MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY .... Vì những lý do trên mà em đã quyết định chọn đề tài “Vấn đề gìn giữ và phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
ThS LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị cùng các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo – Thạc sĩ Lê Thị Minh Thảo, người đã tận tình chỉ bảo, sửa chữa cho khóa luận của em trong suốt quá trình tiến hành
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên, giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Vì điều kiện thời gian có hạn và là công trình nghiên cứu đầu tiên nên khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót kính mong quý thầy cô và các bạn chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin kính chúc thầy, cô và gia đình sức khỏe, hạnh phúc
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Bạch Thị Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Thạc sĩ Lê Thị Minh Thảo và nó không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố trước
đó
Nếu sai tôi xin chịu mọi trách nhiệm
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Bạch Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 6 1.1 Một số vấn đề lí luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và những nét khái quát
về tỉnh Hòa Bình 6 1.2 Những nét độc đáo trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình 12 Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 28 2.1 Thực trạng của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay 28 2.2 Phương hướng và một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay 53 KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trang phục là một trong những thành tố cơ bản không thể thiếu được đối với đời sống con người Nó không chỉ có chức năng che đậy, bảo vệ con người về mặt sinh học, biểu hiện của văn hóa, nếp sống tộc người, mà còn có giá trị lớn về mặt xã hội và quan niệm thẩm mỹ Ngoài ra, trang phục còn là cơ sở để nhận biết, phân biệt tộc người này với tộc người khác Tuy nhiên việc nghiên cứu nét riêng biệt trong trang phục chưa được đề cập một cách đồng đều giữa các dân tộc Trong đó, trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình ít được quan tâm nghiên cứu Mặt khác, những biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội có những tác động nhất định đến trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình,
làm mai một dần những giá trị văn hóa đó Vì vậy đề tài “Vấn đề gìn giữ và phát
huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay” có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn sâu sắc
“Trang phục Mường hết sức tinh tế và có những nét riêng nổi bật không thể pha lẫn với các dân tộc khác, nó thể hiện đặc trưng về nghệ thuật tạo hình
và phong cách thẩm mỹ trên chính trang phục của dân tộc mình Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu hết đươc những nét đẹp đó” [13, tr 24] Ngày nay khi
xã hội phát triển, người người chạy theo những xu hướng thời trang mới làm mất dần vẻ đẹp văn hóa truyền thống trong trang phục của chính dân tộc mình Hiện nay, những bộ trang phục truyền thống của dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng ít dần đi, không còn dược sử dụng phổ biến rộng rãi như trước kia nữa, một bộ phận người có xu hướng “thời trang hóa” thích mặc đồ Tây bởi nó đẹp, gọn gàng và dễ dàng hoat động, hầu như chỉ có những người già và một số ít người dùng những bộ trang phục này và thường được mặc trong những ngày hội, lễ tết
Trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, việc phục hồi các giá trị văn hóa truyền thống trong trang phục của dân tộc là một yêu cầu khách quan Trước những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống, văn hóa truyền thống các dân tộc đang đứng trước những thử thách lớn Vì vậy việc lựa chọn các giải pháp phục hồi, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của dân tộc Mường ở
Trang 6Hòa Bình là hết sức cần thiết Do đó, Đảng, Nhà nước và Đảng bộ Hòa Bình cần có chủ trương, chính sách đúng đắn, mang tính lâu dài, đầu tư có chiều sâu trên nhiều phương diện để nâng cao dân trí, cải thiện đời sống cho bà con, nhất là các dân tộc miền núi, góp phần phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết TW 5 (Khóa VIII) của Đảng cộng Sản Việt Nam, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hòa Bình, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc trong tỉnh, trong nước và trên toàn thế giới
Vì những lý do trên mà em đã quyết định chọn đề tài “Vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay” để làm Khóa luận tốt nghiệp, với hy vọng sẽ góp phần vào việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mọi người biết tự hào
về những nét đẹp trong trang phục truyền thống và hơn hết là góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình trước những biến đổi của thời đại
Cuốn: “Văn hóa dân gian Mường một góc nhìn” của Cao Sơn Hải, Nxb
Văn hóa Dân tộc, HN, 2006 Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh văn hóa của người Mường, đặc biệt là văn hóa dân gian
Cuốn: “Các dân tộc thiểu số Việt Nam”, Nxb Văn hóa Thông tin, HN,
2000 Đây là cuốn sách giới thiệu về 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, trong đó có dân tộc Mường
Cuốn: “Địa chí Hòa Bình” do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân tỉnh Hòa Bình biên tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2005 Cuốn sách này cung cấp cho bạn đọc tất cả các khía cạnh về tỉnh Hòa Bình, trong đó có đề cập đến văn hóa trang phục các dân tộc của tỉnh Hòa Bình, tiêu biểu là trang phục Mường
Trang 7Khu Bảo tàng di sản văn hóa dân tộc: “Không gian văn hóa Mường”, ở
xã Bình Thanh, phường Chăm Mát, thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, là nơi trưng bầy các hiện vật của người Mường như: nhà sàn, cồng chiêng…trong đó
có trang phục Mường
Hay tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về người Mường của Giáo sư Nguyễn
Đức Từ Chi (Trần Từ): “Người Mường ở Hòa Bình” Trong tác phẩm, tác giả
đã làm nổi bật nét nghệ thuật tạo hình trong hoa văn cap váy của người Mường, có nhiều nét tương đồng trên hoa văn trống đồng Đông Sơn
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến văn hóa trang phục Mường, lưu trữ trên sách báo, tạp chí, bảo tàng…của tỉnh Hòa Bình, mang những nét đặc sắc truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc anh em ở vùng đất Tây Bắc Vì vậy trên cơ sở nghiên cứu sâu thực trạng văn hóa trang phục của người Mường hiện nay để có những giải pháp cụ thể trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục người Mường
ở Hòa Bình trong công cuộc đổi mới hiện nay là việc làm hết sức cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trang phục truyền thống Mường ở tỉnh Hòa Bình Từ đó, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã có những giải pháp và một số khuyến nghị trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường
* Phạm vi:
Nghiên cứu thông qua các tài liệu cụ thể về văn hóa trang phục Mường cũng như tình hình khảo sát ở các huyện như: Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Sơn… nơi lưu trữ và sử dụng trang phục nhiều nhất ở tỉnh Hòa Bình
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Trang 8- Làm rõ nét đặc sắc trong văn hóa trang phục Mường ở tỉnh Hòa Bình, nêu bật những thành tựu và hạn chế trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương pháp khoa học phổ biến như: phương pháp CNDVBC, CNDVLS, logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: quan sát, thực tế, điều tra, phỏng vấn, ghi chép lại những tư liệu truyền miệng trong nhân dân
Trang 96 Đóng góp của đề tài
* Về mặt lý luận:
Khóa luận góp phần đi sâu tìm hiểu nét sinh hoạt văn hóa của người Mường ở Hòa Bình, đặc biệt là nét văn hóa đặc sắc trong trang phục của người Mường ở Hòa Bình Từ đó biết gìn giữ và phát huy những nét văn hóa truyền thống đó của người Mường
* Về mặt thực tiễn:
Khóa luận cung cấp cho bạn đọc và những người thích nghiên cứu về văn hóa Mường hiểu được phần nào cái hay, cái đẹp trong trang phục truyền thống của người Mường
7 Kết cấu Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2 chương và 4 tiết
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA
TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HÒA BÌNH HIỆN NAY 1.1 Một số vấn đề lí luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và những nét khái quát về tỉnh Hòa Bình
1.1.1 Một số khái niệm liên quan
* Văn hóa:
Khái niệm văn hóa là một khái niệm đa chiều với nhiều góc cạnh, cho đến nay người ta đã thống kê được hơn bốn trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Song các nhà văn hóa đều có chung một nhận định đó là: Văn hóa bao gồm có văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Từ “văn hóa” bắt nguồn từ tiếng La tinh ở Phương Tây “Cult” ban đầu có nghĩa là canh tác đất đai và gieo trồng thực vật Sau này với sự phát triển lịch
sử thì văn hoá mang một ý nghĩa mới đó là sự mở rộng kiến thức, bồi dưỡng về thể chất và tinh thần hay là “trồng trọt tinh thần”
Còn ở Phương Đông, từ “văn hóa” có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm, trong Chu Dịch (Trung Quốc) có “quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên hạ” nói đến phép tắc để giải hóa làm cho thiên hạ được khai hóa, theo quan niệm của Trung Quốc lấy học thuyết của Nho gia là chính với nội dung chủ yếu của văn hóa là: thi, thư, lễ, nhạc Còn trên lĩnh vực chính trị là luân thường đạo lý, chế
độ nghi lễ và hàng loạt quan niệm tập tục lễ giáo
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì “văn hóa” chỉ gắn liền với con người và xã hội loài người, con người vừa sáng tạo ra ra bản thân mình vừa đồng thời sáng tạo ra thế giới văn hóa Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với sự sáng tạo
và năng lực của con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động, chính lao động đã sáng tạo ra con người, đó là các hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra bản thân con người với tư cách là một thực thể xã hội, thể hiện quan hệ giữa
Trang 11con người với con người Như vậy, con người là tác giả sáng tạo ra văn hóa và mang các giá trị văn hóa truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác và trong quá trình đó có sự giao lưu, ảnh hưởng của các nền văn hóa các dân tộc
Định nghĩa của UNESCO về “văn hóa” : “Văn hóa” được đặc trưng bởi diện mạo và tinh thần, vật chất, trí lực, tình cảm…khắc họa nên bản sắc của một quốc gia, cộng đồng, gia đình, làng xóm, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà còn là cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng
Còn ở Việt Nam cũng có rất nhiều định nghĩa về văn hóa
Theo Giáo sư Đào Duy Anh: “Văn hóa” là sinh hoạt, vì văn hóa là sinh hoạt nền văn hóa của mỗi dân tộc khác nhau, do điều kiện tự nhiên, tính chất địa lý, điều kiện kinh tế xã hội quy định mà còn có nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc
Theo Giáo sư Phan Ngọc: “Không có gì gọi là văn hóa cả, mà ngược lại
bất kì mặt gì cũng có mặt văn hóa, văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới tồn tại…” [22, tr.22]
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [22, tr.22]
Theo nghĩa rộng: “Văn hóa Việt Nam” là tổng thể những giá trị vật chất
và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước
Theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội”; “Văn hóa là
hệ thống các giá trị, truyền thống, lối sống”; “Văn hóa là năng lực sáng tạo” của một dân tộc; “Văn hóa là bản sắc” của một dân tộc, là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác
Vì vậy, có thể nói rằng, văn hóa là một khái niệm mở, là phạm trù rộng lớn phong phú và đa dạng, cá định nghĩa khác nhau về văn hóa đã đưa ra
Trang 12không nhằm bài trừ mà bổ sung cho nhau làm cho khái niệm văn hóa ngày càng trở nên đầy đủ và toàn diện hơn
* Bản sắc văn hóa dân tộc:
Theo nghĩa triết tự thì “bản” là gốc, “sắc” là màu sắc, nghĩa là màu sắc ban đầu chưa bị pha trộn gọi là bản sắc Theo Tạp chí Cộng sản, số 13 – 1997, đặc thù là bản sắc riêng biệt của đời sống sinh hoạt xã hội của mỗi cộng đồng, dân tộc, từ cách ăn, mặc, ở, đi lại…cho đến chiều sâu tâm hồn, tư duy và lối ứng xử
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử đấu tranh hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, được hình thành, tồn tại
và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn
“Văn hóa” và “Dân tộc” là hai phạm trù khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau về văn hóa, có bản sắc riêng của dân tộc mình Vì vậy,
Dân tộc Mường ở Hòa Bình là một trong 54 dân tộc anh em ở Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm sinh sống, đấu tranh thì những nét văn hóa dần được hình thành và phát triển Ngoài những nét chung của cộng đồng Việt Nam, cộng đồng dân tộc Mường còn mang những nét đặc thù riêng của mình
Bản sắc văn hóa Mường là những nét văn hóa vật chất và tinh thần được truyền từ đời này qua đời khác và trở thành phong tục, tập quán ăn sâu vào trong tiềm thức, lối sống của người dân đất mường với những đặc trưng nổi bật
như: “Cơm đồ, nhà gác (nhà sàn), nước vác, lợn thui” Trong đó có trang
phục, một trong những nét văn hóa đặc trưng để phân biệt dân tộc Mường với các dân tộc khác ở Việt Nam
* Trang phục:
Trang 13Theo cách hiểu đơn giản nhất, trang phục hay y phục là những đồ để mặc như quần, áo, váy,… Ngoài ra, trang phục con có những phụ kiện kèm theo như: giầy, dép, mũ nón, thắt lưng, găng tay, đồ trang sức… Chức năng cơ bản nhất của trang phục là bảo vệ than thể Tiếp đó, trang phục trang phục cũng có chức năng thẩm mỹ, làm đẹp cho con người
Trang phục có thể chia thành nhiều loại: Trang phục dân tộc, trang phục thể thao, trang phục tôn giáo, trang phục lễ hội, trang phục sân khấu, trang phục trẻ em, trang phục Quân đội (Trang phục Quân đội Nhân dân Việt Nam, ), trang phục Công An
Trang phục là một trong những giá trị văn hóa giúp ta dễ dàng phân biệt sắc thái giữa các vùng miền trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
“Người Mường có những đặc trưng riêng hết sức nổi bật về tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên trang phục dân tộc Đó là những hoa văn trên mặt trống đồng, tượng đồng, đồ gốm thời Hùng Vương chỉ cho ta thấy nhiều điều về văn hóa trang phục thời dựng nước” [5, tr 89] Chính điều đó đã tạo nên cho phụ nữ Mường nét duyên dáng, niềm tự hào khi khoác trên mình trang phục truyền thống Mấy ngàn năm qua, các trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam vẫn giữ được cốt cách và dấu ấn xa xưa nhưng cũng đã có những biến đổi
không ngừng “Đó là sự hình thành và phát triển của nghề trồng bông kéo sợi,
dệt vải, nhuộm vải, nuôi tằm, ươm tơ, kéo kén, dệt lụa Bước phát triển nghề này đã đưa nghề tầm tang canh gửi bỏ xa hoàn toàn sự lệ thuộc vào thiên nhiên con người săn bắt hái lượm, sử dụng vỏ cây, lá cây, lông chim, da thú làm chất liệu mặc để che thân ” [11, tr 76]
Từ thế kỉ XX đến nay, diện mạo trang phục các dân tộc Việt Nam về cơ bản được khẳng định, từng bước hoàn chỉnh hơn vào giai đoạn cách tân, biến đổi Việt Nam hội tụ được các giá trị văn hóa trang phục Đông – Tây, tiếp thu
có chọn lọc những yếu tố phù hợp làm giàu đẹp và phong phú thêm văn hóa trang phục của đất nước mình, dân tộc mình Ngành thời trang ra đời và liên tiếp có các cuộc thi trình diễn trang phục dân tộc bổ ích, hấp dẫn, tôn vinh, bản sắc văn hóa mặc Việt Nam
Trang 141.2.2 Những nét khái quát về Hòa Bình
Hoà Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, là cửa ngõ khu vực
có 06 dân tộc chính là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Mông, Dao Trong đó, dân tộc Mường chiếm trên 63% tổng số dân Là tỉnh có vị trí chiến lược, nhiều công trình kinh tế, quốc phòng quan trọng, có Quốc lộ 6, 12, 15, đường Hồ Chí Minh đi qua và đường thuỷ nội địa như sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi,… thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng phụ cận [6, tr.101]
Tỉnh Hoà Bình có 10 huyện, 01 thành phố tỉnh lỵ, 210 xã, phường, thị trấn Nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống yêu quê hương đất nước, đoàn kết, thân thiện, và anh hùng, dũng cảm trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng và phát triển quê hương
Hoà Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa
hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 độ C Hệ thống sông ngòi được phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi
Có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, với các loại hình chủ yếu như: tài nguyên đất; tài nguyên rừng phong phú, động, thực vật đa dạng về số lượng loài: Gấu , lợn rừng, khỉ, nai rừng…, có các khu bảo tồn thiên nhiên…; tài nguyên khoáng sản phong phú với trữ lượng khá lớn: Đất sét, dá vôi, đá granit, than…rải rác ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thủy, Lạc Sơn…; Tỉnh Hòa Bình có nhiều điểm du lịch hấp dẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc: Suối nước khoáng Kim Bôi, Động Tiên ở Lạc Thủy, các khu bảo tồn thiên nhiên, thủy điện Hòa Bình, bản làng văn hóa truyền thống các dân tộc trong tỉnh như bản Giang Mỗ dân tộc Mường huyện Kỳ Sơn, bản Lác, bản Văn dân tộc Thái huyện Mai Châu, Xóng Dướng dân tộc Dao huyện Ðà Bắc ; khu
du lịch Suối Ngọc-Vua bà huyện Lương Sơn và nhiều di tích lịch sử, di tích văn hóa, kiến trúc, ngành nghề truyền thống, lễ hội, phong tục tập quán, nghệ
Trang 15thuật dân gian của nhiều dân tộc trong tỉnh phong phú, đa dạng, độc đáo là
những sản phẩm của nền "Văn hóa Hòa Bình"
“Hoà Bình là cái nôi của văn hóa Việt - Mường cổ, là một trong số ít vùng đất
có nền văn hoá lâu đời ở Việt Nam, vùng đất ẩn chứa nhiều nét văn hoá, những tập quán đặc sắc của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đến nghiên cứu, tìm hiểu Đây là cơ sở để bảo tồn, xây dựng và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Du lịch văn hoá được xác định là hướng phát triển của địa phương” [1, tr 12]
Vì vậy, Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hoà Bình đã đưa ra được báo cáo kết quả 15 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về “Xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 1.1.3 Đôi nét về người Mường ở Hòa Bình
Nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt, họ cư trú lâu đời ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Phú Thọ, Sơn La…trong đó, người Mường ở Hòa Bình chiếm đến 80% dân số toàn tỉnh, người Mường ở Hòa Bình vẫn luôn giữ được những nét văn hóa độc đáo mang dấu ấn của người Việt cổ từ trong nếp ăn, nếp ở và cả trong sinh hoạt Vậy nên, văn hóa của người Mường trở thành nền văn hóa chủ thể tiêu biểu nhất khi nhắc đến văn hóa tỉnh Hòa Bình [18, tr 56]
Từ xa xưa, Hòa Bình được gọi là tỉnh Mường với nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động Bốn vùng mường nay hợp thành xứ mường với những giá trị văn hóa truyền thống, độc đáo tiêu biểu cho văn hóa người Mường ở Việt Nam Đó là những nét đặc trưng từ trong kết cấu nhà ở, trong cách ăn, cách mặc hay như sinh hoạt, lễ hội Người Mường sinh hoạt chủ yếu trong nhà sàn Món ăn rất giản dị và độc đáo, mang đậm chất tự nhiên Song song với văn hóa
ăn là cách ăn mặc của người Mường, dệt vải thổ cẩm với những hoa văn cầu
kì, thể hiện cho thế giới quan và quan niệm thẩm mỹ của người Mường với nhiều loại hoa văn độc đáo, thể hiện rõ nhất trên cạp váy
Trang 16Người Mường còn có tên gọi Mol, Mual, Moi Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ nghệ khá tinh xảo Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú, có các thể loại: thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ, hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi
Chính những điều kiện trên, đặc điểm trên đã làm cho xứ Mường Hòa Bình có những nét đặc trưng nổi bật mà các dân tộc khác ít có được, trở thành một vùng đất với những phong tục tập quán cũng như nền văn hóa riêng in
đậm trên vùng đất “Hoa hậu xứ Mường” này, tiêu biểu hơn cả làbộ trang phục
truyền thống của người Mường Hòa Bình – váy Mường (wặl)
1.2 Những nét độc đáo trong trang phục truyền thống của người Mường
ở Hòa Bình
1.2.1 Quá trình làm trang phục
* Nguồn nguyên liệu sử dụng:
“Người Mường, đàn ông và đàn bà đều sử dụng lụa và vải bông để may quần áo Nếu như, đối với đàn bà, phần lớn vải vẫn còn do người địa phương làm ra, thì hầu như tất cả những vải may quần áo cho đàn ông đều được mua
ở các nơi khác về” [14, tr 102]
Tuy vậy, người Mường vẫn trồng bông, nuôi tằm và trong nhiều làng, đàn
bà vẫn còn dệt hai thứ đó, song với số lượng khá ít không đủ để cung cấp cho nhu cầu của họ Mặc dù có từ lâu đời, ngành dệt vải của họ từ trước đến nay vẫn chỉ là một ngành công nghệ trong gia đình Tình trạng mỗi năm một suy sụp của nghề đó buộc họ phải mua ngày một nhiều hơn số vải dệt bằng máy,
và vẫn tiếp tục tiếp tế cho họ kén, lụa mộc và sợi bông
Loại vải sợi bông dệt được mua để mộc, hoặc đã nhuộm củ nâu, nhuộm
hung hung, tuỳ theo sự pha trộn Một phần nhỏ số vải mua về để trắng hoặc để mộc, song họ đem nhuộm một số lớn hơn theo màu vàng nghệ Ngành nhuộm
Trang 17và ngành dệt là những kỹ thuật của đàn bà còn được giữ lại tính độc đáo, mặc dầu bước đầu có sự xâm nhập của chất bột mầu, song họ vẫn tiếp tục sử dụng
cây cỏ để nhuộm và cuỡng lại những cuốn sách tuân theo người Âu
Chuẩn bị sợi: “Người đàn bà Mường lưu luyến với những phương pháp
nhuộm do tổ tiên để lại, họ cũng trung thành với những kỹ thuật cổ và bộ đồ dệt cổ lỗ, từ chiếc bàn cán bông đến khung cửi, những thứ giúp họ chuẩn bị, quấn sợi và dệt vải” [14, tr 105]
Còn về bông, mùa trồng bông xê dịch trong hai tháng bẩy và tháng tám, nói chung làm trong nhiều lần Người Mường hái bông không có phương pháp:
họ lấy đi số lượng cần dùng cho họ ngay tức thời, và để cho số còn lại bị hỏng
ở trên cây Bông non phơi khô dưới ánh nắng: sợi bông sẽ không bị xem như khi hong ở lửa Bàn cán bông của người Mường kích thước rất nhỏ, vì vậy cán một ít bông mà phải mất rất nhiều thời gian Bàn cán bông bằng gỗ, có hai ống trồng lên nhau, một ống có lắp tay quay bằng sắt, đó là bộ phận duy nhất của kim khí của bàn cán bông, dựng vào một cái khung có cạnh 25 đến 30cm Quay bằng tay nên tốc độ khá chậm và bao giờ cũng vẫn còn một ít bông dính vào sợi
Khung cửi: Khung cửi dệt tuyệt đối cái nào cũng giống cái nào ngay cả
kích thước cũng không thay đổi, giống như khung cửi của người Thái Tuy vậy khung cửi người Mường có khác hình thức của bộ phận sợi của vòng cung, nó
có hình một con chim và có tên gọi là "con ak" (con quạ) chúng tôi đã trông thấy nó khắp những nơi còn dệt vải trong nhà
Ở xứ Thái, "con Quạ" được thay thế bằng một thứ ván xà dày và không dài lắm, song bộ phận vòng cung không xuyên qua đó mà buộc trực tiếp vào- giống như nó buộc vào "con quạ" vì khung cửi của người Thái cũng như của người Mường không có loại hộp đựng treo bên trên bộ phận trung tâm của các máy dệt Giăc-ka-rơ [15, tr 67]
Chuẩn bị dây chuyền: Để chuẩn bị dây chuyền, người đàn bà Mường rất
cần chỗ rộng, đôi khi họ lợi dụng cột nhà để tiến hành bước một của việc cuộn
Trang 18bàn sợi Trong những gia đình quý tộc, khi gia súc của gia đình được giao phó cho nông dân, thì họ mới sử dụng hai dãy cột và làm việc dưới nhà; nhưng khi chuồng trâu bò ở dưới nhà, muốn tránh cho dây sợi khỏi rơi xuống đất bẩn, người ta phải đặt một dãy cọc ở ngoài sân; một số đàn bà thích ở trong nhà và
có thể sử dụng được cột bên trong “Họ bao giờ cũng làm hai việc cuộn sợi: một chỗ cuốn vào cột, cọc chống, và một chỗ trên thanh ngang cuộn sợi của khung cửi” [15, tr 68]
Chuẩn bị bộ phận đan ngang: Công việc chuẩn bị bộ phận đan ngang
gồm có việc cuốn sợi vào cuộn sợi vào trong con thoi “Người Mường có hai kiểu con thoi: một kiểu bé hơn, để dệt sợi bông, kiểu kia để dệt sợi lụa Trong
cả hai kiểu, lõi con thoi chỉ là cuộn sợi dài cắm ngang vào con thoi và đầu chỉ trực tiếp lòi ra ngoài qua một lỗ nhỏ: bộ phận que nhọn không có và kiểu lõi thoi đơn sơ, không cho phép ta bắt chéo sợi để tránh tuột sợi Như vậy người ta hiểu được rằng công việc của người đàn bà dệt dễ dàng bị sảy ra sự cố, như đứt sợi, rối sợi làm cho vải dệt không đều và không mịn” [15, tr 70] Tuy vậy, người đàn bà Mường vẫn kiên trì và chăm chỉ bổ khuyết vào những chỗ thiếu sót kỹ thuật đó; họ bỏ khá nhiều công phu cho những chiếc băng hình vẽ dùng làm cạp váy, để làm vải mịn và sợi chặt; nhưng họ ít tỉ mỉ hơn khi dệt vải trơn
* Nhuộm vải:
Người Mưòng phổ biến nhuộm sợi tơ hoặc sợi bông nhiều hơn là nhuộm
cả bộ đồ Họ chỉ dùng củ nâu hoặc chàm; ngoài hai loại mầu đó, họ tạo ra mầu
đỏ bằng gỗ tô-mộc và mầu vàng bằng hạt “củng khu” Phương pháp của
những người đàn bà Mường bao giờ cũng là những phương pháp đơn giản nhất, và họ nhúng vào chất nhuộm nhiều lần liên tiếp nhau Số lần nhúng và thời gian nhúng thay đổi tuỳ theo chất nhuộm và sức chịu đựng bền lâu của mầu mà họ muốn có
“Ở bên Pháp, nhuộm một mầu, ngay cả đối với lụa pha vải, cũng có thể chỉ nhúng một lần Ở người Mường, lụa pha vải hầu như không bao giờ có
Trang 19được mầu đều, nhưng họ nhuộm sợi trước khi dệt, họ nhuộm kỹ sợi tơ và sợi bông riêng” [9, tr 23]
Chất nhuộm chàm được chuẩn bị trong những chiếc vại lớn từ 25 đến 35 lít Muốn nhuộm thêm bao nhiêu thì người ta cho ngâm nhiều lá bấy nhiêu Người ta để cho lá nhuyễn ra trong hai, ba ngày; rồi người ta đem ép cho chất mầu tiết ra hết, sau cùng người ta cho vào một ít vôi và một ít tro củi, tỷ lệ ít nhiều tuỳ theo đồ nhuộm và tuỳ theo chất lượng của lá nhuộm, chất vôi dùng
để làm loãng mầu, và chất than dùng để làm thẫm thêm, một cái vại như vậy có thể nhuộm được ba chiếc váy hoặc số sợi tương đương Sợi hoặc vải nhuộm được nhúng nguội vào vại ba hoặc bốn lần, mỗi lần nhúng phải phơi khô hẳn rồi mới lại tiếp tục nhúng lần sau Người Mường còn biết những phương pháp nhúng nhuộm khác nữa
Nói chung, người ta chỉ chuẩn bị khối lượng nhỏ khi nhuộm bằng chất gỗ tô mộc Gỗ này được chặt ra làm nhiều miếng nhỏ, bỏ một nắm vào ba phần tư lít nước đem đun sôi lên, để nguội và lọc, là xong Người ta không pha gì thêm vào nước nhuộm, cứ như vậy là có thể nhuộm ba hoặc bốn cuộn sợi to bằng nắm tay, nhuộm nguội và nhúng nhiều lần, giống như nhuộm chàm
Sau hết, “muốn nhuộm mầu vàng, người ta đun một số lá "cúng khu" trong một khối nước lớn hơn số lá gấp năm lần Với một lít, người ta chỉ có thể nhuộm được một cuộn sợi, nếu như muốn có một mầu sẫm đặc và bền” [9, tr 25]
Ngoài những nguyên liệu dùng để kéo sợi và dệt vải ra, ngoài những thứ vải đem nhuộm trước khi may quần áo, ngoài những loại vải đã được nhuộm màu, người Mường còn mua thêm ngày càng nhiều, những bộ quần áo may sẵn
* Trang phục của người Mường
Trang phục Mường hết sức tinh tế và có những nét riêng nổi bật không thể pha lẫn với các dân tộc khác Nam thường mặc áo cánh phủ kín mông, xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Quần lá ống rộng dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là khăn quần Trên đầu quấn khăn
Trang 20trắng Xa xưa, đàn ông Mường thường để tóc dài và búi gọn gàng phía sau Còn trang phục nữ, người Mường thường là áo pắn (áo ngắn) Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn áo cánh của người Kinh, ống tay dài
Trước kia, áo pắn chỉ có hai màu nâu và trắng nhưng nay, phong phú hơn với đủ mọi màu sắc Váy của người Mường là váy đen dài, đầu váy được trang trí bằng những hoa văn thổ cẩm nổi bật, do người con gái Mường tự dệt nên
Do đó, cạp váy ôm sát ngực không chỉ là điểm nhấn tạo nên nét duyên dáng cho người phụ nữ Mường mà thể hiện sự khéo léo của người mặc váy Đầu váy cùng với áo báng nổi lên giữa hai vạt áo pắn là phong cách trang trí đặc trưng, riêng biệt của người Mường Hòa Bình mà những dân tộc khác ít có được [12,
tr 89]
+ Trong các dịp lễ, tết, ta thường thấy nam, nữ Mường mặc trang phục truyền thống đánh lên những bản chiêng đầy ý nghĩa, tiêu biểu là các Phường bùa Bà Hồ Tư (P.Chăm Mát, TP Hòa Bình) tham gia phường bùa đã được hơn
10 năm cho biết: “Phường bùa là nét văn hóa đặc trưng của người Mường
Đầu năm,chúng tôi thường đem chiêng đi khắp các nhà trong bản, đánh lên những bản chiêng chúc phúc, cầu cho gia chủ một năm mùa màng bội thu và nhiều may mắn Điều không thể tách rời đối với mỗi Phường bùa là trang phục dân tộc truyền thống Không chỉ thể hiện nét đẹp của người Mường, khi khoác trên người những bộ quần áo đặc trưng cho dân tộc mình chúng tôi không khỏi
tự hào bởi đó là văn hóa” [19, tr 21]
Thứ nhất, về trang phục của nam giới
- Áo: Có 2 loại áo, áo cánh và áo dài
+ Áo cánh: May xẻ ngực, cài khuy, dài đến ngang mông Cổ áo đứng, cao
3 cm, bên trong vai là một miếng vải lót hình bán nguyệt tọ dáng đứng của áo
Ở giữa sống lưng áo may ghép hai than áo thẳng từ cổ áo đến gấu áo Hai vat
áo trước sát với gấu áo may hai chiếc túi khá to Trên ngực bên trái có may một túi nhỏ có gân chéo ở gần miệng túi và làm bằng vả màu trang trí Áo không xẻ nách, tay áo dài buông tới mu bàn tay, ống tay áo may vừa phải có thể xắn tay áo lên tới khuỷu tay
Trang 21+ Áo dài: Nam giới Mường thường mặc lồng một đôi áo dài (mặc kép)
Áo dài nam giới có hai loại: loại sang may bằng lụa hoặc đoạn màu xanh, màu tím hoặc màu vàng; loại thường may bằng vải bông, màu đen sẫm Áo dài thường được may đến ngang đầu gối, cài khuy lệch về sườn bên phải, hai bên
xẻ tà cao tới ngang hông, cổ áo đứng và cứng Áo dài thường được chú rể và hai phù rể mặc trong lễ cưới
- Quần: May ống rộng và đứng, đũng rộng, cắt kiểu chân què, cạp quần rộng, khi mặc dung sợi dây vải buộc chặt để định vị, thường may bằng vải màu trắng hoặc màu nâu
- Trang phục tang lễ: Trong tang lễ, nam giới mặc toàn đồ trắng, áo dài hoặc áo cánh màu trắng, khăn tang trắng, đường chỉ may phải lộn trái, gấu áo
để sổ không viền, áo cánh không cài khuy mà buộc bằng dây vải Người con trai thường phải đeo bên hông bao dao có cả dao Con rể và các con trai thứ, cháu chắt trai chỉ phải mặc đồ tem (đồ tang) Những người đến phục vụ lễ tang đều phải chít khăn tang trắng Con trai, con gái chịu tang bố mẹ phải cắt tóc Trước kia phải trụi tóc, ngày nay chỉ cắt tượng trưng Sau một năm, con cái mới được sửa tóc và nhuộm trang phục tang
+ Trang phục của thầy mo : Gồm có áo quần, mũ và binh khí
Áo : Màu xanh, may rất rộng, lụng thụng và dài gần đến gót chân Tay áo rộng, vạt trái kéo sang sườn bên phải và cài khuy bên phải Gấu áo và gấu tay
áo có nẹp nhỏ 3 cm màu đỏ may phía trong Phần dưới cổ áo may rộng dần ra
và không xẻ tà Quần màu trắng hoặc màu xanh chàm may rộng, đứng ống, đũng thấp, khi mặc cạp quần buộc bằng dải rút để định vị
Mũ : Thường gọi là mũ đuôi peo, là loại mũ mềm hình chóp như chiếc bồ đài úp trên đầu, màu xanh, khi đội mũ hơi ngả về phía sau Ngoài ra thầy mo còn có một chiếc mũ khác, hình hộp vuông, trên mũ trang trí hai nửa hình tròn ghép lại gọi mặt trời, màu vàng
Binh khí: Gồm một chiếc quạt, một cây kiếm, một chiếc chuông (khếng) Khi đứng làm lễ, tay trái thầy mo cầm quạt giấy rất to có vẽ hình rồng phượng, cũng có khi quạt làm bằng lông đuôi chim; tay phải càm khếng (quả chuông
Trang 22đồng nhỏ) lắc liên tục để giữ nhịp cho lời mo Kiếm được đeo sau lưng hoặc bên sườn trái Khi nào cần dùng đến binh khí để dọa tà ma, lúc đó thầy mo mới rút kiếm ra hươ hươ hoặc chém vào không khí để làm phép xua đuổi tà ma
Thứ hai, về trang phục của phụ nữ Mường
- Áo: Có hai loại áo là áo ngắn và áo dài [17, tr 70 - 75]
+ Áo ngắn: Là áo mặc thường ngày của phụ nữ Mường Áo may ngắn thân, xẻ ngực, thường thì không có khuy, nhưng nếu có là một chiếc khuy bấm
ở ngang ngực Cổ áo tròn, ống tay dài tới mu bàn tay và bó sát cánh tay Ở giữa sống lưng áo có một đường may bổ từ cổ áo xuống tận gấu áo Áo ngắn được may bằng vải thường hoặc lụa với các màu sắc sặc sỡ Trong đó phần nhiều là màu trắng Áo mặc bó sát thân người, không có khuy nên để lộ phần cạp váy trước ngực và chiếc yếm bó sát lấy ngực, vừa nền nã, vừa kín đáo nhưng lại có sức gợi cảm Trước đây, áo ngắn không may túi, nhưng gần đây phụ nữ Mường đã cải tiến dần chiếc áo ngắn của mình bằng cách may hai túi nhỏ ở hai vạt áo trước và cắt lượn tròn hai bên vạt áo tạo dáng mềm mại Nẹp
áo may to tới 3 – 4 cm với màu sắc sặc sỡ Đường viền cổ áo, cổ tay áo có thêu thùa và đính chỉ màu
+ Áo dài: Thường được mặc tiếp khách hay đi lễ hội Áo may dài tới quá đầu gối, phần nửa thân trên giống áo ngắn, phần nửa thân dưới từ eo trở xuống buông xuôi không xẻ tà, khi mặc phải ôm kín lấy bằng vải mộc tự dệt lấy Ngày nay, phụ nữ còn dung chất liệu vải trang trọng Áo dài truyền thống thường là màu xanh, màu đen, riêng áo dài của các bà mỡi (mễ mỡi) thường
dùng màu trắng “Trong lễ cưới, nàng dâu và hai phù dâu (piềng) mặc áo dài
và ngồi xếp mái (ngồi khép chân về một bên, thân người thì nghiêng về phía bên kia) trình trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng Các bà (mế) ngồi ăn trầu, uống rượu trên nhà sàn thường để hai vạt sau của áo dài che kín mông, hai vạt trước kéo gọn vào lòng” [20, tr 103] “Trong những dịp lễ hội, các cuộc vui, phụ nữ Mường, đặc biệt là các mế, thường mặc áo dài buông vạt cùng chiếc
Trang 23váy cạp đầu rồng, nẹp gấu in hoa với nhiều đồ trang sức đắt tiền làm tôn thêm
vẻ đẹp của người phụ nữ Mường” [21, tr 116].
- Váy: Trong chiếc váy của người phụ nữ Mường, đặc trưng nhất là chiếc cạp váy Cạp váy là một bộ phân khăng khít của nữ phục Mường Người Mường gọi nó là KLÔỘC WẶL (trlốc váy, đầu váy) Con người Việt vùng Mường, cũng như con người Mường nói tiếng Việt, bởi một lí do dễ hiểu, lại gọi là “cạp váy”
Cạp váy không chỉ là một bộ phận trang phục, nó còn chiếm vị trí quan trọng trong nền nghệ thuật tạo hình cổ truyền của tộc người Điều này đã được tác giả Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi) khẳng định rằng: Trên toàn địa bàn Mường, không tìm đâu ra những điêu khắc phẩm trên mặt phẳng như châu Đại Dương, hay những tượng tròn như ở châu Đại Dương và ở Tây Nguyên Trang phục Mường gồm các bộ phận sau:
1 CẠI MỤ (cái mũ), thực ra là khăn chít đầu màu trắng
2 CẠI YẾM (cái yếm), y hệt yếm Việt, tuy có phần ngắn hơn, màu trắng
3 CẠI ẠO (cái áo), tương tự áo cánh của người phụ nữ Việt, tuy ngắn hơn nhiều, cũng xẻ giữa, không có cúc, không khuy, màu trắng
4 CẠI WẶL (cái váy), “óng” vải đen bó thân thể người mặc từ nách xuống gần mắt cá chân Phần trên của váy, tức cạp váy, bộ phận trang phục độc nhất có hoa văn, đè lên phần dưới yếm và góp phần che ngực thêm kín
5 CẠI TÊNH (cái tênh) là chiếc khăn dài, thường nhuộm lục, thít quanh váy ngang tầm lưng
6 CÁI ẠO CHUNG (cái áo chùng), tương tự cái áo dài của người phụ nữ Thái, xẻ giữa, nhưng không cúc, không khuy, màu trắng, có khi màu đen nếu mặc “mớ hai” (trong áo chùng trắng, ngoài áo chùng đen)
7 CÁI KHĂN ĐÉT ẠO (cái khăn thắt áo) là chiếc khăn sồi không nhuộm, thít quanh áo chùng ngang tầm hông để khép hai tà áo lại, hai múi khăn buông ngắn đăng đối hai bên
“Đồ mặc của phụ nữ Mường không diêm dúa như nữ phục của người Thái, người Việt Nó không dụng công kín đáo để đạt đến độ thanh lịch như nữ phục
Trang 24Tày hay Cao Lan Nó cũng không thừa thãi hoa văn và màu sắc như quần áo của một số người Mèo, Dao “Cái gì đó” làm nên đặc điểm ấn tượng của nữ phục Mường, xem như một biểu hiện của cảm quan thẩm mỹ dân tộc, chính là tính hai mặt của nó: đối chọi mà nhạt nhẽo; tương phản trong thầm lặng” [8, tr 54]
Đối chọi hay tương phản chủ yếu ở màu sắc, giữa trắng và đen Vì trừ cái tênh lục, trừ cạp váy nhiều màu ra, các bộ phận khác của nữ phục Mường chỉ hoặc trắng, hoặc đen Khăn trắng, yếm trắng, áo (cánh) trắng, áo chùng trắng Váy đen, áo chùng đen (phủ lên áo chùng trắng trong trường hợp mặc “mớ hai”)
1.2.2 Cạp váy (klốc wặl) – nơi làm nghệ thuật tạo hình
Tác giả Từ Chi đã phân tích một cách chi tiết và đầy đủ cạp váy trong cuốn “Hoa văn Mường”, Ông dành phần lớn cho việc nghiên cứu “cạp váy Mường” Theo Phó Giáo sư Từ Chi thì hoa văn trên cạp váy phụ nữ Mường về
cơ bản giống như hoa văn trang trí trên trống đồng Đông Sơn Bằng cách so sánh trên, Phó Giáo sư cho rằng, ‘cạp váy phụ nữ Mường đồng niên đại với văn hóa Đông Sơn” [6, tr 106] Chiếc váy của của phụ nữ Mường được chia làm hai phần chính: phần thân trên, từ ngang hông trở lên gọi là cạp váy, phần thân dưới tiếp giáp cạp váy đến gấu váy gọi là thân váy Phần cạp váy rất rực
rỡ, bởi nó được thêu bằng chỉ màu sực sỡ có hình đầu rồng và rất cầu kì, đây là đặc trưng nổi bật của cạp váy Mường Cạp váy được can lại bởi ba phần khác nhau, mỗi bộ phận được dệt thành một tấm riêng, mang tên riêng, có những môtíp hoa văn riêng, thậm chí theo kích thước riêng, nhìn vào ai cũng nhận rõ từng bộ phận riêng biệt Trên thị trường họ bán riêng thành từng tấm, phụ thuộc vào túi tiền của người mua
Cạp váy được chia làm ba bộ phận riêng biệt mang những nét đặc trưng riêng độc đáo về nghệ thuật tạo hình Nếu tính từ miệng váy thì bộ phận trên cùng của cạp váy là RAANG KLÊÊNG (rang trên), tiếp theo là RAANG CHƠ (rang dưới), dưới cùng là CAO (cao), bộ phận tiếp liền với thân váy [10, tr
110 - 115]
Trang 25- Từ lưng váy trở lên gọi là cạp váy, phần cạp váy rất rực rỡ, bởi nó được dệt bằng chỉ màu sặc sỡ có hình đầu rồng rất cầu kỳ Đây chính là đặc trưng nổi bật nhất là cạp váy Mường
+ Phần cao rộng khoảng 10cm, trang trí vòng quanh eo bằng những sọc
đứng màu đỏ, vàng, nâu xen kẽ giữa các hình cỏ cây hoa lá cách điệu giống như kiểu hoa văn mặt phà (là loại hoa văn trang trí ở 2 mặt của chiếc chăn)
+ Phần tlốk có nhiều kiểu khác nhau: Wẽn, poong, bông lái mê Tlốk
thường phối với các màu xanh, đỏ, vàng, tlốk wẽn bố trí hoa băn nhỏ, màu tối sẫm, ấm, giản dị Tlốk poong, tlốk lái mê có hoa văn rực rỡ, màu đỏ hoặc màu vàng, là loại tlốk đẹp nhất
+ Sang trọng và cầu kỳ hơn cả là loại tlốk buôn, được dệt bằng lụa tơ tằm,
bền và bóng mịn; trên mặt nổi nhiều hoa văn hình động vật như: Hươu, chim,
gà, rắn, rùa và đặc biệt là đầu rồng Kiểu trang trí hoa văn này giống như trang trí trên mặt trống đồng Các hình con vật chạy theo một hướng nối đuôi nhau theo từng dải Nếu dải trên chạy theo hướng phải thì dải dưới chạy theo hướng ngược lại, mỗi dải được ngăn cách bằng những hình núi đồi
Trong ba bộ phận đó, Rang dưới được người Mường xem là quan trọng nhất, nó gắn liền với ý thức hệ tôn giáo cổ của tộc Mường, nó không rộng hơn rang trên là bao, nhưng vượt xa rang cao Rang dưới nổi bật lên giữa hai bộ phận kia, trước hết là ở tính chất trang trí, hoa văn rang dưới chủ yếu là hoa văn động vật, còn hoa văn của cao là hoa ăn hình học
Nếu rang dưới là bộ phận quan trọng nhất của cạp váy, thì phần thứ yếu hơn hết chắc chắn là cao Cao là bộ phận mà người Mường bắt buộc phải có mặt trên cạp váy
Hoa văn cạp váy được dệt từ chất liệu thực vật, đây toàn là màu nguyên, với sắc độ chói chang Với cảm năng thẩm mỹ tinh tế của mình, người Mường đã biến chất rậm rạp để “đập vụn” các màu nguyên sặc sỡ ấy thành mảnh màu nhỏ chen nhau trên cạp váy, hy sinh tính tập trung của “hình họa” để đạt cho kỳ được hiệu quả màu sắc, nhằm nâng bối cảnh đen trắng của trang phục lên một bậc,
Trang 26những độ sẫm của màu đỏ, độ chua của màu vàng, độ chóe của màu xanh biến mất Sau đây là bảng màu cổ truyền của người dệt cạp váy Mường:
- MAU KLẶNG (màu trắng) Cách nhuộm màu: nếu là sợi màu thì cứ để nguyên, không nhuộm; nếu là sợi tơ thì khử màu vàng bằng nhựa CƠL DƯA (cây đu đủ), hay nhựa của CƠL XAN (cây xoan);
- MAU GIẦM (màu đen): Cách nhuộm màu: nhuộm đỏ, xong ngâm bùn nhiều lần;
- MAU TỌ (màu đỏ), Cách nhuộm màu: ngâm sợi trong nước vỏ CƠL PANG (cây pang), loại cây thường được người Mường trồng quanh dậu Nguyên liệu để nhuộm đỏ cũng có thể là cánh kiến;
- MAU WANG (màu vàng) Cách nhuộm màu: ngâm sợi trong nước củ WANG THẮT (vàng thắt), một loại củ hoang không ăn được Các MỆ (mế, tức bà, bà cụ) cho biết rằng nước nhuộm này rất bền màu;
- MAU XENG (màu xanh) Cách nhuộm màu: chất nhuộm là lá của một loại cây dến nay họ vẫn chưa biết tên
Chính cái cạp váy trong trang phục của phụ nữ Mường đã tạo ra nét đặc trưng riêng của người Mường về sắc thái thẩm mỹ trong trang phục Giữa hai thái cực của màu trắng và màu đen trong cái mênh mông của màu xanh núi
rừng thì hoa văn cạp váy như những đốm sáng, như “những chấm phá tôn
được cả đen lẫn trắng uốn lại cái nhạt nhẽo vô tình hay cố ý của nền áo, váy Tác dụng mà cạp váy phát huy cũng kín đáo không kém bối cảnh trên đó nó phát huy tác dụng, dù kín đáo theo một nghĩa khác Đây không phải là kết quả vận động của riêng bản thân màu sắc…” [17, tr 151].
Cạp váy có thể tách thành bộ phận riêng, nên những khi không cần thiết hoặc chưa dùng đến, nó có thể được cất riêng Vì thế, một cạp váy có thể sử dụng cho nhiều váy, thậm chí cho nhiều người ở các thế hệ khác nhau So với toàn bộ váy thì cạp váy chiếm tỷ lệ khoảng 30%, lại được thắt từ sát nách xuống đến hông, do đó nó vừa có ý nghĩa trang trí vừa có ý nghĩa che kín thân thể ở mức độ cần thiết
Trang 27Những cô gái Mường duyên dáng trong trang phục truyền thống người Mường có những đặc trưng riêng hết sức nổi bật về tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên trang phục dân tộc Chính điều đó đã tạo nên cho phụ nữ Mường nét duyên dáng, niềm tự hào khi khoác trên mình trang phục truyền thống.
“Điểm nổi bật nhất của cạp váy Mường là những họa tiết trang trí hoa văn trên bề mặt của nó Với một diện tích không lớn, cạp váy chứa đựng một
số lượng hoa văn khá phong phú về cả hình thức và kiểu loại Hoa văn của mỗi phần là cái để phân biệt chúng với nhau, trong đó hoa văn của rang trên và hoa văn cao thuần túy là hoa văn hình học, riêng phần cao đôi khi không có hoa văn, còn phần rang trên thì luôn là hoa văn hình học Phần rang dưới chủ yếu là hoa văn động vật với rất nhiều mô típ khác nhau Các nhà nghiên cứu
đã thống kê có 37 mô típ hoa văn cạp váy, trong đó có 25 mô típ hoa văn động vật” [10, tr 119] Bởi là một sản phẩm đặc sắc của trang phục phụ nữ nên
người Mường dồn toàn bộ tâm trí và tài năng của mình vào đây Đây cũng chính là chỗ để các cô gái Mường trổ tài của mình trước cộng đồng, thể hiện ở
kỹ thuật dệt hoa văn cạp váy
Tài năng của người dệt còn thể hiện ở việc bố cục các mô típ hoa văn ở từng rang sao cho hợp lý, việc sắp xếp vị trí của từng loại hình động vật, hình trang trí ở rang dưới như thế nào cho đẹp mắt, cái nọ hỗ trợ làm nổi bật cái kia
mà không phá vỡ bố cục chung… Tất cả những cái đó đòi hỏi đầu óc thẩm mỹ tinh tế và điêu luyện của người thợ dệt, để tạo ra được một sản phẩm có giá trị
Cạp váy Mường trong bộ trang phục của người phụ nữ Mường vừa giản
dị, kín đáo, không phô trương mà lại nền nã, hấp dẫn và không kém phần đặc sắc Một điều đặc biệt là rất nhiều hoa văn trên cạp váy Mường cũng là các mô típ hoa văn phổ biến trên trống đồng Đồng Sơn Điều này cho thấy các hoa văn cạp váy Mường có giá trị cả về mặt nghệ thuật lẫn lịch sử, liên quan đến một thời kỳ rực rỡ của văn minh Việt Nam
Trang 28Trong trang phục của người phụ nữ Mường, ngoài những nét đặc sắc của hoa văn cạp váy thì chiếc khăn trắng quấn trên đầu người phụ nữ tuy rất đơn giản nhưng cũng mang một ý nghĩa sâu sắc Ngoài ý nghĩa thực dụng là để che
cơ thể trước nhiệt độ, thời tiết và những bất trắc ở núi rừng, khăn quấn đầu còn
có một ý nghĩa xã hội rất sâu xa gắn với truyền thuyết đầy lãng mạn về một mối tình giữa một chàng trai đất Mường nghèo tên là Khỏe với cô gái nhà Lang xinh đẹp là Út Dô [7, tr 29]
“Trong ngày hội, ngày lễ tết, các Mế, các Mảng, các ùn xúng xính
trong áo Pắn váy đen, chiếc thắt lưng xanh cùng bộ xà tích bằng bạc Đến ngày hội, bạn dễ dàng nhận ra các cô gái Mường Bi, Mường Vang trong màu
áo Pắn trắng, xanh lơ; các cô gái Mường Thàng với màu áo xanh cô-ban; còn các cô gái Mường Động thì áo màu hồng Những màu sắc ấy hoà vào nhau càng làm cho các cô thêm phần duyên dáng” [8, tr 27]
Ngày nay, chiếc áo được thay đổi về chất liệu và màu sắc bởi sự phong phú của các loại vải Nhưng tựu chung lại, bộ trang phục nữ dân tộc Mường Hòa Bình vẫn giữ nguyên đường nét, hoa văn từ thời Việt cổ
Bộ trang phục đầy đủ nhất bao gồm:
+ Mũ: Mũ là một dải vải trắng không viền, rộng chừng một gang tay, dài quá vòng đầu để thắt sau gáy theo kiểu thắt vặn, không luồn dưới tóc + Áo ngắn mặc ngoài, tiếng Mường gọi là áo Pắn Áo dài đến chấm eo lưng, phía sau có đường can vải theo dọc sống lưng Phía trước không có cổ Ngày xưa có hai loại nẹp áo để quy định Nếu con gái nhà Lang thì nẹp áo được may (tràng) vắt qua cổ sang hai bên Tràng rộng bằng ngón tay dài hai lớp vải Còn một loại áo cổ tròn và hai vạt may nẹp dành cho con nhà dân thường Tay áo không may nối vai mà được cắt may liền theo kiểu áo bà ba thon dần về phía cổ tay
Áo Chùng là áo khoác ngoài được may như áo ngắn nhưng kéo dài xuống đầu gối hoặc quá đầu gối, phía chân áo hơi xoè ra Nẹp áo bằng tràng cũng được may to hơn áo Pắn Ngày xưa áo Chùng thịnh hành hơn, ngày nay
Trang 29chỉ có các Mế có người còn hay mặc, còn các bà các cô hầu như chỉ mặc áo Pắn
+ Yếm - mặc bên trong áo Pắn, là một miếng vải hình vuông, cạnh trên
có khoét tròn và ôm khít cổ, có may dây để buộc sau gáy Hai cạnh bên có may dây để buộc ra sau lưng giống như cách buộc yếm của người Kinh
1.2.3 Tính tất yếu phải gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường
Trang phục truyền thống của mỗi dân tộc là dấu hiệu đặc trưng nhất để nhận biết và phân biệt các dân tộc với nhau, nó là kết tinh văn hóa truyền
thống của mỗi dân tộc “Bộ trang phục của người Ê Đê, Giarai, Mnông… thể
hiện tính cách phóng khoáng, mạnh mẽ, hài hòa với vùng thiên nhiên đầy nắng gió của cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên Bộ trang phục của người Chăm, Khmer… đại diện cho một nền văn hóa độc đáo, nhiều bí ẩn với tháp Chàm và những ngôi chùa Khmer cổ kính, trầm lặng Trang phục truyền thống của người Mường chất chứa sự đơn thuần giản dị, mộc mạc, nổi bật trong màu xanh của núi rừng, tạo nên nét duyên dáng, thanh lịch cho người phụ nữ xứ Mường, là nét tựu chung của nền văn hóa Đông Sơn hào hùng…” [17, tr 64]
Bởi vậy, trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam thực sự là di sản văn hóa có giá trị cần phải được coi trọng, bảo tồn Giá trị văn hóa dân tộc rất phong phú về mẫu mã, chủng loại, hình khối, màu sắc, đường nét và rất hàm xúc về biểu tượng có giá trị nhân văn, có giá trị về phong tục, ăn ở, trang phục, tập quán, kỹ thuật canh tác, chế tác nguyên liệu dệt nhuộm, kỹ thuật cắt may thêu, trang trí hoa văn họa tiết, bố cục đường nét màu sắc hình khối trên vải, trên trang phục là kết tinh tích tụ của những tri thức dân gian bản địa độc đáo, trong đó có trang phục của người Mường ở Hòa Bình
Trang phục dân tộc Mường là công trình nghệ thuật tài hoa về mỹ thuật, hội họa sử dụng màu sắc, đặc biệt là hoa văn hình học và hoa văn động vật cách điệu từ hoa văn trên trống đồng Đông Sơn
Nghệ thuật trang trí bằng đường nét và màu sắc của trang phục dân tộc đạt đến độ chuẩn mực khá cao Bốn loại hoa văn, hội họa, hoa văn hình người, hoa văn động vật, hoa văn thực vật được bộc lộ hài hòa độc đáo, ấn tượng Bố
Trang 30cục và đường nét hoa văn đó đã trở thành những thông điệp về thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan về óc thẩm mỹ, sự sáng tạo và tài hoa trong trang phục của người Mường Đó chính là những di sản văn hóa quý giá mà ngày nay và các thế hệ mai sau không được phép mai một, lãng quên và thất truyền trong thời mở cửa hội nhập và hiện đại hóa
Ngày nay con người có quyền mặc theo sở thích và mẫu mốt đang được thịnh hành, nhưng sở thích và mẫu mốt đó không thể tách rời những chuẩn mực của thời đại và những tinh hoa của truyền thống Trang phục Mường bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, đồng thời lại là một sản phẩm của thời đại văn minh Đông Sơn, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố dân tộc và cách tân, nhu cầu thực tiễn và trình độ thẩm mỹ
Vì vậy, việc bảo tồn giá trị văn hóa trang phục truyền thống Mường là quan trọng, cần thiết, tuy nhiên không có nghĩa là duy trì mãi cái cũ, lỗi thời không phù hợp, không chịu tiếp thu có chọn lọc cái mới, cái tốt, cái hợp lý, cái đang được phổ biến đi vào cuộc sống, được đồng bào chấp nhận Mong rằng văn hóa trang phục truyền thống của người Mường sẽ tiếp tục được bảo tồn và phát huy cùng với sự phát triển của đất nước, để vẫn giữ được bản sắc vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của xã hội
Trang 31Tiểu kết chương 1:
Trang phục của người Mường ở Tây Bắc, trước hết là biểu hiện vật chất của văn hóa tộc người Nó ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng, che đậy, bảo vệ cơ thể con người trước tác động ngoại cảnh cảnh của môi trường tự nhiên Tùy vào điều kiện sinh hoạt khác nhau mà người Mường có những bộ trang phục riêng biệt, phản ánh quan niệm chung của xã hội về nhân sinh quan,
vũ trụ quan Người Mường coi trọng trang phục không chỉ là vật bảo vệ cơ thể người theo ý nghĩa sinh học, mà còn là vũ khí chống lại mọi tà ma giúp cho con người có thêm sức mạnh hoặc là nơi cất giữ linh hồn
Trang phục Mường là một thành tố quan trọng của đời sống tộc người nhưng không phải là hiện tượng nhất thành bất biến Do đòi hỏi của nhu cầu nội sinh cũng như các tác động của yếu tố văn hóa ngoại lai (quá trình giao lưu, giao thoa kinh tế, văn hóa – xã hội trong khu vực, quốc gia và quốc tế), trang phục Mường luôn có sự biến đổi
Do vậy, việc gìn giữ và phát huy văn hóa bản sắc dân tộc trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay là một tất yếu
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở
HÒA BÌNH HIỆN NAY
2.1 Thực trạng của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
2.1.1 Thành tựu và nguyên nhân của việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
* Thành tựu:
Trong báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Tỉnh ủy Hòa Bình đã tiến hành tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn tỉnh quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 11 (Khóa XII) đã đề ra kế hoạch 297-KH/TU về việc thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Bước tiếp theo là các Huyện, Thị ủy, Đảng ủy trực thuộc, các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể tỉnh đã mở Hội nghị triển khai và xây dựng chương trình hành động của địa phương, đơn vị mình căn cứ vào Kế hoạch 297-KH/TU của Tỉnh ủy nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, mở rộng các chuyên mục giới thiệu về văn hóa, tổ chức các đợt tuyên truyền về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác văn hóa; phát hiện, biểu dương những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong xây dựng văn hóa, nhất là ở những địa phương, cơ sở có cách làm hay đạt hiệu quả; đồng thời đấu tranh phê phán các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, các tệ nạn xã hội đi ngược lại với thuần phong, mỹ tục của dân tộc ta…[3, tr 3]
Trang 33Trong lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp ủy Đảng đã coi trọng công tác xây dựng
mô hình, chỉ đạo điểm về xây dựng văn hóa; công tác đầu tư cho các hoạt động văn hóa – thông tin được quan tâm Hàng năm, Tỉnh đã bố trí ngân sách hỗ trợ các địa phương để xây dựng các điển hình cụm dân cư và mô hình văn hóa tiên tiến, coi công tác chỉ đạo điểm về xây dựng văn hóa ở cơ sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nội dung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chình quyền, đoàn thể trong tỉnh
Năm 2001, Tỉnh ủy Hòa Bình đã mở Hội nghị sơ kết để đánh giá kết quả 3 năm (1998 - 2001) thực hiện và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, các giải pháp cụ thể để tiếp tục lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII)
Ngày 25-3-2003, Tỉnh ủy Hòa Bình đã ra Chỉ thị số 30-CT/TU về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa
nghệ thuật đến năm 2010 và chọn năm 2003 là “Năm văn hóa của tỉnh”
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) của Đảng và
Kế hoạch số 297-KH/TU của Tỉnh ủy, về cơ bản đã đạt được một số mục tiêu
đề ra Việc triển khai và thực hiện các nội dung của Nghị quyết Trung ương 5 được gắn với các cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước, thi đua yêu nước…động viên nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, nghiêm chỉnh thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, Pháp luật và Nhà nước Thông qua đó, những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống được gìn giữ, những nét mới trong văn hóa được hình thành, mang đạm tính nhân văn như: nhớ về cội nguồn, đền ơn đáp nghĩa…, các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong tỉnh có bước phát triển mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh Công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc được quan tâm, gìn giữ Các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các địa phương trong tỉnh, giữa tỉnh Hòa Bình với các tỉnh miền núi phía Bắc có tác dụng to lớn trong việc khơi dậy và làm phong phú thêm bản sắc bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh nói riêng và làm phong phú them bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung Các hoạt động
Trang 34văn hóa đã trở thành nhu cầu thiết yếu của đời sống tinh thần của nhân dân trong tỉnh, nhất là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
an ninh quốc phòng và khối đại đoàn kết các dân tộc an hem trong tỉnh Hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư nâng cấp và xây dựng mới, đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước, góp phần từng bước làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, các tầng lớp dân cư, đồng thời nâng cao hiêu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
Là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng, là quê hương của nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng, của lễ hội cồng chiêng, của những chiếc váy đen, áo pắn truyền thống trang nhã nhiều màu sắc với một kho tang văn hóa, văn học dân gian làm phong phú, đa dạng thêm cho nền văn hóa Việt Nam Nhân dân các dân tộc Hòa Bình luôn có ý thức coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị của văn hóa truyền thống vốn có của mình
“Công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc được các cấp ủy Đảng, chính quyền luôn quan tâm chú trọng Tính đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng và phát triển được 11 đội thông tin lưu động từ tỉnh đến huyện, thị xã; với 894 đội văn nghệ quần chúng Hàng năm tổ chức được từ 1200 – 1500 buổi tuyên truyền, 2000 – 3000 buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng tại cơ sở, phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân, góp phần thúc đẩy phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng trong tỉnh phát triển mạnh mẽ và thực sự rộng khắp, với nhiều hình thức giao lưu phong phú, sáng tạo giữa các huyện, các xã, các cụm dân cư Thành tích nổi bật của tỉnh trong những năm qua là: đã tổ chức đăng cai và tham gia nhiều nhiều cuộc giao lưu văn hóa các dân tộc giữa các tỉnh Hòa Bình với các tỉnh bạn trong khu vực và cả trong nước như: ngày Hội Văn hóa – thể thao Tây Bắc (hai năm một lần), Festival văn hóa Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày Hội Văn hóa dân tộc Việt Nam, lễ hội Làng Sen, lễ hội
990 năm Thăng Long – Hà Nội; giao lưu với nhiều đoàn nước ngoài, đồng thời
tổ chức các hoạt động văn hóa – thể thao như: lễ hội cồng chiêng du lịch, lễ hội