Sự bình đẳng của những người lao động phải đặt trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể là sự ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất là những điề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học ThS Hoàng Thanh Sơn
Hà Nội – 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Hoàng Thanh Sơn người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em suốt thời gian qua
Em cũng xin được cảm ơn sự động viên, cổ vũ của gia đình, bạn bè đã khích
lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên dù đã có những cố gắng nhất định, song, khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót Do vậy, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để em có thể hoàn thiện khóa luận của mình
và có những kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Nguyễn Thị Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sỹ Hoàng Thanh Sơn Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu riêng của tôi
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 6
1.1 Lý luận về công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo 6
1.2 CBXH trong giáo dục và những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH trong giáo dục đào tạo 16
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 24
2.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với việc thực hiện CBXH trong giáo dục 24
2.2 Thực trạng của việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo 28
2.3 Những vấn đề đặt ra 34
Tiểu kết chương 2 43
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 45
3.1 Những quan điểm chỉ đạo 45
3.2 Những giải pháp nhằm thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay 53
Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp thì CBXH luôn là khát vọng và mục tiêu tranh đấu của con người Ngày nay, giá trị thời đại của vấn đề này càng gia tăng cùng với tốc độ của TTKT, với sự phát triển của khoa học – công nghệ, với nhu cầu về quyền con người, nhất là quyền được đối xử công bằng trong giáo dục và đào tạo Công bằng thật sự trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi con người, mỗi dân tộc và nó mang tính toàn cầu Không phải ngẫu nhiên mà trong những thập kỷ gần đây, CBXH trở thành một tiêu chí, điều kiện khi tiếp cận các khái niệm “phát triển bền vững” và “tiến bộ xã hội” Với ý nghĩa đó, CBXH đang
và sẽ là một thách thức lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia trong thiên niên kỷ thứ ba
Ở Việt Nam hiện nay, đảm bảo CBXH trở thành một nhu cầu bức thiết, là điều kiện cho sự thành công của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò
to lớn của CBXH không chỉ với tư cách là động lực mà còn là mục tiêu của sự phát triển xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh” Quan điểm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và CBXH được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), lần thứ XI (2010) chính là cách đặt vấn đề xuất phát từ nhu cầu cấp bách nói trên
Đảm bảo CBXH là một chính sách lớn, đòi hỏi phải có chiến lược và những bước đi phù hợp, có sự tham gia của nhiều lực lượng trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, giáo dục - đào tạo, pháp luật với những phương thức và hiệu quả đảm bảo khác nhau Trong đó đảm bảo việc thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Văn kiện
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương khóa IX đã nhấn mạnh: “Thực hiện
công bằng xã hội trong giáo dục, Nhà nước phải có chính sách điều tiết, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tạo cơ hội học tập ở đại học, cao đẳng cho con em nông dân, các
Trang 7gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng còn nhiều khó khăn Giảm sự cách biệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp dân cư, về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục giữa các vùng miền” [3,tr.102]
Để xây dựng thành công một nền giáo dục ở nước ta vừa đảm bảo công bằng, vừa phát triển được quy mô và chất lượng, đảm bảo việc thực hiện ba mục tiêu cơ bản của nền giáo dục là: Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài
là một vấn đề lớn không chỉ của ngành giáo dục và đào tạo, mà còn là nhiệm vụ chung của Đảng, của Nhà nước và toàn dân Song vai trò đảm bảo CBXH trong giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước là quan trọng và mang tính chủ đạo
Tuy nhiên, đây là lĩnh vực khá mới mẻ và chưa được quan tâm nhiều trong hoạt động nghiên cứu về vai trò của Nhà nước cũng như trong hoạt động xây dựng
và thực hiện sự nghiệp giáo dục và đào tạo Rất nhiều vấn đề cơ bản từ nó, cần được nhận thức và giải quyết thấu đáo trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Chẳng hạn, lý luận về CBXH, CBXH trong giáo dục – đào tạo và những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo, thực trạng của việc thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta và những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH trong giáo dục – đào
tạo… là những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ Vì vậy, tôi chọn đề tài “Lý luận về
công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Có thể nhận thấy vấn đề CBXH qua các công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và trong một số hội thảo quốc gia và quốc tế Bên cạnh những
Trang 8bài viết, công trình nghiên cứu của nước ngoài, giới nghiên cứu Việt Nam cũng đã
có những đóng góp không nhỏ vào việc nhận thức và kiến giải một số vấn đề liên quan tới vấn đề CBXH Với những công trình tiêu biểu:
- GS.TS Nguyễn Duy Quý (chủ biên) “Những vấn đề lý luận về CNXH và
con đường đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam” (Nxb CTQG, Hà Nội, 1998) – Các
tác giả đều đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu xã hội, trong đó có mục tiêu thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, mục tiêu của các công trình này chỉ dừng lại ở tính lý luận về CBXH nói chung chưa đề cập tới CBXH trong những lĩnh vực cụ thể
- Công trình “TTKT và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt
Nam” do PGS Lê Bộ Lĩnh (chủ biên) đã khẳng định TTKT là điều kiện giảm bất
bình đẳng, CBXH không phải chủ nghĩa bình quân mà là mọi người dân đều có khả năng và cơ hội tham gia nền sản xuất xã hội, được hưởng những thành quả tương xứng với sự đóng góp của mình (Nxb CTQG, H, 1998)
Ngoài ra còn có các đề tài khoa học, luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề công
bằng xã hội, như PGS.PTS Lê Văn Sang, PTS Kim Ngọc “TTKT và công bằng xã
hội ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Nxb CTQG, H,
1999), Bùi Văn Nhơn với bài “Công bằng xã hội – mục tiêu cốt lõi trong chính
sách xã hội của Đảng ta”, Nghiên cứu và trao đổi, số 10 (130), 2007; Phạm Thị
Ngọc Trầm (2009): Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều
kiện nước ta hiện nay, Nxb Khoa học xã hội; cuốn sách của TS Nguyễn Minh Hoàn
(2009): “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Nxb CTQG cũng đề cập đến vấn
đề này
Đó là những công trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu và rất đáng trân trọng Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này đã góp phần tích cực vào việc hoạch định chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới nhằm bảo đảm thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, nhìn chung vấn đề thực hiện CBXH trong giáo dục đào tạo chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực diện và
có hệ thống Cuốn Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa xuất bản
năm 2007 do GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, PGS.TS Đặng Bá Lâm, PGS.TS Trần Khánh
Trang 9Đức đồng chủ biên; TS Nguyễn Ngọc Sơn (2007), “Thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục ở Việt Nam – mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững” của TS
Nguyễn Thị Bích Loan trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia của Bộ Giáo dục – đào tạo (2011), Nxb Hải Phòng đã đề cập trực tiếp đến CBXH trong giáo dục – đào tạo song với dung lượng chưa lớn Vì vậy, vẫn còn rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện thêm
3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về CBXH trong lịch sử tư tưởng nhân loại và trong triết học Mác – Lênin cũng như việc thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam từ 1945 đến nay, khóa luận đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo CBXH trong giáo dục đào tạo ở Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
- Làm rõ lý luận về CBXH và những nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong vấn đề này
- Nêu những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo trong thời kỳ phát triển đất nước theo định hướng XHCN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận đề cập, nghiên cứu, xem xét việc thực hiện CBXH trong giáo dục
và đào tạo ở nước ta hiện nay Từ đó đề xuất những giải pháp chung nhất để thực hiện có hiệu quả CBXH trong giáo dục – đào tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và những nhiệm vụ được đặt ra, đề tài khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Theo đó, các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây được áp dụng: phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, so sánh, quy nạp và diễn dịch,…
Trang 106 Đóng góp của khóa luận
- Góp phần làm rõ những lý luận về CBXH
- Làm rõ việc thực hiện CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
- Khóa luận còn là tài liệu tham khảo đối với các hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề liên quan đến CBXH, nhất là CBXH trong giáo dục – đào tạo ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VIỆC THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
1.1 Lý luận về CBXH của các nhà tư tưởng trước Mác và ngoài Mác xít
1.1.1 Lý luận về CBXH
Thông thường khi nói đến công bằng người ta nói đến sự bằng nhau chính đáng trong một lĩnh vực, phạm vi nào đó Trong các ngôn ngữ nước ngoài “công
bằng” có nghĩa là đúng đắn, chính đáng, công lý, chính nghĩa, lẽ phải Từ điển bách
khoa triết học mới của Nga xem công bằng là phương thức quan hệ của con người
với người khác được gián tiếp hóa bằng quan hệ với lợi ích mà họ đều đang mong muốn Công bằng đòi hỏi sự tương hợp giữa vai trò thực tiễn của các cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau trong đời sống xã hội và địa vị xã hội của họ, giữa quyền và nghĩa vụ, việc làm và hưởng thụ, giữa lao động và sự trả công, giữa tội ác và trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được xem là bất công
Nói đến CBXH là nói đến sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về một phương diện nào đó bất kỳ mà là về một phương diện nhất định – phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc: Cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Theo A A Guxâynov, có hai hình thức, hay còn có thể gọi là hai dạng công bằng được Arixtốt nêu lên và đã đi vào cấu trúc của các lý luận về công bằng sau này Đó là công bằng phân phối và công bằng cào bằng Công bằng phân phối thể hiện qua việc phân phối của cải tương xứng với trách nhiệm có tính đến những phẩm chất cá nhân; tức phụ thuộc vào sự đóng góp cho công việc chung Công bằng cào bằng là sự phân phối của cải được thực hiện không tính đến các phẩm chất cá nhân Trong thực tế có ba nguyên tắc cơ bản của sự công bằng phân phối Đó là “mỗi người đều như nhau” (mọi người đều bằng nhau - bình quân); “mỗi người - theo công lao” và “mỗi người – theo nhu cầu” hay nói cách khác là phân phối bình quân, phân phối theo lao động
và phân phối theo nhu cầu
Trang 12CBXH không đơn thuần thể hiện quan hệ cá nhân – xã hội mà còn thể hiện quan hệ giữa các nhóm cộng đồng, giai cấp và các cá nhân với nhau, về bản chất của nó là sự phù hợp giữa cái mà nhóm, cộng đồng, cá nhân đã đóng góp và cái mà
họ được hưởng Dĩ nhiên, hình thức đóng góp của họ là khác nhau và đa dạng: Thời gian, lao động, vốn, chất xám, xương máu, kinh nghiệm,…, và các hình thức mà họ nhận lại cũng đa dạng không kém: tiền công, phần thưởng, danh vị, chức vụ,… Chính sự đa dạng trong hình thức đóng góp và nhận lại như vậy khiến cho sự CBXH thường không được bộc lộ rõ ràng nên có những trường hợp là công bằng nhưng chủ thể lại đánh giá là chưa công bằng và ngược lại Vì vậy, CBXH luôn là vấn đề được các giai cấp, các tầng lớp dân cư trong xã hội quan tâm
Lý luận CBXH là một trong những nội dung của các lý luận về vấn đề xã hội Cơ sở của lý luận về CBXH là lý luận về nguồn gốc con người, quyền con người và về vị trí của con người trong thế giới khách quan Lý luận về CBXH thực chất là các quan điểm hay các quan niệm chung nhất về việc thực hiện CBXH và về tính tất yếu của việc thực hiện CBXH
Tuy nhiên, CBXH là một phạm trù chính trị - xã hội Nó được quy định bởi
cơ sở kinh tế - xã hội và nó phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế - xã hội Vì vậy, trong các giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau thì quan niệm về CBXH cũng khác nhau
Trong lịch sử có rất nhiều quan niệm khác nhau về CBXH được bàn đến dưới nhiều dạng khác nhau và nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, khái niệm CBXH
dù được quan niệm đa dạng đến đâu thì bao giờ nó cũng được gắn với khái niệm bình đẳng xã hội, sự bình đẳng ở đây thường được coi là tiền đề của việc được thực hiện CBXH Vì vậy, việc phân biệt hai khái niệm này là rất cần thiết để thấy được nội dung phổ quát của khái niệm CBXH, đồng thời thông qua đó còn thấy những nội dung cụ thể của khái niệm CBXH trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể được xem xét
Trước hết, nói bình đẳng bao giờ cũng nói đến quan hệ ngang bằng giữa người với người xét trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể nào đó, chẳng hạn sự ngang bằng nhau về địa vị kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo… Ngoài những lĩnh vực cụ thể đó, nếu xét sự ngang bằng giữa người với người, chẳng hạn
Trang 13về thể lực, trí lực hay những điều kiện bẩm sinh khác nhau… thì người ta không gọi
đó là sự bình đẳng mà thường coi đó là sự ngang bằng nhau
Chính vì xã hội bao giờ cũng là sự tác động lẫn nhau giữa các con người, nên khi xét sự bình đẳng giữa người với người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất định bao giờ cũng là sự bình đẳng thể hiện ở mối quan hệ xác định Thứ nhất, sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, sự bình đẳng trong việc hưởng quyền lợi và thứ ba là bản thân mối quan hệ tương ứng hoặc không tương ứng giữa
sự ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ với sự ngang nhau trong việc hưởng thụ quyền lợi ở việc thực hiện cùng một nghĩa vụ ấy Do đó trong trường hợp này thì CBXH được hiểu không phải hoặc chỉ riêng là sự bình đẳng về nghĩa vụ, hoặc chỉ riêng là sự bình đẳng về hưởng thụ, mà so với hai trường hợp trên thì CBXH chỉ
có trong trường hợp thứ ba, do đó sự tương ứng giữa thực hiện nghĩa vụ như nhau thì hưởng quyền lợi như nhau, hay do có sự ngang bằng ở việc có sự tương ứng giữa việc cùng thực hiện nghĩa vụ ngang nhau và cùng hưởng thụ ngang nhau thì đó mới thể hiện được đầy đủ nội dung của khái niệm CBXH
Chính vì có sự nhấn mạnh rằng CBXH chỉ là bình đẳng ở thực hiện nghĩa vụ, hoặc chỉ là bình đẳng về quyền lợi, hoặc trong trường hợp thứ ba như đã nói ở trên
đã tạo nên những quan niệm rất khac nhau trong lịch sử cả về bình đẳng, bất bình xã hội, và cả về công bằng, bất công xã hội
Đáng chú ý trong những quan niệm của học giả phương Tây hiện đại về những nguyên tắc bình đẳng – thước đo của CBXH – thì đó là thước đo được nhấn mạnh là thước đo được thể hiện ở: bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về cơ hội công bằng, bình đẳng về kết quả hay bình đẳng ở vị trí khởi thủy; thậm chí ở cả nguyên tắc bình quân chủ nghĩa… Với những cách quan niệm như vậy thì trong lịch sử nhân loại, tư tưởng
về CBXH đã được bàn như thế nào kể từ thời cổ đại cho đến nay?
1.1.2 Lý luận về CBXH của các nhà tư tưởng thời kỳ trước Mác
Lý luận về CBXH được thể hiện một cách rõ nhất trong các tư tưởng triết học về CBXH Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, của cải có sự dư thừa nhất định đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội bị phân hóa thành các giai cấp có lợi ích đối lập, mâu thuẫn nhau Khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, tình trạng bất công, bất bình
Trang 14đẳng trong xã hội xuất hiện và trở thành vấn đề được nhiều nhà tư tưởng quan tâm Trong lịch sử nhân loại, lý luận về CBXH đã được bàn đến ngay từ thời cổ đại
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN), nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại đã rất quan tâm đến việc làm thế nào để xây dựng một xã hội no đủ Theo ông điều quan trọng để dân no đủ là phải thực hiện phân phối quân bình, hợp tình, hợp lý nhằm làm sao rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và kẻ nghèo trong xã hội Không có tranh giành, bóc lột trong dân; xã hội không có người giàu quá, kẻ nghèo quá… và như vậy, dân sẽ vui vẻ sống, nước thịnh trị Mặc Tử (480 - 420 TCN) thì lại mơ ước xây dựng xã hội tốt đẹp mà ở đó mọi người cùng thương yêu nhau không phân biệt trên dưới, thân sơ, quý tiện trên tinh thần chung là
“kiêm ái” Tư tưởng của ông đã thể hiện ý tưởng về một thế giới đại đồng và công
lý được thi hành triệt để Quan niệm của Khổng Tử và Mặc Tử về CBXH còn rất đơn giản, nó chỉ có ý nghĩa là mọi người đều có nhu cầu sống như nhau thì phải được phân bổ điều kiện sống như nhau Điều đó không thể được thực hiện trong xã hội có sự phân chia giai cấp, đẳng cấp rõ rệt như lúc bấy giờ nhưng ý nghĩa nhân văn trong tư tưởng của các ông về mong ước một xã hội tốt đẹp, mọi người được bình đẳng là điều đáng ghi nhận và luôn có giá trị
Ngược với các quan niệm trên, các nhà tư tưởng phương Tây lại cho rằng CBXH chính là sự phản ánh cái trật tự xã hội bất bình đẳng về đẳng cấp khắc nghiệt của chế độ chiếm hữu nô lệ
Platon (427 – 347 TCN), nhà triết học nổi tiếng ở phương Tây thời cổ đại đã
có những quan niệm cụ thể về CBXH và bình đẳng xã hội Trong hai tác phẩm Nhà
nước và Luật lệ, Platon đã khẳng định rằng không thể có sự bình đẳng giữa các tầng
lớp khác nhau trong xã hội Xã hội được chia thành những tầng lớp khau nhau, đẳng cấp khác nhau là lẽ tự nhiên bởi vì theo ông, bản thân nhà nước xuất hiện chính từ
sự đa dạng của nhu cầu con người Do sự đa dạng ấy về nhu cầu nên xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau
để thỏa mãn nhu cầu và do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa họ Theo Platon xã hội đó vẫn có sự công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình
và phải biết được thân phận của mình Như vậy, trong quan niệm của Platon về
Trang 15CBXH cái được nhấn mạnh không phải là sự ngang bằng giữa người với người trong mối quan hệ cống hiến và hưởng thụ, mà là sự phân định về đẳng cấp Những
tư tưởng về công bằng và bình đẳng đã có ảnh hưởng nhất định đến những quan điểm về CBXH và bình đẳng xã hội sau này
Cũng như Platon, Arixtốt (384 – 322 TCN), nhà triết học vĩ đại của Hy Lạp thời cổ đại, đã có những tư tưởng sâu sắc về CBXH Nhưng so với Platon, Arixtốt
đã phân biệt rõ mối quan hệ giữa công bằng và bình đẳng xã hội Arixtốt cho rằng việc phân chia giai cấp và địa vị giai cấp trong xã hội là lẽ tự nhiên và công bằng chính là sự đối xử ngang nhau, là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội và cùng một giai cấp Công bằng và bình đẳng chỉ áp dụng cho những người cùng giai cấp cùng đẳng cấp còn các giai cấp khác nhau thì công bằng và bình đẳng khác nhau; không thể có công bằng cho tất cả các giai cấp Tuy nhiên, cống hiến thực sự của Arixtốt trong quan niệm về CBXH là ở chỗ, ông là người đầu tiên phát hiện ra thước đo của sự công bằng nằm trong cơ sở kinh tế Ông cho rằng cơ sở của
sự CBXH là sự công bằng trong trao đổi vật phẩm Ông nói: “sự trao đổi không thể
có được nếu không có sự bằng nhau, nhưng sự bằng nhau lại không thể có được nếu như không thể đo chung được” [24,tr.97] Mà thước đo trong trao đổi hàng hóa,
theo ông chính là sự biểu hiện của giá trị Nhưng ở đây, Arixtốt cũng chỉ nêu lên biểu hiện giá trị của hàng hóa bằng hình thái tiền của nó mà không thấy được chính lao động là thước đo chung trong mối quan hệ trao đổi hàng hóa Đây chính là sự hạn chế do hoàn cảnh xã hội Hy Lạp hồi đó đưa lại
Mặc dù vậy, những đóng góp của Arixtốt đã được đánh giá rất cao: “Thiên tài
của Arixtốt chính là ở chỗ, trong biểu hiện giá trị của hàng hóa ông đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng Chỉ có những giới hạn về lịch sử của xã hội mà ông đang sống mới ngăn cản không thấy được “trong thực tế”, mối quan hệ bình đẳng đó là cái gì” [24,tr.98] Việc Arixtốt tìm được mối quan hệ bình đẳng, thấy đó là thước đo
của công bằng trong trao đổi hàng hóa là đóng góp rất lớn của ông và phát hiện đó ngày càng được khẳng định cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa
Bắt đầu từ thế kỷ XV, khi chế độ phong kiến được bảo hộ bằng các đạo luật
hà khắc thì thời trung cổ bắt đầu bước vào thời kỳ tan dã, cũng là lúc kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc khép kín cũng ngày càng phải nhường chỗ cho nền sản xuất
Trang 16hàng hóa ngày càng phát triển hơn với mức độ trao đổi hàng hóa ngày càng rộng rãi hơn ở trình độ cao hơn Đây chính là cơ sở kinh tế - xã hội đã khiến cho nội dung của những tư tưởng về CBXH không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở địa vị xã hội để được đối xử công bằng, mà quyền bình đẳng ấy đã được mở rộng sang những đòi hỏi phải có sự ngang bằng trong quan hệ trao đổi và phân phối Đặc biệt, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước khẳng định được địa vị thống trị của mình trong nền sản xuất xã hội thì những quan điểm
về phân phối và trao đổi dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hóa đã ngày càng được sử dụng như là thước đo của CBXH
Trên thực tế, cuộc sống ấy diễn ra khác xa so với tư tưởng của các nhà khai sáng, những tư tưởng đã được xem như phần nào phản ánh lợi ích của những người lao động Bởi vì, sau khi chủ nghĩa tư bản giành được địa vị thống trị của mình, thì khẩu hiệu tự do, bình đẳng trước đây bây giờ trên thực tế không còn nữa và thay vào đó là những hình thức áp bức mới
Để chống lại sự công bằng và bình đẳng mang tính hình thức ấy, thiết lập công bằng và bất bình đẳng thực sự, những nhà cộng sản không tưởng thế kỷ XVIII – XIX mong muốn thay đổi tận gốc các quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ sở hữu
và kêu gọi làm cách mạng xã hội Như Ăngghen đã đánh giá, tư tưởng của những
nhà không tưởng vĩ đại thời kỳ này đã “không tự coi mình là đại biểu cho lợi ích
của giai cấp vô sản mà lịch sử đã sản sinh trong thời kỳ đó Cũng như những nhà triết học khai sáng, họ muốn lập tức giải phóng ngay toàn nhân loại chứ không phải trước hết giải phóng một giai cấp nhất định” [24,tr.278]
Để bảo vệ cho đông đảo người lao động trước sự bóc lột thậm tệ của chế độ
sở hữu tư bản chủ nghĩa, những người cộng sản không tưởng đã xây dựng lý tưởng CBXH của mình không phải bằng nguyên tắc trao đổi ngang giá dựa trên chế độ sở hữu tư sản, mà bằng nguyên tắc phân phối “đồng đều những sản phẩm của lao động” cho toàn mọi cá nhân trong xã hội dựa trên chế độ sở hữu công cộng
Tư tưởng CBXH vừa thể hiện tinh thần đấu tranh chống lại trật tự phong kiến dựa trên quan hệ đẳng cấp, vừa thể hiện tinh thần đấu tranh chống lại trật tự tư sản dựa trên quan hệ trao đổi ngang giá đã được một số nhà cộng sản không tưởng thời kỳ này bàn tới Tiêu biểu như là Môrenly (thế kỷ XVIII), G Mably (1709 –
Trang 171785), Xanh Ximông (1760 – 1825), Phuriê (1772 – 1837), Ôoen (1771 – 1858) Ôoen cùng với Xanh Ximông và Phuriê đã thực sự trở thành ba đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XIX với những tư tưởng nhân đạo sâu sắc Các ông không chỉ mơ ước, mà còn thực hiện những biện pháp cụ thể mong muốn xóa bỏ chế độ tư hữu nhằm thực hiện sự CBXH và bình đẳng xã hội cho mọi người trong xã hội
1.1.3 Tư tưởng triết học mác xít về CBXH
1.1.3.1 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về CBXH
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc tư tưởng của nhà tư tưởng đi trước, với phương pháp nhận thức khoa học của chủ nghĩa duy vật lịch sử và sự trải nghiệm thực tiễn sâu rộng, Chủ nghĩa Mác khẳng định, CBXH là một phạm trù mang tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi hình thái kinh tế - xã hội có những quan niệm khác nhau về CBXH Mỗi giai cấp, tầng lớp, bộ phận dân
cư lại có sự nhận thức, quy định, đánh giá về CBXH khác nhau Theo Ph Ăngghen,
“Công bằng xã hội của những người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ
nô lệ Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công” Vì vậy, sẽ là sai lầm khi cho rằng có một quan niệm chung, thống nhất về CBXH cho mọi thời đại, mọi giai cấp, mọi dân tộc
Đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích giai cấp vô sản, C Mác đã đi đến xây dựng quan điểm về CBXH mà nội dung chủ yếu của nó chính là nguyên tắc phân phối theo lao động
Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”, C Mác đã phân tích rõ về
nguyên tắc phân phối trong lao động Dưới chế độ chủ nghĩa xã hội người lao động làm việc theo năng lực của bản thân và được nhận lại một phần sản phẩm anh ta làm
ra vừa đúng với cái anh ta đóng góp cho xã hội sau khi đã khấu trừ các khoản cần thiết để duy trì sản xuất và tái sản xuất mở rộng, để phòng chống thiên tai, địch họa
và để đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng… Đây là nguyên tắc phân phối công bằng Bởi lẽ chủ nghĩa xã hội do chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cho nên ngoài những vật phẩm tiêu dùng cá nhân ra thì không có cái gì khác có thể trở thành sở hữu cá nhân, do đó không còn ai có thể cung cấp cho xã hội một cái gì khác ngoài sức lao động của mình Vì vậy, chỉ khi thực hiện phân phối theo lao động mới đảm
Trang 18bảo công bằng cho mọi người Với nguyên tắc phân phối này, tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau trong việc tham gia quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau, họ được hưởng thụ ngang nhau khi cống hiến ngang nhau Cái mà người lao động đã cống hiến cho xã hội là lượng lao động của cá nhân anh ta và cùng một lượng lao động mà anh ta cung cấp cho xã hội dưới hình thức này thì anh ta lại được nhận trở lại của xã hội hình thức kia Tuy nhiên, C Mác cũng chỉ rõ rằng, trong điều kiện của chỉ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội Bởi lẽ trong xã hội, giữa những người lao động có sự khác nhau về thể chất và tinh thần, khác nhau về năng lực lao động và trình độ tay nghề, khác nhau về năng khiếu cá nhân và hoàn cảnh gia đình…
Do vậy, “với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như
nhau vào quỹ tiêu dùng trong xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia… Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải là không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng” [23,tr.35] Hạn chế, thiếu sót này của nguyên
tắc phân phối theo lao động, theo C Mác, là không tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa Đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người không còn phụ thuộc vào sự phân công lao động nữa, lúc đó, khoảng cách giữa lao động trí
óc và lao động chân tay được rút ngắn tối đa; lao động không còn là phương tiện để sinh sống nữa mà là một nhu cầu của hoạt động và phát triển Cùng với sự phát triển toàn diện của cá nhân, sức sản xuất của xã hội cũng có sự tiến bộ vượt bậc chưa
từng có trong lịch sử, của cải trong xã hội trở nên dư thừa và “chỉ khi đó người ta
mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn trật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới
có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [23,tr.36]
Như vậy, CBXH mà C Mác phác họa trong chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là một trạng thái công bằng khác về chất so với tất cả những trình độ của sự công bằng đã tồn tại trong lịch sử
Vì thế, nguyên tắc phân phối theo lao động chỉ được thực hiện trong chủ nghĩa xã hội mới là một nguyên tắc phân phối công bằng thực sự Tuy nhiên, ngoài nội dung cốt lõi ấy, CBXH còn là một phạm trù chính trị - xã hội, đồng thời cũng là
Trang 19phạm trù đạo đức, pháp quyền, giữ vai trò chi phối quan hệ giữa người với người trong các lĩnh vực xã hội nói chung đảm bảo có sự tương xứng giữa vai trò thực sự của các cá nhân hay các nhóm xã hội với địa vị mà họ nắm giữ Theo nghĩa ấy có
thể hiểu vắn tắt CBXH là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ
giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, trong đó khái niệm cống hiến và hưởng thụ tích cực (như công trạng
và sự tôn vinh) cũng như tiêu cực (như tội ác và sự trừng phạt)
Quan điểm của C Mác – Ph Ăngghen về CBXH và bình đẳng xã hội được
V.I.Lênin kế thừa và tiếp tục làm rõ thêm Theo V.I.Lênin, “Phải hiểu bình đẳng
cho đúng, hiểu theo nghĩa xóa bỏ giai cấp” [21,tr.122] Một xã hội công bằng và
bình đẳng thực sự là một xã hội không còn chế độ tư hữu Vì vậy thực chất của bình đẳng xã hội dưới chủ nghĩa tư bản là giả tạo, hình thức, bởi sự bình đẳng đó được xây dựng trên quan hệ áp bức, bóc lột giai cấp và được che đậy bởi biểu hiện bề ngoài “bình đẳng”, “thuận mua vừa bán” của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Dưới hình thức quyền bình đẳng của các cá nhân nói chung, quyền bình đẳng thực
sự chỉ thuộc về giai cấp tư sản Các giai cấp bị áp bức, bóc lột, giai cấp lao động không có quyền bình đẳng đó hoặc bình đẳng chỉ là hình thức Do đó, theo
V.I.Lênin, “ý nghĩa thật sự của việc đòi hỏi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi
thủ tiêu giai cấp” [22,tr.198] Đánh giá về quan điểm phân phối công bằng của C
Mác, V.I.Lênin đã khẳng định, phân phối theo lao động là quy luật điều tiết sự phân phối quỹ tiêu đùng dưới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, phân phối theo lao động không có nghĩa là làm được bao nhiêu sẽ được hưởng bấy nhiêu mà phải hiểu dựa trên hai nguyên tắc: người có sức lao động mà không làm thì không hưởng và số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số sản phẩm ngang nhau V.I.Lênin còn nhấn mạnh, trong xã hội, ai không làm thì đừng ăn – bất kỳ người lao động nào cũng phải hiểu điều đó
1.1.3.2.Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về CBXH
Tư tưởng về công bằng và bình đẳng xã hội được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau của quá trình xây dựng đất nước Song điểm đáng lưu ý là, khi nói đến CBXH, Hồ Chí Minh thường gắn với quan niệm bình đẳng xã hội, mà ở đây chính là mối quan hệ giữa
Trang 20nghĩa vụ và quyền lợi, đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Như vậy, trong quan điểm của Bác, CBXH và bình đẳng xã hội luôn là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một biện pháp căn bản để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng cao cả của
chủ nghĩa xã hội Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm
nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng” [16,tr.175]
“Ai làm nhiều ăn nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên
là trừ những người già cả đau yếu, trẻ con”[15,tr.226] Sự bình đẳng của những
người lao động phải đặt trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể là
sự ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất là những điều kiện cơ bản hàng đầu mà chế độ xã hội mới tạo ra, đảm bảo cho mỗi người đều phát huy được mọi khả năng của mình để cùng vươn tới mục tiêu: mọi người đều có cơm
ăn, áo mặc, được học hành, có công ăn việc làm; mọi người đều sống no đủ và hạnh phúc; dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Bởi vậy, trong quan điểm của Bác việc thực hiện CBXH là một yêu cầu bức thiết và yêu cầu đó lại càng bức thiết hơn khi đất nước còn nghèo, cuộc sống còn
nhiều khó khăn Bác căn dặn: “Trong công tác lưu thông phân phối có hai điều kiện
quan trọng phải luôn luôn nhớ: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[17,tr.185] Mặt khác, Hồ Chí Minh đã chỉ ra
rằng, thực hiện CBXH với nguyên tắc ngang bằng giữa người với người trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ… trong hoàn cảnh nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng không có nghĩa là làm cho đời sống nhân dân có ngay sự no đủ Do đó, không được coi việc thực hiện CBXH như một
sự cào bằng trong nghèo khổ Người khẳng định: “không phải chúng ta ham chuộng
khổ hạnh và bần cùng Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng được ấm no, sung sướng”[14,tr.568] Để vượt qua hoàn
cảnh còn nhiều khó khăn về kinh tế, Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ, đùm bọc, tương ái, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Mặc dù cho rằng sự chia sẻ, đồng cam cộng khổ là một
Trang 21điều rất hay, rất tốt, nhất là trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, song Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm nhất quán về công bằng và bình đẳng xã hội, kiên quyết chống lại
sự đồng nhất công bằng đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân Người nói:
“Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa
thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết… Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [15,tr.386]
Như vậy, tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về CBXH là sự bổ sung và phát triển tiếp tục quan điểm của C Mác và Ăngghen về nguyên tắc phân phối theo lao động, một nguyên tắc đảm bảo CBXH trong chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của CBXH trong việc làm yên lòng dân và “nhờ yên lòng dân” mà xã hội được ổn định và có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Những đóng góp quý báu đó của Hồ Chí Minh vào tư tưởng CBXH và bình đẳng xã hội của C Mác và Ăngghen đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, có tác dụng chỉ đạo đối với chúng ta không chỉ trong quan hệ lợi ích kinh tế, mà cả trong nhiều quan hệ xã hội khác của con người
1.2 CBXH trong giáo dục và những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH trong giáo dục đào tạo
1.2.1 CBXH trong giáo dục – đào tạo
Bước sang thế kỷ XXI, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, loài người
đã và đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh tin học với những đột phá trong tư duy, trong quản lý, trong kinh
tế, trong khoa học công nghệ và đặc biệt là trong giáo dục Giáo dục trở thành một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi công dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của mọi quốc gia Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, giáo dục phải đi trước một bước; CBXH trong giáo dục đã và đang trở thành nhân tố quyết định góp phần nâng cao trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của các quốc gia nói chung và của từng tổ chức, từng thành viên trong xã hội hiện nay nói riêng
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã nhấn mạnh: “Thực
hiện công bằng xã hội trong giáo dục, Nhà nước phải có chính sách điều tiết, tạo cơ
Trang 22hội học ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tạo cơ hội học tập ở đại học, cao đẳng cho con em nông dân, các gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng còn nhiều khó khăn Giảm sự cách biệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp dân cư về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục giữa các vùng miền” [10,tr.102]
CBXH trong giáo dục là sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục, là đối xử như nhau với mọi học sinh khi học tại các cơ sở đào tạo khác nhau Mục tiêu của CBXH trong giáo dục – đào tạo là đảm bảo quyền
hưởng thụ theo chuẩn tối thiểu về giáo dục phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo cho mọi người đều được học tập đạt trình độ phổ cập theo quy định của mỗi quốc gia CBXH trong giáo dục ở cấp độ nhà trường được hiểu là mọi học sinh không phân biệt giới tính, khả năng (bình thường hay khuyết tật, học giỏi hay học yếu) hoàn cảnh xuất thân và thu nhập của gia đình, dân tộc (người kinh hay người dân tộc ít người), tôn giáo đều được đảm bảo quyền học tập, không bị nhà trường từ chối, đều được tạo cơ hội như nhau trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục mà nhà trường có Chẳng hạn, mọi học sinh đều được hưởng dịch vụ
y tế học đường của nhà trường, được chăm sóc sức khỏe; mọi học sinh đều được tham gia các hoạt động và các môn tự chọn, kể cả những em có hoàn cảnh khó khăn không thể đóng góp; mọi học sinh đều được tạo cơ hội phát triển năng khiếu và vận dụng tri thức; mọi học sinh đều có quyền mượn sách, tài liệu có trong thư viện Học sinh không bị định kiến, phân biệt đối xử Mọi học sinh đều được giáo viên chú ý khuyến khích phát triển Những em nào có hoàn cảnh khó khăn phải được nhà trường, giáo viên, bạn bè, cộng đồng quan tâm giúp đỡ
Việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo bao gồm cả việc giải quyết một cách hợp lý mối quan hệ giữa giáo dục đại trà và giáo dục trọng điểm, giữa sự quan tâm đến quyền lợi được giáo dục của số đông và giành ưu tiên cho những người có năng lực học tập đặc biệt, những người có hoàn cảnh khó khăn, những người cư trú ở vùng sâu, xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo không chỉ thể hiện nguyên tắc cống hiến ngang nhau, hưởng thụ ngang nhau mà còn xuất phát từ sự bình đẳng của con người
Trang 23Biểu hiện quan trọng nhất của sự công bằng trong giáo dục là đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người dân phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện ở việc đảm bảo khả năng tiếp cận chuẩn tối thiểu về giáo dục cho tất cả mọi người không phân biệt nhóm xã hội hay địa bàn sinh sống, đồng thời khuyến khích việc thực hiện các hoạt động giáo dục ở mức cao hơn chuẩn cho các nhóm có điều kiện trong khuôn khổ pháp luật là việc tạo ra những cơ hội như nhau cho những người có khả năng ngang nhau để có sự thành đạt trong giáo dục chỉ phụ thuộc vào năng lực phấn đấu của cá nhân
Như vậy, việc phấn đấu xây dựng một nền giáo dục theo hướng công bằng đảm bảo phát triển quy mô và chất lượng chính là nhằm tạo được nhiều cơ hội khác nhau phù hợp cho mọi người dân đều được học tập, phát huy năng lực, sở trường của mình, góp phần phát triển nguồn lực con người phục vụ cho xã hội
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo
Nhân tố kinh tế:
Lý luận CBXH xuất phát từ quyền con người, từ những điều kiện vật chất để
có thể đảm bảo việc học tập cho các tầng lớp dân cư trong xã hội, từ sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay Công tác giáo dục – đào tạo đã đòi hỏi phải có một bộ phận dân cư tách ra khỏi lao động chân tay để làm công việc giảng dạy và học tập Sự phân công lao động xã hội này diễn ra không ngừng gắn liền với sự phát triển và tiến bộ không ngừng của lực lượng sản xuất; đồng thời mỗi bước tiến của
sự phân công lao động xã hội trong ngành giáo dục – đào tạo nói riêng lại có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tạo ra phương thức lao động mới gắn với năng suất lao động xã hội cao Bởi vậy, năng suất lao động xã hội cao vừa là kết quả của sự phân công lao động vừa là cơ sở cho việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo
Mặt khác, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quyền không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế Quyền của con người nói chung và quyền được hưởng công bằng trong xã hội cũng như trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo tạo ra sản
phẩm của lịch sử, gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Trang 24Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không thể nói đến CBXH trong giáo dục đối với mọi thành viên của xã hội Do trình độ phát triển kinh tế thấp nên những người tách khỏi công việc kiếm sống hàng ngày để đầu tư cho học tập chỉ chiếm một bộ phận nhỏ trong dân cư
Trường học trong chiếm hữu nô lệ chỉ là trường học giành cho con cái của chủ nô và một phần là dân tự do Người nô lệ không có điều kiện học tập
Trong chế độ phong kiến, các trường học chỉ giành cho quý tộc, tăng lữ, các tầng lớp dân cư khác, đặc biệt là người dân rất ít có cơ hội, điều kiện để học tập
Đến chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp, của kinh tế thị trường, nền giáo dục được mở rộng đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân Song do bản chất của chủ nghĩa tư bản, CBXH trong giáo dục vẫn có những giới hạn của nó
Như vậy, sự phát triển của nền kinh tế là cơ sở vật chất vững chắc đảm bảo cho CBXH nói chung và CBXH trong giáo dục nói riêng Khả năng đầu tư càng lớn thì giáo dục càng có điều kiện phát triển thuận lợi Ngược lại, giáo dục cần được phát triển để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Do đó, CBXH trong kinh tế
là cơ sở để thực hiện CBXH trong giáo dục, quy định hiệu quả thực hiện công bằng trong giáo dục
Nhân tố chính trị - xã hội:
Chính trị chính là biểu hiện tập trung của kinh tế, là cơ sở pháp lý để thực hiện CBXH trong tất cả các lĩnh vực của xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục – đào tạo
Tác động của yếu tố chính trị cơ bản nhất là Nhà nước Mức độ thực hiện CBXH, quy mô và phạm vi thực hiện CBXH trong giáo dục phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, của giai cấp cầm quyền
Trong các xã hội có sự phân chia giai cấp, nhất là trong chế độ chiếm hữu nô
lệ, bản chất Nhà nước đều quy định rõ những giai cấp hoặc tầng lớp xã hội không được đến trường thi cử… Sự công bằng trong giáo dục chỉ được đặt ra với nhà cầm quyền trong việc đánh giá kết quả của giáo dục qua thi cử, đỗ đạt và sử dụng người tài hay không sử dụng người tài
Trang 25Nhưng các tiêu chí đánh giá, các tiêu chuẩn sử dụng đều phải theo quy định pháp lý hoặc theo lợi ích của giai cấp cầm quyền
Sự phân hóa xã hội:
Sự phân hóa xã hội ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện CBXH trong giáo dục Trong xã hội có sự phân chia giai cấp đối kháng, CBXH không thể thực hiện được đối với mọi tầng lớp dân cư Ở các nước tư bản phát triển, nhất là ở Mỹ, khi nền kinh tế phát triển cao, nền dân chủ tư sản đã phát triển; hệ thống giáo dục ưu việt của Hoa Kỳ bao gồm ba hệ thống: Giáo dục công lập, giáo dục dân lập và giáo dục gia đình; tạo ra các hình thức học tập rất phong phú, đa dạng Hoa Kỳ chi tiêu cho giáo dục công lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới Song ngay sắc lệnh “Không
để trẻ em nào không được tiếp cận với giáo dục” được ban hành gần đây cũng không cải thiện được chất lượng giáo dục là bao Mặc dù người dân Mỹ dốc một lượng thuế khổng lồ cho ngân sách địa phương và bang để đầu tư cho hệ thống trường công lập, nhưng thực tế chính các trường tư mới có chất lượng giáo dục tốt hơn Do vậy, mặc
dù mục tiêu của các trường công lập là đảm bảo tiếp cận giáo dục công bằng cho tất
cả mọi người, song sự chi tiêu của người dân cho giáo dục không hiệu quả đã tạo ra những sản phẩm chất lượng khá thấp Những bất cập này càng trở nên rõ ràng hơn nữa ở bậc học sau trung học Giáo dục dân lập vẫn là rất đắt đỏ và thường chỉ có những người có điều kiện (con nhà giàu) mới có thể theo học
Việc cạnh tranh để tìm kiếm được việc làm ở Hoa Kỳ ngày càng phụ thuộc vào trình độ học vấn của ứng viên (người có bằng đại học dễ tìm việc hơn so với những người không bằng cấp) Kết quả là giới trẻ của Hoa Kỳ hiện nay đang phải dành nhiều thời gian để theo học tại trường hơn bao giờ hết Xu hướng này càng làm gia tăng khoảng cách thu nhập giữa những người tốt nghiệp đại học và tốt nghiệp phổ thông Tỷ lệ thất nghiệp đặc biệt cao ở nhóm thiểu số và nhóm các bạn trẻ chịu nhiều thiệt thòi, đặc biệt là ở thành phố nơi có chất lượng giáo dục công lập thấp Do vậy, họ tất yếu trở thành lao động dư thừa vì thiếu kỹ năng làm việc và không có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp Nếu hệ thống trường trung học vẫn không thể chuẩn bị cho học sinh nền tảng tốt thì cơ hội việc làm cho các bạn trẻ như thế này sẽ ngày càng thu hẹp lại
Trang 26Những vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn khi ngày nay, càng có nhiều người nhập cư vào Mỹ Nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đang ngày càng phát triển, cạnh tranh tại thị trường lao động của Mỹ trở nên gay gắt hơn, đặc biệt là những thị trường phổ thông Theo một báo cáo gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư, dòng người nhập cư (hợp pháp và bất hợp pháp) đã khiến cho tỷ lệ thất nghiệp của người dân bản địa cao hơn Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những người dân mới nhập cư chiếm đến 86% số việc làm mới tại Mỹ trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2005 Bởi vì những người dân nhập cư có xu hướng chấp nhận việc làm với đồng lương rẻ mạt, nên những công nhân trẻ bản địa khi không có trong tay bằng cấp nào cả thường phải đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn trong thị trường lao động phổ thông Điều này càng làm cho vấn đề giáo dục công bằng trở nên phức tạp
và làm giảm hiệu quả của hệ thống giáo dục Mỹ
Tóm lại, thực hiện CBXH trong giáo dục là một nhiệm vụ liên quan đến tất
cả các nhân tố kinh tế, chính trị - xã hội, phân hóa xã hội Bởi vì, có thể đảm bảo
công bằng về phương diện kinh tế nhưng chưa chắc đã đạt được công bằng về các phương diện khác (chẳng hạn, khi người ta có mức thu nhập ngang nhau nhưng sống, học tập trong các điều kiện khác nhau thì mức độ bất bình đẳng thực sự sẽ khác nhau) Thực hiện CBXH nói chung và CBXH trong giáo dục – đào tạo nói riêng luôn phải gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Trang 27Tiểu kết chương 1 CBXH là một khái niệm mang tính lịch sử, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch
sử Ở mỗi thời đại khác nhau, con người nhận thức, đánh giá, đưa ra những tiêu chí, chuẩn mực, cách thức giải quyết vấn đề CBXH khác nhau Sự khác nhau trong các quan niệm về CBXH phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, cũng như phụ thuộc vào trình độ nhận thức, lợi ích của các giai cấp, các nhóm chủ thể xã hội
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, thước đo của CBXH đều dựa trên sự ngang bằng về địa vị xã hội, do đó, CBXH được quan niệm là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội, ngược lại sự bình đẳng của những người không cùng địa vị xã hội được xem là tất yếu
Đối với Chủ nghĩa Mác – Lênin, CBXH chỉ thực sự có được trong chủ nghĩa
xã hội, bởi vì chỉ khi đó chế độ tư hữu mới bị thủ tiêu, chế độ công hữu mới được thiết lập Chính nhờ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhờ có quan hệ bình đẳng của tất cả các thành viên trong xã hội xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, việc phân phối sản phẩm lao động mới có thể tiến hành chỉ theo lao động Vì thế, nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện trong chủ nghĩa xã hội mới là nguyên tắc phân phối công bằng thực sự trong kinh tế
Tuy nhiên, ngoài nội dung cốt lõi ấy, CBXH còn được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị - văn hóa, pháp quyền Vì vậy, có thể hiểu vắn tắt CBXH là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, trong đó khái niệm cống hiến và hưởng thụ tích cực (như công trạng và sự tôn vinh) cũng như tiêu cực (như tội ác và sự trừng phạt)
Việc thực hiện CBXH nói chung và trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nói riêng luôn bị chi phối bởi các nhân tố kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa Chính vì vậy, thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo là một phần nội dung thực hiện CBXH ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa Thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo chính là tạo được nhiều cơ
Trang 28hội học tập phù hợp với mọi nhu cầu và nguyện vọng riêng cũng như khả năng của mỗi người dân trong xã hội, để ai cũng có điều kiện học hành, phát triển nghề nghiệp, tài năng, hiểu biết… đáp ứng cho sự phát triển đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
Trang 29Chương 2
VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với việc thực hiện CBXH trong giáo dục
Thực tiễn lịch sử đất nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện là một nước nông nghiệp kinh tế nghèo nàn lạc hậu, dân số đông và chủ yếu sống ở nông thôn, chuyên về làm nông nghiệp; do đó cơ sở vật chất cho Nhà nước đảm bảo các quyền của con người nói chung, quyền được đảm bảo công bằng trong giáo dục – đào tạo còn nhiều hạn chế
2.1.1 Những chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về thực hiện CBXH trong giáo dục thời kỳ trước đổi mới
Thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm xây dựng và phát triển giáo dục theo hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa và đa dạng hóa; xây dựng nền giáo dục mới, một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Nền giáo dục mà mọi người dân không phân biệt giàu,
nghèo, nam nữ, già trẻ, tôn giáo, dân tộc ít người và dù ở bất cư đâu, miền núi, đồng bằng, hải đảo và các vùng xa xôi hẻo lánh…ai muốn học như thế nào, học bằng cách nào đều được tạo điều kiện tốt nhất có thể để được học Nền giáo dục hướng tới xây dựng một xã hội học tập và người dân được học suốt đời
Ở chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù vấn đề CBXH nói chung và CBXH trong giáo dục – đào tạo nói riêng không được trực tiếp bàn đến trong những chủ trương của Đảng nhưng xuất phát từ quan điểm cho rằng chế
độ tư hữu là nguồn gốc của sự bóc lột, của bất công, bất bình đẳng xã hội, nên trong thực tiễn việc xóa bỏ chế độ tư hữu trở thành một nội dung chủ yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện CBXH, trong đó có CBXH trong lĩnh vực giáo dục
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước vô cùng khó
khăn và phức tạp Nhà nước cách mạng đã đặt ra nhiệm vụ quan trọng: Xây dựng
nền giáo dục dưới chế độ mới trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp
Trang 30thuộc sau hơn 80 năm với hơn 95% dân số mù chữ Để khắc phục tình trạng này
Đảng và Chính phủ đã đưa ra quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục xuyên suốt giai
đoạn kháng chiến chống Pháp là trên cơ sở nền giáo dục Pháp để lại xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ, phục vụ kháng chiến và kiến quốc Một nền giáo dục mới của dân, do dân và vì dân, phục vụ việc giáo dục, đào tạo những thế hệ người Việt Nam trên quy mô lớn và được thiết kế trên 3 nguyên tắc căn bản “Dân tộc, khoa
học, đại chúng” Quan điểm này thể hiện chủ trương thực hiện CBXH trong giáo
dục của của Đảng ta: Mọi người dân đều được tham gia học tập, không phân biệt đối xử, thế hệ trẻ được giáo dục thành những công dân trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có phẩm chất, nghị lực, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân
Quan điểm giáo dục này từng bước được hình thành và khẳng định theo đà thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Cách mạng nước ta bước vào giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thống nhất nước nhà Quan điểm chỉ đạo giáo dục xuyên suốt và bao trùm toàn bộ
giai đoạn này trên cơ sở của nền giáo dục dân chủ nhân dân đã được hình thành, xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước ta Sự kiện quan trọng đánh dấu
bước chuyển có tính chất bước ngoặt là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai Đề án về cuộc cải cách giáo dục lần hai được Chính phủ thông qua vào tháng 3 – 1956 Mục
tiêu của cuộc cải cách này là đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân
phát triển toàn diện, những công dân tốt, trung thành với tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ của Nhà nước, có tài, có đức để xây dựng và phát triển chế độ dân chủ của nhân dân, tiến lên xã hội chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh thống nhất nước nhà Phương châm giáo dục là gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với xã hội, coi
trọng việc giảng dạy tri thức có hệ thống Hệ thống giáo dục mới được xây dựng trên cơ sở sáp nhập hai hệ thống giáo dục 9 năm và 12 năm trước đó thành giáo dục
10 năm Nội dung giáo dục có tính chất toàn diện gồm các mặt: đức, trí, thể, mỹ trong đó giáo dục là cơ sở, đồng thời giáo dục tư tưởng và giáo dục đạo đức Đây là
sự thay đổi, sự điều chỉnh đúng đắn, cần thiết đặt nền tảng giáo dục kịp thời phục vụ cho công cuộc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa tiến hành ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước
Trang 31Bước vào thời thời kỳ thống nhất đất nước (1975), trước những yêu cầu mới,
mặc dù đạt được một số thành tựu quan trọng nhưng nền giáo dục của chúng ta chưa theo kịp sự phát triển kinh tế của đất nước Vì vậy, ngày 11/9/1979, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 14 – NQTƯ về cải cách giáo dục Đây là cuộc cải cách lần thứ ba của giáo dục – đào tạo dưới chế độ mới; với mục tiêu và nội dung cơ bản: coi giáo dục là bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng văn hóa, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật Thực hiện nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Như vậy, trong thời kỳ trước đổi mới, nền giáo dục nước ta tuy đã đạt được một số thành tựu cơ bản; mặc dù chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn này vẫn chưa trực tiếp đề cập tới việc thực hiện CBXH trong giáo dục, song xuất phát từ quan điểm xây dựng nền giáo dục nhân dân thống nhất trong toàn quốc nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài và bồi dưỡng một đội ngũ lao động mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của giai đoạn này Điều đó đã bao hàm chủ trương của Đảng ta về thực hiện CBXH nói chung và trong giáo dục nói riêng
2.1.2 Những chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về thực hiện CBXH trong giáo dục từ khi đổi mới đến nay
Sau 10 năm đất nước hoàn toàn thống nhất, vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu Trước tình tình này, năm 1986 Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới và đưa nền kinh tế
- xã hội nước ta vào giai đoạn phát triển mới với những nhận thức và yêu cầu mới – chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa Nền kinh tế này đòi hỏi phải có một nền giáo dục phù hợp Bản chất
của đổi mới giáo dục là đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ và cách làm giáo dục; phải dũng cảm bỏ đi những cách nghĩ, cách làm đang là vật cản trên đường đi của giáo dục và không phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội Trong các đại
hội Đảng tiếp theo là Đại hội Đảng VIII, IX và X, XI Đảng ta đã bổ sung và ngày càng hoàn thiện đường đi nước bước trong quá trình đổi mới Trong thời kỳ chuyển đổi này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục đào tạo cùng với khoa học công
Trang 32nghệ là quốc sách hàng đầu, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Huy động nguồn lực xã hội góp phần xây dựng, phát triển giáo dục Giáo dục phải nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Trong giai đoạn này, chính sách thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo được Đảng ta khẳng định ngày càng
rõ ràng hơn trong các Văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng, trong luật và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ
Luật giáo dục 2005 là cơ sở pháp lý và định hướng chính sách giáo dục của
đất nước Trong Luật giáo dục 2005 nêu rõ: “Nâng cao tính công bằng xã hội trong
giáo dục và tăng thêm cơ hội học tập cho nhân dân, đặc biệt là các đối tượng hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo” Đó là động lực thúc đẩy và là
một điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây
dựng và bảo vệ đất nước Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người,
xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân Đa dạng hóa các hình thức đào tạo Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học
Đại hội Đảng VIII khẳng định một lần nữa vai trò quan trọng của việc thực
hiện CBXH trong giáo dục và đưa ra chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc
các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội Ưu tiên phát triển giáo dục
ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số
Nhận thức rõ vai trò của thực hiện CBXH trong giáo dục, trong các kỳ Đại hội sau đó và đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục đa dạng về loại hình trường lớp, phương thức đào tạo; đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục
Trang 33Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh
đến việc nâng cao CBXH trong giáo dục và tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục
cho trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được đi học, học thường xuyên, học suốt đời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự nghiệp giáo dục Đẩy mạnh xã hội hóa; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia vào phát triển giáo dục
2.2 Thực trạng của việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo
2.2.1 Những thành tựu của việc thực hiện CBXH trong giáo dục
Trong Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 - 2020, khi đánh giá về thành tựu giáo dục - đào tạo trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Đảng ta đã khẳng
định: “CBXH trong giáo dục – đào tạo đã được cải thiện và ngày càng được thực
hiện tốt hơn Đặc biệt tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con
em các gia đình nghèo và trẻ em khuyết tật Việc miễn giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập” [2,tr.4] Đây là kết quả đáng mừng, là sự nỗ
lực rất lớn của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục và của toàn dân:
Quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, đa dạng hóa các loại hình đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân:
Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển Theo số liệu của Bộ giáo dục, đến năm học 2007 – 2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,03% so với năm 2000 – 2001 (riêng số sinh viên học nghề tăng 2,14 lần, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần, số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,83 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên 1 vạn dân tăng 1,6 lần,
số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,48 lần) Mặc dù tỷ lệ học sinh, sinh viên cả nước tăng không nhiều (1,03%) nhưng tỷ lệ học sinh học nghề, trung cấp, cao đẳng đại học tăng 2 đến 2,5 lần Từ năm 2006 đến nay, trung bình hàng năm quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%, cao đẳng và đại học tăng 7,4%
Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng từ 20% (năm 2000) lên 31,5% (năm 2007), trung bình hàng năm quy mô đào tạo nghề cho người lao động
Trang 34Mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp trong toàn quốc Về cơ bản đã xóa được xã trắng về giáo dục mầm non, trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập hầu hết ở các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt là ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho các em dân tộc thiểu số Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Tính đến tháng 12/2008 đã có 42/46 tỉnh, thành phố (67%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 47/63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập trung học cơ sở; dự tính đến
2013, hầu hết các tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Tỷ lệ dân số từ
15 tuổi trở lên biết chữ của cả nước là 94% Số năm học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên là 9,6% Sự khác biệt về trình độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục
cơ bản [2,tr.3]
Hệ thống giáo dục quốc dân đã và đang được tiếp tục hoàn thiện bao gồm đủ các cấp, bậc học (từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học); đa dạng về loại hình trường lớp (công lập, bán công, dân lập, tư thục) và về phương thức giáo dục (chính quy, không chính quy, giáo dục thường xuyên) Trong năm học 2007 – 2008, có khoảng 23 triệu học sinh, sinh viên học tập trung trong 9.100 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện, 1.360 trung tâm tin học, nhiều trường đại học đào tạo từ xa Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Một xã hội học tập đang hình thành rõ nét
ở Việt Nam, tạo cơ hội cho mọi người có điều kiện khác nhau đều được học tập
Sự phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa:
Nhờ quy mô giáo dục được mở rộng và mạng lưới các cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trên cả nước, tương đối đồng đều giữa các vùng miền nên CBXH trong giáo dục cơ bản được đảm bảo Giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt
Trang 35Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục, năm học 2007 – 2008 có 275 trường dân tộc nội trú trung ương, huyện, cụm xã, với khoảng 85.000 học sinh, trong năm 2010 hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú tiếp tục phát triển Toàn quốc có gần 300 trường trung học phổ thông nội trú với khoảng 70.000 học sinh được hưởng học bổng chính sách Em nào hổng kiến thức sẽ được thầy cô ở quanh trường phụ đạo thêm sau giờ lên lớp Đây chính là lý do tại sao tỷ
lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp ở các tỉnh miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số tăng dần qua các năm Tiêu biểu như năm học 2009 – 2010, có 5.500/5.920 học sinh các trường dân tộc nội trú thi đỗ tốt nghiệp THPT, đạt 92,9% Nhiều trường chuyên các tỉnh có tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng thuộc diện cao của cả nước, kể các so với các trường chuyên trên địa bàn các thành phố lớn Công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số ngày càng tốt hơn, cả nước đã có hơn 4000 lớp tăng cường tiếng Việt Nhiều địa phương làm khá tốt Ở Gia Lai có tới 86,4% trẻ mẫu giáo 5 tuổi được chuẩn bị tiếng Việt, Lào Cai đã tổ chức thành công cuộc thi giao lưu tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số…[11,tr.16]
Nhà nước và ngành giáo dục ưu tiên đầu tư kinh phí để thực hiện chương trình “Hỗ trợ giáo viên miền núi”, xây dựng và chỉ đạo thực hiện đề án “Xây dựng nhà công vụ cho giáo viên”… Vì thế, đã triển khai xây dựng được hơn 8.000 phòng học và nhà công cụ cho giáo viên với tổng chi phí trên 1.000 tỷ đồng [11,tr.17] Tăng cơ hội học tập cho trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo xa trường
Đây là kết quả rất đáng mừng, kết quả của sự nỗ lực rất lớn của ngành giáo dục nói chung và của Sở Giáo dục – đào tạo miền núi nói riêng Điều đó thể hiện quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục miền núi, rút ngắn sự cách biệt giữa miền núi với các vùng miền trên cả nước
Giúp đỡ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được học tập được đẩy mạnh:
Trong những năm qua, các chính sách đảm bảo CBXH trong giáo dục, đặc biệt là chính sách hỗ trợ tài chính (chính sách học bổng, tín dụng); chính sách đối với các nhóm xã hội đặc biệt (trẻ khuyết tật, trẻ cần được bảo trợ); các chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển tài năng được Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh theo hướng ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng những
Trang 36học sinh nghèo, khuyết tật, đối tượng chính sách; những học sinh giỏi, tài năng có hoàn cảnh khó khăn… được hỗ trợ, giúp đỡ, khắc phục những khó khăn để học tập
và được tạo nhiều cơ hội cho việc học lên cao
Để tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách, khuyết tật được học tập, được học lên cao, Đảng và Nhà nước ta đã thông qua các chính sách về miễn, giảm học phí, cấp học bổng và một số chính sách hỗ trợ khác như học sinh – sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay tiền để chi trả cho việc học hành
Năm học 2007 – 2008 có 752.000 học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn mức tối đa 800.000 đồng/tháng Năm
2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học [18,tr.8]
Bắt đầu từ năm 2011, các thí sinh khuyết tật được ưu tiên xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng chính quy trên cả nước Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước
ta còn xây dựng mới các trường, lớp hòa nhập và chuyên biệt; năm học 2007 – 2008
đã thu hút 250.000 trẻ khuyết tật đi học [2,tr.4] Hầu hết các địa phương trong cả nước đã huy động được trẻ khuyết tật đi học hòa nhập (hệ thống quản lý trẻ khuyết tật được hình thành ở 63 tỉnh, thành phố và bước đầu đi vào hoạt động)
Tất cả những con số trên đây cho thấy Việt Nam đã tạo được sự công bằng trong tiếp cận học tập cho tất cả trẻ em gái, trai của các dân tộc, ở các vùng miền và đặc biệt quan tâm tới những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Thực hiện xã hội hóa giáo dục, khắc phục những khó khăn về tài chính hiện nay nhằm tạo cơ hội cho mọi người có nhu cầu học tập được học tập; một trong những thành tựu của việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo trong những năm vừa qua cần phải kể đến, đó là công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh và huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu Sự phát triển của hệ thống trường ngoài công lập là một minh chứng điển hình cho sự đổi mới này Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển, năm 2010 cả nước đón 1,6 triệu trẻ em mầm non (chiếm 51% trong số trẻ đến trường), 4,8% học sinh phổ thông, hơn 20% học sinh trung cấp chuyên nghiệp, gần 13% sinh viên cao đẳng, đại học vào các cơ sở giáo dục ngoài công lập Số học sinh, sinh viên học tại
Trang 37các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngay càng tăng Tính từ năm 2000 đến năm học
2007 - 2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập tăng gần 4% [28,tr.4]
Trong những năm vừa qua và đặc biệt 3 năm trở lại đây, sự hỗ trợ của toàn
xã hội đối với sự nghiệp giáo dục đã phát triển ở bình diện rộng hơn, với hình thức phong phú và hiệu quả thiết thực hơn Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ em đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư mở trường, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục mặc
dù tăng dần qua các năm nhưng vẫn còn rất hạn hẹp, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của giáo dục nói chung và của việc thực hiện CBXH trong giáo dục nói riêng
Như vậy, thành tựu thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo được thể hiện trong việc Đảng và Nhà nước ta đã giải quyết một cách hợp lý mối quan hệ giữa giáo dục đại trà và giáo dục trọng điểm, giữa sự quan tâm đến quyền lợi của giáo dục của số đông và dành quyền ưu tiên cho những người có năng lực học tập đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn, thuộc đối tượng chính sách; ưu tiên phát triển giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Các chính sách nhằm thực hiện CBXH trong giáo dục được ban hành và thực hiện có hiệu quả khá tốt để hướng tới xây dựng một xã hội học tập và người dân được học suốt đời
2.2.2 Những hạn chế của việc thực hiện CBXH trong giáo dục
Trong điều kiện kinh tế thị trường song song với hệ thống giáo dục công lập phải từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục ngoài công lập để thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư cho giáo dục nhằm tạo nhiều cơ hội học tập cho nhân dân Nhưng một mâu thuẫn đặt ra là mô hình giáo dục ngoài công lập có đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo không, nhất là đối với những hình thức đào tạo từ xa chỉ thực hiện đầu vào xét theo nguyện vọng của học sinh? Chỉ quan tâm chủ yếu đến việc tăng số lượng hay tăng chất lượng? và nếu thực hiện hình thức học mất tiền thì những người nghèo có cơ hội được tiếp cận với giáo dục không? Bên cạnh đó, còn
có một hiện trạng mâu thuẫn với xu hướng trên, ở một số trường đại học “danh tiếng” lại thực hiện việc “thắt chặt đầu vào” để đảm bảo chất lượng và tỏ ra sợ hãi khi “lạm phát” đại học, có những học sinh thi được 27/30 điểm (3 môn thi) vẫn trượt đại học Vậy, điều đó có phải là công bằng không?
Trang 38Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận định: “Công tác quản lý giáo dục còn nhiều
bất cập Quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn nặng tính quan liêu, chưa thoát khỏi tình trạng ôm đồm, sự vụ, làm hạn chế quyền chủ động, sáng tạo và
ý thức trách nhiệm của các đơn vị cơ sở Hệ thống pháp luật và các chính sách về giáo dục chưa hoàn chỉnh Năng lực của các cơ quan quản lý giáo dục chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý trong tình hình mới” [2,tr.7] Công tác xây dựng quy
hoạch, kế hoạch còn nhiều bất cập; chưa quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục; chưa cụ thể hóa kịp thời và đầy đủ trong việc hoạch định một số chính sách và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục; Chưa nhận thức đầy đủ để có giải pháp đối với các vấn đề mới nảy sinh giữa
mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả, giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân và khả năng hạn hẹp của nền kinh tế, giữa đầu tư của nhà nước và đóng góp của nhân dân; tình trạng phân hóa giàu nghèo và yêu cầu đảm bảo CBXH trong giáo dục
Chính sách nguồn tài chính cho giáo dục chưa hợp lý, nhất là các địa phương còn khó khăn Chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ thiên về bằng cấp, chưa chú ý đúng mức đến năng lực thực tế dẫn đến tình trạng “học giả bằng thật” và một số hiện tượng tiêu cực khác Việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài còn thiếu đồng bộ và còn nhiều thiếu sót… thực tế, nhiều nơi đua nhau “trải thảm đỏ” thu hút nhân tài, song rất ít thảm đỏ giữ được nhân tài
Bên cạnh các nguyên nhân chủ yếu đã nêu ở trên cần kể đến những tác động khách quan làm tăng thêm các yếu kém, bất cập giáo dục: nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao trong khi khả năng đáp ứng của ngành giáo dục và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế Mức đầu tư cho giáo dục tính trung bình cho một người dân còn thấp so với yêu cầu bảo đảm chất lượng và so với các nước khác trên thế giới: ở Trung Quốc là 105 USD, ở Thái Lan là 350 USD, ở Malaixia là 720 USD trong khi đó ở Việt Nam là 53 USD Tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn chi phối nặng nề việc dạy, học và thi cử Thái độ chưa coi trọng các trường ngoài công lập làm hạn chế việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục Một số hiện tượng tiêu cực ngoài
xã hội đã thâm nhập vào nhà trường và cơ quan giáo dục, dù đã có nhiều cố gắng ngăn chặn song chưa đạt hiệu quả cao
Trang 39Như vậy, CBXH trong giáo dục – đào tạo thực sự là một thách thức chúng ta phải vượt qua, trong những năm tới phải thực hiện bằng được
2.3 Những vấn đề đặt ra
Như đã phân tích ở trên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc thực hiện CBXH trong giáo dục – đào tạo ở nước ta vẫn còn tồn tại, bộc lộ rõ nét những hạn chế cần được khắc phục
2.3.1 Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện CBXH trong giáo dục với tình trạng phân hóa xã hội ngày càng tăng
Việt Nam bước vào phát triển nền kinh tế thị trường, CNH - HĐH và hội nhập đã tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, qua đó sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để trở thành những thành viên của nhóm vượt trội, động lực cho sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực hay một địa phương
Song bên cạnh đó, những tác động tiêu cực của phân hóa xã hội trở thành một trong những nguyên nhân chính gây ra sự bất ổn định xã hội: khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng Những khác biệt như vậy diễn ra trước hết trong lĩnh vực kinh tế sau đó sẽ lan sang các lĩnh vực khác Do vậy, không phải tất cả các nhóm xã hội đều được hưởng thụ ở mức độ tương xứng với sự đóng góp của họ Rõ ràng đó là những hệ quả không mong muốn khi chúng ta đang theo đuổi những nguyên tắc CBXH
Tổng cục thống kê (GSO) nhận xét: Sau hơn hai thập kỷ đổi mới, kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng, đã đưa đời sống xã hội cải thiện một bước lớn Song, khoảng cách giàu – nghèo của Việt Nam có sự giãn rộng ra Sự chênh lệch về thu nhập đang diễn ra khá phổ biến ở nước ta So sánh 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 20% số hộ có mức thu nhập thấp nhất thì khoảng cách chênh lệch là 8,4 lần Tuy nhiên, sự chênh lệch này còn ở mức độ cho phép, chưa trở thành mâu thuẫn về lợi ích và vẫn đang là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Do đó, cần phải khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, nhằm giữ khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội
về thu nhập trong giới hạn tối ưu, không để trở thành vấn đề xã hội bức xúc Bởi một số dấu hiệu có ảnh hưởng tiêu cực đã bắt đầu lộ diện Điểm nổi bật trong hai