹ, không thuộc nhóm nghề lao động nặng nhọc, nguy hiểm Do

đó, vấn đề này chưa được quan tâm một cách đúng mức.Vì những lý do

khách quan đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vấn đề trẻ em lao động sớm ở

làng nghề truyền thống tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là đề tài được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ trước đến nay Đã có một số công trình nghiên cứu như công trình của tác giả Đặng

Nhật Hùng với nhan đề: “Vấn đề trẻ em lao động sớm”, và một số công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Long với nhan đề “Chăm sóc,

bảo về, phòng ngừa lao động trẻ em ở nước ta hiện nay”, và “Công tác xã hội với trẻ em lao động sớm tại Thanh Xuân, Hà Nội” … Hay đề tài khoa học

của Bộ lao động Thương binh xã hội với đề tài: “Những cơ sở khoa học và

thực tiễn các chính sách bảo vệ lao động trẻ em”

Từ trước đến nay vấn đề trẻ em lao động sớm được nhiều sách, luận

văn nghiên cứu Với “Chuyên đề lao động trẻ em” của Viện nghiên cứu khoa

học pháp lý của bộ Tư pháp

Tuy nhiên, đa số các bài viết mới chỉ đề cập tới trẻ em lang thang, trẻ

em giúp việc tham gia lao sớm Hiện nay chưa có những nghiên cứu sâu về trẻ em lao động sớm trong các làng nghề truyển thống

3 Mục đích nghiên cứu

* Mục đích của khóa luận là hệ thống một số quan điểm của C.Mác -

Ph.Ăngghen về lao động và phân tích việc sử dụng trẻ em trong lao động sản xuất mây tre đan tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

* Nhiệm vụ của khoá luận

Thứ nhất: hệ thống một số quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về lao động

Trang 7

Thứ hai: phân tích việc sử dụng trẻ em trong lao động sản xuất mây tre đan tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề lao động,

quan điểm của Đảng và Hồ Chí Minh về trẻ em làm cơ sở lý luận

* Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp triết học Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời còn sử dụng một số phương pháp: So sánh, phân tích các số liệu thu thập và tổng hợp đưa ra kết luận chung

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về lao động và phân tích việc sử dụng

trẻ em trong lao động sản xuất mây tre đan tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu

Ở xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa của khóa luận

Khóa luận đã bước đầu làm sáng tỏ và hệ thống một số quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề lao động và phân tích việc sử dụng trẻ em trong lao động sản xuất mây tre đan tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay Qua đó góp phần vào việc thống nhất nhận thức lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề lao động Khóa luận có ý nghĩa trong việc nhận thức và nâng cao giáo dục chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay, nhất là trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được chia làm 3 chương và 6 tiết:

Trang 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẺ EM

VÀ LAO ĐỘNG 1.1.Lý luận cơ bản về trẻ em và lao động

1.1.1.Khái niệm trẻ em

- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “Trẻ em là người dưới

18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”

- Khái niệm trẻ em đã dược đề cập trong Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (1968): Trẻ em là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về mặt trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội, ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm

- Hồ Chí Minh cho rằng: Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình,

là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

tổ quốc Trẻ em là lớp công dân đặc biệt, là nguồn nhân lực tương lai, là nhân tố quyết định đến phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt tới

trẻ em Sự quan tâm này xuất phát từ tầm nhìn xa, trông rộng "vì lợi ích

trăm năm phải trồng người", từ tình thương yêu vô hạn đối với con trẻ

Bác nói: "cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi, quả mới tốt Con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi, thì dân

tộc mới có thể tự cường tự lập" "Ngày nay, các cháu là nhi đồng Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới" Bác đánh giá rất

cao vai trò của trẻ em: "Các cháu đoàn kết thì thế giới hòa bình và dân

Trang 9

chủ, sẽ không có chiến tranh" , "Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt niềm tin và xác định rõ vai trò, trách nhiệm của trẻ em là những chiến sỹ cách mạng, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Nhân ngày khai trường đầu tiên dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa, Bác đã gửi bức thư tâm huyết cho các cháu học sinh

trong cả nước Mở đầu bức thư Bác viết: “Ngày hôm nay là ngày khai

trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bác đã tưởng tượng thấy trước mắt Bác tất cả cảnh nhộn nhịp, tưng bừng của ngày mở trường khắp nơi Các cháu được hưởng sự may mắn đó là nhờ sự hy sinh của biết bao đồng bào Vậy các cháu nghĩ sao? Các cháu phải làm thế nào để đền bù lại công lao to lớn của những người đã không tiếc thân và tiếc của

để giành lại nền độc lập cho nước nhà” “Các em hãy nghe lời tôi, lời của một người anh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang", "Ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên

đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”

Ưu tiên cho trẻ em chính là thể hiện quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi chủ trương chính sách phát triển trước hết phải hướng vào mục tiêu phát triển con người Bác Hồ

đã giải thích rất ngắn gọn và dễ hiểu chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giầu, nước mạnh , chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng mà trước hết là trẻ

Trang 10

em Đây cũng là tư tưởng nhất quán của Bác Hồ và của Đảng ta: con người là vốn quý nhất, mà thiếu niên, nhi đồng lại là cái vốn quý nhất trong cái vốn quý nhất đó"

Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên ở nước

Việt Nam mới, Bác viết: " từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được

nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam , một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em" Đó là một nền giáo dục giúp cho các em phát triển toàn diện về đức,

trí, thể, mỹ, giúp cho các em phát huy hết khả năng vốn có của mình Nền giáo dục giúp cho nhi đồng phát triển sức khỏe và trí óc, thành những trẻ

em có "4 tính tốt": hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà mở mang tính

hăng hái và tính sáng tạo của nhi đồng Làm cho nhi đồng dần dần có cái

tư cách của con người mới: không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan Mục đích giáo dục của Bác Hồ là xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc để mai sau nhi đồng ta thành những công dân có tài, đức, xứng đáng là người chủ của nước Việt Nam Quan điểm này chính là sự thể hiện niềm tin của Bác Hồ vào trẻ em, coi trẻ em là người có sứ mệnh quyết định vận mệnh của quốc gia trong tương lai Những gì các thế hệ cha anh chưa làm được thì cần bồi dưỡng, giáo dục, tạo cơ hội nhất định cho thế hệ con em làm được Bác rất hiểu trẻ em, tôn trọng trẻ em và tạo điều kiện để các em được phát triển một cách đầy đủ nhất về mọi phương diện

Vào tháng 2/1948, Bác Hồ đề xướng sáng kiến tổ chức phong trào

hành động cách mạng của thiếu nhi Việt Nam lấy tên là “Phong trào Trần

Quốc Toản”, Bác viết thư gửi các cháu: Qua năm mới, Bác đề nghị các

cháu làm một việc là các cháu tổ chức những Đội Trần Quốc Toản Bác

Trang 11

không mong các cháu tổ chức những đội Trần Quốc Toản để đi đánh giặc

và lập được nhiều chiến công nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến bằng cách giúp đỡ đồng bào Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một Đội giúp nhau học hành, khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào Trước giúp các nhà chiến sỹ, thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ v.v Đội này thi đua với đội khác Mỗi tháng một lần, các đội báo cáo cho Bác biết Đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen Đó là ý kiến của Bác Nếu cháu nào

có nhiều sáng kiến tìm ra nhiều cách giúp đỡ càng tốt Các cháu nên hiểu rằng giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến Và do đó các cháu sẽ luyện tập cái tinh thần siêng năng và bác ái để sau này thành người công dân tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phú

1.1.2.Khái niệm lao động

* Quan điểm ngoài Mác xít

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của xã hội loài người, là

cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa, xã hội Nó cũng là nhân tố của bất

cứ quá trình sản xuất nào

Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con nguời, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về lao động

Trang 12

Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình là một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người và tự nhiên

Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người Nhờ có lao động con người tách ra khỏi giới động vật Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con người và động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con người thì lao động mà giới mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình, thay đổi nó Bắt nó phục tùng cho những nhu cầu của mình Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo khách quan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc

lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định

Vì thế có thể nói rằng lao động tạo ra ý thức tư tưởng hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động

Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động mà

là kết quả hoạt động chủ động của con người Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan phục vụ cho mình

Ăng-ghen đã viết trong tác tác phẩm: “Vai trò của lao động trong

lịch sử tiến hóa từ vượn thành người”, ông nhấn mạnh “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo

Trang 13

ra chính bản thân con người” Như vậy, có thể phân biệt con người với

súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng

được.“Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật

ngay khi con nguời bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình

Đó là một bước tiến do cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”[7, tr.44]

Đồng thời các ông cũng khẳng định: “Người là giống vật duy

nhất có thể lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy loài vật”

[7,tr.19]

Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi cải biến tự nhiên Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình giúp hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xản xuất Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Với tư cách là thực thể xã hội con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên theo mục đích của mình đồng thời thúc đẩy sự vận động của lịch sử xã hội Trong quá trình cải biến tự nhiên con người cũng làm ra lịch sử chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C Mác và Ph Ăghen viết

“nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống,

nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa” Vì vậy con người phải

tham gia vào sản xuất vào những thứ đó Quá trình sản xuất hay quá

Trang 14

trình lao động ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tối thiểu đầu tiên của

con người đã giúp con người trở thành “Người” theo đúng nghĩa của nó

Nhờ lao động, con người đã sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình

và đó là điểm khác biệt giữa con người và con vật Khi nhận định bước nhảy từ loài vượn sang loài người thì nhờ có ngôn ngữ và lao động Lao động lúc mới phát sinh và phát triển từ tổ tiên loài vượn thì dĩ nhiên là tiến hành theo bản năng nhưng ý thức và ngôn ngữ đã xuất hiện và phát triển thì lao động trở thành lao động có tính chất xã hội Ở mỗi bước tiến lên của lao động

xã hội của tiếng nói và ý thức lại hình thành ra nhữn con đường mới của hoạt động liên hệ thần kinh trong vỏ não Và trên cơ sở đó lựa chọn tự nhiên cố định – trên một cơ cấu di truyền trên vỏ não làm cho con đường liên hệ thần kinh mới xuất hiện trong thực tiễn lao động Tầng trên của võ não người chính là cơ sở di truyền của bản năng lao động xã hội của con người nguyên thủy mà C.Mác và Ph.Ănggen đã nhận định là bản năng có ý thức Do đó bản năng lao động xã hội với tư cách là bản năng có ý thức Lao động xã hội quyết định đời sồng con người nên bản năng sinh vật được thu hút và hội nhập vào bản năng lao động xã hội, cái bản năng xã hội đặc thù của con người

Theo Ph.Ănggen cùng với giới tự nhiên cung cấp những vật liệu cho hoạt động sản xuất , lao động là nguồn gốc của mọi của cải Hoạt động sản xuất vật chất tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì mọi sự tồn tại và phát triển của con người nói chung cũng như từng cá thể con người nói riêng Tuy nhiên

ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp đó “lao động còn là cái gì vô cùng lớn

lao hơn thế nữa” [ 8,tr.641]

Bằng việc “sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình , con người

đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [9,tr.640]

Trang 15

Trải qua lịch sử dài lâu chinh phục giới tự nhiên con người càng hiểu rõ hơn sức mạnh của mình Cùng với việc cải tiến bản thân mình và các quan hệ giữa con người với nhau làm cho việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn Con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển trong

quá trình hoạt động sản xuất vật chất “lao động đã sáng tạo ra bản thân con

người” [10,tr.641] và xã hội đã ra đời cùng với sự xuất hiện của con người

hoàn chỉnh

* Quan điểm của Hồ Chí Minh về lao động

Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ nại mới đáng xấu hổ Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang cả

* Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về lao động

Theo Hiến pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 tại Điều 5 lao động được định nghĩa như sau: “lao động là quyền và

nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [4, tr.10]

Nhà nước sẽ ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước cũng quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế

độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức, những người làm công ăn lương, khuyến khích các hình thức bảo hiểm đối với người lao động Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút những người lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ Và Nhà nước có chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu

tư, phát triển sản xuất kinh doanh để giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 16

Nhà nước sẽ có những trách nhiệm sau:

Thứ nhất, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để giải quyết việc làm cho người lao động Và các hoạt động tạo ra việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm

Thứ hai, tuyên truyền phổ biến rộng rãi để mọi công dân nắm được các văn bản pháp lý

Thứ ba, kiểm tra việc thực hiện

Thứ tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động

Thứ năm, xử lý các vụ việc vi phạm về quyền và nghĩa vụ lao động của công dân

Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con nguời, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và hoạt động mang tính bản năng của con vật Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của mình để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng

Thứ hai: xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Đề cập đến điều này là nhằm phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động

Trang 17

Thứ ba, xét về mặt nội dung, hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất

và tinh thần phục vụ lợi ích của con người Đề cập đến điều này là để phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động Ngày nay, hoạt động lao động không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp bảo vệ tự nhiên

Đến đây có thể thấy sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm sức lao động

và lao động; sự khác nhau thể hiện ở chỗ nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động, còn nói đến lao động là nói đến hành động đang diễn ra Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội v.v ) mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không diễn ra được

* Trẻ em lao động sớm

- Theo tổ chức RWG-CL: Lao động trẻ em bao gồm tất cả các loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực hiện mà có hại cho sức khỏe hoặc cơ thể, tinh thần, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và ảnh hưởng tới việc học tập của trẻ em

- Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào nhằm đưa ra một khái niệm đầy đủ về lao động trẻ em mà chỉ có những nghiên cứu với một

số dạng hình cụ thể của lao động trẻ em như: Trẻ em làm thuê, trẻ em bị buôn bán, Như vậy, để phù hợp với những quan điểm quốc tế thì lao động trẻ em có thể hiểu như sau:

Lao động trẻ em là những người dưới 18 tuổi có tham gia hoạt động kinh tế và bị rơi vào một trong những trường hợp sau:

+ Bị cưỡng bức lao động

Trang 18

1.2.Những ảnh hưởng đối với trẻ lao động sớm

1.2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em lao động sớm

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trẻ lao động sớm nhưng nhìn chung có ba yếu tố cơ bản ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của các em và gia đình của trẻ làm cho trẻ em phải lao động sớm đó là: yếu tố kinh tế, yếu tố nhận thức, và yếu tố dịch vụ vui chơi giải trí

* Về yếu tố kinh tế

Kinh tế là yếu tố quyết định cuộc sống và mức độ sinh hoạt của mỗi gia đình Khi kinh tế ổn định thì những nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, mặc, ở, đi lại được thỏa mãn thì con người sẽ có điều kiện để phát triển cao hơn Khi đó các gia đình sẽ có điều kiện chăm sóc con cái, trẻ em được đến trường và được quan tâm đầy đủ hơn

Ngược lại, nếu kinh tế khó khăn hoặc nghèo đói, thì việc đáp ứng những nhu cấu cơ bản thấp, con người sẽ có ít điều kiện để phát triển ở mức cao hơn Những lo lắng về bát cơm manh áo đã chiếm hết thời gian của cha mẹ và các em Do đó trẻ em ít được quan tâm hơn Và nhiều trẻ

em vì gia đình khó khăn đã không được đến trường mà phải ở nhà phụ

Trang 19

giúp cha mẹ làm thêm Chính điều này đã dẫn đến tình trạng trẻ em lao động sớm

* Về yếu tố nhận thức

Yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố kinh tế Xuất phát từ kinh tế kém phát triển, người dân không có điều kiện để học hành, nâng cao nhận thức Nhiều bậc cha mẹ của trẻ có trình độ thấp, chưa hiểu hết những hậu quả của việc sử dụng trẻ em lao động sớm đã ảnh hưởng đến

sự phát triển của trẻ Vì thế, để giải quyết những khó khăn trước mắt họ đã

sử dụng con em mình vào lao động làm thêm trước tuổi và kéo dài thời gian lao động Bên cạnh đó do trình độ dân trí thấp, nhiều người nông dân chưa tiếp cận với quy định của nhà nước nên chưa hiểu được trách nhiệm

và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái

* Về yếu tố dịch vụ - vui chơi giải trí

Vấn đề vui chơi giải trí là một vấn đề rất quan trọng đối với trẻ em Ngoài thời gian học hành, ăn, ngủ, các em còn có nhu cầu vui chơi giải trí lành mạnh để phát triển cả thể chất lẫn tinh thần Tuy nhiên do ở nông thôn ít các dịch vụ vui chơi giải trí công cộng cho trẻ em, nên thời gian rảnh rỗi ngoài giờ học của các em nhiều nên gia đình đã tận dụng để các

em làm những công việc nhà hoặc lao động kiếm tiền giúp đỡ gia đình

1.2.2.Ảnh hưởng của lao động sớm đến trẻ vị thành niên

Trong quá trình phát triển của loài người, lao động đóng một vai trò quan trọng Chính nhờ quá trình lao động mà loài vượn đã tiến hóa thành con người hoàn chỉnh như ngày nay Ăng-gen đã viết trong tác phẩm:

“Vai trò của lao động trong lịch sử tiến hóa từ vượn thành người”, ông

nhấn mạnh “ trong một chừng mực nhất định có thể nói lao động sáng

tạo nên chính con người” Do đó, lao động có vai trò hết sức tích cực đối

Trang 20

với con người Tuy nhiên đối với trẻ em thì lao động có hai chiều hướng tích cực và tiêu cực:

* Ảnh hưởng tích cực của lao động đối với trẻ

Đối với trẻ em, nếu công việc lao động phù hợp với sức khỏe, không ảnh hưởng đến việc học hành, vui chơi giải trí của các em thì đó là điều kiện tốt để các em phát triển cả thể chất lẫn nhân cách Thông qua lao động các em có thể học hỏi được kinh nghiệm sống và làm việc Đó là những kinh nghiệm cần thiết cho sau này Quá trình lao động đem lại nhận thức về quy luật tự nhiên, xã hội mà trẻ em đã được học kiến thức ở nhà trường, trẻ có thể thực hành và rút ra bài học từ thực tế Đó là những nền tảng tạo cho các em sự tự tin, phát triển toàn diện về cả thể chất và nhân cách để bước vào đời

* Ảnh hưởng tiêu cực của lao động đối với trẻ

Bên cạnh những tác động tích cực thì vấn đề trẻ em tham gia lao động có những tồn tại ảnh hưởng không tốt cho quá trình phát triển cuả trẻ

em Nếu như trẻ em bị lạm dụng lao động quá sức hoặc trẻ em tham gia lao động sớm với thời gian kéo dài sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho chính bản thân các em, cho gia đình và cho xã hội

Về mặt thể chất, sức khỏe:

Theo nghiên cứu thì trẻ em đang trong độ tuổi dậy thì, cơ thể các

em bắt đầu phát triển mạnh và có sức khỏe hơn giai đoạn trước Tuy nhiên nguồn sức của các em lại nhanh cạn kiệt vì hệ cơ, hệ tuần hoàn và hệ hô hấp của các em chưa hoạt động hoàn chỉnh như người lớn Do đó các em không có khả năng làm việc lâu dài và quá sức Nếu sử dụng trẻ em lao động qua sức hay kéo dài thời gian, sẽ làm cho cơ thể các em phát triển bình thường, hoặc dễ gây tai nạn hay chấn thương về sau

Về mặt tâm lý, tinh thần:

Trang 21

Trẻ em tham gia lao động sớm không chỉ có ảnh hưởng không tốt

về mặt thể chất, mà còn ảnh hưởng lớn đến vấn đề tâm lý của các em Đó

là ảnh hưởng đến sự phát triển về nhận thức và sự phát triển về tình cảm Khi các em tham gia lao động nặng nhọc, hoặc với thời gian kéo dài cơ thể các em thường mệt mỏi nên thường có cảm giác không muốn vui chơi hay học tập Khi nhìn những trẻ khác bằng tuổi được hưởng những điều kiện đầy đủ và tốt hơn, các em dễ bị mặc cảm, tủi thân, xấu hổ với mọi người Từ đó các em dễ có tư tưởng bi quan, chán nản; hoặc ít nói, sống thu mình, không muốn giao tiếp với mọi người Khi lớn lên tình cảm của các em có thể không phát triển bình thường, ảnh hưởng đễn cuộc sống sau này của các em

Trang 22

Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRẺ LAO ĐỘNG SỚM Ở LÀNG NGHỀ TRUYỀN THÔNG TẠI XÃ HOÀNG ĐÔNG, HUYỆN DUY TIÊN,

TỈNH HÀ NAM 2.1.Giới thiệu sơ lược về nghề truyền thống mây trẻ đan ở xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Xã Hoàng Đông là một xã nằm ở phía Bắc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Xã gồm có 3 làng: Hoàng Thượng, Ngọc Đông và An Nhân Dân số của xã là 2430 người với 733 hộ gia đình trong đố có 14 hộ gia điình có từ

3 con trở lên

Nghề nghiệp chủ yếu của người dân là làm nông nghiệp và phát triển nghề truyền thống mây tre đan chiếm gần 90% dân số Nghề truyền thống mây tre đan trong xã phát triển chủ yếu ở quy mô hộ gia đình Nghề mây tre đan có nguồn gốc từ xa xưa Nhưng hiện nay, nghề này mang tính hàng hóa cao Đặc điểm của nghề mây tre đan là có thể sử dụng lao động dưới độ tuổi lao đông, và nghề này cũng không đòi hỏi cao về sức khỏe

mà đòi hỏi độ nhanh nhẹn, mềm dẻo và chính xác về kích thước, phù hợp với khả năng lao động của trẻ em Tuy nhiên, để tạo ra một sản phẩm bao gồm nhiều khâu và mất nhiều thời gian vào việc đan hàng Vì vậy trẻ tham gia sản xuât cùng gia đình dễ bị kéo dài thời gian lao động Dụng cụ

để làm việc trong quá trình mây tre đan là dao, dùi Muốn đan được nhiều hàng đòi hỏi dụng cụ đan phải sắc, nhọn Tuy nhiên cũng vì lý do đó mà rấy dễ xảy ra tai nạn khi lao động

Hiện nay trong toàn xã có 342 trẻ em, trong đó có 230 em nằm trong độ tuổi từ 11 đến dưới 15, 112 em nằm trong độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi Đây là môt nguồn nhân lực để phát triển nghề mây tre đan Tuy nhiên trên thực tế có nhiều gia đình sử dụng trẻ lao động sớm Điều

Trang 23

này được thể hiện qua thực trạng sủ dụng trẻ lao động sớm trong phát triển nghề truyền thống mây tre đan.Trong khuôn khổ bài khóa luận này,

vì thời gian và có điều kiện có hạn, không thể nghiên cứu trên toàn bộ trẻ

em trong xã xin được nghiên cứ trên 96 hộ gia đình có trẻ em lao động sớm tại xã Hoàng Đông

2.2 Thực trạng trẻ em lao động sớm ở nghề truyền thống mây tre đan tại xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

2.2.1.Thực trạng về độ tuổi và giới tính

Nghiên cứu về cơ cấu lứa tuổi và giới tính của trẻ tham gia lao động sớm trong sản xuất mây tre đan, nhằm giúp cho việc làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất lao động và quan niệm về giới của gia đình, bản thân các

em

Qua bảng số liệu của Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông có 96 gia đình trên địa bàn 3 làng của xã Hoàng Đông có trẻ em tham gia lao động Chúng ta có thể phân chia giới tính theo nhóm độ tuổi sau:

Bảng 1: Độ tuổi và giới tính của trẻ lao động sớm tại xã Hoàng Đông

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông năm 2012 của

Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông

Trang 24

Nhìn vào bảng 1: chúng ta thấy số trẻ trong nhóm tuổi từ 15 đến dưới

18 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất: 65.0% với 62 em gấp 1.8 lần so với trẻ ở độ tuổi từ 11 đến dưới 15 tuổi Số trẻ từ 11 đến dưới 15 tuổi chỉ chiếm 35% với 34 em Có 8/10 trẻ trong độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 cho rằng trẻ tham gia lao động sản xuất mây tre đan thuộc nhóm tuổi từ đủ 15 đên dưới 18 tuổi có sự khéo léo hơn, do độ tuổi và kinh nghiệm nhiều hơn nên trẻ trong độ tuổi này phải tham gia lao động nhiều hơn

Về giới tính, có sự chênh lệch về giới tính phân theo nhóm tuổi Nhìn chung nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới Nhóm tuổi từ 11 đến dưới 15 tuổi nam là 11 người chiếm 11.5%, nữ là 23 người chiếm 24.0%;

nữ cao hơn nam 12 người với 12.5% Trong nhóm tuổi này nữ giới cao hơn gấp đôi so với nam giới Nhóm trẻ từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, nam là

25 người với 26.0%, nữ là 37% người với 38.5%; nữ hơn nam 12 người với 12.5% Trong nhóm tuổi này nữ giới cũng cao hơn gấp đôi so với nam giới Như vậy, có sự bất bình đẳng giới trong lao động, trẻ là nữ phải tham gia sản xuất mây tre đan nhiều hơn trẻ là nam Ngoài nguyên nhân do sự chênh lệch giới tính ngay những năm cuối thập niên chín mươi, đầu thập niên hai nghìn, tỷ lệ trẻ em nữ được sinh ra nhiều hơn trẻ em nam , thì còn

có nhưng nguyên nhân khác Theo điều tra của Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông có 15 hộ gia đình có trẻ em lao động sớm, 12/15 hộ gia đình cho rằng trẻ em nữ phải lao động nhiều hơn trẻ em nam là đúng, tục lệ xưa nay vẫn thế Quan niệm “trọng nam khinh nữ” vẫn còn khá phổ biến trong suy nghĩ của người dân xã Hoàng Đông Ngoài ra, do tính chất công việc của mây tre đan là cần cù, khéo léo nên phù hợp với trẻ em đặc biệt

là trẻ em nữ Trong khi đó thể lực ở trẻ nữ lại yếu hơn nam nhưng lại phải lao đông nhiều hơn nên các em sẽ có ít thời gian học tập và vui chơi giải trí Một thực tế là nếu không sớm khắc phục tư tưởng này, nó sẽ ảnh

Trang 25

hưởng đến chính suy nghĩ của trẻ nữ dẫn đến tư tưởng cam chịu làm giảm

đi tinh thần đấu tranh vì sự công bằng, tiến bộ xã hội

Như vậy, việc quan tâm đến sự phát triển của trẻ tại xã Hoàng Đông, trong đó có bình đẳng giới là một trong những vấn đề cần sự quan tâm của cả gia đình và xã hội để có thể làm giảm bớt và từ đó xóa đi những tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” đang tồn tại ở xã Hoàng Đông

2.2.2.Thực trạng thời gian làm việc và nghỉ ngơi

* Thực trạng thời gian làm việc những ngày học tập trong tuần

Thời gian lao động trong một ngày là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng lao động Thời gian làm việc của trẻ ở xã Hoàng Đông qua điều tra phụ thuộc vào việc học tập của các em, được chia làm hai nhóm: nhóm trẻ còn đi học và nhóm trẻ đã nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình Thời gian lao động của nhóm trẻ em đã nghỉ học ở nhà kéo dài hơn nhóm trẻ đang đi học Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2: Thời gian lao động của trẻ em ở xã Hoàng Đông

Độ tuổi Nhóm trẻ còn đi học Nhóm trẻ đã nghỉ học

Thời gian làm việc (h/ngày)

Số ngườ

i

Tỷ lệ (%)

Thời gian làm việc (h/ngày)

Số ngườ

i

Tỷ lệ (%)

Trang 26

Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông năm 2012 của

Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông

Qua bảng 2: chúng ta thấy thời gian lao động của nhóm trẻ em đã nghỉ học cao gấp đôi so với thời gian lao động của trẻ còn đi học (10 đến 12h/ngày so với 4đến 6h/ngày) Tuy nhiên, số trẻ em lao động sớm không còn đi học chiếm tỷ lệ nhỏ: 8 em với 8.3%; số trẻ em lao động còn tham gia đi học vẫn chiếm tỷ lệ lớn: 88 em với 91.7%

Trong nhóm trẻ lao động sớm còn đi học, ngoài thời gian học tập, thời gian làm việc của trẻ là 11 đến dưới 15 tuổi, có 21 em có thời gian làm việc 5h/ngày và chiếm 21.9%, 10 em có thời gian làm việc 4h/ngày chiếm 10.4% Trong khi đó, theo điều 122 của bộ Luật Lao Động nước ta quy định, trẻ em dưới 15 tuổi làm việc không quá 4h/ngày, 24h/tuần Như vậy, việc gia đình các em sử dụng trẻ em lao động sớm chưa đủ 15 tuổi vào làm việc 5h/ngày đã vượt quá số thời gian 4h/ngày so với quy định Điều đó đã vi phạm quy định của pháp luật Một thực tế đáng báo động hơn là trẻ em đã nghỉ học ở độ tuổi 11 đến dưới 15 tuổi, thời gian lao động của các em kéo dài quá thời gian cho phép lao động theo quy định của pháp luật quá nhiều Theo điều tra thì có 1 em có thời gian lao động là 10h/ngày gấp 2.75 lần so với thời gian mà pháp luật quy định được phép làm việc Mặc dù số trẻ em lao động như vậy không nhiều nhưng đây cũng là một thực trạng nên xem xét Nếu tình trạng này không được khắc phục sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ tại xã Hoàng Đông

Đối với trẻ ở độ tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi trong nhóm trẻ còn đi học, thời gian lao động của các em từ 4 đến 6h/ngày, nằm trong thời gian cho phép của lao động Đa số các em đều đi học nữa buổi và nữa buổi còn lại ở nhà phụ giúp gia đình nên thời gian tham gia lao động cũng như trẻ ở

độ tuổi 11 đến 15 tuổi còn đi học Nhiều trẻ ở độ tuổi này có ý thức về học

Trang 27

tập hơn ở độ tuổi từ 11 đến dưới 15 tuổi Tuy nhiên, thời gian lao động của trẻ vị thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, trong nhóm trẻ nghỉ học kéo dài liên tục Theo bảng 2, có 5 trẻ em chiếm 5 2% trẻ trong nhóm đã nghỉ học có thời gian lao động 12h/ngày, vượt quá quy định của pháp luật

là 7h/ngày Thời gian làm việc của trẻ trong nhóm tuổi này cao hơn thời gian làm việc trong nhóm tuổi từ 11 đến dưới 15 tuổi không nhiều Tuy nhiên, công tác tạo việc làm cho những trẻ vị thành niên không còn đi học, để các em có việc làm và thời gian nghỉ ngơi phù hợp đang là một trong những vấn đề được Nhà nước đặc biệt quan tâm

Bên cạnh việc thời gian lao động của trẻ bị kéo dài, chúng ta còn thấy số trẻ em lao động sớm nghỉ học có xu hướng gia tăng Theo điều tra,

số trểm từ 11 đến dưới 15 tuổi nghỉ học là 3 em Trong khi đó, số trẻ ở độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi là 5 em, cao hơn 2 em so với độ tuổi từ 11 đến dưới 15 Điều đó cho thấy để giải quyết được tình trạng trẻ em lao động sớm, một trong những giải pháp có thể đem lại hiệu quả cao là chúng ta cần quan tâm đến việc phổ cập giáo dục, giảm tỷ lệ trẻ em bỏ học từ đó mới giảm được thời gian tham gia lao động và nâng cao nhận thức cho các em

* Thực trạng và thời gian nghỉ ngơi

Một là, Thời gian nghỉ ngơi trong những ngày học tập trong tuần

Qua điều tra của Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông về vấn đề ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi của các em thì 100% các em cho biết có được ngủ trưa Thời gian ăn uống, nghỉ ngơi của các em như sau:

Thời gian ăn uống, nghỉ ngơi buổi trưa từ 2 đến 2.5h/ngày nhưng tùy từng ngày, thời gian nghỉ trưa không cố định Trong những ngày nắng

to và mệt các em được bố mẹ cho ngủ nhiều hơn Thông thường buổi sáng khoảng 11h đến 11h 30 các em đi học về, ăn cơm ngủ đến khoảng 1h30

Trang 28

hay 2h chiều Thời gian nghỉ ngơi của các em không chính xác về giờ giấc, thay đổi theo thời gian đi học và tình trạng sức khỏe của các em Nếu các em mệt thì thời gian đan hàng ngày sẽ ít hơn những ngày bình thường Đây là một trong những điều kiện thuận lợi khi các em tham gia làm giúp gia đình Các em có được cuộc sống tốt hơn rất nhiều so với trẻ phải đi làm thuê cho chủ sử dụng lao động Bố mẹ các em rất quan tâm

và ưu tiên với con mình Đa số việc nấu cơm và dọn dẹp trong gia đình các em ít phải làm Vì khi các em ngồi đan hàng thì bà hoặc mẹ các em là người đảm nhận việc này

Còn đối với những em không còn đi học, cả 8/8 em đều cho rằng thời gian ăn uống, nghỉ ngơi vào buổi chiều khoảng từ 2h30 đến 3h/ ngày, từ lúc 11h30 đến 2h hoặc2h30 chiều Nguyên nhân của việc nghỉ trưa các em được nghỉ nhiều là do buổi sáng các em ngồi làm việc đau lưng, nếu không được ngủ và nghỉ ngơi nhiều thì buổi chiều rất khó làm việc, hoặc năng suất không cao Thông thường từ 5h30 đến 7h30 tối là thời gian nghỉ ngơi ăn uống, tắm giặt Thời gian làm việc buổi tối đối với trẻ con đi học là 1 đến 1.5 h/gày Bởi các em dành cả viêc học vào thời gian buổi tối Nhưng khi vội giao hàng thì thời gian học của các em bị rút ngắn hơn, các em phải tập trung làm hàng để bố mẹ đi giao hàng cho kịp thời hạn Vì vậy mà thời giam tự học tập cũng không được kéo dài Thời gian nghỉ ngơi buổi tối của các em không cố định Có 14 em cho rằng thường xuyên đi ngủ vào lúc 9h30 tối, 6 em cho rằng thường xuyên đi ngủ vào lúc 10h30 tối Như vậy, đa số các em đều đi ngủ sớm sau một ngày làm việc và học tập mệt mỏi Số trẻ đi ngủ lúc 10h30 ít, có lẽ vì vậy mà số trẻ có thời gian làm việc từ 10 đến 11h/ngày là ít

*Hai là, thời gian nghỉ ngơi trong những ngày nghỉ cuối tuần

Trang 29

Thời gian nghỉ ngơi trong những ngày nghỉ cuối tuần như thứ 7 và chủ nhật hầu như các em ít được nghỉ ngơi mà phải phụ giúp bố mẹ làm việc Đặc biệt là vào những ngày nghỉ, thời gian làm việc của các em kéo dài hơn những ngày đi học bình thường Vì đa số các em đều phải đan hàng cho bố mẹ Có những ngày vội phải giao hàng, thời gian làm việc trong những ngày nghỉ của các em phải làm việc từ 10 đến 11h/ngày Có 83% số trẻ em cho rằng thời gian nghỉ ngơi của các em chưa hợp lý, vì các em muốn được vui chơi, xe tivi, đi đá bóng nhiều hơn Nhưng vẫn phải lao động theo yêu cầu của bố mẹ

Qua nghiên cứu tình hình thực tế, chúng ta thấy tình trạng trẻ vị thành niên ở xã Hoàng Đông bị kéo dài thời gian lao động, thời gian nghỉ ngơi chưa đảm bảo Và một lần nữa chúng ta nhận thấy, nhận thức của các bậc cha mẹ về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đa phần còn chưa cao, chưa hiểu hết những quy định của pháp luật Vì lợi ích trước mắt đã sử dụng chính con em mình vào lao động sản xuất mây tre đan với thời gian lao động kéo dài

2.2.3.Thực trạng điều kiện làm việc của trẻ em

* Về các khâu trẻ em tham gia sản xuất mây tre đan

Điều kiện làm việc của nghề truyền thống mây tre đan chủ yếu là làm trong nhà nên người lao động sản xuất mây tre đan không phải tiếp xúc trực tiếp với mưa nắng Tuy nhiên, để hoàn thành một sản phẩm mây tre đan thường bao gồm nhiều khâu trong đó có ba khâu chính: khâu đan đáy, khâu lên thành và khâu vào gờ quấn kín Mỗi khâu có một tư thế làm việc khác nhau vì vậy để tìm hiểu về điều kiện làm việc của trẻ cần phải biết trẻ tham gia vào khâu sản xuất nào

Số trẻ lao động ở các khâu tùy từng độ tuổi Nhìn chung, trẻ ở độ tuổi từ 11 đến dưới 15 tuổi thường tham gia đan đáy nhiều hơn là lên

Trang 30

thành và vào gờ quấn kín Còn trẻ ở độ tuổi từ đủ 15 đến duới 18 lại tham gia lên thành nhiều hơn

Số trẻ trong độ từ 11 đến dưới 15 đan đáy chiếm tới 24 người với 25% trong cơ cấu trẻ tham gia lao động Số người tham gia vào khâu vào

gờ và quấn kín chiếm 6.3% với 6 người Còn lại khâu lên thành chỉ chiếm

4 người với 4.2% Đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân đa số các em và gia đình đều cho biết trẻ từ 11 đến dưới 15 độ khéo léo và kinh nghiệm chưa cao phù hợp với đan đáy nhiều hơn vì đan đáy không đòi hỏi độ tinh xảo cao Trong khi lên thành là khâu quan trọng nhất đòi hỏi sự khéo léo cao nếu để các em lên thành dễ bị méo hàng Một nguyên nhân nữa là do sức siết sợi mây cho giang và mây quấn chặt vào nhau khi lên thành của các

em yếu vì thể lực của các em chưa phát triển đày đủ do đó sản phẩm dễ bị sụt hàng và bị loại

Còn đối với trẻ từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi các em tham gia đan hàng nhiều năm hơn nên có nhiều kinh nghiệm hơn và thể lực của trẻ ở độ tuổi này cũng phát triển hơn nên các em có khả năng lên thành Tỷ lệ trẻ từ đủ

15 đến dưới 18 tuổi tham gia vào khâu lên thành chiếm 49% với 47 em Khâu đan đáy chiếm 9.2% với 9 em Còn khâu vào gờ và quấn kín chỉ chiếm 6.3 % với 6 em Với bàn tay khéo léo và sự chuẩn xác về kỹ thuật các em đã tạo ra những sản phẩm đúng yêu cầu kích cỡ vì thế các em được coi như một lao động chính trong nhà Tổng số trẻ em tham gia lên thành ở cả hai độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba khâu là 53.2% với 51

em Tỷ lệ trẻ tham gia vào gờ quấn kín ở cả hai độ tuổi chiếm 12.6% với

12 em Tỷ lệ trẻ tham gia vào đan đáy ở cả hai độ tuổi chiếm 34 2% với

33 em Từ đó có thể thấy độ khéo léo và nhanh nhẹn cao của trẻ khi đan hàng Đây cũng là một trong những lý do các em được coi là lao động chính trong gia đình

Trang 31

* Về tư thế làm việc của các em

Tư thế làm việc của các em phụ thuộc vào khâu đan hàng

Tỷ lệ trẻ từ 11 đến dưới 15 tham gia vào khâu đan đáy là cao nhất 24 em chiếm 25% so với tổng số trẻ ở cả hai độ tuổi tham gia làm việc (96 em) Tuy nhiên, số trẻ tham gia đan đáy cho rằng tư thế đan đáy rất gò bó lại chiếm tới 20,8% với 20 em Khi các em làm việc thì thông thường người đan đáy sẽ ngồi trên ghế hình chữ nhật hoặc hình vuông, một chân để dưới đất một chân co lên ghế Chân co lên ghế đầu gối của chân tỳ vào ngực, bàn chân giữ đáy, người cúi về phía trước, dùng sức mạnh và sự khéo léo để đan mây giang vào nhau để tạo ra sản phẩm Do tư thế ngồi như vây, nên các em thường hay bị tê chân và mỏi người khi đan đặc biệt

là mỏi bả vai và cánh tay phải do dùng sức để kéo siết sợi mây chặt vào thanh giang Còn lại 4 em chiếm 4.2% tổng số trẻ tham gia làm việc ở cả hai độ tuổi tư thế đan đáy là bình thường, ngày nào các em đan cũng thành quen Nhưng số em này chiếm tỷ lệ nhỏ

Số trẻ em trong nhóm tuổi này tham gia lên thành chiếm tỷ lệ rất nhỏ: 4 em với 4.14% Trong đó, có 3 em cho rằng tư thế lên thành bình thường, 1 em cho rằng tư thế lên thành thoải mái Còn tư thế vào gờ và quấn kín có 6 em tham gia với 6.24%, và cả 6 em đều cho rằng tư thế này thoải mái Điều đó cho thấy tư thế lên thành và vào gờ quấn kín thoải mái hơn đan đáy

Như vậy, tư thế ngồi đan đáy của trẻ em hiện nay ở xã Hoàng Đông khá gò bó, ảnh hưởng đến sức khỏe của các em Nếu ngày nào các em cung phải ngồi với tư thế như vậy trong 5 đến 6 giờ thì sẽ ảnh hưởng đến

sự phát triển của xương sống khi các em cúi người về phía trước, dễ bị lệch hoặc vẹo cột sống; ảnh hưởng của hệ chi khi các em co, giật mây; và

cả hệ tim mạch khi các em tỳ đầu gối vào ngực

Ngày đăng: 16/11/2015, 11:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
2. Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (1997), Những cơ sở khoa học và thực tiễn các chính sách bảo vệ lao động trẻ em, Đề tài Nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở khoa học và thực tiễn các chính sách bảo vệ lao động trẻ em
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội
Năm: 1997
3. Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
4. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992), Điều 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1992
5. Đặng Nhật Hùng (2004), Vấn đề trẻ em lao động sớm, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề trẻ em lao động sớm
Tác giả: Đặng Nhật Hùng
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2004
6. Nguyễn Tuấn Long (2009), Chăm sóc bảo vệ phòng ngừa lao động trẻ em ở nước ta, Báo cáo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc bảo vệ phòng ngừa lao động trẻ em ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Tuấn Long
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 2009
7. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
9. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
10. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
12. Trần Sĩ Phán (2006), Quan điểm của Mác - Ăngghen về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, Lí luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Mác - Ăngghen về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên
Tác giả: Trần Sĩ Phán
Nhà XB: Lí luận chính trị
Năm: 2006
13. Hồ Sỹ Quý (Chủ biên) (2000), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội
Tác giả: Hồ Sỹ Quý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
15. Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông (2012), Điều tra số học sinh đỗ đại học của xã Hoàng Đông giai đoạn 2008 – 2012, Tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra số học sinh đỗ đại học của xã Hoàng Đông giai đoạn 2008 – 2012
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông
Nhà XB: Tỉnh Hà Nam
Năm: 2012
16. Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông (2010), Tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông
Nhà XB: Tỉnh Hà Nam
Năm: 2010
17. Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông (2012), Tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra dân số xã Hoàng Đông
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông
Nhà XB: Tỉnh Hà Nam
Năm: 2012
18. Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, Báo cáo tình hình lao phổi của trạm y tế xã Hoàng Đông (2012), Tỉnh Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình lao phổi của trạm y tế xã Hoàng Đông
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đông
Nhà XB: Tỉnh Hà Nam
Năm: 2012
11. Những điều cần biết về quyền trẻ em (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (1998), Chuyên đề lao động trẻ em Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Độ tuổi và giới tính của trẻ lao động sớm tại xã Hoàng Đông - Vấn đề trẻ em lao động sớm ở làng nghề truyền thống tại xã hoàng đôn, huyện duy tiên, tỉnh hà nam hiện nay
Bảng 1 Độ tuổi và giới tính của trẻ lao động sớm tại xã Hoàng Đông (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w