1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

QUẢN LÍ HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT

9 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, xin được nói lên một hoạt động trong nhiều hoạt động của giờ Tiếng việt : “kinh nghiệm quản lí học sinh trong giờ Tiếng việt .” Phần II: NỘI DUNG A/ Cơ sở lí luận : T

Trang 1

Buôn ma thuột, ngày 10 tháng 10 năm 2010

Phần I: Mở đầu

I/ Đặt vấn đề

:

Môn ngữ văn cũng như bất cứ bộ môn nào khác là mục tiêu chung của bậc học Môn ngữ văn trước hết jà một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn ngữ văn còn là một môn thuộc nhóm công cụ, vị trí đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và môn học khác Xuất phát từ những căn cứ đó nên Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS : góp phần hình thành những con người có học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ ra đời, hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng (…) Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp

Chúng ta đã biết chương trình Ngữ văn đã khẳng định “lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy

.”

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học Sách giáo khoa Ngữ văn đã cố gắng tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp hoạt động hoá của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và được phát triển

Trong bài viết này, xin được nói lên một hoạt động trong nhiều hoạt động của giờ Tiếng việt : “kinh nghiệm quản lí học sinh trong giờ Tiếng việt

.”

Phần II: NỘI DUNG

A/ Cơ sở lí luận

:

Theo hướng đổi mới phương pháp, đặc biệt là phương pháp dạy thực hành Tiếng việt, học sinh phát biểu học thuộc các khái niệm, định nghĩa, các phương thức sử dụng từ, câu, điều đó chưa chứng tỏ các em đã nắm được tri thức, càng chưa có cơ

sở nào thể hiện năng lực Tiếng việt của mình Hoạt động luyện tập trong giờ Tiếng việt đóng vai trò quyết định trong việc nắm tri thức và hình thành kĩ năng của học sinh

Luyện tập thực hành trong phân môn Tiếng việt cũng như các bộ môn khoa học khác, có tác dụng làm cho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm

Trang 2

mình phát hiện lại tri thức, vận dụng tri thức vào giải quyết các hiện tượng từ, câu trong ngôn ngữ và lời nói Thông qua quá trình vận dụng và phát hiện này mà tri thức của các em được chính xác, củng cố và khắc sâu hơn

Mặt khác, kĩ năng chỉ có thể được hình thành khi biết cách hành động theo những phương thức hành động Thực hành luyện tập, các em có điều kiện vận dụng từ ngữ, câu vào hoạt động lời nói của mình, nâng trình độ tiếng mẹ đẻ từ tự phát lên

tự giác Rèn luyện năng lực phân tích, nâng cao năng lực viết và nói sao cho phù hợp với những quy tắc ngữ pháp thích hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đạt được trình

độ trong sáng và chuẩn mực Có điều kiện để tập sử dụng từ ngữ đạt hiệu quả diễn đạt, hiểu và đánh giá đựo giá trị thẩm mĩ của từ ngữ trong ngôn bản, biết tạo lập ra những văn bản đạt hiệu quả giao tiếp Điều đó cũng có nghĩa giúp các em học tốt phân môn Văn học và phân môn Tập làm văn và cả ccá môn học khác theo hướng tích hợp

B/ Thực trạng

:

Nhìn chung so với SGK chỉnh lí trước đây của THCS, số giờ Tiếng việt được rút xuống Nội dung học tập vẫn là các vấn đề cơ bản của Tiếng việt như : cấu tạo từ,

từ loại, nghĩa của từ, các biện pháp tu từ, câu và các kiểu câu v.v nhưng kiến thức được trình bày hết sức gọn gàng, nhẹ nhàng, dễ hiểu, đặc biệt là tăng cường luyện tập, thực hành

Tổ chức cho học sinh luyện tập là một việc làm khó Khó vì thực tế muôn màu muôn vẻ so với lý thuyết, khó vì có thể gặp nhiều tình huống bất ngờ, khó vì sách giáo khoa không có lời giải

Không chỉ vậy, trong giờ Tiếng việt, giáo viên thường giành nhiều thời gian cho lí thuyết, xem nhẹ thực hành Thời gian giáo viên dùng cho thực hành rất ít, thậm chí hết giờ mà học sinh vẫn chưa giải quyết xong những bài tập cơ bản cho nên học sinh không kịp cũng cố lại kiến thức vừa học, chưa có thời gian rèn kĩ năng nên việc nắm bài của các em rất hời hợt Khi giao tiếp hoặc khi tạo lập văn bản nhiều

em còn lúng túng

Về hoạt động luyện tập, giáo viên chưa có nhiều hình thức hoạt động phong phú, hình thức hoạt động còn nhàm chán chưa hấp dẫn nên chưa lôi cuốn được các em

Về phía học sinh các em còn coi nhẹ hoạt động luyện tập trên lớp, chưa tập trung cao độ vào việc giải quyết các bài tập theo sự hướng dẫn của thầy cô Sau mỗi phần bài tập các em chưa có thói quen tự cũng cố và chốt lại kiến thức cần nhớ, chưa tự đặt câu hỏi bài tập ấy lưu ý ta điều gì ? rèn kĩ năng gì ? Chính vì vậy mà hiệu quả chưa cao

C/ Các giải pháp

:

1 / Nhận thức về khái niệm tổ chức hoạt động

Trang 3

-Nói “tổ chức hoạt động” là nói đến vai trò của người thầy Giáo viên bằng

câu hỏi và tình huống, đưa học sinh vào trạng thái hoạt động Nhìn vào tiết

học thấy được sự làm việc của thầy và làm việc của học sinh, giáo viên xuất hiệnít như một người đạo diễn “từ xa làm chủ tất cả và bao quát tất cả

.”

-Hoạt động luyện tập là hoạt động thứ hai trong giờ Tiếng việt sau hoạt động phân tích mẫu- sau khi giáo viên giúp các em rút ra những kết luận cơ bản

nhất nêu trong phần ghi nhớ Luyện tập để nhận diện hoặc phân tích giá trị

biểu hiện của các hiện tượng, các đơn vị ngôn ngữ; thực hành dùng từ, đặt

câu, dựng đoạn hoặc chữa các lỗi về từ, câu và đoạn

2 /

Tổ chức hoạt động luyện tập trên lớp

:

-Tổ chức cho học sinh luyện tập là một việc làm không mấy đơn giản Bởi

vậy trước khi lên lớp, giáo viên phải chuẩn bị chu đáo và phải hoàn thành

một số việc sau

:

+ Giáo viên phải xác định được các dạng bài tập, mục đích yêu cầu của chúng

+

Giải trước cẩn thận các bài tập dự kiến sẽ luyện tập, dự kiến các tình huống

có thể xảy ra

+ Vạch kế hoạch về biện pháp tiến hành các bài tập

3 /

Những tình huống và câu hỏi cần thiết của giáo viên để đưa học sinh vào trạng thái hoạt động nói chung và hoạt động luyệ tập Tiếng việt nói riêng

Phần đặt vấn đề, tôi đã nói đến nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy là “quan điểm tích hợp” Xin được nhắc lại cụ thể hơn như sau

:

-Hiểu theo nghĩa thứ nhất : tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp

một cách tối ưu các quá trinh học tập riêng rẽ, các môn học, phân môn khác

nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, yêu cầu cụ thể khác nhau

-Hiểu theo nghĩa thứ hai : tích là tích cực, phải phát huy tối đa tính tích cực,

tính sáng tạo của học sinh, chủ thể của quá trình chiếm lĩnh tri thức ở tất cả

mọi khâu từ chuẩn bị bài, sưu tầm tài liệu, phát biểu trong tổ nhóm, trong

việc phân tích mẫu hay luyện tập; mỗi học sinh đều được hoạt động, đều

được bộc lộ hết mình và đựoc phát triển

a/ Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo trên, các tình huống mà giáo viên đưa ra cần đạt yêu cầu

:

-Học sinh giải quyết bài tập bằng nhiều cách thức

-Học sinh biết sử dụng kiến thức của bài học trước, phân môn trước để giải

quyết vấn đề của phân môn, phần kiến thức này Giáo viên lợi dụng cơ hội

này, củng cố kiến thức trước đã học

-Để tạo hứng thú học tập, có dịp tự giác trình bày ý kiến, tình cảm chân thật,

giáo viên nên phát huy tác dụng của kênh hình minh hoạ sách giáo khoa, qua

Trang 4

mĩ thuật để kiến thức bài bài học được khắc sâu trong học sinh bằng hình

thức các trò chơi ngôn ngữ, học mà chơi, chơi mà học, vui sinh động mà vẫn hiểu bài, nhớ bài

b/ Các câu hỏi thường đặt ra cho từng bài tập Tiếng Việt, sau khi học sinh đọc bài tập

:

Trước khi làm bài

:

-Yêu cầu của bài tập (1,2,3

(…,

-Để giải quyết được yêu cầu này em cần sử dụng kiến thức cơ bản nào của

phần ghi nhớ

?

-Cách làm bài

?

Sau khi làm bài

:

-Hãy nhận xét bài của bạn

?

-Vì sao đúng (sai

(

+ Nếu giải quyết bài tập bằng kênh hình, tranh ảnh thường đặt ra

:

-Tranh (ảnh, hình đoạn phim) này của văn bản nào? Nội dung trong bức

tranh (đoạn phim, hình

?(

-Từ việc quan sát hãy đặt câu (viết đoạn

(…

4 / Hình thức hoạt động luyện tập

:

Phương pháp dạy học mới cố gắng khắc phục tình trạng suốt giờ học chỉ có

thầy hỏi trò trả lời đơn điệu và thiếu dân chủ Đặc biệt là trong khoảng thời gian của tiết học dành cho hoạt động luyện tập (2/3 thời lượng với tiết học tiếng Việt) Học sinh phải được thảo luận, tranh luận theo tất cả các chiều quan hệ: thầy – trò, trò – thầy, trò – trò Các hoạt động nói chung và hoạt động luyện tập thường theo các hình thức

:

-Làm việc độc lập

-Làm việc theo nhóm

-Làm việc theo lớp

Chọn hình thức hoạt động nào cho bài tập nào là do giáo viên căn cứ vào

yêu cầu cụ thể của bài tập Thông thường khi gặp những câu hỏi, bài tập có tính khái quát tổng hợp thì nên tổ chức hoạt động theo nhóm học sinh

5 / Hướng dẫn học sinh luyện tập theo một số dạng bài tập

:

Thông thường các bài tập sách giáo khoa đưa ra thường thuộc về các loại

sau: thực hành nhận diện, phân tích, bài tập tạo lập và bài tập sửa chữa

a/ Bài tập nhận diện, phân tích

:

Đây là một loại bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận diện một số yếu tố về từ ngữ, ngữ pháp Loại bài tập này có mục đích làm sáng tỏ và củng cố, phát triển một số khái niệm của tiếng Việt đã được tiếp thu từ bài học lý thuyết Có thể, trong ngữ liệu cho sẵn của bài tập, khái niệm được biểu

Trang 5

hiện trong nhiều vẻ Học sinh cần phải dựa vào những đặc trưng cơ bản của khái niệm để nhận diện và phân tích khái niệm

Loại bài tập này thường gồm 2 phần: phần trình bày yêu cầu, phần dẫn ngữ

liệu Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, cho biết, phân tích, tìm hiểu … Đồng thời có thể kết hợp thêm các yêu cầu khác như giải thích, lý giải, so sánh

Với bài tập này, khi luyện tập, giáo ciên cần hướng dẫn học sinh thực hiện

các bước sau

:

Căn cứ vào đặc trưng khái niệm của tiếng Việt

-Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng cần nhận diện phân

tích

-Phân tích đối tượng tìm được để xác định đặc điểm của nó, xem nó có đáp

ứng đặc trưng của khái niệm lý thuyết không, từ đó có thể củng cố thêm khái

niệm

b/ Bài tập tạo lập (sáng tạo

(

Bài tập tạo lập là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo nên (nói hoặc

viết) sản phẩm ngôn ngữ theo một yêu cầu nào đó Việc thực hiện những bài tập này gần với những hoạt động nói và viết hằng ngày của học sinh nhưng vẫn ở dạng luyện tập theo yêu cầu Các bài tập tạo lập có thể có một vài mức độ và yêu cầu khác nhau

Tạo lập theo mẫu: bài tập yêu cầu học sinh tạo lập sản phẩm theo mẫu Một là một ngữ liệu cho trước hoặc một mô hình khái quát Khi thực hiện loại bài tập này cần phân tích và nắm vững thấu hiểu mẫu đã cho, vận dụng kiến thức để tạo ra sản phẩm theo mẫu Sau đó cần kiểm tra sản phẩm xem có tương ứng với mẫu không

Ví dụ: Em hãy theo mẫu cách đặt câu nghi vấn trong câu sau đây mà đặt một câu nghi vấn có chứa các cặp phụ từ: đã… chưa

:

-“

con đã nhận ra con chưa

.”?

Tạo lập tiếp sản phẩm theo những yêu cầu nhất định

:

Loại bài tập này cho sẵn một phần của sản phẩm và yêu cầu học sinh tạo tập tiếp theo yêu cầu về kết cấu về quan hệ ý nghĩa … nó tương tự loại bài tập điền từ vào chỗ trống, hoặc bài tập viết tiếp câu Thực hiện loại bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích để nắm vững phần sản phẩm đã có và yêu cầu của bài tập rồi tiến hành tạo lập tiếp sao cho thoả mãn với yêu cầu trên và taoh ra sản phẩm thích hợp

Ví dụ: Lấy câu văn sau đây làm câu mở đầu cho đoạn, hãy viết tiếp một đoạn văn theo kết cấu diễn dịch trong đó có sử dụng câu phủ định

:

Trong hoài cảnh” trăm dâu đổ đầu tằm”, ta càng thấy chị Dậu thật là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát” (bài tập của bài “ câu phủ định

(”

Bài tập này nêu ra 3 yêu cầu chính

:

Trang 6

+

dùng câu đã cho làm câu mở đoạn Câu này có ý chính là đức tính “ đảm đang, tháo vát của chị Dậu trong hoàn cảnh khó khăn của gia đình

.”

+

Viết tiếp các câu khác để thành một đoạn văn trong đó các câu sau khai triển ý của câu mở đoạn theo quan hệ diễn dịch

+ Các câu viết tiếp phải có ít nhất một câu phủ định

Do đó khi viết tiếp cần đáp ứng được cả ba yêu vầu trên, đồng thời chú ý đến sự liên kết của các câu về nội dung và hình thức

c/ Bài tập sửa chữa

:

Sửa chữa lỗi sai sót là hoạt động thứ 2 của hoạt động thực hành Trong hoạt

động sửa chữa cũng thực hiện được cả mục đích củng cố những kiến thức lý thuyết

cả mục đích luyện các kỹ năng

Sửa lỗi tiếng Việt có thể tiến hành trong nhiều hoàn cảnh dạy học: trong việc

chấm và trả bài viết củâ học sinh, trong việc nhận xét và uốn nắn lời phát biểu của học sinh, trong việc tiến hành giải các bài tập thuộc loại chuyển đổi hoặc tạo lập ở trên, và tập trung nhất cho các bài tập sửa chữa ( như bài “ lỗi dùng từ” lớp 6 …) Khi tiến hành sữa chữa lỗi, giáo viên nên đưa vào nội dung thực hành việc sữa lỗi của học sinh trong lớp Trong quá trình sữa lỗi giáo viên phải cho học sinh khác phát hiện và tìm ra nguyên nhân mắc lỗi và sửa chữa lỗi Khi sữa lỗi không phải chỉ trong trường hợp câu cô lập, tách khỏi văn bản, mà còn rất cần đặt từ vào câu

và đặt câu vào tron văn bản Có như thế mới xác định đúng lỗi, phân tích đúng nguyên nhân mắc lỗi và sửa chữa để có được câu văn đúng, đoạn văn đúng và văn bản đúng Hơn nữa có những lỗi do sai sót trong tư duy, nên đạt câu vào văn bản chính là một cách để dõi theo cả tiến trình tư duy của học sinh

Ví dụ lỗi về câu do không phân định rõ thành phần trạng ngữ và chủ ngữ và

dẫn ra câu sai

:

Qua nhân vật chị Dậu cho ta thấy những đức tính cao đẹp đó

Sau khi học sinh nhận xét và sửa lỗi, giáo viên nên lưu ý đặt câu trên vào

văn cảnh của nó Nếu đoạn văn coa chứa câu trên đang “ nói về” nhân vật chị Dậu thì cần dùng cụn từ này làm chủ ngữ, cho nên cần bỏ từ “qua” Còn nếu đoạn văn

“lại đang” nói về” tác giả hoặc tác phẩm thì vẫn có thể dùng cụn từ đó (có giới từ

“qua” đi trước) để làm trạng ngữ nhưng cần thêm từ làm chủ ngữ cho câu vào vị trí sau trạng ngữ

6 / Một số lưu ý khi tổ chức hoạt động cho học sinh

:

Trong quá trình tổ chức hoạt động luyện tập không loại trừ hoạt động giảng

bài của giáo viên Đó là những lúc giáo viên giải thích cách làm, tổng kết, phát triển ý trong bài tập, liên hệ các bài học với nhau, liên hệ bài tập với thực tế để nâng cao học sinh lên tầm nhận thức mới Tránh tình trạng giáo viên tung ra các câu hỏi và tình huống mà không kết luận, giải quyết triệt để

Tránh hình thức hoá hoạt động luyện tập: Trường hợp này không thiếu trọng

thực trạng dạy học nói chung và tổ chức hoạt động luyện tập tiếng Việt nói riêng

Trang 7

Nhìn vào những tiết học này, ta cũng thấy giáo viên cho học sinh làm việc theo nhóm, cũng kết hợp với mĩ thuật, kênh hình nhưng lại thiếu những câu hỏi tình huống để đưa học sinh vào trạng thái hoạt động thực sự Điều này cũng dễ hiểu và

dễ thông cảm khi giáo viên và cả học sinh đang đứng trước thời điểm giao thoa của phương pháp giảng dạy sách giáo khoa chỉnh lý trước đây và phương pháp mới

Tránh lạm dụng kênh hình, tranh tư liệu, phương tiện dạy học Nên hiểu

kênh hình, tranh ảnh … chỉ là để minh họa thệm Phương tiện bảng chiếu, biểu bảng chỉ là hỗ trợ Trong các tiết học ngữ văn nói chung, tiết học tiếng Việt nói riêng, giáo viên phải biết dùng đúng lúc Đúng chỗ, có chừng mực và có dụng ý thì mới có tác dụng, nếu không không có hiệu quả

III KẾT QUẢ THỰC HIỆN

:

Với việc tổ chức cho học sinh luyện tập trong giờ học tiếng Việt như đã trình

bày ở trên tôi đã thu được kết quả như sau

:

Trong những tiết dạy ở trường, tôi được tổ chuyên môn đến dự và đánh giá

cao: những tiết dạy phù hợp với phương pháp mới Học sinh hoạt động tích cực, nắm được nội dung bài học và khả năng vận dụng tốt

Trong quá trình tham gia giảng dạy tôi đạt kết quả như sau

:

IV/ KẾT LUẬN

:

Phương pháp dạy thực hành là một trong những điểm mới và khó của

phương pháp dạy học theo chương trình ngữ văn ( sách giáo viên ngữ văn – bộ giáo dục và đào tạo) Lại càng khó hơn khi giáo viên và học sinh đang ở thời điểm bắt đầu cái mới Xong, phải từng bước chiếm lĩnh và tự nhiên hoá chính thức vào từng bài giảng, từng tiết học là nhiệm vụ của mỗi giáo viên đứng trên bục giảng Trong bài viết nhỏ này tôi không có tham vọng nói về một vấn đề lớn trong môn ngữ văn Do vậy tôi chỉ nêu lên những suy nghĩ và việc làm cụ thể của mình đã vận dụng qua thực tế giảng dạy và tôi đã có những thành công nhất định Nhận thức của tôi về vấn đề “kinh nghiệm quản lý học sinh trong giờ học tiếng Việt” cho học sinh trên đây chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự góp ý chân thành của ban giám khảo, của đồng nghiệp để cong việc dạy văn của tôi có thêm những thành công mới

Tôi xin chân thành cảm ơn

!

BMT, ngày… tháng… năm

Người viết

Trang 8

MỤC LỤC

Phần I: Mở đầu

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

:

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

:

1 Đối tượng nghiên cứu

:

2 Phạm vi nghiên cứu

:

III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

:

1 Mục đích

:

2

Nhiệm vụ

3

Kế hoạch

1

2 2 2 2 3 3

Trang 9

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

:

1

Phương pháp thực tiễn quá trình công tác

:

2

Phương pháp thực tiễn quá trình chủ nhiệm lớp

:

3

So sánh kết quả

:

Phần II: NỘI DUNG

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1

VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC

:

2

VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC

:

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

Chương II: THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG THCS HÀM

NGHI

I Thuận lợi

:

II Khó khăn

:

Chương III : BIỆN CHỨNG TÂM LÍ LỨA TUỔI TÂM LÍ

LỨA TUỔI VÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN

.

I BIỆN CHỨNG TÂM LÍ LỨA TUỔI

:

II ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN

:

Chương IV : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1

Nhà trường và các đoàn thể

:

2

Giáo viên chủ nhiệm lớp

:

*

Hướng giải quyết

:

3

Giáo viên bộ môn

:

4

Gia đình

:

5

Chính quyền

:

* Bảng so sánh kết quả

:

Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3 3 3 4

4

4 4 4

5 5 5 6 7

7 8

9 9 9 11 12 13 14

15 16

Ngày đăng: 16/11/2015, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w