1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh phú thọ

82 513 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 656,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người phân định rạch ròi thái độ, cách thức ứng xử theo các mức độ khác nhau, như đối với chủ nghĩa thực dân và các thế lực tôn giáo phản động kết cấu với nhau đó là đấu tranh chống kẻ đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

HÀ THỊ ANH ĐÀO

TÌM HIỂU VIỆC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học Th.S Hoàng Thanh Sơn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận cũng như học tập tại trường

em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong

khoa Giáo dục Chính trị, nhất là của các thầy cô trong tổ chủ nghĩa xã hội

khoa học, cùng với sự động viên khích lệ của các bạn sinh viên Em xin chân

thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo – Thạc

sĩ Hoàng Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian

qua để em có thể hoàn thành khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời

gian và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không tránh khỏi

những thiếu sót khi hoàn thành bài khóa luận Vì vậy em rất mong được sự

đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em được hoàn

thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Hà Thị Anh Đào

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Ths

Hoàng Thanh Sơn Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Hà Thị Anh Đào

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 5 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO HIỆN NAY 5

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo 5

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề

tôn giáo 10

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ 24

3.1 Mục tiêu, phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về tôn giáo trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ 59

3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý bằng pháp luật với các tôn giáo trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ 61

Trang 5

KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 HĐND: Hội đồng Nhân dân

2 MTTQ: Mặt trận Tổ quốc

3 UBMTTQ: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

4 UBND: Uỷ ban Nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành, phát triển cùng với sự tiến hóa của loài người Trong quá trình hình thành, phát triển, tôn giáo ảnh hưởng trên nhiều phương diện của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, phong tục, lối sống, giao tiếp… của mỗi quốc gia - dân tộc

Trong những năm gần đây, đời sống tôn giáo trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp Nằm trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Với bề dày lịch sử và con người đoàn kết yêu thương, trải qua hàng ngàn năm văn hiến tôn giáo, tín ngưỡng đã trở thành một bộ phận của đạo đức và văn hóa truyền thống Một điều đặc biệt đó là các tôn giáo trên thế giới, tín ngưỡng dân tộc

có sự hòa nhập với nhau Tuy nhiên do tính chất tôn giáo là vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp cho nên các thế hệ thù địch, chống phá cách mạng tăng cường lợi dụng tôn giáo, coi đó là trọng tâm chiến lược “diễn biến hòa bình”

Vì vậy, tình hình tôn giáo ở nước ta trong những năm gần đây có những chuyển biến phức tạp Đã từ lâu, quyền tự do tín ngưỡng được thể hiện trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, mọi sinh hoạt tôn giáo bình thường được tôn trọng Hiện nay, ngoài xu hướng hành đạo đồng hành cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng đã xuất hiện các hoạt động tôn giáo thông thường có phần lấn lướt chính quyền,

vi phạm một số quy định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo Một số cá nhân, tổ chức lợi dụng đổi mới cả sự quản lý có những mặt còn yếu kém của chính quyền để luồn lách, lấn lướt thực hiện các hoạt động tôn giáo vượt quá khuôn khổ cho phép Tìm cách kích động một bộ phận chức sắc, tín đồ còn lạc hậu, cực đoan ở trong các tôn giáo, hòng phối hợp với các thế lực phản

Trang 7

động trong nước và quốc tế, gây mất ổn định, lôi kéo quần chúng, phục vụ cho âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ có nhiều biến đổi Đặc biệt từ khi tỉnh triển khai thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Phú Thọ đã đi vào nền nếp Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh vẫn tồn tại một số tôn giáo trái phép và các tà đạo Hoạt động của các tôn giáo trái phép và các tà đạo ít nhiều ảnh hưởng xấu đến kinh tế, văn hóa, xã hội… của một số địa phương trong tỉnh

Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Tìm hiểu việc thực hiện chính sách tôn

giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Phú Thọ” làm khóa luận tốt nghiệp với

mong muốn đóng góp làm sáng tỏ hơn những quan điểm, chủ trương, chính sách tôn giáo ở Việt Nam nói chung cũng như việc cụ thể hóa ở tỉnh Phú Thọ nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Tôn giáo nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng là một đề tài có phạm

vi nghiên cứu rộng Từ xa xưa đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này Hiện nay người ta còn đặt sự quan tâm nhiều hơn do tình hình tôn giáo, tín ngưỡng đang có những diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêu biểu có: “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của GS Đặng Nghiêm Vạn (2003, Nxb Chính trị quốc gia); “Một số hiểu biết về tôn giáo Tôn giáo ở Việt

Nam” của Nguyễn Văn Trung (1993, Nxb Quân đội nhân dân) …

Đây là những công trình đã đi sâu nghiên cứu sự ra đời, phát triển của tôn giáo nói chung, tôn giáo ở Việt Nam nói riêng và vai trò của tôn giáo đối với đời sống Việt Nam qua các thời kỳ kịch sử

Đặc biệt nghiên cứu về tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ có: “Hôn nhân và nếp sống đạo trong gia đình người Việt Công giáo ở giáo xứ Nỗ Lực, tỉnh Phú Thọ” của NCS Lê Đức Hạnh Tác giả chủ yếu nghiên cứu chuyên sâu về hôn

Trang 8

nhân và nếp sống đạo trong gia đình người Việt Công giáo ở giáo họ Nỗ Lực, tỉnh Phú Thọ

Các công trình nghiên cứu và các bài viết của các tác giả nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, em muốn tìm hiểu quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nói chung cũng như việc cụ thể hóa ở tỉnh Phú Thọ nói riêng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích

Trình bày một cách có hệ thống về chính sách tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ đó khóa luận nêu lên thực trạng, những phương hướng và giải pháp cho việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ

- Nhiệm vụ

Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

+ Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Phú Thọ

+ Phương hướng và giải pháp để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề tôn giáo đặt ra ở tỉnh Phú Thọ

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Phú Thọ

Trang 9

- Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ và giải pháp để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề tôn giáo đặt ra ở tỉnh Phú Thọ

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

Đề tài góp phần làm sáng tỏ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

ta, từ đó xem xét giải quyết thực tiễn của Việt Nam nói chung và tỉnh Phú

Thọ nói riêng

Là tài liệu tham khảo cho những người giảng dạy, nghiên cứu các vấn

đề có liên quan đến tôn giáo

Giúp người viết bước đầu làm quen với việc đọc và tìm hiểu tài liệu, rèn luyện tư duy khoa học, nâng cao tính tích cực nhận thức khoa học về tôn giáo, có cái nhìn khách quan về vấn vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương và 7 tiết

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO HIỆN NAY

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo

1.1.1 Bản chất của tôn giáo

Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tín ngưỡng tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang tưởng, hư ảo hiện thực khách quan Qua hình thức phản ánh tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở nên thần bí Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ănghen đã làm rõ bản chất tôn giáo trên cơ sở xem xét tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội:

“Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản kháng trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”[13, tr.437 – 438]

Tôn giáo là sản phẩm của ý thức con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội nhất định Do dó, xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước

tự nhiên và xã hội

Theo C.Mác: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [9, tr.570]

Tuy nhiên tôn giáo cũng chứa đựng một số giá trị văn hóa phù hợp với đạo lý, đạo đức của xã hội

Trang 11

Như vậy, có thể nói tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hư ảo về thế giới bên ngoài nhằm đền bù cho những bất lực của con người trong cuộc sống hàng ngày

1.1.2 Nguồn gốc của tôn giáo

Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, hoàn thiện

và biến đổi cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội

Sự xuất hiện và biến đổi đó gắn liền với các nguồn gốc sau:

* Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn

Vì vậy, họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh đó Đó là hình thức tồn tại đầu tiên của tôn giáo

Khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu đuối trước sức mạnh của tự nhiên con người lại cảm thấy bất lực trước những sức mạnh tự phát hoặc của thế lực nào đó của xã hội Không giải thích được

sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột, tội ác…và cùng với nhứng yếu tố ngẫu nhiên may rủi, con người thường hướng niềm tin ảo tưởng vào “thế giới bên kia” dưới hình thức các tôn giáo

Như vậy sự yếu kém của trình độ phát triển lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức về chính trị, thất vọng bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo

* Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

Các nhà duy vật trước Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo Còn các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, lại quan tâm trước hết đến nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó

Trang 12

Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên,

xã hội và bản thân mình là có giới hạn Khoa học có nhiệm vụ từng bước khám phá những điều chưa biết Song khoảng cách giữa cái biết và chưa biết luôn luôn tồn tại; điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì dễ bị tôn giáo thay thế

Sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm nhận thức của con người Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn thế giới khách quan, khái quát hóa thành các khái niệm, phạm trù, quy luật Nhưng càng khái quát hóa, trừu tượng hóa đến mức hư ảo thì sự vật hiện tượng được con người nhận thức càng có khả năng xa rời hiện thực và dễ phản ánh sai lệch hiện thực Sự nhận thức bị tuyệt đối hóa, cường điệu hóa của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực,

dễ rơi vào ảo tưởng, thần thánh hóa đối tượng

- Nguồn gốc tâm lí của tôn giáo

Các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra thần linh” Lênin tán thành và phân tích thêm sự sợ hãi trước thế lực mù quáng của

tư bản…, sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong…, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo

hiện đại

Ngoài sự sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo làm nảy sinh những tình cảm như lòng biết ơn sự kính trọng, tình yêu trong quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người Đó là những giá trị tích cực của tín ngưỡng tôn giáo

Tín ngưỡng tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống nỗi trống vắng trong tâm hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu cho các số phận lúc sa cơ lỡ vận Vì thế,

dù chỉ là hạnh phúc hư ảo, nhưng nhiều người vẫn tin vẫn bấu víu vào C.Mác

Trang 13

đã nói: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không

có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [9, tr.570]

1.1.3 Tính chất, chức năng và vai trò của tôn giáo

- Tính chất của tôn giáo

+ Tính lịch sử của tôn giáo thể hiện ở chỗ: Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử Nó ra đời khi con người có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa về những hiện tượng tự nhiên và xã hội Tôn giáo vận động và biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử Những biến đổi lớn lao trong những phong trào tôn giáo thường gắn liền với những lịch sử xã hội và thực chất sự biến đổi trong các tôn giáo chỉ là sự phản ánh các biến đổi của lịch sử

+ Tính chính trị của tôn giáo: Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo chưa mang tính chất chính trị Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt về lợi ích, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình

+ Tính quần chúng của tôn giáo thể hiện ở chỗ: các phong trào tôn giáo trong lịch sử thường là các phong trào quần chúng, thể hiện ước mơ nguyện vọng và ý chí của quần chúng

- Chức năng của tôn giáo bao gồm các chức năng

+ Chức năng đền bù hư ảo

+ Chức năng thế giới quan

+ Chức năng điều chỉnh hành vi

+ Chức năng liên kết

+ Chức năng giao tiếp

- Vai trò của tôn giáo

+ Vai trò tiêu cực

Trang 14

Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, tôn giáo chỉ là “hạnh phúc hư ảo” của nhân dân, là “vòng hào quang thần thánh” trong cái biển khổ của nhân dân, là những “bông hoa tưởng tượng” trên xiềng xích của con người, là “mặt trời ảo tưởng” xoay xung quanh con người Do đó tôn giáo thường hạn chế sự phát triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người có thái độ nhẫn nhục, không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật nơi trần thế, mà hy vọng hạnh phúc ở cuộc sống sau khi chết

Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị lợi dụng

Bên cạnh những biểu hiện tiêu cực, tôn giáo có những mặt tích cực của

nó Điều đó thể hiện ở chỗ: tôn giáo vừa là sự khốn cùng của hiện thực, đồng thời lại là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy Đó chính

là sự đấu tranh chống lại sự bất công, tàn bạo trong xã hội có giai cấp và bóc lột giai cấp Tôn giáo bao giờ cũng đề cao tính nhân văn, hướng thiện, khuyên con người thương yêu giúp đỡ nhau, tránh điều ác, phi nhân cách, phi đạo đức Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với đạo đức xã hội, và nhiều khi trở thành những giá trị văn hóa tinh thần của nhân loại

Tôn giáo là một thành tố của văn hóa Các nền văn minh lớn trên thế giới thường mang dấu ấn của tôn giáo Nhiều khi người ta lấy tên của một tôn giáo để chỉ đặc điểm, sắc thái của một nên văn hóa Ví dụ: văn hóa Cơ đốc giáo, văn hóa Hồi giáo, văn hóa Phật giáo…Tôn giáo luôn là mảnh đất màu

mỡ, trên đó hình thành và phát triển những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng

Trang 15

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm văn hóa Việt Nam Một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín ngưỡng tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu thế hòa đồng, tồn tại đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau

Ở Việt Nam không có xung đột, chiến tranh tôn giáo Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên giá trị truyền thống vô cùng quý báu, trong đó yêu nước là giá trị hàng đầu Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu nước, Trần Nhân Tông vừa là ông vua yêu nước có công lãnh đạo quân dân ta hai lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu của Thiền phái Trúc Lâm Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước

Kế thừa truyền thống ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau Một người dù theo tôn giáo nào thì trước hết người đó phải là công dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nước

Như vậy, đặc điểm văn hóa dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước nói riêng là cơ sở thực tiễn của Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo

Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo là nhằm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu dân giàu nước mạnh độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người,

Trang 16

thể hiện tính nhất quán lâu dài, thực sự tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo; thái độ mềm dẻo khéo léo trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo Trong: “Tám điều mệnh lệnh” của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi rõ: Chính phủ, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào

Ngày 5-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 điều nên và không nên làm, trong đó ghi: không nên xúc phạm đến tín ngưỡng, phong tục của nhân dân Chính cương của Mặt trận Liên Việt ở điểm 1 Điều 7 có ghi: “Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng cho mọi người” Sắc lệnh 234/52 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14-6-1955 đã thể hiện rõ tính nhất quán lâu dài của chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Kế thừa quan điểm mácxit về tôn giáo trong việc xử lý các vấn đề tôn

giáo rằng “tuyên chiến ầm ĩ… với tôn giáo là dại dột” [7, tr.512 ] Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn có thái độ mềm dẻo, biện pháp khôn khéo, hợp tình hợp lý trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo ở nước ta

Về nguyên tắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi các tổ chức tôn giáo phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, theo quy định tại Điều 14(chương IV) Sắc lệnh về tôn giáo do Người ký: “Các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ theo pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, như mọi tổ chức khác của nhân dân” Trên cơ sở nguyên tắc ấy, các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các tôn giáo, quan hệ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền… đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xử lý hoàn hảo

Người phân định rạch ròi thái độ, cách thức ứng xử theo các mức độ khác nhau, như đối với chủ nghĩa thực dân và các thế lực tôn giáo phản động kết cấu với nhau đó là đấu tranh chống kẻ địch; còn đối với đồng bào tôn giáo làm sai chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước là đấu tranh trong nội bộ nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi tình hình một cách thường xuyên

Trang 17

và chỉ đạo giải quyết rất kịp thời Phương pháp của Người là kiên trì, nhẫn nại, chân tình Nếu đã kiên trì mà không đạt kết quả thì Người rất kiên quyết, rất nghiêm khắc: “Trong Hiến pháp nước ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm Hiến Pháp và khiêu khích bà con công giáo sẽ bị xử lý” Như vậy phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để giải tỏa hiểu lầm, tăng cường đoàn kết nhân dân Muốn vậy phải tỉnh táo phân biệt rõ bạn, thù để có cách xử lý phù hợp

Trên quan điểm về chính sách tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những quan điểm, giải pháp đúng đắn để thực hiện thành công vấn đề đoàn kết tôn giáo mà trọng tâm là đoàn kết Lương – Giáo

Đoàn kết là một nội dung cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đối với tôn giáo thì sự chân tình và bền vững như là một điều kiện tiên quyết để thực hiện đoàn kết Người nhấn mạnh rằng: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc; ta phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ” [16, tr.428]

Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân của chủ tịch Hồ Chí Minh Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, Người đã tìm ra cơ sở khoa học, đó là sự tương đồng giữa các tôn giáo, thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, các tôn giáo chân chính xét đến cùng đều có hi vọng giải thoát

con người, mong muốn con người được sung sướng tự do, hạnh phúc Chủ tịch

Hồ Chí Minh nói: “Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha Đức Giê Su sinh ra là niềm hạnh phúc cho mọi người, phúc lợi cho xã hội Khổng Tử sinh ra

là để giúp con người sống nhân nghĩa vì một thế giới đại đồng”

Trang 18

Thứ hai, tín đồ các tôn giáo căn bản đều là những người lao động bị chế

độ cũ áp bức bóc lột Họ đều là những người yêu nước thực sự, do vậy họ là lực lượng của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân với tư cách là chủ thể của cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự tương đồng giữa các tôn giáo mà còn tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo chân chính với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội Người coi tôn giáo như một nơi gửi gắm nguyện vọng thiết tha của một bộ phận quần chúng lao động mong chờ

sự giải thoát khỏi áp bức, bất công, nghèo khổ, từ đó cổ vũ họ tham gia kháng chiến, kiến quốc Đối với các chức sắc tôn giáo, Người luôn động viên, khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Ngay cả bọn giám mục bị bọn đế quốc phản động lợi dụng, như giám mục Lê Hữu Từ, Người cũng có thái độ ứng xử rất mềm dẻo, chân tình Nhận làm bạn, mời làm cố vấn của Chính phủ và lựa lời khuyên giải

Như vậy, với cái sắc sảo về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh cái chung, cái tương đồng của các tôn giáo để thực hiện đoàn kết tôn giáo, gắn

sự nghiệp tôn giáo vào sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc điều này đã được người xác định rõ trong thư gửi tướng Trần Tu Hòa: “Việt Nam độc lập đồng minh không phải là một Đảng mà là một mặt trận toàn dân, bao gồm các đảng phái (đảng Dân chủ, phái Xã hội), các phần tử Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản (đã tự động giải tán) và các đoàn thể yêu nước không đảng phái như Hội thanh niên cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Cơ đốc giáo cứu quốc…” [14, tr.117]

Nội dung tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính chất toàn diện, điều đó được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội Người nói “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa các đồng bào Lương và các đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc” [18, tr.606]

Trang 19

Trọng tâm tư tưởng về chính sách tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề đoàn kết Lương - Giáo Cơ sở của đoàn kết Lương - Giáo theo tư tưởng

Hồ Chí Minh là sự “đồng nhất” với mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc

Để thực hiện đoàn kết tôn giáo, trong đó trọng tâm là đoàn kết Lương – Giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những giải pháp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn: Xây dựng hệ thống chính trị trong vùng đồng bào tôn giáo, làm tốt công tác vận động với các chức sắc và tín đồ tôn giáo, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác vận động đối với các chức sắc tôn giáo và đồng bào tôn giáo Người luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối với các chức sắc tôn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ xong cũng có thái độ xử sự dứt khoát, kiên quyết, trừng trị những kẻ mượn tiếng đạo, làm nhục chúa, làm hại dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn giáo chăm sóc cả “phần xác” và “phần hồn” Từ đó Người chỉ đạo Chính phủ cần có chính sách cụ thể để cải thiện cuộc sống cho đồng bào, tích cực tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến các vấn đề xây dựng đội ngũ cán

bộ ở các vùng đồng bào công giáo Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém” [15, tr.273]

Như vậy thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam Tín đồ tôn giáo Việt Nam thực hiện tư tưởng của Người về chính sách tôn giáo đã và đang sống theo phương châm sống “phúc âm trong lòng dân tộc”, sống “tốt đời đẹp đạo”, “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”

Trang 20

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo

Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta Nhưng trước những biến động của tình hình và nhiệm vụ cách mạng nói chung và của tình hình tín ngưỡng, tôn giáo cũng như việc thực hiện chính sách tôn giáo trong tình hình mới thì chúng ta cần có những nhận thức mới về tôn giáo và chính sách tôn giáo mới phù hợp Vì vậy, năm 1990 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 24, Nghị quyết Trung ương là Nghị quyết chuyên đề về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” Nghị quyết xác định 4 mục tiêu cơ bản sau: tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp công cuộc xây dựng xã hội mới; các giáo và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích điều lệ phù hợp với nhà nước pháp luật, có tổ chức và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về hai mặt đạo, thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp

cụ thể để cho phép hoạt động Các Đại hội Toàn quốc lần thứ VII - VIII của Đảng tiếp tục khẳng định nội dung trên Đến năm 1998 Bộ Chính trị khóa VIII ra chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” Ngày 19-4-1999 Chính phủ ban hành chỉ thị số 26-NĐ-CP về các hoạt động tôn giáo Nghị quyết đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo

và đồng bào không theo tôn giáo, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống cho đồng bào” [5, tr.128]

Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần VII của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân

Trang 21

dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện quyền bình đẳng đoàn kết giữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi thành kiến phân biệt đối sử với đồng bào có đạo, chống mọi hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[4, tr.78]

Vấn đề tôn giáo là một vấn đề phức tạp nó có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, vì vậy thực hiện tốt chính sách tôn giáo góp phần ổn định xã hội an ninh, chính trị, củng cố đoàn kết toàn dân; tạo điều kiện cho các chức sắc, tín đồ tôn giáo làm tốt việc đạo, hoàn thành tốt nghĩa vụ công dân Chính sách tôn giáo thực sự cần thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay khi tình hình tôn giáo thế giới đang có những diễn biến hết sức phức tạp; sự xuất hiện của nhiều hiện tượng tôn giáo mới các thế lực thù địch đang ráo riết lợi dụng kẽ

hở trong hoạt động tôn giáo để phá hoại thành quả cách mạng cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Do đó việc thực hiện chính sách tôn giáo là nhiệm vụ của Đảng, toàn dân và toàn quân ta Đó là một khối sức mạnh to lớn, là động lực là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề tôn giáo, coi công tác tôn giáo là một nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết trong thời kỳ mới của đất nước

- Nội dung chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta hiện nay

Để đưa ra chính sách tôn giáo phù hợp trong giai đoạn hiện nay, Đảng

và Nhà nước ta đã căn cứ vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo Đồng thời dựa vào yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng của chủ nghĩa xã hội và tình hình tôn giáo, cũng như việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chính sách tôn giáo với các nội dung cơ bản sau:

Trang 22

+ Thực hiện chính sách nhất quán tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của mọi công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo hay không theo đạo, cũng như giữa các người theo các tôn giáo khác nhau

+ Thực hiện đoàn kết của các đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên tôn vinh những người có công với

Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối sử với công dân vì lý do tín ngưỡng và tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo

để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

+ Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

+ Những hoạt động tôn giáo ích nước lợi dân, phù hợp với nguyện vọng lợi ích chính Đảng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo Những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo, kể cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được tôn trọng

và khuyến khích phát huy

+ Mọi hành vi lợi dụng hoạt động, lợi dụng tôn giáo làm mất trật tự

an toàn xã hội, phương hại đến nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại đến các giá trị đạo đức, lối sống văn hóa của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc tôn giáo, thực hiện nghĩa vụ công dân đều bị xử

lý theo pháp luật

Trang 23

+ Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể, các

tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

+ Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở hợp pháp theo quy định của pháp luật

Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng

cơ sở thờ tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật

Việc theo đạo truyền bá đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo để truyền đạt tà đạo và hoạt động mê tín dị đoan và không được ép buộc người dân theo đạo, nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và hình thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện mục tiêu:

“Độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được cụ thể hóa bằng những chính sách cụ thể có trong Nghị quyết số 26/1999/NĐ - CP do Chính phủ ban hành ngày 19/04/1999

- Đối với các tín đồ tôn giáo

+ Tín đồ các tôn giáo có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không

trái với chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiến hành nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập quản lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự

+ Tín đồ các tôn giáo không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm

trái pháp luật, không được hoạt động mê tín dị đoan

+ Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được sinh hoạt theo

tôn giáo pháp luật Việt Nam

Trang 24

- Đối với chức sắc, nhà tu hành tôn giáo

+ Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có quyền:

Được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo của mình trong phạm vi trách nhiệm đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận

Được nhận xét, khen thưởng công lao đóng góp trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Được hưởng các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của công dân

+ Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có nhiệm vụ:

Thực hiện đúng chức trách, chức vụ tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm tôn giáo đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận

và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm đó

Động viên tín đồ chấp hành nghiêm chỉnh chính sách và pháp luật của Nhà nước

+ Người mạo danh chức sắc, nhà tu hành tôn giáo bị xử lí hành chính

hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Người đang chấp hành án phạt tù hoặc đang bị quản chế hành chính không thực hiện chức trách, chức vị tôn giáo Việc phục hồi chức trách, chức vụ tôn giáo của người đã hết hạn chấp hành các hình phạt trên phải do tổ chức tôn giáo quản lý người đó đề nghị và được các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận

+ Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tôn giáo phải được

phép của Thủ tướng Chính phủ Tổ chức và hoạt động của nhà trường thực hiện theo các quy định của Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ giáo dục và đào tạo Các trường thực hiện quy chế, chính sách pháp luật của Nhà nước theo sự hướng dẫn, giám sát, kiểm tra của các cơ quan chức năng Nhà nước và UBND cấp tỉnh sở tại

Trang 25

+ Việc phong giáo phẩm, giáo chức cho chức sắc, nhà tu hành tôn giáo,

việc bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành…phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh

- Đối với các tổ chức tôn giáo

+ Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ

cấu tổ chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được pháp luật bảo hộ

+ Tổ chức tôn giáo hoạt động trái tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành

đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ hoạt động Những cá nhân chịu trách nhiệm về hành vi đó bị xử lí theo pháp luật

+ Chức sắc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy

định của Nhà nước Các cơ sở từ thiện do chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo bảo trợ hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng của Nhà nước

- Đối với các hoạt động tôn giáo

+ Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở thờ tự đã đăng kí hàng năm và thực

hiện trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải xin phép

+ Những hoạt động tôn giáo vượt qua ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự

hoặc chưa đăng kí hàng năm phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

+ Các cuộc tĩnh tâm của linh mục trong giáo phận của các tu sĩ tập

trung từ những cơ sở, dòng tu của đạo Thiên Chúa, các cuộc bồi linh của mục

sư và truyền bá đạo của Tin lành, các kì an cư của tăng ni đạo Phật và những sinh hoạt tôn giáo tương tự của các tôn giáo khác thực hiện theo quy định của

cơ quan quản lí Nhà nước cấp tỉnh về tôn giáo Đại hội, Hội nghị của tổ chức tôn giáo các cấp ở địa phương phải được phép của chủ tịch UBND cấp tỉnh

+ Việc in ấn, xuất bản các loại kinh, sách và các xuất bản ấn phẩm tôn

giáo việc sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo phải

Trang 26

thực hiện theo quy chế Nhà nước ban hành Cấm in, sản xuất kinh doanh, lưu hành, tàng trữ sách báo văn hóa phẩm có nội dung chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gây chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc, gây mất đoàn kết trong nhân dân

- Đối với nơi thờ tự và tài sản của các tôn chức tôn giáo

+ Nhà nước bảo hộ nơi thờ tự và tài sản của các tổ chức tôn giáo Tổ

chức tôn giáo có trách nhiệm giữ gìn tu bổ nơi thờ tự

+ Nhà, đất và các tài sản khác đã được các tổ chức, cá nhân tôn giáo

chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lí, sử dụng do thực hiện chính sách Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hoặc hiến cho Nhà nước thì đều thuộc quyền

sinh hoạt của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Việc tu bổ và việc sửa chữa nhỏ, không làm thay đổi cấu trúc, kiến

trúc công trình thuộc cơ sở thờ tự thì tổ chức thực hiện sau khi thông báo cho Chủ tịch UBND xã sở tại Việc sửa chữa lớn làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại nơi thờ tự, việc khôi phục công trình thờ tự hoang phế, bị hủy

bỏ do chiến tranh, thiên tai, rủi ro: việc tạo lập cơ sở thờ tự mới, xây dựng công trình thờ tự (nhà, tượng, bia, đài, tháp…) phải được phép của Chủ tịch UBND các cấp

+ Tổ chức tôn giáo được tạo nguồn tài chính từ sự ủng hộ tự nguyện

của cá nhân, tổ chức, từ những thu nhập hợp pháp khác Việc tổ chức quyên góp, bao gồm để quyên góp cho xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh cho phép, nghiêm cấm việc ép buộc tín đồ đóng góp Việc quản lí, sử dụng các nguồn tài chính có được từ các nguồn trên đây thực hiện theo quy định của pháp luật

- Đối với hoạt động đối ngoại của tôn giáo

+ Hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp

luật và phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

Trang 27

nghĩa Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, độc lập quốc gia, vì hòa bình,

ổn định, hợp tác và hữu nghị

+ Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước tham gia làm thành viên của

tổ chức tôn giáo ở nước ngoài tham gia các hoạt động của tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn giáo ở nước ngoài thực hiện theo quy định của Ban Tôn giáo Chính phủ

+ Tổ chức, cá nhân trong nước mời cá nhân, tổ chức tôn giáo ở nước

ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài, kể cả tổ chức, cá nhân tôn giáo vào

Việt Nam để hoạt động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không được

tổ chức, điều hành hoặc tham gia tổ chức, điều hành các hoạt động tôn giáo, không được truyền bá tôn giáo

+ Tổ chức, cá nhân trong nước muốn nhận viện trợ thuần túy tôn giáo

phải xin phép Thủ tướng Chính phủ

Như vậy, ta thấy rằng chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng

và Nhà nước ta đã đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của nhân dân trêm cơ sở mục đích cao cả là xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Vấn đề tôn giáo đã được đưa vào Hiến pháp và thể chế hóa thành pháp luật Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Đảng ta đã

có cách nhìn đúng đắn trong công tác tôn giáo, tín ngưỡng nhằm góp phần giữ vững an ninh và ổn định trật tự xã hội trong giai đoạn hiện nay

Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, tôn giáo có tác động trở lại đối với tồn tại xã hội Ta có thể thấy một cách rõ ràng, tôn giáo có tác động hai mặt đối với xã hội Một mặt, tôn giáo phản ánh khát vọng của con người, sự trăn trở của họ về một xã hội tốt đẹp hơn, nhưng do cách phản ánh khát vọng ấy là phản ánh hư ảo, đáp ứng nhu cầu và bù đắp hư ảo những bất lực hiện thực của nó, nên mặt khác tôn giáo cũng là sự kìm hãm quá trình thực hiện hóa khát vọng đó Một mặt, tôn giáo làm tăng sự liên kết xã hội, với

Trang 28

tác động quan trọng của đức tin tôn giáo; mặt khác cũng là nguy cơ của sự rạn nứt do sự sùng tín hay tính cục bộ cố hữu của nó Một mặt, tôn giáo hướng con người về những giá trị cao cả, đạo đức, hướng thiện …dựa trên những giá trị và chuẩn mực chung của họ; mặt khác làm tăng tính kích động của họ theo những giáo điều có sẵn và bất di bất dịch Một mặt, tôn giáo gợi nên những suy tư, tìm tòi hướng tới xã hội cao đẹp trên trời; mặt khác lại ngăn cản sự phát triển của xã hội Một mặt, tôn giáo góp phần tạo dựng, tham gia sáng tạo của giá trị văn hóa của dân tộc với đặc trưng là các huyền thoại; mặt khác lại kìm hãm sự sáng tạo hiện thực của con người

Mặc dù bản thân tôn giáo chứa đựng nhiều điểm tiêu cực và còn tiềm

ẩn nguy cơ gây mất ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng dưới chế độ chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại và sẽ còn tồn tại lâu dài do bản thân chủ nghĩa xã hội chưa có khả năng khắc phục triệt để ngay một lúc các nguồn gốc làm nảy sinh và duy trì sự tồn tại của tôn giáo do tín giáo còn một số yếu tố hiện vẫn còn phù hợp với xã hội, do dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tôn giáo còn có khả năng tự biến đổi để thích nghi theo xu hướng đi cùng đường với dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”

Việc thực hiện chính sách tôn giáo dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ mang lại hiệu quả rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thực hiện tốt chính sách tôn giáo sẽ giải quyết tốt mối quan hệ giữa các tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo để tăng cường khối đoàn kết dân tộc Hiện nay, đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển trong điều kiện mới nên những thay đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội đang diễn

ra một cách nhanh chóng Theo đó, tình hình tôn giáo cũng có những biểu hiện mới và ngày một phức tạp hơn Vì vậy, vấn đề tôn giáo càng được quan tâm nhiều hơn nữa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vì sự phát triển tiến bộ của con người

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Một vài nét về tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Vị trí địa lý

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Tây, Vĩnh Phúc; phía Tây giáp Sơn La, Yên Bái; phía Nam giáp Hòa Bình; phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội Phú Thọ cách Hà Nội 80km, cách sân bay nội bài 60km,

cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thủy 200km

Các đường giao thông quan trọng như quốc lộ 2, quốc lộ 3, tuyến đường sắt Hà Nội – Phú Thọ – Yên Bái – Lào Cai

Hệ thống các sông chính chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ như: sông Hồng, sông Đà, sông Lô

Trang 30

lĩnh vực xã hội có sự chuyển biến tích cực, an ninh xã hội được chú trọng, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Quốc phòng an ninh giữ vững, trật tự

xã hội ổn định

2.1.3 Dân số - dân tộc

Theo điều tra dân số ngày 1/4/2009 Phú Thọ có 1.313.269 người, mật

độ dân số 373ng/km2 Tỉ lệ dân số sống tại nông thôn, vùng núi khoảng 85%

2.2 Thực trạng vấn đề tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ

2.2.1 Sơ lược về tình hình tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ

Nhìn chung, những năm gần đây sinh hoạt tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ tương đối ổn định, tuân thủ đúng chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước

và quy định của địa phương Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh vẫn tồn tại một số tôn giáo trái phép và một số tà đạo Hoạt động của các tôn giáo trái phép và các tà đạo trên địa bàn tỉnh tuy chưa gây ra những vấn đề phức tạp về an ninh,

Trang 31

trật tự, song vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn, khó lường và ít ảnh hưởng

xấu đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của một số địa phương trong tỉnh

Hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ bao gồm:

* Tổ chức và hoạt động của đạo Công giáo

Đạo Công giáo được du nhập vào địa bàn tỉnh Phú Thọ khá sớm, vào những năm đầu của thế kỷ XVII, do linh mục người Pháp là Alexandre de Rhodes và các linh mục khác của Hội Thừa sai Paris truyền giáo cùng với quá

du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, đạo Công giáo có 112.943 tín đồ, chiếm 9,2% dân số Có 22 linh mục thường trú và làm mục vụ, 2 linh mục đang đi đào tạo tại Pháp, 1 linh mục đang đi đào tạo tại Philippin, 1 linh mục đi du học tại Italia, 25 chúng sinh các khóa đang học tại Đại Chủng viện Hà Nội, có

2 nhà dòng Mến thánh giá với 12 tu sĩ, gần 500 chức việc và hàng chục các tổ chức hội đoàn thu hút hàng ngàn tín đồ tham gia

Về tổ chức giáo hội, trên địa bàn tỉnh có 30 giáo xứ với 126 họ giáo thuộc

2 giáo phận Hưng Hóa và Bắc Ninh Cơ sở thờ tự có 115 nhà thờ, nhà nguyện

Đạo Công giáo ở Phú Thọ chủ yếu thuộc giáo phận Hưng Hóa Ngoài

ra còn có giáo xứ Vân Cương với 2 họ giáo: họ giáo Vân Cương và Vân Tập thuộc xã Hữu Đô, huyện Đoan Hùng; họ giáo Bạch Hạc thuộc phường Bạch Hạc, Thành phố Việt Trì thuộc giáo phận Bắc Ninh

Hiện nay, toàn giáo phận Hưng Hóa có khoảng 197.436 giáo hữu; 24 linh mục; 31 chúng sinh; 2031 giáo lý viên; 92 ứng sinh dự bị; 106 nữ tu; 325 ban hành giáo với 1265 nhà thờ, nhà nguyện Giám mục Vũ Huy Chương coi sóc giáo phận Hưng Hóa từ năm 2003 Như vậy từ khi thành lập đến nay đã

có 7 giám mục coi sóc, trong đó có 3 giám mục người nước ngoài

Tuy tòa giám mục Hưng Hóa không còn đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, nhưng có thể nói, tỉnh Phú Thọ vẫn được coi là trung tâm, là địa bàn hết sức

Trang 32

quan trọng của giáo phận Là tỉnh có số lượng tín đồ chiếm 2/3 tổng số tín đồ toàn giáo phận (116.650 tín đồ/179.436 tín đồ), số lượng linh mục thường trú chiếm 16/24 tổng số linh mục, chiếm 50% số giáo xứ toàn giáo phận, có 2/3 chúng sinh đang theo học Đại Chủng viện Hà Nội Số lượng tu sinh có chí hướng theo con đường tu hành đông nhất so với các tỉnh khác trong giáo phận Vì vậy, đây cũng là địa bàn được giáo hội Công giáo mở rộng giao lưu

“giao giảng tin mừng” lên các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số

Những năm gần đây, giáo hội đã bộc lộ ý đồ chuyển Tòa Giám mục Hưng Hóa về vị trí cũ – thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Một số biểu hiện như mua lại đất của bà con giáo dân trong khu vực đất nhà thờ Hưng Hóa cũ, hoặc xin lại cơ sở vật chất của Tiểu Chúng viện cũ (khu Nhà Tràng – xứ Hà Thạch, thuộc xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ) đã cho địa phương mượn làm trường học Đó là điều dễ hiểu khi mà Tòa giám mục Hưng Hóa tăng cường “đầu tư” toàn diện đối với các xứ, họ giáo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Hầu hết các cơ sở thờ tự như nhà thờ,nhà nguyện, nhà phòng, nhà dãy, tháp chuông…đều được sửa chữa nâng cấp khang trang, đẹp đẽ, chỉ tính trên 10 năm trở lại đây đã có trên 50 nhà thờ, nhà nguyện và các công trình phụ trợ của các xứ, họ đạo được xây dựng lại với quy mô lớn Có những nhà thờ kinh phí xây dựng lên tới hàng tỷ đồng

Một số họ giáo đang tiếp tục làm thủ tục xin đất để xây dựng nhà thờ, nhà nguyện Việc mua bán, hiến, nhượng đất cho nhà thờ hoặc xây dựng nhà thờ, nhờ nguyện mới vẫn đang diễn ra sôi động, phức tạp đặt ra cho các cấp chính quyền phải có biện pháp quản lý chặt chẽ

Bên cạnh đó, Giáo hội tích cực thực hiện việc truyền đạo tới các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt là người Mông và người Mường rất được giáo hội quan tâm Các hoạt động nhân đạo từ thiện cũng được tăng

Trang 33

cường, các gia đình có người ốm đau, gặp khó khăn hoạn nạn đều được cha

xứ hoặc ban hành giáo quan tâm, giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất

Đại đa số người Công giáo Phú Thọ là người nông dân, một số rất ít làm nghề buôn bán nhỏ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp, có truyền thống chăm chỉ, làm ăn lương thiện, kính Chúa, yêu nước ngày càng gắn bó với dân tộc Trong 2 cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, đồng bào theo đạo Công giáo đã tích cực tham gia, đóng góp nhân tài, vật lực, xương máu cùng cả dân tộc chống xâm lược Hiện Phú Thọ có 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2767 gia đình bệnh binh, thương binh, liệt sỹ, 2633 đối tượng hưởng trợ cấp có công với nước là người Công giáo, ghi dấu ấn sâu sắc của người Công giáo tỉnh Phú Thọ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc qua các thời kì cách mạng Hòa bình lặp lại trên cả nước, người theo đạo Công giáo của tỉnh luôn dẫn đầu trong việc thực hiện một số chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước Hầu như các dịp bầu cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp, vùng có đông đồng bào theo đạo Công giáo đều nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ thuế, dân công đối với nhà nước luôn hoàn thành sớm Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện được bà con giáo dân tích cực hưởng ứng, hiện tượng vi phạm pháp luật các tệ nạn xã hội ít xảy ra ở vùng Công giáo

Những năm gần đây, với đường lỗi đổi mới của Đảng và Nhà Nước ta

về tôn giáo, các quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng thực sự, đồng bào Công giáo, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, khép dần những mặc cảm trong quá khứ của một bộ phận Công giáo

bị bọn phản động, đế quốc, thực dân lợi dụng đối lập với dân tộc, mưu cầu lợi ích cá nhân

Tuy nhiên, do ảnh hưởng, ràng buộc bởi thần quyền, giáo lý và nhưng toan tính của giáo hội về chính trị, về phát triển đạo mà một số chính sách của

Trang 34

Đảng và Nhà Nước chưa được thực hiện đầy đủ tại một số vùng có đông đồng bào theo đạo Công giáo

Như vậy, đạo Công giáo thâm nhập vào địa bàn tỉnh Phú Thọ từ khoảng

200 năm nay, có ảnh hưởng, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học đến đạo đức, lối sống chi phối tư tưởng tình cảm

và hành động của đông đảo tín đồ Ngược lại, đạo Công giáo cũng luôn bị tác động trở lại của các yếu tố kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội trong quá trình vận động Lịch sử truyền giáo của đạo Công giáo có nhiều phức tạp, là loại tôn giáo ngoại sinh chậm hòa đồng với văn hóa dân tộc Đạo Công giáo là tôn giáo rất nhạy cảm, trong lịch sử nước ta đã nhiều lần bị các thế lực phản động lợi dụng, lôi kéo chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta

* Tổ chức và hoạt động của đạo Phật

Đạo Phật được truyền vào nước ta từ rất sớm Theo lịch sử phát triển Phật giáo, thời gian Phật giáo Ần Độ truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ I, đầu thế kỷ II Thời kỳ đầu truyền bá Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu trực tiếp

từ Ấn Độ sang bằng đường biển cùng các thương nhân Phật giáo đã được người Việt tiếp nhận và phát triển hòa đồng cùng văn hóa bản địa

Phú Thọ nằm gần với Luy Lâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

ngày nay) là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta Do vậy, Phật giáo được

truyền vào rất sớm Ngay từ những năm đầu Công nguyên, Phật giáo đã được truyền vào các khu dân cư dọc bờ sông Lô và sông Hồng cùng với quá trình phát triển chung của đạo Phật ở Việt Nam

Cho đến những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước, số lượng các sư trụ trì tại các Chùa trên địa bàn tỉnh rất ít (tại thời điểm năm 1997, trên địa bàn tỉnh chỉ có 6 sư ni và 2 chú tiểu) trình độ phát triển Phật pháp thấp Số lượng tín đồ theo đạo Phật ít lại không có người hướng đạo, hoạt động tài các chùa chủ yếu do các vãi bà chấp tác, tự làm lễ Phật theo hiểu biết riêng của mình,

Trang 35

nên mỗi nơi mỗi kiểu Do vây, nhiều chùa đã trở thành nơi hành nghề mê tín

dị đoan của các bà đồng bà cốt

Trong những năm cuối thế kỷ XX, Phật giáo tỉnh Phú Thọ đã dần được hồi phục và phát triển Năm 1991, các sư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú cũng đã đứng ra thành lập Ban trị sự Phật giáo tỉnh Tuy vậy, do không được sự ủng

hộ của Phật tử, tổ chức này hoạt động không có hiệu quả Đến năm 1998, được sự đồng ý của chính quyền tỉnh, Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Phú Thọ được tổ chức bầu ra Ban trị sự Phật giáo tỉnh với 21 vị thành viên trong

đó có 1 tăng sư, 6 sư ni và 14 cư sĩ phật tử Thượng tọa Thích Viên Thành được mời làm Trưởng Ban trị sự Phật giáo tỉnh đặt tại chùa Thiên Long thuộc phường Thanh Miếu, Thành phố Việt Trì

Theo thống kê chưa đầy đủ của sở Nội Vụ tỉnh Phú Thọ, hiện nay địa bàn tỉnh có khoảng 42.570 phật tử chiếm 2,8% dân số, sinh hoạt tôn giáo tại

264 ngôi chùa, có 32 sư (trong đó có 18 sư tăng và 14 sư ni)

Về tổ chức, Ban trị sự Phật giáo tỉnh được thành lập và hoạt động qua 3 nhiệm kỳ, nhiệm kỳ 2007 – 2012 có 7 thành viên tham gia, hiện tại đã có 11/13 huyện, thành, thị thành lập Ban đại diện Phật giáo (riêng huyện Thanh Sơn và huyện Tân Sơn chưa thành lập Ban đại diện) Có 254 Ban hộ tự chùa với 836 người tham gia

Trong những năm gần đây, nhìn chung hoạt động của đạo Phật trên địa bàn tỉnh có chiều hướng phát triển Ngoài việc tăng cường đẩy mạnh có tổ chức, Ban trị sự Phật giáo tỉnh còn tăng cường công tác phát triển tín đồ, mở nhiều lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức hội các cấp, phương pháp truyền giáo cho ủy viên Ban đại diện Phật giáo các huyện, thành, thị Bồi dưỡng kiến thức Phật học phổ thông, nghi lễ của đạo Phật và chính sách pháp luật về tôn giáo của Nhà Nước cho các tín đồ Phật tử

ở cơ sở

Trang 36

Tích cực tuyên truyền, vận động tín đồ hưởng ứng, đẩy mạnh hoạt động

từ thiện nhân đạo như: ủng hộ các nạn nhân chất độc màu da cam, ủng hộ đồng bào các vùng bị thiên tai, lũ lụt, ủng hộ các gia đình bị thiếu thốn, đói nghèo ở vùng sâu vùng xa với số tiền hàng năm lên đến hàng trăm triệu đồng Đặc biệt là hội Phật giáo rất hưởng ứng các phong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư do UBND, MTTQ Việt Nam phát động Đây là những việc làm đáng trân trọng của tín đồ, chức sắc đạo Phật trên địa bàn tỉnh, luôn thể hiện đường hướng tiến bộ của đạo Phật “Đạo pháp – Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”

Việc xây dựng sửa chữa cơ sở thờ tự, mua sắm tượng Phật và đồ dùng việc đạo được giáo hội hết sức quan tâm, kể từ khi tách tỉnh đã có 73 ngôi chùa và các công trình phụ trợ được sửa chữa, xây dựng khang trang, to đẹp hơn trước, các công trình phụ trợ như: nhà bia ghi công đức, nhà khách, nhà bếp được tích cực xây dựng trong khuôn viên nhà chùa, mua sắm hàng nghìn pho tượng Phật và các loại đồ tế, khí phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo

Hiện nay, do số lượng chức sắc Phật giáo trên địa bàn tỉnh ít, tín đồ Phật giáo đã có những biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết kéo dài chủ yếu là trong Ban trị sự Phật giáo tỉnh, dẫn đến việc điều hành các hoạt động của Ban trị sự thiếu thống nhất, gây ra việc khiếu kiện và làm chia rẽ trong tín đồ Đặc biệt là những hoạt động tự do của các nhóm đạo Tràng Chân Tịnh (Thành phố Việt Trì), nhóm đạo Phúc Tuệ (thị xã Phú thọ), phái “Mật Tông” đã gây ra nhiều vấn đề phức tạp trong sinh hoạt tôn giáo và đời sống xã hội Việc am hiểu về giáo lý, giáo luật, giáo lễ một số tín đồ còn hạn chế nên dễ bị các tà tạp đạo lôi kéo, lợi dụng chia rẽ Hoạt động mê tín dị đoan như lên đồng, sóc thẻ bói toán, viết sớ, đốt vàng mã vẫn còn tồn tại ở một số chùa trong tỉnh

*) Tổ chức và hoạt động của đạo Tin lành

Đạo Tin lành ra đời ở Châu Âu vào đầu thế kỷ XVI, thể hiện sự khủng hoảng nghiêm trọng về vai trò và ảnh hưởng của giáo hội Công giáo do

Trang 37

những tham vọng về quyền lực trần thế và sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm, đó cũng là sự bế tắc của nền Thần học kinh viện – cở sở quyền lực của giáo hội Công giáo Bên cạnh đó, thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho cuộc cách mạng tư sản châu Âu, Martin Luther chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của Công giáo Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của Chúa, chủ trương cho các sư mục lấy vợ Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Tòa Thánh Vatican và dẫn đến sự ra đời của một tôn giáo mới: đạo Tin lành

Đạo Tin lành có mặt ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX do

tổ chức Hội liên hiệp Cơ đốc và truyền giáo hay còn gọi là Hội truyền giáo MCA Kể từ năm 1911 khi đặt cơ sở đầu tiên mình tại Đà Nẵng thì cho tới nay đạo Tin Lành đã thành lập được nhiều hệ phái như Hội thánh Tin lành miền Bắc, Hội thánh Tin lành miền Nam, Tin lành Cơ đốc phục lâm, Hội thánh Cơ đốc truyền giáo, Hội thánh Tin lành Bắp tít và hàng loạt các hệ phái chưa thành lập tổ chức mà mới chỉ gây dựng một số cơ sở và văn phòng đại diện với khoảng 500 nghìn tín đồ chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc trong đó có tỉnh Phú Thọ

Hiện nay, trên địa bàn Phú Thọ có 5 hệ phái Tin lành đang hoạt động

cụ thể như sau:

+ Hệ phái Tin lành Liên hữu Cơ đốc

Hệ phái này do ông Đinh Công Hồng đứng đầu, đã đăng ký với Ban Tôn giáo Chính Phủ có 6 điểm nhóm với 804 người tham gia được cấp phép hoạt động, nhưng hiện tại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chỉ có 03 điểm với 16 người đã làm lễ Báp – têm tham gia sinh hoạt:

01 điểm nhóm tại xã Hương Cần, huyện Thanh Sơn với 06 người tham gia, sinh hoạt tại nhà riêng của ông Đinh Văn Nhách, xóm Lịch II thuộc

Trang 38

xã Hương Cần, người đứng đầu nhóm là ông Đinh Công Hồng, sinh năm

1954, trú tại xã Tân Hương, xã Hương Cần, huyện Thanh Sơn

01 điểm nhóm tại xã Tân Minh, huyện Thanh Sơn với 05 người tham gia sinh hoạt tại nhà riêng của ông Đinh Tiến Dũng (trưởng nhóm)

01 điểm nhóm tại xã Hùng Quan, huyện Đoan Hùng với có 05 người tham gia, do bà Nguyễn Thị Tính trú tại khu Song Phượng 1 thuộc xã Hùng Quan là trưởng nhóm, sinh hoạt tại nhà riêng của ông Nguyễn Văn Toán khu Song Phượng 1 thuộc xã Hùng Quan

+ Hệ phái Tin lành Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam

Hiện tại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chỉ có 2 điểm nhóm với 24 tín đồ tham gia sinh hoạt

01 điểm nhóm tại thôn Lịch II thuộc xã Hương Cần, huyện Thanh Sơn có 04 người, sinh hoạt tại nhà riêng ông Phạm Văn Hải (trưởng nhóm)

01 điểm nhóm tại xóm Tân Tiến thuộc thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông có 20 người tham gia, sinh hoạt tại nhà riêng bà Trần Thị Hồng, xóm Tân Tiến thuộc thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông

+ Hệ phái Tin lành Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam

Hệ phái Tin lành Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thuộc giáo hạt Phú Hà gồm 3 tỉnh: Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang do Mục sư Đặng Kim Tuyến quê quán tại xã Xuân Huy, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ làm Giáo hạt trưởng và phụ trách trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Hiện nay, hệ phái này có 5 điểm nhóm hoạt động tại các xã Xuân Huy, Sơn Vi, Tứ Xã (huyện Lâm thao), Thọ Văn (huyện Tam Nông), Phúc Khánh (huyện Yên Lập) với số lượng khoảng 120 người tham gia

+ Hội thánh Tin lành Ngũ tuần Việt Nam

Hệ phái này hoạt động chủ yếu trên địa bàn Thành phố Việt Trì, số lượng khoảng 30 tín đồ do Nguyễn Thị Thúy, thường trú tại tổ 36A, phường

Trang 39

Gia Cẩm, Thành phố Việt Trì đứng đầu Hiện tại hệ phái này chưa có đơn đăng ký điểm nhóm

+ Hội thánh Tin lành Việt Nam truyền giáo

Hệ phái này xuất hiện tại phường Thọ Sơn, Thành phố Việt trì do Hà Thị Nga, hiện thường trú tại tổ 27B, phố Thành Công, phường Thọ Sơn, Thành phố Việt Trì đứng đầu Hệ phái này do Mục sư Nguyễn Văn Dinh 49 tuổi, hiện đang trú tại tầng 6, tòa nhà 83, đường Nguyễn Đức Quý, quận Thanh Xuân, Hà Nội lãnh đạo Số lượng tín đồ hiện nay có khoảng 40 người Hiện tại, hệ phái

đã công khai sinh hoạt nhưng chưa có đơn đăng ký điểm nhóm

* Hoạt động của các tôn giáo trái phép và tà, tạp đạo

- Tôn giáo trái phép

+ Hệ phái Tin lành Phúc âm Ngũ tuần: Đây là một tôn giáo do các giáo

sỹ Tin lành Mỹ chi phối, chỉ đạo hoạt động Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có 2 hệ phái Tin lành Phúc âm Ngũ tuần hoạt động

Hệ phái thứ nhất: Tin lành Phúc âm Ngũ tuần nói tiếng lạ

Đối tượng truyền đạo: Thường tập trung vào những người có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế hoạc éo le trong cuộc sống Thời kỳ cao điểm(1970-2000)

hệ phái này đã phát triển được 146 người theo Tin lành Phúc âm Ngũ tuần ở 7

xã, 4 phường thuộc các huyện Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Ba và Thành phố Việt Trì

Về phương thức truyền đạo: Những người truyền đạo thường thông qua các mối quan hệ gia đình, xã hội, dùng vật chất, tiền bạc để mua chuộc lôi kéo mọi người tham gia, tán phát tài liệu những nơi công cộng, nơi đông dân cư, nơi gần trường học khu vực thành phố, thị xã để tuyên truyền về đạo Tin lành Phúc âm Ngũ tuần

Về hệ thống tổ chức: Hệ phái này do Nguyễn Thị Thúy ở tổ 36A phường Gia Cẩm, Thành phố Việt Trì phụ trách và Hội thánh cơ sở Tam Nông do Nguyễn Thị Kim Tuyến ở xã Hưng Hóa huyện Tam Nông phụ trách

Trang 40

Hệ phái thứ hai: Tin lành Phúc âm Ngũ tuần tự do

Hệ Phái này xuất hiện đầu tiên tại một số xã của huyện Lâm Thao do Nguyễn Thị Bắc sinh năm 1949, quê quán xã Xuân Huy, huyện Lâm Thao cùng các đối tượng Nguyễn Tấn Tâm ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Lan ở Hà Nội và Âu Đăng Cường ở Nam Hà đến tuyên truyền và phát triển

Cũng giống như Tin lành Phúc âm Ngũ tuần nói tiếng lạ các đối tượng truyền giáo đã thông qua các mối quan hệ quen biết, thân nhân ruột thịt tích cực tuyên truyền, lôi kéo phát triển hệ phái này tại các xã Xuân Huy, Sơn Vy,

Tứ Xã và Bản Nguyên ( huyện Lâm Thao); xã Võ Miếu (huyện Thanh Sơn) Thời điểm 1977 có 43 người tham gia Nhưng hiện nay với sự đấu tranh vận động mạnh mẽ của chính quyền một số đã từ bỏ Hiện còn 24 đối tượng theo

hệ phái này

Về tổ chức: Hệ phái này được phân chia thành 2 nhóm: nhóm Sơn Vy

và nhóm Xuân Huy do Đặng Thị Thao và Đặng Kim Tuyến phụ trách

Nhìn chung các hệ phái Tin lành Phúc âm Ngũ tuần ở tỉnh Phú Thọ hoạt động dưới hình thức sinh hoạt tôn giáo đơn giản, gọn nhẹ, lôi kéo một số người tin theo Tin lành Phúc âm Ngũ Tuần không có nhà thờ, nhà nguyện, hàng tuần tổ chức nhóm họp theo từng chi hội, tổ tư gia

+ Đạo Baha’i

Đạo Baha’i xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX ở Iran Được truyền vào Miền Nam Việt Nam từ 1954, được chính quyền Ngụy nâng đỡ, cho thành lập Hội đồng tinh thần Baha’i quốc gia, Hội đồng tinh thần Baha’i địa phương Tính đến năm 1975 đạo Baha’i đã có 1 Hội đồng tinh thần Baha’i quốc gia và

400 Hội đồng tinh thần Baha’i địa phương với gần 200.000 tín đồ

Tháng 4/1993, Nguyễn Thị Đạt sinh năm 1950, trú tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ được Nguyễn Thị Phượng Ngà sinh năm 1953 là em dâu Đạt, trú tại số nhà 333 Tây Sơn, Hà Nội tuyên truyền Baha’i Ngày

Ngày đăng: 16/11/2015, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w